Trong cuốn “Hướng dẫn Tập làm văn 8”, tác giả Vũ Nho đã đưa ra cách làm một bài văn thuyết minh, ngoài tri thức và qui trình của bài văn thuyết minh tác giả cũng chỉ ra một số phương phá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Những năm gần đây nền giáo dục Việt Nam đang có những thay đổi nhất định Sự thay đổi ấy là việc Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành xây dựng lại nội dung chương trình cho tất cả các môn học ở tất cả các cấp học và bậc học Không là ngoại lệ, phân môn Làm văn ở trường trung học phổ thông cũng có nhiều thay đổi Khác với nội dung Làm văn chương trình trước đây, nội dung phân môn Làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay giới thiệu rất nhiều kiểu văn bản, trong đó có văn bản thuyết minh – một kiểu văn bản còn khá mới mẻ
1.2 Thuyết minh là một trong những phương thức biểu đạt quan trọng trong đời sống con người, tồn tại bên cạnh những phương thức biểu đạt khác như: tự sự, miêu tả, nghị luận Nó được sử dụng phổ biến trong giao tiếp nhằm phục vụ những nhu cầu trao đổi thông tin của con người ví dụ một người kĩ sư giới thiệu một giống lúa mới Vì vậy việc triển khai nội dung dạy học VBTM là rất thiết thực Đó là cơ sở giúp giáo viên có thể rèn luyện cho học sinh khả năng xây dựng được bài văn thuyết minh khi có nhu cầu giới thiệu một vấn đề gì đó của đời sống cho mọi người xung quanh
Tuy nhiên, để có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh có giá trị thì học sinh cần nắm được những kĩ năng cơ bản để tạo lập VBTM Để đáp ứng yêu cầu trên, SGK từ lớp 8 đến lớp 10 đã giới thiệu những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhằm đáp ứng được mục tiêu rèn cho HS kĩ năng tạo lập những bài văn thuyết minh hay, có giá trị
Song, vấn đề ở đây là xuyên suốt chương trình Ngữ văn 8 đến Ngữ văn10 những kiến thức, kĩ năng trang bị cho HS tạo lập chỉ mang tính chất chung chung, chưa cụ thể đến vấn đề tạo lập VBTM
Trang 31.3 Là một sinh viên sư phạm Ngữ văn, tương lai sẽ trở thành người giáo viên tham gia vào công tác ở trường THPT, thực hiện đề tài này người viết muốn hướng dẫn HS tạo lập VBTM có giá trị, chúng tôi nhận thấy thực hiện đề tài này là rất cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Văn thuyết minh và dạy tạo lập VBTM ở trường THPT”
2.2 Cũng bàn về VBTM, song trong chương trình “Làm văn” 11(SGK thực nghiệm ban Khoa học xã hội, Khoa học tự nhiên) các nhà biên soạn đã trình bày định nghĩa về VBTM và giới thiệu một số kiểu bài thuyết minh thường gặp Đồng thời SGK còn nêu lên những yêu cầu của một bài giới thiệu thuyết minh và cách viết một bài văn thuyết minh Mặc dù vậy, lượng kiến thức và kĩ năng đó cẫn chỉ mang tính khái quát và sơ lược do thời lượng dạy học một tiết ở phổ thông chi phối Trong cuốn sách này, vấn đề dạy tạo lập VBTM chưa được các tác giả đề cập
2.3 Chương trình Ngữ văn 8, 9, 10 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bước đầu giới thiệu các phương pháp thuyết minh, các biện pháp nghệ thuật trong
Trang 4VBTM và những đặc điểm cơ bản của VBTM Song, vấn đề dạy tạo lập VBTM vẫn còn mờ nhạt, chưa được tường minh hoá
2.4 Trong cuốn “Hướng dẫn Tập làm văn 8”, tác giả Vũ Nho đã đưa ra cách làm một bài văn thuyết minh, ngoài tri thức và qui trình của bài văn thuyết minh tác giả cũng chỉ ra một số phương pháp thuyết minh có thể sử dụng khi tạo lập kiểu văn bản này
2.5 Trong giáo trình “Làm văn”, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) các tác giả đã đề cập khái niệm VBTM, đặc điểm cơ bản củaVBTM và các phương pháp thuyết minh
Như vậy, có thể nói rằng: Trong các công trình ấy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đề cập những kiến thức và kĩ năng xây dựng VBTM song các công trình vẫn chưa trình bày một cách cụ thể về dạy tạo lập VBTM
3 Mục đích nghiên cứu
Góp phần xây dựng quy trình tạo lập VBTM ở trường THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm văn thuyết minh
- Xây dựng quy trình dạy tạo lập VBTM
- Vận dụng các tri thức đó vào thực tiễn dạy học ở trường THPT 5.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng
- Hoạt động dạy tạo lập VBTM
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thể loại: VBTM ở trường THPT
- Tư liệu: sử dụng tiếng việt
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
6.1.1 Phương pháp hệ thống hoá lí thuyết
Trang 56.1.2 Phương pháp phân tích
6.1.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
6.2 Phương pháp thực nghiệm
7 Đóng góp của khoá luận
- Lí luận: Bổ sung, hoàn thiện cơ sở lí luận khoa học của vấn đề VBTM
và dạy tạo lập VBTM ở Trường THPT
- Thực tiễn: Nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học VBTM
8 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, khoá luận tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Văn thuyết minh
Chương 2: Dạy tạo lập VBTM ở trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm dạy tạo lập VBTM ở trường THPT
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VĂN THUYẾT MINH
1.1 Khái niệm văn bản
Trong nhà trường THPT, khái niệm văn bản là một khái niệm hết sức trọng yếu Văn bản là đối tượng của việc dạy học đọc- hiểu (giải mã VB) và cũng là đối tượng của dạy tạo lập VB Phải nắm vững đối tượng cần giải mã
và tạo lập thì người dạy, người học mới xác định được cách thức tìm hiểu và tạo lập nó Mục đích của làm văn là giúp HS có những hiểu biết về một số kiểu VB thông dụng và quan trọng hơn là biết tạo ra các VB ấy
Từ trước đến nay, đã có nhiều định nghĩa về VB:
Trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”(1985) G.S Trần Ngọc Thêm viết: “Nói một cách chung nhất thì VB là một hệ thống mà trong
đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu-phần tử, trong hệ thống VB còn có cấu trúc VB nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” [14, 19]
Trong số các VB, những VB nào có đủ cả liên kết hình thức, liên kết chủ đề và liên kết logic sẽ được gọi là các VB điển hình Loại văn bản này chiếm một đa số tuyệt đối và tạo nên phần trung tâm của khái niệm văn bản
Như vậy, có thể thấy G.S Trần Ngọc Thêm quan niệm VB phải có sự liên kết thể hiện trên ba bình diện quan trọng đó là hình thức tổ chức, nội dung thể hiện và sự sắp xếp theo một trình tự nhất định
Cuốn “Từ điển thuật ngữ và lí luận văn học 2”(1991) xác định thuật ngữ VB với sự phân biệt các nghĩa sau đây:
Trang 7a, Phần từ ngữ thực tế của một cuốn sách trong nguyên bản hoặc trong hình thức tổ chức đã chuyển dịch có sự thay đổi nhất định
b, Một cuốn sách viết bằng ngôn từ
c, Phần chính của một đề tài(chủ đề) một cuốn sách được tách ra từ những ghi chú, bình luận, chú giải, bảng biểu, mục lục hoặc một đoạn ngắn rút từ Kinh thánh như đề tài, chủ đề hoặc bài thuyết giáo
Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học”(1996): VB là chuẩn các đơn vị
kí hiêu ngôn ngữ làm thành một thể thống nhất bằng mối liên hệ ý nghĩa mà thuộc tính cơ bản của nó là sự hoàn chỉnh về hình thức và nội dung; sản phẩm lời nói được định hình dưới dạng chữ viết hoặc in ấn
Ở đây ta thấy có sự gặp gỡ, cùng quan điểm với G.S Trần Ngọc Thêm
đó là xác định VB phải có sự hoàn chỉnh về mặt hình thức và nội dung Tuy nhiên “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” có sự mở rộng hơn đồng thời khẳng định VB được tạo thành từ chuỗi các đơn vị có nghĩa và là sản phẩm của lời nói được mã hoá
Cuốn “Từ điển bách khoa Việt Nam” – tập 4 (2005) định nghĩa về VB như sau:
“VB là một chỉnh thể trên câu, gồm một chuỗi các câu, đoạn văn được cấu tạo theo qui tắc của một ngôn ngữ, tạo nên thông báo có tính hệ thống”
Tuy phát biểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung khái niệm
VB được hiểu trên hai bình diện nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng, “VB là bất cứ chuỗi kí hiệu nào có khả năng tiềm tàng có thể đọc ra nghĩa được, bất kể có do kí hiệu ngôn ngữ tạo thành hay không Do đó, một nghi thức, một điệu múa, một nét mặt, một bài thơ đều được gọi là VB
Trang 8Theo nghĩa hẹp, VB là “sản phẩm của lời nói được định hình dưới dạng chữ viết hoặc in ấn” Cách hiểu này được coi là cách hiểu truyền thống, lưu hành trong nhiều tài liệu
Tuy nhiên, do yêu cầu rèn luyện kĩ năng nói, dạy và học cách nói, cho nên trong nhà trường phổ thông bên cạnh VB viết cần chú trọng cả VB nói Nói cũng cần có bài bản, có đầu có cuối, có bố cục chặt chẽ hợp lí
Tất nhiên định nghĩa VB như vừa nêu trên là nói một cách ngắn gọn
Để hiểu VB chặt chẽ hơn cần chú ý thêm các điều kiện khác đi kèm Điều kiện đó là tính liên kết (Cohesion), tính mạch lạc(Cohenrence)
Theo cách hiểu này, VB không phải là một loạt từ, ngữ, câu, đoạn rời rạc chúng phải có tính liên kết và tính mạch lạc
Để minh hoạ cho những lí thuyết vừa nêu ở trên ta xét một ví dụ sau:
Chân dung Lê Lựu
Cứ xem cái tướng mạo, cái hình dáng, kiểu cách bên ngoài thì chẳng có
ai nghĩ Lê Lựu là một nhà văn Trông anh nhôm nhoam, luộm thuộm và lúc nào cũng tất tả, nhếch nhác như một gã thợ cày vừa từ một thửa ruộng ngấu bùn nào đó bước lên Gương mặt, đầu tóc, quần áo và toàn bộ con ngươi anh như đang toả ra mùi bùn đất, mùi nắng gió, mùi bụi bặm của một vùng đòng bãi sông Hồng Con người ấy có “đắp” com lê, cà vạt, mũ phớt, kính gọng vàng, giày Môka, nghĩa là tất cả những trang bị, phụ tùng tối tân nhất của đời sống đô thị, thì trông anh vẫn chẳng ra anh trí thức cũng chẳng ra người thành phố Mặc dù Lê Lựu sống ở Hà Nội, lấy vợ đẻ con ở đất kinh kì này, đã từng nện gót trên nhiều đường phố lớn thế giới, hai ba lần sang Mĩ, nhưng anh vẫn
là lực điền của đất Khoái Châu, Hưng Yên Lê Lựu như hòn gạch xỉ, hay nói đúng hơn như một tảng đá hộc Đó là một tảng đá nguyên khối, xù xì của thiên nhiên hoang dã mà đời sống hiện đại đô thị và nền văn minh thế giới
Trang 9không thể đẽo gọt được, cũng không thể tác động vào được Cái chất quê đặc sệt này là cái duyên riêng của Lê Lựu, cũng là cái Lê Lựu hơn người ”
Ví dụ trên được coi là một VB, bởi nó hoàn chỉnh ba bình diện cơ bản: hình thức tổ chức, nội dung thể hiện và trình tự sắp xếp VB “Chân dung Lê Lựu”, ta thấy các từ, câu, liên kết chặt chẽ với nhau; “Con người ấy có
“đắp”comlê, cà vạt, mũ phớt, thì trông anh cũng chẳng ra anh trí thức cũng chẳng ra người thành phố”
Các từ ngữ, hình ảnh cùng trường nghĩa; nhôm nhoam, luộm thuộm,tất
tả, nhếch nhác, gã thợ cày, ngấu bùn, mùi nắng gió, mùi bụi bặm, gã lực điền, hòn gạch xỉ Tất cả đều thể hiện chân dung Lê Lựu đời thường
Nội dung VB đề cập chân dung Lê Lựu, không phải Lê Lựu của phồn hoa mà Lê Lựu của đồng quê chất phác, đời thường với những chất quê đặc sệt Đó là vẻ riêng của ông và cũng là cái ông hơn người
Trình tự sắp xếp các ý chặt chẽ, các ý, các câu sắp xếp theo một logic nhất định Mở đầu VB “Cứ xem cái tướng mạo, cái hình dáng kiểu cách bên ngoài thì chẳng có ai nghĩ Lê Lựu là một nhà văn” Câu trên phủ định Lê Lựu
là nhà văn nếu xem xét tướng mạo bề ngoài của ông Các câu tiếp theo là lí lẽ, dẫn chứng cho nhận định con người đời thường của Lê Lựu “trông anh nhôm nhoam, luộm thuộm ” và câu kết VB: “Cái chất quê đặc sệt này là cái duyên riêng của Lê Lựu, cũng là cái Lê Lựu hơn người ” Câu đầu VB nhận định con người đời thường, các câu tiếp theo là lí lẽ cho nhận định trên Và câu kết
là nhận xét nâng cao con người đời thường Lê Lựu “duyên riêng”, “hơn người” Từ đó ta khẳng định VB “Chân dung Lê Lựu” viết theo hình thức tổng phân hợp
Trang 10Để nhận diện VB cần chú ý tiêu chí cơ bản: hình thức tổ chức, nội dung thể hiện và trình tự sắp xếp hợp lí Một ngôn bản toàn vẹn cần đảm bảo ba tiêu chí trên và đó cũng là điều kiện cần và đủ của một VB
Trên đây là khái niệm VB, đó là khái niệm chung và khái quát Tuy nhiên có nhiều kiểu VB khác nhau, mỗi kiểu VB được tạo nên từ những phương thức biểu đạt khác nhau
Phương thức biểu đạt được hiểu như là cách thức phản ánh và tái hiện lại đời sống (thiên nhiên, xã hội, con người) của người viết, người nói Mỗi phương thức biểu đạt phù hợp với mục đích ý đồ phản ánh, tái hiện nhất định
và được thực hiện bởi một thao tác chính nào đó
Khi muốn giúp người đọc hình dung ra được đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự việc, sự vật, con người, phong cảnh làm cho đối tượng được nói tới như hiện lên trước mắt người đọc thì người viết phải dùng động tác miêu
tả để phản ánh và tái hiện lại đời sống
Căn cứ vào các phương thức biểu đạt, người ta chia ra các VB như sau:
VB tự sự, VB miêu tả, VB lập luận, VB biểu cảm, VB thuyết minh, VB ứng dụng
Nhìn vào các kiểu VB trên, ta thấy tên gọi các kiểu VB có khác so với trước đây Chẳng hạn: VB ứng dụng, một số nước khác gọi là VB thường ngày, trước gọi là VB hành chính công vụ; VB lập luận trước gọi là VB nghị luận; VB tự sự trước gọi là văn kể chuyện Riêng VBTM là kiểu VB mới đưa vào giảng dạy ở bậc Trung học cơ sở và lên bậc THPT HS tiếp tục được học VBTM ở chương trình SGK Ngữ văn 10
1.2.Văn thuyết minh
1.2.1 Khái niệm
Văn thuyết minh là một kiểu VB được sử dụng rất thông dụng trong cuộc sống Đó là loại VB được soạn thảo với mục đích trình bày, giới thiệu
Trang 11tính chất, cấu tạo, công dụng, lí do phát sinh, qui luật phát triển, biến hoá của
sự vật nhằm cung cấp những thông tin về các sự vật hiện tượng trong cuộc sống tự nhiên và xã hội, hướng dẫn cho con người tìm hiểu và sử dụng chúng Nói một cách khác, văn thuyết minh là loại văn trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ đặc điểm cơ bản của một đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tuợng, sự vật trong tự nhiên và xã hội
VD: “Bàn cờ vuông, con cờ tròn, phải có hai người mới đánh được Quân cờ chia làm hai bên đen đỏ, mỗi bên có 16 con, mỗi con đi một phép, ví như tướng chỉ đi quanh trong cung, sĩ đi hoa chanh, tượng đi chữ điền, xe, pháo đi ngang, đi dọc tuỳ ý, nhưng pháo phải cách một con mới được đánh
Mã phải đi chữ nhật, sang hà mới được đi ngang
Đánh cờ cũng vui thú, mà cũng nghĩ càng vô cùng Đánh cờ được hai người đối thủ thì nghĩ ngợi có khi nửa giờ được một nước, có người mê mẩn đến nỗi quên ăn , quên ngủ” [15, 241]
Càng ngày văn thuyết minh càng trở nên gần gũi và thông dụng hơn trong đời sống Người kĩ sư giới thiệu với nông dân một giống lúa mới, người đầu bếp giỏi thuyết trình một món ăn ngon, cô hướng dẫn viên giới thiệu về một di tích lịch sử hay một danh lam thắng cảnh, người thày giáo giới thiệu với HS một thí nghiệm vật lí, người bán hàng giới thiệu một sản phẩm Văn thuyết minh và các kiểu văn bản khác
Để nhận biết rõ đặc trưng của văn bản thì ta cần có sự đối sánh, phân biệt với văn bản khác Để hiểu rõ đặc trưng của VBTM ta có thể phân biệt văn thuyết minh với VB tự sự, nghị luận và biểu cảm Mỗi kiểu VB có mục đích và yêu cầu riêng
Tự sự là kiểu VB dùng để trình bày sự việc, nhân vật gắn nhiều với các yếu tố hư cấu và tưởng tượng bịa như thật Sự việc trong tự sự thường được
kể theo một trình tự nhất định
Trang 12VB nghị luận là kiểu VB dùng để trình bày tư tưởng, ý kiến, quan điểm, thái độ của người viết một cách trực tiếp Để thuyết phục người đọc về
ý kiến, quan điểm của mình đã nêu ra, người viết bài nghị luận thường nêu các luận điểm, luận cứ và sử dụng các thao tác lâp luận
VB biểu cảm là kiểu VB dùng để bộc lộ tư tưởng tình cảm và thái độ của người viết trước một đối tượng, sự vật hay sự việc nào đó Trong văn biểu cảm thường xuất hiện cái tôi trữ tình công khai nói lên tình cảm, suy nghĩ của người viết Thơ trữ tình là thể loại tiêu biểu nhất cho phương thức biểu cảm nhưng không phải là duy nhất Ngoài thơ trữ tình các VB văn xuôi, thể kí đều
sử dụng phương thức biểu cảm Vì ở đó tác giả cũng thường trực tiếp bày tỏ tình cảm, suy nghĩ của mình
VD1: Tự sự
Mẹ lạnh lắm phải không ?
"Vào một đêm giáng sinh, một thiếu phụ mang thai lần bước đến một nhà người bạn nhờ giúp đỡ Con đường ngắn dẫn đến nhà người bạn có một con mương sâu với cây cầu bắc ngang Người thiếu phụ bỗng trượt chân chúi
về phía trước, cơn đau đẻ quặn lên trong chị Chị hiểu rằng mình không thể đi
xa hơn được nữa Chị bò phía bên dưới cầu
Đơn độc giữa những chân cầu, chị đã sinh ra một bé trai Không có gì ngoài những chiếc áo bông dày đang mặc, chị lần lượt gỡ bỏ áo quần và quấn quanh mình đứa con bé xíu, vòng từng vòng giống như một cái kén Thế rồi tìm thấy một miếng bao tải, chị trùm vào người và kiệt sức bên cạnh con
Sáng hôm sau, một người phụ nữ lái xe đến gần chiếc cầu, chiếc xe bỗng chết máy Bước ra khỏi xe và băng qua cầu, bà nghe một tiếng khóc yếu
ớt bên dưới Bà chui xuống cầu để tìm Nơi đó bà nhìn thấy một đứa bé nhỏ xíu, đói lả nhưng vẫn còn ấm, còn người mẹ đã chết cóng Bà đem đứa bé về
và nuôi dưỡng Khi lớn lên cậu bé thường hay đòi mẹ nuôi kể lại câu chuyện
Trang 13đã tìm thấy mình Vào một lễ Giáng sinh, đó là sinh nhật lần thứ mười hai, cậu bé nhỏ mẹ nuôi đưa đến mộ người mẹ tội nghiệp Khi đến nơi, cậu bé bảo
mẹ nuôi đợi ở xa trong lúc cậu cầu nguyền Cậu bé đứng cạnh ngôi mộ, cúi đầu và khóc Thế rồi cậu bắt đầu cởi quần áo Bà mẹ nuôi đứng nhìn sững sờ khi ccậu bé lần lượt cởi bỏ tất cả và đặt lên mộ mẹ mình " Chắc là cậu bé không cởi bỏ tất cả - Bà mẹ nuôi nghĩ - Cậu bé lạnh cóng" Song cậu bé đã tháo bỏ tất cả và đứng run rẩy Bà mẹ nuôi đến bên cạnh và bảo cậu bé mặc
đồ trở lại Bà nghe cậu bé gọi người mẹ và cậu chưa bao giờ biết: "Mẹ đã lạnh hơn con lúc này, phải không mẹ?" [15, 245]
Đạo đức gồm cả luân lí mà luân lí chỉ là một phần trong đạo đức mà thôi Đã gọi là người thì phải có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cần, kiệm Nhân là có lòng thương người; Nghĩa là làm việc phải; Lễ là ăn ở cho có lễ độ; Trí để làm việc cho đúng; Tín là nói với ai cũng giữ lời cho người ta tin mình mới làm được việc; Cần là làm việc phải siêng năng; Kiệm là ăn ở dành dụm trong lúc
no để phòng lúc đói, lúc có đề phòng lúc không Người có đạo đức tức là người đã ở trong đạo làm người vậy Đạo đức đã như thế thì không có mới, có
cũ, có đông, có tây nào nữa nghĩa là nhất thiết đời nào, người nào cũng phải giữ đạo đức, ấy mới là người trọn vẹn Dầu nhà bác học đề ra học thuyết nào khác nữa, dầu các chính thể khác nhau hoặc dân chủ, hoặc quân chủ, hoặc
Trang 14cộng sản nữa, cũng không tài nào vượt qua khỏi chân lí của đạo đức, nghĩa là đạo đức thì không bao giờ thay đổi được
Luân lí thì không thế Luân lí thì có thể thay đổi được luôn Luân lí tùy mỗi thời một khác Ví dụ như nước ta về đời nhà Đinh, lập được năm bà hoàng hậu mà đến các đời sau như Lê, Lí, Trần, Tây Sơn, Nguyễn thì chỉ có lập một hoàng hậu mà thôi, như đời Trần thì người trong họ được lấy nhau mà tục ấy đời sau lại cấm Đời nhà Trần khi nào trong nước có việc thì vua triệu những bậc phụ lão trong nước vào điện để bàn bạc mà đến đời sau chỉ một lũ vua tôi làm chuyên chế với nhau mà thôi Lại thí dụ như xứ này hễ cha mẹ chết lại đem ăn thịt hoặc đốt đi, mới gọi là hiếu mà xứ kia phải làm đám tang
có kèn trống linh đình, mới đạo làm con Xem những chứng cớ đó thì đủ biết rằng, luân lí có phải là thư thiên niên bất định đâu, mà kì thật có thể tùy thời
mà thay đổi vậy
Người ta có thể thay đổi được luân lí mà không thể thay đổi được đạo đức Ấy luân lí và đạo đức khác nhau là thế! Nói cho rõ hơn thì; luân lí như cái áo tùy người lớn nhỏ mà thay đổi nhưng không mất hình cái áo đi, còn đạo đức thì như cơm, như nước, như đồ bổ dưỡng, cần cho mọi người, dẫu muốn thay đổi cũng không thay đổi được, thay đổi được thì đạo đức giả
VD3: Biểu cảm
Đường chúng ta đi
" Đêm nay là một đêm chuẩn bị Ngày mai chúng tôi sẽ ra trận Chúng tôi đóng trong làng Bây giờ đã khuya, bốn bề đều im lặng Cho đến ngôi sao xa ngoài khung cửa cũng đứng im, lóng lánh như giọt nước mắt vui lặng lẽ của người vợ ở quê ra gặp chồng sau mười năm trời gian lao và cách biệt Gió se lạnh, thoang thoảng hương lúa lên đòng, thơm như sữa một người mẹ trẻ
Trang 15Tôi nằm đã lâu, không ngủ Không sao ngủ được Có gì đấy, vừa êm ả vừa trào sôi đang dậy trong lòng tôi, người lính đêm nay
Sáng mai chúng tôi sẽ ra trận Đội trưởng của chúng tôi nói:
- Ngủ đi, ngủ ngon đi Mai sẽ làm một trận tiêu diệt thật gọn!
Tôi nghe lời, nhắm mắt, rồi mở mắt Không ngủ được Sáng mai chúng tôi sẽ ra trận Tôi bồi hồi suy nghĩ về việc đó ư? Không, tôi là một người lính
cũ Trong đời tôi, đêm nay là đêm chuẩn bị ra trận lần thứ bao nhiêu rồi, cũng không còn nhớ rõ Điều gì đây? Có gì đây đang trào dậy trong lòng tôi, như một linh cảm mơ hồ, như một hơi men say, một cơn sóng ngầm xao động ở tận chỗ sâu kín nhất của tâm hồn
Thường vẫn vậy đấy, bắt đầu hầu như chẳng có gì cả Chỉ là một giọng hát Đội trưởng chúng tôi vừa tắt đài Trên đài một người con gái nào đó vừa hát một bản dân ca của đất nước ta trong đêm khuya Bây giờ tất cả im lặng rồi, giọt sao ngoài khung cửa đọng lại, đứng im, không nháy nữa, đêm đã đi vào chiều sâu, mà vẫn còn nghe âm vang mãi giọng hát của người con gái lúc nãy Một giọng hát dân ca, ngân nga bát ngát như cánh cò trên đồng lúa miền Nam chạy tới chân trời, có lúc rụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp,
có lúc tinh nghịch, duyên dáng như những đôi chân nhỏ thoăn thoắt gánh lúa chạy trên những con đường làng trộn lẫn bóng tre và bóng nắng Có lẽ không phải là một người con gái đã hát trên đài Đó chính là quê hương ta đang lên tiếng hát Tiếng ngân nga dội lên từ lòng đất, ở trong đó một góc vườn có đôi cây sầu đông và một giàn bầu đong đưa quả nặng, một ngày đã xa mẹ ta đã chôn nhúm nhau của ta thuở ta mới lọt lòng Đó là tiếng ngân của mặt đất, của dòng sông, của những xóm làng và những cánh đồng sau một ngày lao động
và chiến đấu
Không biết các bạn có bao giờ nghĩ như vậy không Riêng tôi cứ mỗi lần nghe tiếng hát đậm đà, uyển chuyển của những bản dân ca Việt Nam, lòng
Trang 16tôi bỗng dưng xao xuyến lạ thường, tôi bỗng đứng lại như sửng sốt, như kinh ngạc, và bàng hoàng tự hỏi: đất nước ta, con người Việt Nam ta vẫn còn giữ được tiếng hát đó ư? Kì diệu biết bao nhiêu! Kì diệu biết bao nhiêu, tiếng hát
và tấm lòng Việt Nam chúng ta!
Dân tộc chúng ta sinh ra và lớn lên trên một mảnh đất mấy nghìn năm nay chưa giờ phút nào nguội tắt ngọn lửa chiến tranh Từ trong đêm mờ xa xôi của lịch sử, hình ảnh cha ông ta, hình ảnh con người Việt Nam suốt hàng trăm thế hệ nối tiếp bao giờ cũng là hình ảnh một con người cầm vũ khí đứng lên trong cuộc chiến đấu trường kì và dữ dội để giành và giữ lấy quyền sống của mình Không biết có nơi nào nữa trên Trái Đất, quyền làm người được bảo vệ bằng nhiều máu đến như vậy không? Giá như chúng ta minh họa lịch
sử dân tộc, thì có trang nào, dòng nào mà không phải vẽ thanh gươm tự vệ và
tô đậm một màu máu? Máu thắm đượm rãnh cày ta gieo hạt giống, máu thắm đượm mảnh sân con ta nô đùa ngày bé, máu thắm đượm con đường nơi đó mẹ
ta lau nước mắt ngày mẹ tiễn ta đi, máu thắm đượm bờ ao em ta giặt quần áo trên chiếc cầu nhỏ gập ghềnh Ôi dân tộc ta từ ttrong máu lửa mà sinh ra, mà lớn lên Từ trong máu lửa bốn nghìn năm chúng ta đứng dậy và cất tiếng nói
Từ trong máu lửa đó chảy cả không gian và thời gian như vậy, tưởng như chỉ
có thể là tiếng kêu rú căm hờn, dân tộc ta chỉ có thể nấc lên tiếng khóc xé ruột, xé lòng Thế nhưng lạ lùng thay, từ trong máu lửa cháy đỏ cả lịch sử, chúng ta lên tiếng nói, và tiếng nói ấy là tiếng hát trữ tình, điềm đạm, trong sáng, duyên dáng và say sưa như một cuộc hò hẹn, xao xuyến như buổi gặp
gỡ ban đầu Một dân tộc đánh giặc bốn nghìn năm mà tiếng hát vấn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt và bình tĩnh biết chừng nào
Cám ơn chị, người con gái hát trên đài hôm nay, cám ơn chị đã hát lên lòng tự tin và sức sống không gì dập tắt nổi của dân tộc ta
Trang 17Đêm nay, đêm chuẩn bị đánh một trận mới sau những trận ác chiến đã qua, cám ơn chị đã hát lên hộ chúng tôi lòng dũng cảm trầm lặng và vững trãi của đất nước, của chúng tôi Sáng mai chúng tôi lại sẽ lên đường Cuộc chiến tranh yêu nước đang cháy trên quê hương"[ 15, 246]
Trong khi đó văn thuyết minh chỉ thuần tuý trình bày kiến thức về đối tượng một cách khách quan Văn thuyết minh có mục đích giúp người đọc người nghe hiểu đúng, hiểu rõ về bản chất của sự vật hiện tượng Mỗi bài thuyết minh nhằm trả lời câu hỏi: sự vật ấy là gì? có đặc điểm gì? có lịch sử hình thành, phát triển ra sao? có công dụng, lợi ích gì? Bởi vậy khi thuyết minh cần tuân theo những đặc điểm, những qui luật nội tại của sự vật hiện tượng Những nhận xét đánh giá về đối tượng thuyết minh không theo chủ quan của người nói người viết mà phải dựa trên tính chất chủ quan của người nói người viết mà phải dựa trên tính khách quan của chúng giúp con người hiểu đặc trưng, tính chất của sự vật và biết cách sử dụng chúng vào mục đích
có lợi cho con người Do vậy, văn thuyết minh gắn với khoa học, nó đòi hỏi
sự chính xác cao về đối tượng
VD: Ngọc Hoàng xử tội ruồi xanh
"Do loài người phát đơn kiện, Ngọc Hoàng Thượng đế mở phiên tòa công khai xử tội loài ruồi Ngọc Hoàng truyền cho vệ sĩ ruồi xanh lên điện, đập bàn thị uy:
- Ruồi kia, loài người kiện mi làm hại chúng sinh, mau mau khai ra tên
họ, chủng loại và nơi ở!
Ruồi sợ hãi quỳ thưa trước vành móng ngựa:
- Con là Ruồi xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh, mắt lưới Họ hàng con rất đông, gồm Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm Nơi ở là nhà vệ sinh, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà ăn, quán vỉa hè Bất kì chỗ nào có thức ăn mà không đậy đượm con đề lấy làm nơi sinh sống " [11, 14]
Trang 18VB khác Các tri thức được trình bày trong VBTM không thể hư cấu, bịa đặt, tưởng tượng mà nó phải luôn luôn trung thực và phù hợp với thực tế Đặc biệt người viết phải biết tôn trọng sự thật Vì thế, nó có tính chất thực dụng, chỉ làm nhiệm vụ cung cấp tri thức là chính
Văn thuyết minh nhằm cung cấp những thông tin xác thực về sự vật hiện tượng, giúp người nghe người đọc nắm được đặc trưng, bản chất, cấu tạo, tính năng, tác dụng của sự vật Nội dung của những VBTM chứa đựng nhiều tri thức về đối tượng được thuyết minh Do vậy, muốn làm được VBTM cần tiến hành điều tra, nghiên cứu, học hỏi để nắm bắt được những tri thức về đối tượng thì những nội dung thuyết minh mới có tác dụng thông tin cao
Một VBTM đạt được hiệu quả thông tin cao nhất khi đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Phản ánh đặc trưng bản chất của sự vật: khi thuyết minh phải lựa chọn những đặc điểm cơ bản nhất, thể hiện rõ nhất bản chất của sự vật hiện tượng Bài thuyết minh cần cung cấp những kiến thức cơ bản về đối tượng
- Thể hiện được cấu tạo, trình tự, logic của sự vật: Khi thuyết minh, cần phải tuân theo một trình tự hợp lí để người đọc hiểu đúng, hiểu rõ về sự vật Tuỳ theo đối tượng thuyết minh mà có thể sắp xếp theo trình tự không
Trang 19gian, thời gian, trình tự cấu tạo của sự vật hoặc theo logic nhận thức Nếu mục đích thuyết minh là tìm hiểu cấu tạo của sự vật thì phải trình bày sự vật theo các cấu tạo của nó
Để đảm bảo hai yêu cầu trên, khi làm văn thuyết minh thì cần phải có tri thức về đối tượng thuyết minh Và muốn có tri thức thì phải biết quan sát Quan sát không đơn giản chỉ là xem, nhìn, mà là xem xét để phát hiện đặc điểm tiêu biểu của sự vật, phân biệt đâu là chính, đâu là phụ Đồng thời còn biết tra cứu từ điển, SGK để có sự tìm hiểu chính xác Thứ nữa là phải biết phân tích để có sự sắp xếp hợp lí các bộ phận, các đặc điểm của sự vật
- Lời văn phải trong sáng sinh động: Để người đọc hiểu đúng, hiểu rõ vấn đề thuyết minh thì văn phong thuyết minh cần giản dị, chuẩn xác Với mục đích là cung cấp thông tin, văn thuyết minh có thể xây dựng hình ảnh, cảm xúc, biện pháp tu từ nhưng yêu cấu cao nhất vẫn là tính khoa học chính xác
Tham khảo VB sau: Mứt me Phan Thiết
“Ở Bình Thuận, hầu như nơi nào cũng có cây me Đặc biệt, ở Phan Thiết và các vùng ngoại ô, do điều kiện thổ nhưỡng thích hợp nên cay me phát triển rất tốt Cây me ngoài việc lấy thân cành làm nhà, cho nghề khai thác mành chà, lấy gỗ dùng làm thớt, lấy lá, trái nấu canh, người dân địa phương còn lấy trái của nó để làm mứt Và trong các loại mứt ngày Tết ở Bình Thuận, nổi tiếng nhất vẫn là mứt me Phan Thiết
Me được chọn làm mứt là me ván già nhưng vẫn còn xanh, chưa chín, trái to ngang, hoặc me đũa, trái dài, mắt thẳng, cơm dày Loại me ươn, me mật không làm được vì mứt nhão, thâm đen, ít ngon
Làm mứt me thật công phu, me hái trên cây xuống hoặc mua về cắt bớt cuống, chỉ chừa lại cỡ đốt tay, đem ngâm nước muối, pha hai muỗng canh trong 3 lít nước, dễ dàng bóc vỏ Dùng mũi dao nhọn xé một đường sống lưng
Trang 20me, tách từng lớp vỏ theo đường trôn ốc, me sạch bỏ ngâm nước muối 2 ngày,
xả bớt chất chua Nhẹ nhàng bổ dọc bụng me sao cho khi lấy hạt không làm trái me gẫy doạn Ngâm nước muối lần nữa để me trắng đều Dùng xăm, xăm
từ trên xuống khắp 2 mặt, lần lượt hết phần me đã chọn Đun nước nóng tan giá, xả đi xả lại 4,5 lượt Khi nào nếm bớt chua, vớt me vẩy ráo nước, tiến hành rim
Thông thường cứ 3kg me tươi bóc vỏ phải dùng đến 1,5 kg đường cát Đường cát trắng me rim càng đẹp, càng ngon Me được xếp thành từng lớp vô thau, rải đường lên Ướp như vậy vài ba tiếng đồng hồ Khi thấy ra nước đường, múc vào thau khác đem thắng cho sên Rồi đổ vào thau me, bắc lên bếp rim với lửa nhỏ Công đoạn này đòi hỏi phải khéo tay và tính kiên nhẫn, nếu nóng nảy là hỏng ngay Rim như vậy đến khi đường đã sền chặt, mới tãi
me hong gió cho khô Thắng nước đường thật keo nhúng trái me rim vào Mứt
me đạt yêu cầu phải có màu vàng trong, bóng mướt, bọc giấy kính trông rất tươi mắt Như vậy, thời gian từ khi làm cho đến khi có mứt ăn cũng phải mất
cả tuần
Nghề làm mứt me ở Bình Thuận không biết có tự bao giờ, có lẽ rất lâu đời Năm nào cũng vậy, những ngày giáp Tết, mứt me được sản xuất hàng loạt, đáp ứng nhu cầu đón Tết cổ truyền của nhân dân
Mứt me cũng được người sành điệu xếp vào hàng của quý Ngày Tết, món mứt me bày ra thết đãi bà con, bạn bè, hấp dẫn vô cùng Chả trách gì Việt Kiều xa quê, đã yêu cầu gia đình, người thân gửi cho được món mứt me Phan Thiết thì mới yên lòng đón Tết” [15, 253]
1.2.2.2 Các dạng bài thuyết minh rất đa dạng, phong phú
a, Thuyết minh một phương pháp
Trang 21Đây là dạng bài chủ yếu nhằm giới thiệu cách thức tạo ra một sản phẩm nào đó Vì thế nội dung thường nêu lên các điều kiện, cách thức, quy trình sản xuất cùng với yêu cầu về chất lượng sản phẩm
Chẳng hạn bài thuyết minh sau:
Bún thang Hà Nội
“Bún là món ăn quen thuộc đối với tất cả mọi người Viêt Nam: bún riêu cua, bún đậu rán, bún ốc, bún chả, bún bung, canh bún cá quả, bún xáo măng thịt vịt, bún chay chỉ chấm với mắm tôm ngay cổng chợ Qua ba ngày Tết, với những món giò, nem, ninh, mọc, những bánh trưng, giò gà, thịt đông nghe chừng đã không còn bắt mắt, bữa bún thang hệt như một chặng nghỉ trên đường xa nắng gắt, ta ghé vào bóng mát gốc cây bên đường, thư thả nhìn mênh mông cảnh vật có lúa reo và hương đồng gió nội
Làm món bún thang thật dễ mà thật khó Cơ bản là nồi nước dùng, thật ngọt của đạm chứ không vương chút mì chính nào mới được Xương lơn, xương gà, quí nhất là xương gà ninh cho thật nhừ, lấy hết độ ngọt Tuyệt đối không thể dùng xương trâu, xương bò vì mùi gây, dù tẩy gừng, tẩy hành nướng cũng không hết Khi bắt đầu sôi phải vớt hết bọt để nồi nước dùng trong vắt
Thịt gà xé thật nhỏ, miếng nạc, miếng mỡ, miếng da, trắng xen nâu,vàng xen ngà ngà mờ ảo Giò lụa thái chỉ, như những chiếc tăm mềm mại Một góc khác sẽ là ruốc tôm bông, lồng khồng như một thứ mây hoàng hôn hiền lành, mây ấy không bị xẹp đi như mây trời gặp cơn gió thổi Trứng tráng thật mỏng, cũng thái chỉ, nguyên màu vàng tươi, màu vàng chanh, màu vàng yến
Một thứ gia vị có người thích, người không đó là củ cải khô dầm giấm thường được đặt thêm vào một góc Một màu vàng thô mang vị vừa chua vừa ngọt vì nó đã ngấm ngập lòng thứ giấm pha đường Giòn giòn, dai dai, sần
Trang 22sật, nó sẽ giao hoá cùng bùi béo Gia vị là rau mùi, hành hoa, nhất là rau răm, tất cả đều phải thái nhỏ li ti Bên cạnh đó, là một thứ gia vị dân giã sinh ra từ đồng lua, ao bèo: con cà cuống Nếu là người sành ăn, phải cho thêm một chút mắm tôm thì bát bún càng dậy mùi hơn
Nếu phở Hà Nội ngon ít nơi sánh kịp, là món quà phổ biến, hầu như phố nào cũng có hàng bán phở, thì bún thang không phải là món ăn bỗ bã, ăn cho qua, cho xong, ăn cho chật bụng như các món quà khác Bún thang kén người làm, và kén cả người ăn Hà Nội có nhiều món ăn ngon, ăn để nó thành
kỉ niệm Nhưng bún thang là một món đặc biệt, nó khác hẳn những bạn đồng hành đi cùng nó hàng ngày, ta gọi là món ăn hay cũng có thể gọi là món quà” [15, 255]
b Thuyết minh một đồ dùng, sản phẩm
Khác với thuyết minh một cách làm, nhằm giới thiệu quy trình tạo ra sản phẩm: thuyết minh một đồ dùng, một sản phẩm chủ yếu nhằm giới thiệu đặc điểm và công dụng của sản phẩm
VD: Họ nhà Kim
“Trong các dụng cụ của con người có lẽ chúng tôi thuộc loại bé nhất Tuy bé nhưng nhà ai cũng cần đến Các bạn có biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi là cái kim khâu, bằng kim loại, bề ngang độ nửa milimet, bề dài khoảng hai, ba xăngtimét, một đầu nhọn, một đầu tù có lỗ chôn để xâu chỉ Kim phải cứng mới dùng được Khi đứt cúc, sứt chỉ, thế nào cũng phải có tôi thì mới xong.Tôi có từ lúc nào, không rõ lắm, nhưng chắc chắn là từ rất xưa
Từ khi con người biết trồng bông dệt vải may áo, chắc là phải cần đến kim để may áo Làm ra cây kim lúc đầu hẳn là rất khó khăn cho nên bây giờ mới có câu tục ngữ: "Có công mài sắt, có ngày nên kim"[11, 16]
Trang 23c Thuyết minh một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử
Dạng bài thuyết minh này gần với thuyết minh một sản phẩm vừa nêu trên Chỉ khác ở chỗ, đây là “sản phẩm” của thiên nhiên kì thú và sản phẩm tiêu biểu cho lịch sử phát triển nhân loại, do con người tạo ra Đó là những di sản có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với một dân tộc cũng như toàn thế giới VD: Chùa Một Cột
" Là một cụm kiến trúc, gồm ngôi chùa và tòa đài xây giữa hồ vuông
Cả cụm vốn có tên là chùa Diên Hựu và đài Liên Hoa Đài này lâu nay quen gọi là chùa Một Cột - hình vuông, mỗi bề 3 mét, mái cong, dựng trên cột đá hình trụ Cột có đường kính 1,2 mét, cao 4 mét đỡ toàn bộ hệ thống những thanh gỗ tạo khung sườn kiên cố cho ngôi đài dựng bên trên, tựa một đóa hoa sen vươn thẳng trên khu ao hình vuông có lan can bằng gạch bao quanh Từ bên ngoài có lối nhỏ bằng gạch đi qua ao đến một chiếc hang xinh xắn dẫn đến Phật đài Trên cửa Phật đài có biển đề "Liên hoa đài"” [15, 257]
d, Thuyết minh một thể loại văn học
Dạng bài nhằm giới thiệu đặc điểm về nội dung và hình thức của một thể loại văn học nào đó
VD: Trữ tình
"Một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự và kịch) làm cơ sở cho một loại tác phẩm văn học Nếu tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện lại một cách khách quan các hiện tượng đời sống, thì trữ tình lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh" [3, 373]
e Thuyết minh một tác giả, tác phẩm văn học
Trang 24Dạng bài nhằm giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của một tác giả văn học hoặc giới thiệu về một tác phẩm nghệ thuật: hoàn cảnh ra đời, nội dung, hình thức và các giá trị của các tác phẩm đó Bài thuyết minh về tác giả, tác phẩm thường chỉ ngắn gọn
VD: Nguyễn Trãi
“Nguyễn Trãi (1380-1442) Hiệu là Ức Trai quê ở làng Chi Ngại (Chí Linh - Hải Dương) sau rời về Nhị Khê (Thường Tín - Hà Tây) Thân sinh là Nguyễn ứng Long(Sau đổi là Nguyễn Phi Khanh), một nho sinh nghèo, học giỏi, đỗ Thái học sinh (Tiến Sĩ) thời Trần Mẹ là Trần Thị Thái, con quan Tư
đồ Trần Nguyên Đán” [6, 9]
1.2.2.3.Văn bản thuyết minh rất cần sự kiện và số liệu
Văn thuyết minh rất cần sự kiện và số liệu Sự kiện và số liệu càng cụ thể, chi tiết, đa dạng, phong phú bao nhiêu thì bài thuyết minh càng có sức thuyết phục bấy nhiêu Ngược lại, nếu bài thuyết minh ít hoặc không có sự kiện và số liệu cụ thể sẽ rơi vào tình trạng nói chung chung, đối tượng thuyết minh không được làm rõ và vì vậy thiếu tính thuyết phục Đây chính là điểm khác biệt để nhận ra giữa văn thuyết minh và văn miêu tả
VD:
Nước ngọt - tài nguyên quí hiếm
“Trên hành tinh của chúng ta, nước bao phủ tới 75% bề mặt trái đất, nhưng có tới 97,5% tổng lượng nước là nước mặn, chỉ có 2,5% là nước ngọt Trong tổng số lượng nước ngọt trên trái đất thì nước ở các chóp băng và dòng sông băng chiếm 74%, phần còn lại chủ yếu nằm ở tầng nước ngầm hoặc tích
tụ trong lòng đất dưới dạng sương mù hay độ ẩm Chỉ có 0,3% lượng nước ngọt là ở ao hồ, sông, suối Lượng nước mà con người khai thác để phục vụ cuộc sống và sản xuất cũng xấp xỉ 1% tổng lượng nước ngọt trên thế giới
Trang 25Lượng nước ngọt rất ít, thế mà nhu cầu sử dụng của con người là quá lớn Theo các nhà khoa học có tới 60 – 70% trọng lượng các sinh vật sống là nước và mọi sự vật sống trên Trái Đất đều cần đến nước Trong thế kỉ 21 này, nước ngọt đã được các quốc gia trên Trái Đất coi là tài nguyên khan hiếm 40% dân số thế giới ở 80 quốc gia đang bị thiếu nước nghiêm trọng,1/3 thế giới đang chịu áp lực về nước Nếu nhân loại không biết tiết kiệm và sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hợp lí thì trong vòng 25 năm nữa, một nửa dân số thế giới sẽ gặp khó khăn vì không có đủ nước uống và tưới tiêu
Theo con số thống kê, trên thế giới có khoảng 263 lưu vực sông quốc
tế, chiếm tới 43,3% diện tích bề mặt Trái Đất (không tính Nam Cực) và là nơi sinh sống của 1/2 dân số thế giới Các dòng sông đã tạo nên một hệ thống đường thuỷ trên bản đồ chính trị thế giới 1/3 trong tổng số 263 lưu vực xuyên biên giới được hai hoặc nhiều quốc gia cùng sử dụng Rất hiếm khi ranh giới
về nước trùng khít với ranh giới hành chính giữa các quốc gia Rất nhiều quốc gia cùng nhau chia sẻ khu vực nước ngầm Tính trung bình, một người sử dụng nước ngọt cho các nhu cầu sinh hoạt ở các nước phát triển gấp 10 lần các nước đang phát triển
Các nhà khoa học trên thế giới đã xác nhận rằng, thiếu nước là một trong hai vấn đề của thế kỉ 21 này (vấn đề kia là biến đổi khí hậu) Lượng nước sử dụng trên toàn cầu đã tăng gấp hơn 3 lần so với năm 1950 Với xu thế hiện nay, sau 20 năm nữa mức nước sử dụng của con người sẽ tăng thêm 40% Khi đó số người bị áp lực về nước không chỉ là 470 triệu người như hiện nay sẽ tăng lên tới 3 tỷ người Hầu hết họ là những người sống ở các nước đang phát triển
Phát triển bền vững và xoá nghèo đói chỉ có thể đạt được khi nhân loại quản lí và đầu tư có hiệu quả hơn vào các dòng sông, vùng đất ngập nước và các vùng đất có hoạt động tưới tiêu ở đó” [15, 260]
Trang 261.2.2.4 Ngôn ngữ và văn phong thuyết minh
Do phải đảm bảo tính khách quan khoa học, nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin trung thực, khách quan và chính xác về đối tượng nên nhìn chung văn thuyết minh phải trong sáng, rõ ràng và đơn nghĩa, trong thông tin ngắn gọn, không rườm rà, lê thê Đấy cũng chính là đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ và văn phong trong VBTM
Các sách từ điển, hướng dẫn du lịch, dạy cách nấu ăn, may mặc, nuôi gia súc, cách trồng cây, hoa, chơi các môn thể thao; giới thiệu và hướng dẫn
sử dụng các sản phẩm, hàng hoá đều thể hiện rõ các đặc điểm ngôn ngữ và văn phong thuyết minh nêu trên
Tuy nhiên, không vì thế mà ngôn ngữ văn phong trong VBTM lại không cần sự mềm mại, hấp dẫn, có tính nghệ thuật cao Nói đúng hơn là tuỳ thuộc vào đối tượng và yêu cầu của mỗi bài thuyết minh mà người viết cần biết lựa chọn phương pháp, ngôn ngữ vă văn phong thuyết minh cho phù hợp
Trên đây là những đặc điểm, cơ bản của văn thuyết minh Đó là tiền đề
để người GV và HS tiến hành việc dạy và học VBTM trong nhà trường Với người viết, đây là cơ sở để nghiên cứu, xác lập quy trình dạy tạo lập VBTM trong nhà trường THPT
Trang 27
CHƯƠNG 2 DẠY TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH Ở NHÀ TRƯỜNG
2.1.1 Các hình thức kết cấu của VBTM (từ trang 165 đến 168)
1 Dàn ý bài văn thuyết minh
2 Lập dàn ý bài văn thuyết minh
Trang 28Gồm 4 phần:
1.Tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh
2 Một số phương pháp thuyết minh
3 Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh
4 Luyện tập
2.1.5 Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh (trang 62 đến 64)
Gồm 3 phần:
1 Đoạn văn thuyết minh
2 Viết đoạn văn thuyết minh
Chương trình Ngữ văn 10, đề cập đến kết cấu, lập dàn ý, đặc điểm, phương pháp thuyết minh những vấn đề trên liên quan chặt chẽ đến việc tạo lập VBTM
Trang 29Trong văn thuyết minh, phương pháp định nghĩa được dùng để nêu lên những tính chất, đặc trưng riêng, những nhận xét đánh giá xác định về vị trí, vai trò công dụng giá trị của sự vật hiện tựợng Người định nghĩa phải xác định đựơc đối tượng thuộc vào loại sự vật, hiện tượng gì và chỉ ra đặc điểm riêng nổi bật của đối tượng trong loại sự vật hiện tượng đó Phương pháp định nghĩa thường được sử dụng về danh lam thắng cảnh, miêu tả một sự vật Tuy nhiên khi định nghĩa cần tránh việc định nghĩa quá rộng, quá hẹp hay trùng lặp, không làm cho người đọc nhận thức được đúng và rõ về sự vật
VD: Thành phố biển Hải Phòng
“Là một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam nằm trong vùng biền đông Bắc Bộ, Hải Phòng có ranh giới phía bắc giáp Quảng Ninh, phía tây giáp Hải Dương, phía nam giáp Thái Bình, cách thủ đô Hà Nội 103 km đường bộ
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 23 độ C, Hải Phòng có lượng mưa hàng năm từ 1600 mm đến 1800 mm, quanh năm thời tiết ấm áp, bốn mùa cây cối xanh tươi
Hải Phòng là một cảng biển lớn, có tầm vóc quốc tế từ hàng trăm năm qua, nằm trong đường hàng hải quan trọng của thế giới, tại ngã tư Á Châu, từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây Trong nhiều thế kỉ qua, tàu buôn của các nước Đông, Tây như Trung quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Tây Ban Nha vẫn không ngừng lui tới bốc dỡ hàng, buôn bán
Hải Phòng là một trung tâm thương mại, một thành phố công nghiệp lâu đời, một đầu mối giao thông quan trọng gồm đủ các hệ thống thuỷ bộ và đường sắt, đường hàng không, phục vụ cho mọi giao lưu kinh tế, văn hoá khắp các tỉnh Bắc bộ Việt Nam, một số tỉnh Nam Trung Quốc và cả vùng Đông Nam Á nữa
Với di chỉ khảo cổ Cát Bèo ở đảo Cát Bà, người ta thấy rằng mảnh đất
ấy đã có ngưới sống cách đây khoảng 6000 năm Hải Phòng hiện còn lưu giữ
Trang 30nhiều di tích lịch sử nhiều danh lam thắng cảnh bao gồm nhiều đền chùa, làng miếu và nhiều lễ hội, sinh hoạt văn hoá từ thượng tầng đến hạ tầng xã ấp
Hải Phòng có khu nghỉ mát với bãi biển vòng quanh bán đảo Đồ Sơn, vươn ra Biển Đông với 5 km” [15, 269]
2.2.1.2 Phương pháp nêu ví dụ
Phương pháp này dùng để chứng minh cho một đặc tính, ý nghĩa giá trị của sự vật hiện tượng Đây là phương pháp thuyết minh có sức thuyết phục, được sử dụng phổ biến, giúp cho người đọc hình dung một cách rõ nét những đặc tính nào đó của đối tượng Do đó, ví dụ được đưa ra cần cụ thể và cần có
sự phân tích, giải thích rõ ràng
VD: Hố đen là gì?
“40 năm trước, căn cứ vào nghiên cứu lí luận các nhà khoa học đã dự đoán có một loại thiên thể gọi là “hố đen” Xét về nghĩa chữ thì “hố đen” chắc chắn không sáng lấp lánh rồi Vậy hố đen là loại thiên thể gì vậy?
Hố đen là một loại thiên thể kì lạ, thể tích chúng rất nhỏ nhưng mật độ rát lớn, mỗi centimet khối vật chất nặng tới mấy chục tỉ tấn Nếu lấy một tí vật chất trên hố đen chỉ bằng hạt gạo đem về Trái Đất thì phải huy động mấy chục vạn tàu thuỷ có trọng tải hàng vạn tấn cùng kéo thì mới kéo nổi Loại vật chất có mật độ lớn như vậy không hề có trên Trái Đất Hành tinh có khối lượng lớn trên Mặt Trời nếu biến thành hố đen thì đường kính sẽ rút ngắn lại chỉ còn 3km
Vì mật độ của hố đen lớn như vậy nên sức hút của chúng cũng rất mạnh Chúng ta đều biết do sức hút của Trái Đất nên quả bóng bị đá lên cao
sẽ rơi xuống đất, chỉ có vệ tinh nhân tạo có tốc độ rất lớn mới thắng được sức hút của Trái Đất để bay lên vũ trụ Nhưng tình hình trên hố đen khác hẳn, do sức hút của hố đen rất lớn nên tất cả vật chất trên hố đen kể cả ánh sáng với tốc độ 30 vạn km/ giây và các tia bức xạ khác đều không thắng được sức hút
Trang 31của hố đen để bay vào vũ trụ Không những thế, hố đen còn hút ánh sáng và mọi vật xung quanh nó Hố đen giống như một chiếc hố không đáy bất cứ vật
gì rơi vào đó đều không thể thoát ra được Vì lí do đó nên chúng ta nhìn lên
hố đen sẽ chỉ thấy màu đen mà không thấy gì trong đó Đặt tên hố đen cho loại thiên thể này là rất đúng nghĩa của nó” [15, 270]
2.2.1.3 Phương pháp viện dẫn ý kiến người khác
Phương pháp này khẳng định bản chất của sự vật hiện tượng Ý kiến được viện dẫn thường là ý kiến của những người hiểu biết, quan tâm, có sự nghiên cứu và có khả năng đưa ra những bằng chứng xác thực về sự vật được nói đến
VD: Sách cúng của người Dao
"Sách cúng được các thầy cúng người Dao coi là bả bối và được gọi một cách trang trọng là sách Thánh”(táy tẩu) Theo ông Bàn Văn Xiêm (thầy cúng người Dao Ho) những sách này của người Dao Đỏ viết bằng chữ Hán và chữ nôm Dao Nội dung có ghi chép về nguồn gốc của các vị thánh, dạy bảo đạo lí làm người, hướng dẫn thầy cúng viết các tấu sớ, làm các lá bùa, cũng như các phép tắc, động tác nhảy múa, bắt quyết trừ tà khi các thầy cúng hành
lễ cấp sắc hay cúng chay, giải hạn
Cũng theo ông Xiêm, người Dao có những cuốn sách chép sự tích Bàn Vương là vị tổ của người Dao hay Bàn Cổ mà người Dao cho là vị thần sáng tạo ra thế giới
Hiện nay sách cúng vẫn được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Dao, đặc biệt là các thầy cúng Trong việc duy trì bảo tồn các nghi lễ tôn giáo cổ truyền của người Dao sách cúng có ý nghĩa rất quan trọng” [15, 271]
2.2.1.4 Dùng số liệu để chứng minh
Trang 32Đây là phương pháp đưa ra những con số cụ thể để người đọc hiểu rõ
về sự vật Đây là phương pháp thường được vận dụng vào trường hợp các sự vật có biểu hiện đặc trưng ở số lượng Việc đưa ra những số liệu cụ thể trong thuyết minh có tác dụng làm tăng thêm tính chính xác, độ tin cậy và sự sinh động của đối tượng được nói tới
VD Kỉ lục về răng
“Cười hở mười cái răng”, điều này chỉ đúng với con người: một con cá sấu chỉ cần hé miệng cười duyên cũng để lộ ra 120 cái răng Trong suốt cuộc đời, một con cá sấu có hơn 3000 chiếc răng, tức là răng của nó rụng đi mọc lại
25 lần Tuy nhiên kỉ lục nhiều răng lại thuộc về cá mập khi nó có bộ trang sức gồm 3000 cái răng trắng xoá mà bất kì hãng sản xuất kem đánh răng nào cũng phải mong muốn Ngay khi một cái bị rụng, một cái khác chờ sãn nơi đúng vị trí đó sẽ mọc ngay Cứ như vậy, trong suốt cuộc đời, cá mập có 20000 răng
Kỉ lục về răng to và nặng nhất là voi Trọng lượng của bộ răng sữa của voi nặng tới 4 kg Còn mỗi cái răng hàm dưới của hà mã cũng nặng tới 1 kg Không nhiều, không to, không nặng như răng của cá mập, voi hay hà mã, nhưng răng của loài hải sư lại khiến cho người ta phải nhớ đến vì nó dài tới 80
cm, bằng chiều cao của một em bé lên 5” [15, 272]
2.2.1.5 Phân loại để thuyết minh
Phân loại để phân tích từng mặt, từng khía cạnh cụ thể của vấn đề, của
sự vật hiện tượng Đối với sự vật đa dạng, nhiều cá thể thì nên phân loại để việc trình bày được dễ dàng, giúp cho người đọc người nghe có thể nhận ra rõ nét từng khía cạnh của vấn đề thuyết minh
VD Tác hại của tiếng ồn
"Tiếng ồn có thể làm hại tới thính giác, gây ra sự mệt mỏi thính giác tức là sự hẫng hụt tạm thời của thính năng, tình trạng này có thể bắt đầu từ
Trang 33những tiếng ồn ở mức 75 đến 80 dB, hoặc một hiệu ứng che lấp ( vì có tiếng
ồn mà không thể nghe nói chuyện, nghe tín hiệu báo động, hình thành trạng thái như cô lập, hoặc mất hẳn thính giác nếu tiếng ồn quá mạnh (tiếng đại bác, tiếng nổ ) hoặc lớn và kéo dài ( trên 85 dB, mỗi ngày 8 tiếng và kéo dài trong nhiều năm) Sự tê liệt thính giác tường do những nguyên nhân nghề nghiệp, nhưng ngày nay có thể còn do những trò chơi quá ồn, nhất là giới trẻ ( âm thanh thường lớn lên tới 105 dB trong những buổi trình diễn nhạc rốc, trong những câu lạc bộ vũ nhạc, các cuộc đua môtô )
Tiếng ồn còn có những tác hại khác đối với sức khoẻ như đối với hệ tim mạch ( làm tăng huyết áp), hệ tiêu hoá hệ thần kinh có nhiều tiếng ồn là tác nhân gây ức chế Xung quanh sân bay LosAngeles số người mắc bệnh tim mạch nhiều hơn nước khác 18% và số vụ tự tử nhiều gấp đôi Ở Nauy, người
ta thấy rõ có mối liên quan giữa tiếng ồn và các bệnh tâm thần Tiếng ồn còn cản trở việc phát triển ngôn ngữ và tập đọc của trẻ em (những em ăn tại trường bị ảnh hưởng đặc biệt rõ, tiếng ồn trong phòng ăn nhà trường nhiều khi vượt quá 80 dB
Sau hết, tiếng ồn phá rối giấc ngủ gây khó ngủ, tỉnh giấc ban đêm và nhất là giảm đi thời gian ngủ say, thời gian có tác dụng nhất đối với sức khoẻ” [15, 272]
2.2.1.6 So sánh để thuyết minh
Có thể so sánh giữa sự vật này với sự vật khác với những điểm giống nhau và khác nhau để qua đó nêu bật những nét riêng, đặc trưng của đối tượng thuyết minh Khi so sánh cần dựa trên một tiêu chí để người đọc người nghe có được một cái nhìn đối sánh về sự vật được nói tới
VD : Những loài vật nào lớn nhất?
“Những loài vật lớn nhất trên thế giới sống ở dưới nước Đó là những loài vật thuộc bộ cá voi Loài lớn nhất là loài cá voi xanh
Trang 34Những chú voi của Châu Phi trông có vẻ rất khổng lồ, một số con có chiều dài tới 8m, cao hơn 4m và nặng tới 6 đén 7 tấn Tuy nhiên những con số
đó thật nhỏ bé khi đặt cạnh những động vật có vú sống ngoài biển khơi Chú
cá voi xanh lớn nhất được biết đến có chiều dài hơn 33m nặng 140 tấn Một
cá voi xanh cái đang thời kì thai nghén nặng tới 200 tấn Chỉ một cái lưỡi của chúng thôi cũng đã nặng tới 4 đến 5 tấn, bằng cả trọng lượng của một voi khổng lồ rồi
Cá voi và cá nhà táng có thể dài tới 20m, đó là một khối thịt và mỡ khổng lồ Không có loài vật nào trên cạn có thể đạt tới những con số đó được,
vì như thế chúng sẽ bị chính trọng lượng của mình làm nghẹt thở mà chết
Một cá voi bị mắc cạn sẽ lập tức bị chết vì nghẹt thở: nước không còn nâng được cơ thể của chúng nữa, trọng lượng cơ thể sẽ đè bẹp phổi và không cho chúng thở” [15, 273]
Tuy nhiên, trong một văn bản thuyết minh thường không sử dụng thuần tuý một phương pháp thuyêt minh mà luôn có sự phối hợp giữa các phương pháp để đối tượng thuyết minh được thể hiện một cách chi tiết, chân thực, sáng rõ Do vậy, tuỳ thuộc vào đặc điểm của đối tượng thuyết minh mà người viết cần kết hợp các phương pháp một cách hợp lí, khoa học và có hiệu quả
2.2.2 Các bước làm văn thuyết minh
Để làm tốt VBTM, bên cạnh việc nắm vững các phương pháp thuyết minh thì HS cần phải nắm vững các bước làm văn thuyết minh Nắm được các bước đó, HS mới có thể triển khai viết bài văn thuyết minh có hiệu quả như mong muốn
2.2.2.1 Xác định đối tượng cần thuyết minh
Muốn tạo lập VBTM, công việc đầu tiên là HS phải xác định được đối tượng thuyết minh là cái gì? - tức đề tài thuyết minh Xác định đúng đối tượng
Trang 35thuyết minh thì HS mới có thể tiến hành viết một bài thuyết minh đạt hiệu quả cao Nếu không xác định đúng đối tượng cần thuyết minh HS dễ rơi vào tình trạng xa đề, lạc đề hay vòng vo Như vậy, qua đây ta thấy được vị trí và vai trò to lớn của việc xác định đối tượng đối với việc tạo lập VBTM
VD: Phạm Văn Đồng (1906 – 2000): Nhà cách mạng nổi tiếng và nhà văn hoá lớn, quê ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức , tỉnh Quảng Ngãi Ông tham gia cách mạng từ năm 1925, đã giữ nhiều cương vị quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, từng là Thủ tướng Chính phủ 30 năm Ông là học trò và là người cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Như vậy, đoạn văn thuyết minh trên, người viết đã xác định được đối tượng cần thuyết minh là tiểu sử của đồng chí Phạm Văn Đồng Vì vậy, các câu văn trong đoạn được viết đều phục vụ đối tượng thuyết minh là tiểu sử Khi xác định đúng đối tượng thuyết minh thì người đọc, người nghe sẽ dễ hiểu và hiểu đúng đối tượng thuyết minh Ngược lại nếu không xác định đúng đối tượng thuyết minh người đọc, người nghe sẽ không hiểu hoặc hiểu sai vấn
đề thuyết minh, sức thuyết phục không cao
2.2.2.2 Xác định mức độ, yêu cầu thuyết minh
Sau khi HS xác định được đối tượng cần thuyết minh ở đây là cái gì thì công việc tiếp theo là phải xác định được mức độ, yêu cầu thuyết minh Mức
độ, yêu cầu thuyết minh thể hiện nhiều cung bậc khác nhau như khái quát, sơ lược hay cụ thể, chi tiết Tuỳ mức độ, yêu cầu mà người viết có những hướng triển khai khác nhau Nếu yêu cầu ở mức độ khái quát thì HS chú ý dùng từ, đặt câu phải súc tích, cô đọng, ngắn gọn tránh đi vào những chi tiết
cụ thể, vụn vặt, lan man, dễ rơi vào tình trạng dài dòng, không cần thiết Nếu mức độ, yêu cầu cụ thể, chi tiết thì HS cần đi sâu vào những chi tiết cụ thể, tỉ
mỉ, khai thác ở nhiều khía cạnh, bình diện khác nhau của đối tượng thuyết minh, sao cho đối tượng hiện lên như trước mắt người đọc, người nghe
Trang 36Xác định rõ mức độ, yêu cầu thuyết minh người viết sẽ tránh được tình trạng quá thừa những chi tiết không cần thiết hoặc bài viết còn quá sơ lược Tuỳ vào mức độ, yêu cầu mà HS tạo lập VBTM sao cho đạt hiệu quả cao VD: Giới thiệu tác giả Trương Hán Siêu và Bài phú sông Bạch Đằng
“Trương Hán Siêu( ? – 1354) người ở Phúc Am, Ninh Thành, nay thuộc Thị xã Ninh Bình, tự là Thăng phủ Hiện chưa rõ Trương Hán Siêu năm nào, chỉ biết ông từng làm môn khách của Trần Hưng Đạo, tham gia kháng chiến chống quân Nguyên, làm quan to dưới bốn đời vua Trần là Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy” Do có tài, có đức, nên khi qua đời, Trương Hán Siêu được thờ ở Văn Miếu
Bài Phú sông Bạch Đằng không rõ sáng tác chính xác năm nào, có lẽ Trương Hán Siêu viết vào đời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, khi nhà Trần suy thoái, cơ đồ đứng trước nguy cơ sụp đổ Đây là tác phẩm không chỉ nổi tiếng ở đời Trần mà còn là một trong những bài phú viêt bằng chữ Hán hay vào bậc nhất nước ta thời Trung đại Bài phú vừa chứa chan lòng tự hào, vừa đọng nỗi đau và có tư tưởng triết lí
Bài phú được viết theo lối cổ thể, tuy có vần nhưng câu văn tương đối
tự do, không bị gò bó về niêm luật" [15, 259]
Văn bản thuyết minh trên viết theo mức độ yêu cầu giới thiệu khái quát
về tác giả Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng Vì vậy, ở đây người viết chỉ giới thiệu những nét khái quát và cơ bản về tiểu sử và giá trị nội dung, nghệ thật của bài phú
VD: Chiếc áo dài Việt Nam
“Đồ mặc của nam và nữ, che thân từ cổ đến đầu gối hoặc quá đầu gối
áo dài có thể có từ 2 đến 5 thân, mở cạnh hoặc giữa; cổ đứng cao, thấp hoặc
cổ bẻ, cổ tròn, cổ chữ V, cổ hình bầu dục, vai liền, vai nối hoặc vai bồng, tay
Trang 37dài hoặc không tay; vạt áo có thể dài, ngắn,rộng, hẹp; gấu gập, vê, thẳng lượn, góc vuông, góc tròn
Áo dài Việt Nam có quá trình phát triển rất đa dạng: nhà tu hành mặc
áo cổ rộng có nẹp, đính dải buộc cạnh, tay thụng; áo dài võ tướng bó sát thân,
cổ tay chật, gọn gàng, có trang trí hoa văn; người dân thường mặc áo dài tứ thân, màu đen(áo dài nữ có cổ viền trắng, áo dài nam có cổ viền bằng the thâm) Đầu thế kỉ 20, nam giới mặc áo dài 5 thân, cài khuy nách, cổ đứng, tay rộng vừa phải; người dân thường mặc áo Thời kì 1930-1940 ở thành thị xuất hiện kiểu áo dài tân thời “Lơ Muya”( Lê Mur – biệt danh của hoạ sĩ Lê Cát Tường) cho nữ giới; áo có cổ cao, cổ bẻ, gấu vê, góc tròn, chiết li cho nổi eo Phụ nữ các dân tộc ít người đều mặc áo dài với các kiểu khác nhau Có địa phương còn quàng thêm khăn chéo vai và quấn quanh bụng dải thắt lưng màu làm tôn vẻ đẹp cơ thể Áo dài Việt Nam hiện nay vẫn giữ được bản sắc truyền thống và trở thành biểu tượng cho ngừơi phụ nữ Việt Nam” [15, 264]
Như vậy, văn bản thuyết minh “Chiếc áo dài Việt Nam”, người viết đã viết theo mức độ, yêu cầu đó là giới thiệu cụ thể chiếc áo dài Việt Nam Do vậy, người viết đã giới thiệu chiếc áo dài rất chi tiết, cụ thể và tỉ mỉ như: “ áo dài có thể có 2 đến 5 thân, mở cạnh hoặc giữa; cổ đứng cao thấp hoặc cổ bẻ,
cổ tròn, cổ chữ V ” hay giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của áo dài, ở mỗi giai đoạn áo dài có những cách tân khác nhau sao cho phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của từng thời kì
Hai VD trên đã minh hoạ mức độ, yêu cầu của thuyết minh Đây là bước tương đối quan trọng và cũng là bước mà HS không chú ý nên khi viết các em không tránh khỏi những sai sót như lan man, quá cụ thể chi tiết hoặc
có những nhận định vội vàng, sơ lược, không có tính thuyết phục cao Chính
vì vậy, trong quá trình dạy tạo lập VBTM giáo viên phải hết sức chú ý, cần hình thành cho các em thói quen khi viết bài