1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Nhân vật người nông dân trong các sáng tác của Nam Cao trước cách mạng

84 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 571,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cả những cơ sở thực tiễn trên là lý do khiến tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Nhân vật người nông dân trong các sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng với việc đọc hiểu các tác phẩm

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 “Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một

cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiệsn những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người”… Nó đem lại cho con người sự hiểu biết, sự thỏa mãn, nhu cầu thẩm mỹ, góp phần hoàn thiện nhân cách con người, hướng con người đến cái Chân - Thiện - Mỹ Vì vậy mà M.Gorki đã khẳng định: “Văn học là nhân học” Tác phẩm văn học cũng vì thế mà được đưa vào giảng dạy trong nhà trường

1.2 Tác phẩm văn học ở nhà trường phổ thông có một vị trí đặc biệt quan trọng Nó là một bộ phận của môn học Ngữ văn Nó vừa là bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, vừa là bộ môn công cụ, là phương tiện để người giáo viên giáo dục học sinh về cái hay, cái đẹp, cái xấu nên tránh ở đời Tác phẩm văn học là bằng chứng cụ thể, sinh động về cuộc sống, con người, thời đại giúp học sinh hiểu biết lĩnh hội Từ đó hoàn thiện quá trình rèn luyện ở trường phổ thông của học sinh

Không những vậy, dạy văn trong nhà trường phổ thông là dạy cho học sinh phương pháp đọc, kỹ năng đọc, năng lực đọc để các em có thể đọc hiểu bất cứ tác phẩm nào cùng loại Để làm được điều này là việc không dễ đối với một người giáo viên dạy Văn và càng khó hơn khi mà ngày nay các phương tiện thông tin đại chúng phát triển mạnh

1.3 Trước đây, giảng dạy môn Văn thường lấy giáo viên là nhân vật trung tâm cảm thụ và truyền thụ kiến thức cho học sinh theo hình thức thầy giảng - trò nghe, thầy đọc - trò chép mà không hề quan tâm tới việc học sinh cảm nhận như thế nào về tác phẩm Do vậy mà vấn đề đổi mới phương pháp

Trang 2

được đặt lên hàng đầu nhằm phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh, đồng thời cũng là tâm điểm của ngành giáo dục hiện nay

Hiện nay, trong chương trình phổ thông, các tác phẩm văn học được sắp xếp theo loại thể chứ không theo tiến trình lịch sử văn học như trước nên việc đọc hiểu chúng cũng phải căn cứ theo loại thể và những đặc điểm cơ bản của loại thể đó Vấn đề đọc hiểu tác phẩm theo loại thể đặt ra đã thu hút được đông đảo sự quan tâm của người giáo viên Bởi đây là kiểu dạy học mới nhằm vào hoạt động chủ yếu của người học, nói khác đi học sinh là nhân vật trung tâm, giáo viên là người chỉ đạo hướng dẫn học sinh tìm hiểu chiếm lĩnh và cảm thụ tác phẩm Vì vậy đọc hiểu được coi là phương pháp đặc trưng, phương pháp quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức

1.4 Nam Cao là một nhà văn - nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn Việc nghiên cứu một tác gia có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà và trong nhà trường là điều cần thiết và thiết thực đối với việc giảng dạy sau này của giáo viên dạy Văn Chọn đề tài này, người viết muốn góp phần đổi mới phương pháp, cụ thể là nâng cao chất lượng giờ học các tác phẩm viết về người nông dân của Nam Cao, để từ đó góp phần đổi mới dạy học tác phẩm tự sự nói riêng và đổi mới dạy học Ngữ văn nói chung

1.5 Là một sinh viên, một giáo viên tương lai, nghiên cứu đề tài này người viết có thể nắm vững kiến thức, tiếp cận phương pháp dạy học mới và phương pháp nghiên cứu khoa học

Tất cả những cơ sở thực tiễn trên là lý do khiến tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Nhân vật người nông dân trong các sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng với việc đọc hiểu các tác phẩm viết về người nông dân của Nam Cao trong nhà trường phổ thông trung học”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về thể loại, về đọc hiểu tác phẩm trong nhà trường là

Trang 3

vấn đề không hoàn toàn mới mẻ Đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt được những thành tựu, có tác dụng làm nền tảng mở ra nhiều con đường tiếp nhận

và giảng dạy khác nhau như:

2.1.1 Các công trình nghiên cứu giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể:

- Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong: “Hiểu văn, dạy văn” đã đưa ra phương pháp giảng dạy theo đặc trưng thể loại

- Giáo sư Trần Thanh Đạm trong cuốn “ Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo đặc trưng thể loại” đã đi sâu nghiên cứu vấn đề thể loại và đưa ra các phương pháp giảng dạy theo đặc trưng từng thể loại…

- Cuốn “Thi pháp hiện đại” của Đỗ Đức Hiểu có nội dung quan trọng là thi pháp truyện và giảng dạy truyện Tuy nhiên công trình này cũng chỉ là mới thành công trên lĩnh vực nghiên cứu phê bình, chưa đề cập đến phương pháp giảng dạy

- Trong cuốn “Mấy vấn đề thi pháp truyện” của Nguyễn Thái Hòa cũng

đề cập đến một thể loại của tự sự là truyện ngắn song vẫn dừng lại ở mức độ khái quát

2.1.2 Các công trình nghiên cứu về đọc hiểu

- “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 10 THPT môn Ngữ văn”

- “Đọc và tiếp nhận văn chương” - Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng

- “Tiếp cận văn học” - Nguyễn Trọng Hoàn, ở cuốn này tác giả đã trình bày về lý thuyết tiếp nhận, sự tối ưu của phương pháp đọc hiểu song mới chỉ

là khái quát

- “Lý thuyết đọc - hiểu” - Roman Ingarden, trong cuốn này ông cũng trình bày về đọc hiểu một cách cơ bản nhất song chưa cụ thể

Trang 4

- Nguyễn Trọng Hoàn trong cuốn “Rèn tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương” cũng đề cập đọc - hiểu là một phương thức tiếp cận tác phẩm

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thể loại, nghiên cứu về đọc hiểu Điều đó cho thấy vấn đề thể loại là không hoàn toàn mới mẻ Các nhà nghiên cứu đã đạt được những thành tựu khá rực rỡ làm cơ sở để chúng ta giảng dạy Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng các công trình trên mới chỉ nghiên cứu chung về loại thể, về đọc - hiểu một thể loại, một tác gia cụ thể Với tư cách một giáo viên dạy văn tương lai chúng ta có tinh thần tiếp thu, học tập, kế thừa và vận dụng những thành tựu đó vào giảng dạy các tác phẩm

tự sự viết về người nông dân của Nam Cao Để từ đó, rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết để đọc hiểu một tác phẩm tự sự văn chương

2.2 Nhân vật là một trong ba đặc điểm quan trọng của thể loại tự sự Khi khảo sát một tác phẩm tự sự bắt buộc chúng ta phải khảo sát đặc điểm này Nó là nơi thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của nhà văn đối với hiện thực cuộc sống Đối với các sáng tác của Nam Cao đã có không ít bài báo, những công trình nghiên cứu về đặc trưng này của thể loại tự sự Dựa trên những đặc điểm của nhân vật, giới phê bình nghiên cứu đã có nhiều khám phá, cũng như những thành tựu nổi bật Ta có thể kể ra một số công trình cụ thể như sau:

- “Những nhân vật, những cuộc đời và nẻo đường đi tìm nhân cách” -

Trang 5

Việt Trung

……

Dựa trên những đặc điểm vừa nêu cùng với mục đích, yêu cầu, lý do chọn đề tài, khóa luận tốt nghiệp là một sự tiếp tục sâu và cụ thể các công trình nghiên cứu của giới phê bình nghiên cứu với tư cách là phương pháp giảng dạy Do vậy, có thể nói đây là một hướng đi mới cho “sự tiếp tục” ấy

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp các vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

- Khảo sát, thống kê các công trình nghiên cứu về đọc hiểu, thể loại tự

sự và đặc điểm nhân vật trong các sáng tác của Nam Cao

- Xử lí, phân tích vấn đề đã khảo sát, vận dụng vào tác phẩm cụ thể

4 Đối tượng nghiên cứu

- Đặc điểm loại hình tự sự qua truyện ngắn viết về người nông dân của Nam Cao

Trang 6

trường phổ thông trung học

5 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này chỉ giới hạn ở phạm vi nghiên cứu:

- Đặc điểm loại hình tự sự qua một số truyện ngắn viết về người nông dân của Nam Cao được dạy ở trường phổ thông trung học: “Lão Hạc”, “Chí Phèo”

- Các bước dạy đọc - hiểu

- Nhân vật người nông dân trong các sáng tác trước Cách mạng của Nam Cao

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hồi cứu tài liệu (chép, trích dẫn) để xử lý những kiến thức liên quan đến

đề tài

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thực nghiệm

7 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận này hi vọng trên cơ sở những đặc điểm về nhân vật, để đọc hiểu một số tác phẩm viết về người nông dân của Nam Cao sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc đổi mới phương pháp dạy học

8 Bố cục của khóa luận

Trang 7

của Nam Cao trong trường phổ thông trung học

Chương 3: Giáo án thực nghiệm

- Kết luận

Trang 8

Loại thể là một phạm trù quan trọng của lí luận văn học, còn được xem

là khoa học nghiên cứu văn chương Trong tất cả những vấn đề có ý nghĩa quy luật được khoa học này nghiên cứu, loại thể là vấn đề được xem như là

ổn định nhất

Cũng như mọi khái niệm khác trong lí luận văn học, khái niệm loại thể

là kết quả của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa thực tế cụ thể, sinh động của các sáng tác văn học Loại thể là một khái niệm kép bao gồm hai khái niệm: Loại và Thể

Loai (loại hình) là phương thức nhà văn sử dụng để sáng tác ra hình tượng nghệ thuật của tác phẩm, bao gồm ba loại là: Tự sự, trữ tình và kịch (theo cách phân chia của Aristôt – “Nghệ thuật thi ca”)

Loại là vấn đề có tính quy luật, chi phối chủ yếu đến chất lượng bên trong của hình tượng nghệ thuật Quy luật này chi phối cấu trúc nội tại của mỗi loại hình tượng

Thể (thể tài) là hình thức tổ chức ngôn ngữ và quy mô của tác phẩm Thể vô cùng phong phú, như trong loại trữ tình có thể có: Lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn…; trong loại tự sự có: Truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, ký…

Loại thể chính là hệ thống của tác phẩm, nó chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó một nội dung nhất định tương ứng với một hình thức nhất định Trong một loại thể bao giờ cũng có sự quy định thống nhất về đề tài,

Trang 9

chủ đề, cảm hứng hệ thống nhân vật, hệ thống kết cấu, lời văn Sự thống nhất các phương diện được quy định bởi phương thức chiếm lĩnh đời sống Nó ứng với hoạt động nhận thức của con người và tạo ra một kênh giao tiếp với bạn đọc Như vậy, nói tới loại thể là nói đến cách tổ chức tác phẩm - một kiểu tái hiện cuộc sống theo lối gián tiếp

Thể loại là một hiện tượng loại hình sáng tác và giao tiếp Nó mang tính quy luật, tính quy luật của thể loại được hiểu trên ba phương diện:

Trước hết, nó là sự phối hợp giữa nội dung và hình thức để tạo thành một chỉnh thể

Tính quy luật của thể loại còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ ra một giới hạn tiếp xúc với đời sống một cách tiếp cận, một góc nhìn, một trường quan sát, một quan niệm về đời sống Điều này vừa mang tính quy luật, vừa có ý nghĩa như một nguyên tắc để xây dựng thế giới nghệ thuật Mỗi một thể loại

có một trường quan sát, một điểm nhìn của nhà văn Như vậy, thể loại có liên quan đến trường quan sát, đến điểm nhìn của nhà văn, quan niệm của nhà văn Thể loại chỉ tính ổn định, bền vững trong cấu trúc của tác phẩm nhưng lại luôn luôn được tái sinh và đổi mới từng giai đoạn phát triển văn học Như vậy, việc nghiên cứu thể loại sẽ giúp cho người đọc nhận ra được những vấn

đề có tính chất kế thừa trong tiến trình phát triển của văn học

Thể loại vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại bởi nó có quan hệ chặt chẽ với lịch sử văn học

1.1.1.2 Sự phân loại

1.1.1.2.1 Trước hết, việc phân chia các tác phẩm văn học thành loại thể không phải chỉ là do nhu cầu của tư duy, con người ta bao giờ cũng muốn phân chia sự vật thành loại thể cho dễ nhận thức, mà trước tiên do nhu cầu tất yếu của việc cảm thụ và lĩnh hội tác phẩm văn học và của việc phê bình nghiên cứu giảng dạy các tác phẩm văn học Việc phân chia văn học ra thành

Trang 10

loại thể, như trên đã nói là kết quả của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa thực

tế tác phẩm sinh động, ngược lại kết quả đó lại giúp sự phân tích, nhận thức

và cảm thụ từng tác phẩm cụ thể, riêng lẻ Đó là ý nghĩa thực tiễn chủ yếu nhất của việc phân chia loại thể văn học Khi chúng ta hiểu được thế nào là loại tự sự, trữ tình, loại kịch, thế nào là thể truyện, thể ký, thể thơ… điều đó

sẽ giúp chúng ta tìm hiểu và cảm thụ các tác phẩm cụ thể được sâu sắc hơn, tinh tế hơn và do đó phân tích giảng dạy có kết quả hơn

1.1.1.2.2 Xuất phát từ mục đích trên chúng ta thấy tiêu chuẩn và căn cứ hợp lý nhất để phân chia loại thể văn học chính là phương thức kết cấu tác phẩm văn học, trước hết là kết cấu hình tượng hoặc hệ thống hình tượng của tác phẩm Nếu hình tượng thiên nhiều về mặt biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả ta sẽ có tác phẩm “trữ tình”; nếu hình tượng thiên về mặt phản ánh con người, sự việc trong cuộc sống ta sẽ có tác phẩm “tự sự” Tác phẩm tự sự tập trung cô đọng đến mức độ bản thân nhân vật, sự việc, câu chuyện có thể tự mình bộc lộ một cách độc lập trên trang sách hoặc trên sân khấu, không cần

sự “dẫn truyện của tác giả” như thế ta sẽ có tác phẩm “kịch” Trữ tình, tự sự, kịch là ba phương thức cơ bản nhất của sự phản ánh hiện thực cuộc sống và biểu hiện nội tâm tác giả, ba phương thức cơ bản nhất của sự cấu tạo hình tượng, kiến trúc tác phẩm văn học đồng thời đó cũng là ba “loại” cơ bản nhất, trong lòng mỗi “loại” và trên biên giới của các “loại” sẽ nảy sinh rất nhiều thể khác nhau của sự sáng tác văn học

Như vậy, giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể có nghĩa là giảng dạy tác phẩm văn học dựa vào những đặc trưng của loại thể, ở khóa luận tốt nghiệp này tôi chỉ đi sâu vào một trong ba đặc trưng của thể loại tự sự như đã nói ở trên: đặc điểm về nhân vật

1.1.1 3 Thể loại tự sự

1.1.1.3.1 Khái niệm

Trang 11

Khác với các ngành khoa học tự nhiên, văn học là một loại hình khoa học xã hội cho nên tất cả các khái niệm đưa ra không thể chính xác tuyệt đối

mà hết sức phong phú và đa dạng Khái niệm về tự sự và tác phẩm tự sự cũng không phải là duy nhất

Theo “Từ điển tiếng Việt 2009” thì “tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh”

Xét dưới góc độ thuật ngữ, theo tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” thì khái niệm tự sự đươc hiểu là “phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương diện khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học”

Xét dưới góc độ của nhà lí luận văn học thì “tác phẩm tự sự là loại tác phẩm phản ánh đời sống trong quá trình khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó”

Theo Trần Thanh Đạm: “Tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan “như một cái gì tách biệt”, “ở bên ngoài” đối với tác giả thành một câu chuyện có sự diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh, có

sự phát triển tâm trạng, tính cách, hành động của con người” [2,10]

Từ các ý kiến trên, từ các hướng nghiên cứu của các tác giả khác nhau, trên các góc độ của các lĩnh vực khác nhau, chúng ta có thể đi đến một cách hiểu chung về thể loại tự sự như sau: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh cụ thể hiện thực đời sống một cách khách quan, bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết…có đầu, có đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó”

1.1.1.3.2 Cách phân chia thể loại tự sự

Như trên đã định nghĩa thì hiểu một cách đơn giản nhất tự sự là kể chuyện Nếu xét về hình thức lời văn, tự sự tồn tại dưới hai dạng là văn xuôi

Trang 12

và văn vần Xét theo tiến trình lịch sử, người ta chia thành tự sự dân gian, tự

sự trung đại và tự sự hiện đại Nếu xét về dung lượng thì tự sự phân thành truyện ngắn và truyện dài (còn gọi là tiểu thuyết) Và nếu phân loại theo phương pháp sáng tác thì tự sự bao gồm tự sự cổ điển, tự sự lãng mạn, tự sự hiện thực xã hội chủ nghĩa

Như vậy, ngay ở cách phân chia thì thể loại tự sự đã bao gồm rất nhiều thể loại khác nhau, mỗi loại đều có đặc điểm riêng Ở đây, trong các thể loại

tự sự tôi chỉ quan tâm nghiên cứu tự sự hiện đại qua một số tác phẩm Nam Cao ở nhà trường phổ thông trung học (cụ thể là qua đặc trưng thứ hai)

1.1.1.3.3 Đặc trưng của thể loại tự sự

Đặc trưng của thể loại tự sự là những đặc điểm cơ bản nhất để có thể nhận ra loại hình văn học tự sự Những đặc điểm của tự sự sẽ đối lập với những đặc điểm của loại hình văn học khác: kịch, trữ tình

“Đi tìm đặc trưng của tác phẩm tự sự thật ra không quá vất vả như tìm đặc trưng của tác phẩm trữ tình Truyện là một khái niệm rộng bao gồm cả thể tài chủ yếu thuộc loại hình tự sự Tự sự có nghĩa là kể chuyện, và có kể chuyện là có cốt truyện Cho nên đặc trưng của loại hình tự sự cũng chính là đặc trưng của truyện nói chung” [2,157]

Theo “Từ điển tiếng Việt 2009” thì “truyện là tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật và diễn biến sự kiện thông qua lối kể của nhân dân” Dựa vào định nghĩa này ta có thể chỉ ra đặc trưng của truyện (tác phẩm tự sự) như sau:

Trang 13

nòng cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ và sự phát triển tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học loại tự sự”

Theo giáo trình “ Lý luận văn học” của Đại học tổng hợp do Hà Minh Đức chủ biên thì cốt truyện lại được định nghĩa “ là một hệ thống các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm”

Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học” thì cốt truyện lại là “sự phát triển hành động tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch, đôi khi cả tác phẩm trữ tình”

Từ các định nghĩa ta có thể đi đến một cách hiểu chung nhất: cốt truyện

là một tập hợp các biến cố, sự kiện, các tình tiết diễn ra trong tác phẩm, được sắp xếp theo một trật tự logic nhất định

Cốt truyện là một hệ thống đầy đủ bao gồm năm thành phần: trình bày (giới thiệu), khai đoạn (thắt nút), phát triển (xung đột), cao trào (đỉnh điểm), kết thúc (mở nút)

Hầu hết các tác phẩm tự sự đều phản ánh xung đột xã hội, phản ánh quan hệ xã hội nên phần quan trọng nhất của cốt truyện là bốn phần sau

Trong quá trình vận động phát triển của loại hình tự sự, khái niệm của cốt truyện trở nên linh hoạt hơn, có thể không bao gồm đầy đủ năm thành phần Có tác phẩm có cốt truyện đơn giản (có thể không có xung đột) hay người ta có thể nói tác phẩm không có cốt truyện nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, cốt truyện cũng bao gồm ba thành phần: quá trình hình thành (sự kiện xuất hiện như thế nào), phát triển, kết thúc

Mặc dù là thành phần không thể thiếu của tác phẩm tự sự nhưng cốt truyện không đóng vai trò quyết định đến sự thành công, sức hấp dẫn của một tác phẩm văn học, cùng một cốt truyện có thể tồn tại nhiều tác phẩm khác

Trang 14

nhau với những chất lượng tác phẩm không giống nhau Chẳng hạn như Nguyễn Du đã mượn cốt truyện của Trung Quốc “Kim Vân Kiều truyện” để viết nên “Truyện Kiều” bất hủ, là một tác phẩm rất thành công, rất đặc sắc trong khi đó “ Kim Vân Kiều truyện” lại là một tác phẩm không mấy đặc sắc Cốt truyện không phải là một thành phần tất yếu của mọi tác phẩm văn học thuộc các loại hình khác nhau mà nó chỉ là thành phần tất yếu của kịch, của tác phẩm tự sự Không thể tìm thấy cái gọi là cốt truyện ở một tác phẩm trữ tình theo ý nghĩa đầy đủ của một khái niệm cốt truyện

Tập hợp các sự kiện, các biến cố tồn tại trong đời sống khi được nhà văn lưa chọn để tổ chức thành một cốt truyện với ý nghĩa đầy đủ của khái niệm này lúc đó cốt truyện đã in đậm dấu ấn, tư tưởng và phong cách của nhà văn

Cốt truyện có nhiều cách phân loại khác nhau:

- Dựa vào quy mô và dung lượng của một tác phẩm tự sự, người ta chia thành:

+ Cốt truyện đơn tuyến: thường xuất hiện trong các truyện ngắn, truyện vừa có quy mô và dung lượng nhỏ, vừa phải, nó quan tâm tới một phương diện nào đó của xã hội, của đời sống

+ Cốt truyện đa tuyến: nó là cốt truyện của những tác phẩm tự sự có qui

mô lớn, phản ánh nhiều phượng diện của xã hội, của đời sống, nhiều mối quan hệ xã hội đa dạng, phong phú, phức tạp, nó diễn ra ở nhiều không gian khác nhau và ở những khoảng thời gian khác nhau

- Dựa trên các đặc điểm kết cấu: kết cấu theo trục thời gian và kết cầu không gian:

+ Theo trục thời gian có hai kiểu cốt truyện:

Các sự kiện, các biến cố được sắp xếp theo một trật tự tuyến tính hay còn gọi là thời gian đơn chiều (thời gian khách quan) Ở đây, các sự kiện được

Trang 15

sắp xếp theo trật tự: cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau: thường xuất hiện ở các tác phẩm dân gian, trung đại, một số tác phẩm hiện đại Cốt truyện tổ chức theo thời gian đa chiều (thời gian tâm lý) Các sự kiện được sắp xếp theo một trật tự đan xen: quá khứ, hiện tại, tương lai được sắp xếp xen lẫn vào nhau theo dụng ý của tác giả Kiểu sắp xếp này thường xuất hiện ở các tác phẩm tự sự hiện đại, ở những tác phẩm mà nhà văn thường không tập trung sự quan tâm và chú ý của mình vào các biến cố, các sự kiện

mà tập trung vào đời sống tình cảm, diễn biến tâm lý nhân vật Cách sắp xếp này có thể giúp nhà văn lược bỏ những sự kiện những tình tiết ít tác động đến đời sống tâm lý, tình cảm của nhân vật, nó đem lại cho người đọc cảm giác không phải đọc một câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ mà đang chứng kiến một câu chuyện đang diễn ra trước mắt “ Chí Phèo” của Nam Cao có cốt truyện rất tiêu biểu cho kiểu cốt truyện tổ chức theo thời gian đa chiều Tác giả kể lại toàn bộ cuộc đời Chí Phèo nhưng lại không kể theo trình tự thời gian mà đi từ hiện tại về quá khứ sau đó lại trở về hiện tại

+ Theo kết cấu không gian: trong một cốt truyện có nhiều sự kiện, biến

cố có thể diễn ra không cùng một không gian, một hoàn cảnh nhưng lại có thể diễn ra trong cùng một khoảng thời gian Trong điện ảnh, người ta phải sử dụng biện pháp đồng hiện để xử lí hiện thực này nhưng trong tác phẩm văn học không thể làm được như vậy được vì vậy bắt buộc nhà văn phải tổ chức cốt truyện theo trật tự không gian Nhà văn phải tái hiện lần lượt các không gian nhưng sắp sếp theo trật tự nào thì hoàn toàn lệ thuộc vào ý đồ và tư tưởng của nhà văn ; cốt truyện còn lệ thuộc vào điểm nhìn(tiêu cự) của nhà văn : một sự kiện diễn ra trong đời sống, diễn ra trong sự chứng kiến của nhiều người nhưng mỗi người lại có cách nhìn và lựa chọn cho mình một điểm nhìn khác nhau vì thế sự kiện được trình bày như thế nào trong cốt truyện nó không hoàn toàn lệ thuộc vào đời sống khách quan mà còn lệ thuộc

Trang 16

vào thái độ chủ quan của tác giả

Cốt truyện là cơ sở để nhân vật hành động, là hình thức quan trọng để nhà văn bộc lộ tư tưởng của mình, nhìn chung các cốt truyện trong tác phẩm

tự sự nó phản ánh các quan hệ xã hội, các xung đột xã hội thông qua mối quan hệ giữa các nhân vật , các xung đột trong đời sống tâm lý và tính cách của mỗi nhân vật nhưng không bao giờ được phép đồng nhất các quan hệ xã hội với các quan hệ của các nhân vật trong tác phẩm cũng như đồng nhất các quan hệ xã hội với các xung đột trong đời sống tâm lý của các nhân vật trong tác phẩm vì các quan hệ xã hội và xung đột xã hội là sản phẩm của đời sống khách quan, nó bị chi phối và điều chỉnh bởi các quan hệ xã hội; còn ở trong cốt truyện của tác phẩm tự sự nó là sản phẩm của sự sáng tạo, tưởng tượng và

hư cấu, nó bị chi phối bởi các quy luật tâm lý và đời sống tư tưởng của chủ thể sáng tạo

1.1.1.3.3.2 Nhân vật

Cốt truyện mặc dầu là yếu tố tất nhiên của truyện (tác phẩm tự sự) nhưng không phải là yếu tố quan trọng nhất Cốt truyện là sự việc, là biến cố đang vận động, phát triển nhưng trung tâm của cốt truyện là nhân vật, đối tượng chủ yếu của văn học là những con người với cuộc sống bên trong và cuộc đời bên ngoài của họ Vì vậy, đặc trưng thứ hai của tác phẩm tự sự là nhân vật, đây là đặc trưng cơ bản nhất, sức hấp dẫn của tác phẩm chính là cách nhà văn xây dựng nhân vật, toàn bộ tư tưởng tình cảm của nhà văn đều được thể hiện qua nhân vật Đây chính là đặc điểm mà chúng ta sẽ phải đi sâu nghiên cứu khảo sát

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học

Thế nhưng, theo một số nhà lí luận và theo thuật ngữ văn học thì khái niệm “nhân vật” được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều Đó

Trang 17

không phải chỉ là con người, những con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm có tên hoặc không tên, được khắc sâu hay chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sự vật, loài vật hoặc ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người

Cần thấy rằng, đặc điểm quan trọng nhất của tác phẩm là nhân vật Nhân vật là hình thức của tự sự, nó là phương tiện mà nhà văn sử dụng, phản ánh cuộc sống khách quan Mỗi một nhân vật trong tác phẩm tự sự bao giờ cũng đặt vào rất nhiều mối quan hệ: quan hệ với hoàn cảnh, quan hệ với môi trường, quan hệ với cộng đồng Những quan hệ ấy là căn cứ và là cơ sở để nhà văn thể hiện tính cách nhân vật Ngoài ra tính cách nhân vật còn được khắc họa thông qua ngoại hình, hoạt động, ngôn ngữ

1.1.1.3.3.3 Ngôn ngữ

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ vì vậy bất kỳ loại hình văn chương nào: tự sự, trữ tình… thì cũng phải sử dụng ngôn ngữ làm vật liệu để xây dựng hình tượng Ngôn ngữ văn chương được lấy từ ngôn ngữ đời sống nhưng khi nó đi vào tác phẩm văn học thì nó trở thành ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ đời sống có chức năng để giao tiếp, để tư duy Ngôn ngữ nghệ thuật cũng có chức năng như thế nhưng ngoài ra ngôn ngữ nghệ thuật còn có chức năng riêng vì thế khi trở thành ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ sẽ có những đặc điểm mà do chức năng nghệ thuật ấy đem lại: chính xác, hàm súc,

có giá trị tạo hình, có khả năng biểu cảm… Khi ngôn ngữ nghệ thuật đi vào mỗi thể loại thì thể loại tác động sẽ tạo ra đặc điểm ngôn ngữ riêng của mỗi thể loại

Ngôn ngữ tự sự có đầy đủ các đặc điểm của ngôn ngữ nói chung, nó có tất cả các đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật và có đặc điểm riêng của phương thức tự sự, nó rất gần gũi với ngôn ngữ đời sống, ít cách điệu hơn ngôn ngữ trữ tình nhưng nó phải thỏa mãn chức năng của loại hình tự sự

Trang 18

Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự chia thành hai loại: ngôn ngữ nhân vật kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm

Ngôn ngữ nhân vật kể chuyện lại chia thành:

- Ngôn ngữ nhân vật đứng ngoài cốt truyện (người kể chuyện): người

kể chuyện xuất hiện với tư cách là người quan sát và trần thuật Trong tự sự dân gian và tự sự trung đại người kể chuyện sử dụng ngôn ngữ gián tiếp, đến

tự sự hiện đại thì nhân vật người kể chuyện đồng thời sử dụng hai kiểu ngôn ngữ: gián tiếp và nửa gián tiếp

- Nhân vật kể chuyện tham gia vào các biến cố trong tác phẩm và trở thành ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Vậy ngôn ngữ nhân vật là gì? Có hai quan niệm: Một là ngôn ngữ nhân vật là các phát ngôn của nhân vật Hai

là, theo Phan Ngọc: ngôn ngữ nhân vật không phải là tất cả các phát ngôn của nhân vật mà ngôn ngữ nhân vật là các phát ngôn mà ngoài nội dung thông báo còn mang sắc điệu thẩm mĩ Như vậy, ngôn ngữ nhân vật sẽ có từ vựng nhân vật (mỗi loại người có vốn từ riêng), cú pháp nhân vật ( đặt câu, ngôn ngữ địa phương) để khi nhân vật phát ngôn sẽ nhận ra nhân vật thuộc loại người nào Bởi vậy, tất cả các phát ngôn của nhân vật ngoài ý nghĩa thông báo còn biểu thị một thái độ, ngoài từ vựng, cú pháp còn có yếu tố giọng điệu

Ngôn ngữ nhân vật chia thành ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại

Truyện là thể loại văn học dùng lối kể chuyện để phản ánh hiện thực và biểu hiện tâm tư của con người Sự tồn tại của cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ trong mối tương quan khăng khít với nhau là đặc trưng cơ bản của truyện với tư cách là một thể loại văn học

1.1.2 Vấn đề tiếp nhận văn học

Mục đích của dạy tác phẩm văn chương xét đến cùng là dạy người ta tiếp nhận tác phẩm Tiếp nhận văn học ra dời từ rất sớm nhưng tiếp nhận văn

Trang 19

học được nhìn nhận như một lý thuyết để đi vào lý giải và giải phẫu tác phẩm văn chương thì mới thực sự bắt đầu từ thế kỷ XIX Ở nước ta, người đầu tiên đưa vấn đề này vào trong nhà trường là Giáo sư Phan Trọng Luận với cuốn

“Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” (1983)

Trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương” Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng đã nêu lên những nội dung bao quát nhất của lý thuyết tiếp nhận 1.1.2.1 Tiếp nhận văn học

1.1.2.1.1 Tiếp nhận văn học là gì

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” thì “Tiếp nhận văn học được xem là họat động chiếm lĩnh giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của các tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo”

Tiếp nhận văn học được xem như “ thi pháp ứng dụng”, từng bước chuyển chủ thể tiếp nhận vào chủ thể văn học để người đọc trực tiếp tham gia vào những tình huống văn học tạo điều kiện để người tiếp nhận được cắt nghĩa, thể nghiệm, nếm trải, sẻ chia và tạo nên sự đồng cảm nghệ thuật đồng thời người tiếp nhận cũng bộc lộ một số phương diện về thiên hướng, năng lực thẩm mĩ và phẩm chất của mình

Tiếp nhận văn học cũng được xem như một quá trình “đối tượng hóa sức mạnh bản chất con người” của cá thể trong xã hội Để thực hiện quá trình

đó, chủ thể tiếp nhận không chỉ dựa vào những phân tích văn bản ngôn từ một cách máy móc rồi khái quát giá trị ý nghĩa của tác phẩm, bởi thực chất của việc tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp đặc biệt giữa người đọc với nhà văn qua tác phẩm

Nói tới “tiếp nhận” chính là đề cập hai phương diện thống nhất bản chất của một vấn đề: về phía đối tượng - tức tác phẩm văn học, khi được tiếp nhận,

Trang 20

nó không còn là những “kí hiệu tĩnh”, không còn là hình thức tồn tại khách quan của những con chữ khô khan mà trở nên một thế giới có hồn, có đời sống, có số phận, hoàn cảnh, sự việc và tâm lí Có được điều đó hay không hoặc có đến mức độ nào - nhân tố có vai trò quyết định - lại do khả năng chuyển kí hiệu thẩm mĩ sang hoạt động thẩm mĩ của chủ thể tiếp nhận: người đọc

1.1.2.1.2 Bản chất tiếp nhận văn học

Về bản chất, có thể xem tiếp nhận văn học là một quá trình tác động thẩm mĩ, người đọc tiếp nối và tham gia vào mục đích sáng tạo của nhà văn, hiện thực hóa ý đồ nghệ thuật của nhà văn qua sự đồng điệu và nhân lên cảm xúc, qua sự lay thức tâm hồn và mở ra những hiểu biết mới mẻ về cuộc đời Dưới ảnh hưởng tích cực của hình tượng văn học, quá trình tiếp nhận hướng con người vào quy luật vận động của cái đẹp và sự kiến tạo thế giới tinh thần phong phú, đa dạng

1.1.2.2 Cơ sở tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.2.2.1 Quá trình sáng tạo tác phẩm của nhà văn

Trong bốn thành tố tạo nên một quá trình sáng tác và thưởng thức văn học (thời đại, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc) thì nhà văn với tư cách là chủ thể sáng tạo đóng vai trò quan trọng nhất

Hoạt động của nhà văn bắt đầu bằng sự quan sát, quan sát đối tượng thẩm mĩ khách quan nảy sinh trong thời đại và quan sát nhu cầu thẩm mĩ của bạn đọc Mục đích hoạt động sáng tạo của nhà văn là biến đổi đối tượng thẩm

mĩ khách quan thành nhu cầu thẩm mĩ xã hội Đây là toàn bộ quá trình sáng tác của nhà văn nhưng trong quá trình ấy nhà văn sử dụng phương thức nào

để sáng tạo ra tác phẩm?

Lâu nay, theo cách phân chia thông thường thì tác phẩm văn học được chia thành ba loại là trữ tình, kịch và tự sự Nhưng khi nói tới thể loại là phải

Trang 21

nói tới phương thức mà nhà văn sáng tạo nên tác phẩm Và muốn chiếm lĩnh tác phẩm thì phải biết tác phẩm đó làm ra bằng cách nào, như thế nào?

Nếu như tác phẩm trữ tình là tác phẩm mà nhà văn phản ánh trực tiếp đời sống khách quan trong nội dung tác phẩm, nghĩa là nội dung tác phẩm là đời sống được phản ánh thông qua cảm xúc, tâm trạng của nhà văn; và nếu một tác phẩm kịch là một tác phẩm được sáng tạo thông qua các mâu thuẫn, các xung đột hoặc do nhà soạn kịch sáng tạo ra dựa vào một câu chuyện, một cốt truyện có sẵn thì tác phẩm tự sự là tác phẩm mà trong đó hiện thực đời sống được phản ánh bằng các hình ảnh khách quan Nhà văn nhận thức khách quan, phản ánh hiện thực đời sống vào trong tác phẩm thông qua lăng kính chủ quan của mình Nói cách khác, hiện thực đời sống được phản ánh thông qua nhận thức, thông qua sự khái quát, đánh giá của nhà văn và nhà văn bao giờ cũng gửi gắm vào đó những tư tưởng, tình cảm của mình

1.1.2.2.2 Con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn học

Muốn tiếp nhận một đối tượng thì trước hết phải hiểu đối tượng ấy như thế nào đồng thời phải dựa vào cơ chế hoạt động tiếp nhận gồm bốn bước là: Đọc, phân tích, cắt nghĩa, bình giá Tiếp nhận một tác phẩm tự sự cũng phải dựa vào đặc điểm ấy

1.1.2.2.2.1 Đọc

Đọc là sự khởi đầu cho sự tiếp nhận và hoạt động này là hoạt động sáng tạo, hoạt động này mang tính trực cảm Đọc văn trước hết phải phụ thuộc văn bản tác phẩm Văn bản tác phẩm tồn tại một cách khách quan, nó là sản phảm sáng tạo của nhà văn, nó được tổ chức bởi các kí hiệu ngôn ngữ Người đọc chỉ có thể tiếp cận để giải mã các kí hiệu ngôn ngữ đó bằng cách đọc tác phẩm

Đọc văn là một lao động khoa học, người đọc phải phát huy trực cảm

và khả năng hoạt động ngôn ngữ trong một môi trường văn hóa thẩm mĩ Đọc

Trang 22

văn là để hiểu tác phẩm, để tiếp nhận nội sinh và ngoại sinh từ tác phẩm Đọc văn để sáng tạo ra con người

Mỗi kiểu, mỗi loại văn bản có cách đọc khác nhau Đọc thơ trữ tình khác với đọc một tác phẩm văn xuôi tự sự, đọc một vở kịch khác với đọc một truyện ngắn

1.1.2.2.2.2 Hoạt động phân tích

Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất Phân tích tác phẩm văn học là thao tác tháo gỡ tất cả những tương quan vốn không thể tách rời nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật, để rồi ghép hợp lại, người tiếp nhận sẽ có một cái nhìn phong phú và sâu sắc đối với tác phẩm văn học Hoạt động phân tích không thể tiến hành với tất cả các yếu tố cấu thành tác phẩm mà “phải lựa chọn ra những yếu tố có bản sắc tác phẩm, biết đi sâu vào cảm xúc mãnh liệt trung thực nhất trong thế giới nội tâm, vượt qua sự đầy đủ vốn quen thuộc và sáo mòn, kiếm tìm sự súc tích của ngôn ngữ nghệ thuật” (Nguyễn Trọng Hoàn)

1.1.2.2.2.3 Hoạt động cắt nghĩa

Cắt nghĩa là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận văn chương Cắt nghĩa để làm rõ tác phẩm ấy, không chỉ làm tường minh nghĩa ngôn ngữ của tác phẩm mà còn phải cắt nghĩa hình tượng của tác phẩm để từ cái được phản ánh, người đọc nhận thức cái được biểu hiện trong tác phẩm Cắt nghĩa đem lại nhận thức chắc chắn, có cơ sở về tác phẩm văn học Có hiểu được tác phẩm văn chương thì mới cắt nghĩa được Xét đến cùng thì việc cắt nghĩa tác phẩm văn chương, ngoài những hiểu biết khoa học, ngoài những công cụ và thao tác khoa học thì việc cắt nghĩa tác phẩm còn liên quan đến vốn sống, vốn hiểu biết và trạng thái tình cảm của mỗi người đọc

1.1.2.2.2.4 Hoạt động bình giá

Trang 23

Trong cơ chế tiếp nhận tác phẩm thì hoạt động bình giá là hoạt động cuối cùng của quá trình tiếp nhận tác phẩm Toàn bộ việc bình giá ấy dựa trên các căn cứ của hoạt động đọc, phân tích, cắt nghĩa Như vậy, những nhận xét, đánh giá sẽ mang tính khách quan Nhưng trong cơ chế tiếp nhận văn chương bao giờ cũng kèm theo sự đánh giá, bình phẩm về tác phẩm với những quan điểm, tư tưởng và tiêu chuẩn thẩm mĩ đậm màu sắc cá nhân chủ quan

Khi bình giá, người đọc phải đề cao nội dung, lý tưởng về cuộc sống và con người trên cơ sở khái quát hóa, điển hình hóa lý tưởng ấy trong hình tượng văn học Đồng thời trong hoạt động bình giá cũng cần phải lưu ý đến cái đẹp được nhận thức và đánh giá như thế nào, bởi vì bản chất nghệ thuật của tác phẩm văn chương là cái đẹp của tư tưởng và quan niệm của nhà văn

về cuộc sống, cái đẹp của hình thức thể hiện… Trọng tâm của hoạt động bình giá là cái mới về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Cần tránh sự bình giá phiến diện, chủ quan, bảo thủ

Tóm lại, tiếp nhận tác phẩm văn học bao gồm một hệ thống hoạt động

có quan hệ chặt chẽ với nhau: đọc, phân tích, cắt nghĩa và bình giá Trình tự

hệ thống này không thể đảo ngược Đọc là yêu cầu bắt buộc để tiếp cận tác phẩm văn học và định hướng cho sự phân tích Hoạt động cắt nghĩa xác định tính chính xác của nội dung phân tích Hoạt động bình giá mở rộng, đi sâu hơn vào giá trị tác phẩm bằng sự phong phú và đầy cá tính của người tiếp nhận tác phẩm

1.1.3.Hoạt động tiếp nhận với vấn đề thể loại

Hoạt động tiếp nhận là một vấn đề có liên quan đến hoạt động dạy và học Nó như là cơ sở và những căn cứ lý thuyết của phương pháp dạy học, nó thuộc về khoa học giáo dục, còn vấn đề thể loại thuộc phạm trù lí luận văn học, nó thuộc về khoa học cơ bản của khoa văn học Lí luận văn học nói chung và vấn đề thể loại nói riêng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động dạy và

Trang 24

học tác phẩm văn học trong nhà trường Lí thuyết về thể loại được sử dụng như những công cụ quan trọng bởi một lẽ thể loại là phương thức mà nhà văn

sử dụng để tạo ra tác phẩm và trong hoạt động dạy tác phẩm thì cái đích cuối cùng là nắm vững và hiểu tác phẩm Muốn như vậy thì ngoài việc biết tác phẩm nói cái gì, còn biết tác phẩm làm ra như thế nào, bằng cách nào Người đọc tác phẩm phải đi lại con đường mà người làm ra tác phẩm đã đi, nhưng để

đi trên con đường ấy, người đọc sẽ được hướng dẫn bởi những lí thuyết được rút ra từ việc nghiên cứu tác phẩm, trong đó có những lí thuyết về thể loại 1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Vị trí của nhà văn Nam Cao trong nền văn học Việt Nam

Nam Cao không chỉ là đại biểu xuất sắc của dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945, mà còn là một trong những tác gia tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thế kỉ XX Sáng tác của Nam Cao đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian và càng thử thách lại càng ngời sáng

Nam Cao thuộc trong số những cây bút hiếm hoi của nền văn xuôi hiện đại có tư tưởng, phong cách sáng tạo riêng độc đáo, có những cách tân lớn lao góp phần quan trọng vào tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Nam Cao đặc biệt rất thành công khi viết về người nông dân

1.2.2 Tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông trung học Trong nhà trường phổ thông, Nam Cao được đưa vào giảng dạy với tư cách là một tác gia văn học Tác phẩm của Nam Cao được giảng dạy chính thức ở hai cấp học: cấp trung học cơ sở là tác phẩm “Lão Hạc” (lớp 8) và cấp trung học phổ thông là tác phẩm “Chí Phèo” (lớp 11) Cả hai tác phẩm của Nam Cao được giảng dạy ở nhà trường phổ thông trung học đều viết về người nông dân rất thành công, rất đặc sắc

1.2.3 Thực tiễn việc giảng dạy tác phẩm văn chương và tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông trung học hiện nay

Trang 25

Lâu nay, người ta quan tâm đến việc giảng dạy tác phẩm văn học theo tiến trình lịch sử, theo chủ đề, không quan tâm nhiều đến thể loại nên cách dạy còn nhiều phiến diện, học sinh chưa hiểu kỹ, hiểu sâu tác phẩm

Bên cạnh đó, không ít giáo viên còn chưa hiểu hết những đặc trưng của thể loại tự sự nên hầu hết các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn ở phổ thông trung học đều dạy theo lối sáo mòn, đó là dạy theo từng nội dung, chủ đề Nhân vật là một trong ba đặc trưng của thể loại tự sự, do vậy cũng không được xác định đúng tầm quan trọng cũng như giá trị của nó khi khảo sát tác phẩm

Việc giảng dạy các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông trung học cũng gặp nhiều khó khăn và hạn chế như trên Mong muốn tìm ra một phương pháp giảng dạy các tác phẩm của Nam Cao viết về người nông dân nên người viết đã lựa chọn đề tài khóa luận này dựa trên đặc trưng thứ hai của thể loại tự sự, từ đó khảo sát các sáng tác của Nam Cao trong nhà trường phổ thông trung học

Trang 26

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG

VỚI VIỆC ĐỌC HIỂU CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ

NGƯỜI NÔNG DÂN CỦA NAM CAO TRONG

TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRUNG HỌC

2.1 Nhân vật và vai trò của nhân vật trong tác phẩm tự sự nói chung 2.1.1 Khái niệm nhân vật

Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ thời cổ đại là “persona” (tiếng Latinh) chỉ mặt nạ được dùng để đeo vào mặt người diễn viên khi biểu diễn trên sân khấu Sau này “persona” trong giáo trình phát triển trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vật

Giáo trình “Lí luận văn học” đã định nghĩa: “nhân vật là một đối tượng được miêu tả một cách tập trung đến mức có sức sống riêng nào đó ở bên trong tùy theo nhiệm vụ nghệ thuật mà tác giả trao cho nó” “Đối tượng” ở đây có thể là con người có tên cụ thể hoặc không có tên có thể là con vật, đồ vật, thậm chí là các hiện tượng liên quan đến con người

Trong một tác phẩm tự sự ít nhất phải có một nhân vật nhưng nhiều nhất là bao nhiêu thì ta không biết được, nhưng các nhân vật lại không bình đẳng với nhau về mặt tư tưởng nghệ thuật, vì vậy không phải bất kỳ nhân vật nào trong tác phẩm tự sự cũng có tính cách Trong một tác phẩm có nhiều nhân vật có khi chỉ có nhân vật chính có tính cách, còn các nhân vật phụ chỉ làm nổi bật tính cách nhân vật chính

Giáo trình “Lí luận văn học” chia nhân vật thành hai loại là nhân vật trực tiếp tham gia vào các biến cố, các sự kiện của tác phẩm và hiện tượng

Trang 27

người kể chuyện

2.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm tự sự nói chung

Đối với mỗi một tác phẩm văn học thì nhân vật đóng một vai trò quan trọng Riêng với tác phẩm tự sự thì vai trò của nhân vật càng thể hiện rõ nét bởi toàn bộ tư tưởng, tình cảm, thái độ của nhà văn đều được gửi gắm qua nhân vật Vai trò của nhân vật trong tác phẩm tự sự được thể hiện qua cả nội dung và hình thức của tác phẩm

2.1.2.1 Đối với nội dung tác phẩm

Nhân vật có các vai trò sau:

- Nhân vật là công cụ để tạo nên thế giới nghệ thuật của tác phẩm

- Nhân vật là chìa khóa để nhà văn mở rộng đề tài khiến cho tác phẩm

có tầm bao quát cuộc sống một cách rộng rãi

- Nhân vật không chỉ giúp nhà văn mở rộng môi trường mà còn giúp nhà văn đi sâu vào vào vấn đề cốt lõi của phạm vi hiện thực Hay nói cách khác, nhân vật có vai trò quyết định đi sâu vào chủ đề

- Nhân vật còn là phương tiện để nhà văn tái hiện con người với các đặc điểm về số phận, chiều hướng con đường đời, tính cách

- Cuối cùng, nhân vật là phương tiện để nhà văn khái quát tư tưởng của tác phẩm Theo Likhadep: “nhân vật là phương tiện tất yếu và quan trọng nhất

để thể hiện tư tưởng của tác phẩm Hệ thống nhân vật đặc biệt là nhân vật chính và nhân vật trung tâm là phương tiện để nhà văn thể hiện tư tưởng trong tác phẩm của mình”

2.1.2.2 Đối với hình thức của tác phẩm

Cũng theo Likhadep thì: nhân vật là phương diện có tính thứ nhất trong tác phẩm quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu

Trang 28

- Với cốt truyện: chiều hướng con đường đời của nhân vật chính là xương sống, là cái sườn của cốt truyện

- Với kết cấu: nhân vật là yếu tố quyết định tổ chức, kết cấu của tác phẩm Loại nhân vật sẽ quyết định mối quan hệ xã hội của chúng

- Nhân vật còn quyết định sự lựa chọn chi tiết trong tác phẩm Kiểu nhân vật sẽ quyết định sự lựa chọn chi tiết nào trong tác phẩm

- Nhân vật sẽ quyết định sự lựa chọn ngôn ngữ Loại tính cách nhân vật

sẽ quyết định ngôn ngữ của tác phẩm: Nhân vật chính diện sử dụng ngôn ngữ trân trọng, ngợi ca còn nhân vật phản diện sẽ sử dụng ngôn ngữ phê phán, đả kích

Như vậy, với cả nội dung và hình thức của tác phẩm tự sự nhân vật đều

có một vai trò to lớn, nếu thiếu đi nhân vật thì không thể có một tác phẩm tự

sự Dù là nhân vật có tên hay không tên, dù là đồ vật hay con vật… thì chúng đều là thành phần quan trọng, không thể thiếu trong tác phẩm tự sự nói chung 2.2 Nhân vật trong các sáng tác trước Cách mạng của Nam Cao

Nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao thường là những con người bình thường, nhỏ bé, có tình cảm éo le hoặc số phận bất hạnh Trước Cách mạng, Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính: Đề tài người nông dân và đề tài người trí thức tiểu tư sản Xét theo đó, trong các sáng tác của Nam Cao sẽ

có hai kiểu loại nhân vật xét về mặt xã hội là: Người trí thức tiểu tư sản nghèo

và người nông dân ở quê hương Dù là người trí thức hay người nông dân thì Nam Cao đều đi sâu vào khai thác những nỗi đau khổ tận cùng của họ, qua đó phản ánh, tố cáo hiện thực xã hội lúc đó, thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của tác giả Nam Cao đã xây dựng họ trở thành những điển hình nghệ thuật bất hủ “vừa có những nét cá biệt sinh động, vừa có tính khái quát cao, phản ánh được những nét tiêu biểu nhất của hiện thực” Nam Cao còn đi sâu khám phá, khai thác tâm lí nhân vật để nhân vật hiện lên sống động, nhiều vẻ, chân

Trang 29

thực

2.3 Nhân vật người nông dân trong các sáng tác trước Cách mạng của Nam Cao

2.3.1 Khái niệm người nông dân

Theo “Từ điển tiếng Việt 2009” thì người nông dân: “là người lao động sản xuất nông nghiệp” Đó là những người chiếm một số lượng lớn trong thành phần xã hội, đóng vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Hiểu một cách đơn giản, họ là những người lao động gắn với công việc đồng ruộng tạo ra lương thực, thực phẩm cho con người

Hình tượng người nông dân đã đi vào nhiều sáng tác văn học, và với Nam Cao đó là một trong hai kiểu nhân vật chính trong các sáng tác của ông góp phần làm nên sự thành công và tên tuổi bất hủ của Nam Cao

2.3.2 Nhân vật người nông dân trong các sáng tác trước Cách mạng của Nam Cao

2.3.2.1 Khái quát

Nhân vật người nông dân chiếm số lượng lớn trong các sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng như: Chí Phèo, Lão Hạc, Lang Rận( trong các truyện ngắn cùng tên); Mụ Lợi (trong “Lang Rận”), Trương Rự, Đức, Nhi (trong “Nửa đêm”)… Đối với họ, Nam Cao quan tâm tới những hạng cố cùng, những số phận hẩm hiu bị ức hiếp nhiều nhất Ông đi sâu vào những trường hợp con người bị lăng nhục một cách độc ác mà xét đến cùng cũng chẳng qua

là vì họ nghèo đói Sự nghèo đói đã đẩy họ vào con đường cùng không lối thoát phải lựa chọn cho mình cái chết… Sự khốn khổ của họ đã được Nam Cao phơi bày rất chân thực, rất sinh động trên những trang văn đầy nước mắt Mặc dù vậy tuy khốn khổ, nghèo đói nhưng một bộ phận người nông dân vẫn giữ được phẩm chất lương thiện, đẹp đẽ đúng như bản chất vốn có của họ

Trang 30

2.3.2.2 Phân loại: Sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối Căn

cứ vào số phận của người nông dân khi họ bị đẩy vào con đường cùng, họ trở nên như thế nào, ta có thể chia thành:

- Những người nông dân bị đẩy vào con đường cùng dẫn đến tha hóa, lưu manh hóa nhưng trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn luôn khao khát lương thiện

- Những người nông dân bị đẩy đến con đường cùng nhưng không chấp nhận bị tha hóa, lưu manh hóa

2.3.2.2.1 Những người nông dân bị đẩy vào con đường cùng dẫn đến tha hóa, lưu manh hóa nhưng trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn luôn khao khát lương thiện

Hoàn cảnh sống có vai trò quan trọng trong việc thay đổi tính cách con người Chính cái nghèo, cái đói đã làm cho con người ta trở nên nhỏ nhen, ích

kỷ, đố kỵ với những người xung quanh, từ đó tạo nên những định kiến xã hội

vô nhân đạo đẩy bao người hiền lành, lương thiện đến chỗ mất dần nhân cách

và lòng tự trọng Cái nghèo không những có thể gây chết người vì đói mà nghèo còn có thể làm biến chất và hủy hoại nhân cách con người, hủy hoại cả nhân hình, nhân tính, điều này cũng không kém phần nguy hại

Sống trong xã hội ngột ngạt bất công và đầy những định kiến đó, dù đã

cố gắng để thoát ra song nhân vật của Nam Cao vẫn rơi vào tuyệt vọng không lối thoát, trở thành những kẻ xấu xa, mất hết bản chất tốt đẹp vốn có của mình

2.3.2.2.1.1 Những con người bị méo mó về nhân hình

Trong một số sáng tác của Nam Cao, người nông dân hiện lên dưới hình dạng của những con vật, đồ vật trống rỗng, vô hồn Đây là hiện tượng không bình thường của con người nhưng lại là một hiên thực trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng và hiện thực đó đã được Nam Cao phản ánh rõ nét

Trang 31

trong tác phẩm của mình

Nếu như Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố dù cực khổ, nghèo đói nhưng vẫn có một khuôn mặt người, thậm chí chị còn được miêu tả là một phụ nữ đẹp, chị không bao giờ bị méo mó về nhân hình thì các nhân vật của Nam Cao như Chí Phèo, Thị Nở (trong “Chí Phèo”), Trương Rự, Đức,Nhi (trong “Nửa đêm”), mụ Lợi, Lang Rận (trong “Lang Rận”)lại không thể có được một khuôn mặt giống như khuôn mặt người Sống trong xã hội đó, thân phận của họ trở nên cùng cực, bé nhỏ, méo mó về hình dạng Nhiều nhân vật của Nam Cao hiện lên người không ra người, vật không ra vật, họ thật tội nghiệp, đáng thương

Ngay ở đầu tác phẩm “Chí Phèo”, người đọc bắt gặp một Chí Phèo bằng xương, bằng thịt ngật ngưỡng bước ra từ trang sách của Nam Cao với một diện mạo cũng rất ấn tượng Đó là một con người mang hình hài của một con vật : “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết! Hắn mặc quần nái đen với cái

áo tây vàng Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế Trông gớm chết!” Vậy là chỉ bằng một đoạn văn ngắn, Nam Cao đã vẽ ra trước mắt người đọc chân dung một con vật Dõi theo diễn biến cuộc đời Chí Phèo từ khi hắn sinh ra ta sẽ thấy được quá trình biến Chí Phèo từ một con người trở thành con vật Sinh ra

đã bị bỏ rơi ở cái lò gạch bỏ hoang, Chí Phèo đi ở cho hết nhà này đến nhà

nọ, năm hai mươi tuổi Chí đi ở cho nhà Bá Kiến, vì ghen tuông vô cớ mà Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù Và rồi sau bảy, tám năm biệt tích, Chí Phèo trở

về làng với một hình hài khác hẳn đó là hình hài của một con vật Không những thế, mọi hành động của hắn qua thời gian tôi luyện ở nhà tù đế quốc thực dân cũng trở nên dữ tợn và hung bạo Gương mặt với những vết sẹo đã ngăn cách Chí với dân làng Vũ Đại, với cộng đồng Chí trở nên xa lạ với mọi

Trang 32

người và xa lạ với chính bản thân hắn

Tạo hóa đã không bất công khi vẫn cho Chí một khuôn mặt người lúc sinh ra Nhưng Chí Phèo lại thật bất hạnh khi được đặt trong xã hội thối nát lúc bấy giờ để rồi chính xã hội ấy đã cướp đi của Chí hình hài của một con người và thay vào đó là hình dạng của một con quỷ

Đọc “Chí Phèo” ta còn biết đến một Thị Nở - nơi hội tụ của những gì xấu xí, tủi nhục, bất hạnh nhất trong kiếp sống con người Nếu như Chí Phèo lúc sinh ra còn được tạo hóa ban tặng cho một khuôn mặt người thì Thị Nở sinh ra vốn là sự tập trung tất cả những gì bất công, mỉa mai của tạo hóa Và hình như tất cả những gì xấu xí, kém may mắn nhất ở trên đời này đều tập trung vào người đàn bà tội nghiệp ấy Chúng ta khó mà tìm thấy được trong văn chương một nhân vật nào của “phái đẹp” mà lại xấu đến thế : “Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu hai má nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng trên cổ người Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với cái môi cũng cố to cho không thua với cái mũi… Đã thế, thị lại dở hơi, đó

là một ân huệ đặc biệt của Thượng đế chí công…Và thị lại nghèo…Và thị lại

là dòng giống của một nhà có mả hủi…Người ta tránh thị như tránh một con vật rất tởm” Đó là bức chân dung thật quái dị, khác thường Đọc đoạn văn miêu tả đó, người đọc cứ ngỡ mình đang được tiếp xúc với một con vật, con vật đó cũng thật thô kệch, xấu xí

Thị Nở đã xấu, lại còn nghèo, lại còn dở hơi, thuộc dòng mả hủi Như thế thì còn gì bất hạnh hơn, chua xót hơn Thị sống ở trên đời cũng như Chí Phèo, thị không được dân làng thừa nhận, không được coi là một con người Dân làng Vũ Đại cứ lảng tránh thị, ghê tởm thị như ghê tởm một thứ bệnh

Trang 33

truyền nhiễm nào đó Và Thị Nở đã bị dân làng Vũ Đại gạt ra khỏi cộng đồng người, thị mang thân phận người nhưng lại không được quyền giao tiếp với loài người Thị Nở đã nhập vào thế giới những nhân vật dị dạng của Nam Cao, trở thành hàng xóm của Mụ Lợi, Lang Rận(trong “Lang Rận”), Trạch Văn Đoành( trong “Đôi móng giò”), Trương Rự, Đức, Nhi(trong “Nửa đêm”)… Nhưng đằng sau hình dạng “xấu như ma chê quỷ hờn”, người không

ra người, vật không ra vật là một trái tim, một tình cảm rất người của Thị Nở Thị đã mang đến cho Chí Phèo tình yêu thương, sự chăm sóc rất chân thành khiến cho Chí Phèo hoàn lương, thức tỉnh…

Thi pháp truyện truyền thống khi xây dựng nhân vật bao giờ cũng tuân theo nguyên tắc có sự thống nhất giữa hình thức và tính cách, Chị Dậu trong

“Tắt đèn” của Ngô Tất Tố cũng vậy Nhưng phần nhiều nhân vật của Nam Cao thì ngược lại, dường như Nam Cao cố tình tạo nên sự trái ngược giữa hình thức bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật Nhiều nhân vật nông dân của Nam Cao không thể “trông mặt mà bắt hình dong”, nhân vật Thị

Nở là một trong những nhân vật như vậy Tuy Thị Nở có vẻ ngoài xấu nhưng lại là người duy nhất trong làng Vũ Đại coi Chí Phèo là người, yêu thương chăm sóc Chí, mang đến cho Chí một tình yêu thương chân thành, đã làm thức tỉnh con người Chí…

Đọc Nam Cao, người đọc luôn nhức nhối bởi những mảnh đời nhỏ bé,

éo le, thấp cổ bé họng trong xã hội Tuy mỗi người là một cảnh đời khác nhau, phong phú nhiều màu vẻ nhưng tựu chung lại vẫn là hình ảnh những người nông dân hiền lành, lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, bị méo

mó dị dạng ngay ở chính hình hài của mình

2.3.2.2.1.2 Những con người bị tha hóa về nhân tính

Dưới cái nhìn khách quan của Nam Cao, cuộc sống ở nông thôn ngột ngạt, bế tắc, vô vọng, con người vật vã, quằn quại, đau khổ Người nông dân

Trang 34

chỉ biết cúi đầu chịu đựng đến khi không chịu đựng được nữa thì dẫn đến sự tha hóa về nhân tính Đó là những người nông dân như: Chí Phèo (trong “Chí Phèo”), Trương Rự, Đức( “Nửa đêm”), Lộ(trong “Tư cách mõ”), người cha(trong “Trẻ con không được ăn thịt chó”), bà cái Tý(trong “Một bữa no”)…

Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là một người nông dân hiền lành, lương thiện Như biết bao người nông dân hiền lành vô tội khác của làng Vũ Đại, Chí Phèo từng ước mơ có một gia đình nho nhỏ:

“Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải…” Nhưng rồi Chí đã bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa khi chưa kịp thực hiện ước mơ của mình Ta lật lại từng trang đời của Chí Phèo để thấy được quá trình trượt dốc từ một người lương thiện đến một kẻ lưu manh của nhân vật này

Nam Cao miêu tả cuộc đời Chí Phèo từ khi hắn sinh ra trên đời cho đến lúc chết - một cuộc đời bị khép kín trong vòng luẩn quẩn đầy tủi nhục, tăm tối Trong làng Vũ Đại, Chí Phèo là một thằng “cùng hơn cả những thằng cùng”, hắn bị bỏ rơi giữa cảnh màn trời chiếu đất ngay từ lúc mới sinh ra:

“Hắn trần truồng và xám ngắt trong cái váy đụp để bên một cái lò gạch bỏ không”, hắn “qua tay” hết người này đến người nọ… Vậy là ngay từ khi mới sinh ra Chí Phèo đã phải nếm trải sự tủi cực, không một tấc đất cắm dùi, bị cho đi bán lại như một thứ đồ vật để mọi người sở hữu Song đó lại là quãng đời lương thiện, quãng đời tốt đẹp nhất của Chí Bởi dù bị cho đi bán lại, nhưng ít ra Chí cũng còn được sống trong bàn tay cưu mang của những người lao động lương thiện, còn được cộng đồng coi là một con người

Nhưng quãng đời lương thiện áy của Chí sớm phải chấm dứt Năm hai mươi tuổi Chí trở thành anh canh điền khỏe mạnh, hiền lành, nhút nhát và chăm chỉ làm ăn Anh làm canh điền cho nhà Bá Kiến, đã từng có lúc cảm thấy run rẩy, thấy nhục hơn là thấy thích khi bị bà Ba Bá Kiến gọi lên bóp

Trang 35

chân Nhưng rồi, con người đầy nhân cách và tự trọng ấy đã được thay thế bởi một con quỷ dữ mất hết tính người kể từ sau khi Chí Phèo đi ở tù về

Mở đầu truyện, Chí Phèo xuất hiện trong trạng thái nửa say nửa tỉnh trong tiếng chửi rủa Đó là hình ảnh một Chí Phèo sau bảy, tám năm biệt tích

về làng: “Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu hắn chửi trời… Rồi hắn chửi đời…hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại…hắn chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn…hắn cứ chửi đứa chết

mẹ nào đẻ ra hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo…” Chỉ với một đoạn văn ngắn, Nam Cao đã vẽ ra một hình ảnh Chí Phèo, một con vật đang ngật ngưỡng tìm cách gây sự với cộng đồng Trong tiềm thức sâu xa của con người - vật - ấy rất sợ bị người đời ghẻ lạnh, rất sợ nỗi cô độc nên khao khát được đối thoại, được giao tiếp với đồng loại cho dù đấy là một hình thức đối thoại quái gở - đối thoại bằng tiếng chửi

Song đáp lại tiếng chửi của Chí Phèo chỉ là sự im lặng Làng Vũ Đại đã gạt Chí ra khỏi cộng đồng, đã không còn coi Chí là người, đáp lại lời chửi của Chí có tiếng sủa của ba con chó dữ Từ đó, càng ngày Chí càng bế tắc, càng thù hận cuộc đời Lúc nào Chí cũng giận dữ, đập đầu, rạch mặt, nằm vạ, kêu làng Chí triền miên trong những cơn say “chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh táo để nhớ rằng có hắn ở đời” Và Chí Phèo cũng không biết rằng, vì say hắn đã gây bao tội lỗi với dân làng Vũ Đại, hắn đã trở thành con quỷ dữ gây ra bao nỗi thương tâm cho người dân vô tội, trở thành nỗi khiếp sợ của mọi người “tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua” Rượu đã biến Chí trở nên tàn ác với mọi người Như vậy, từ một chàng trai hiền lành, khỏe mạnh bị đẩy vào bước đường cùng mà Chí đã tha hóa, đã biến chất trong nhân tính

Từ khi Chí Phèo đi ở tù về, hắn đã ba lần đến nhà Bá Kiến Tuy với mục đích khác nhau song mỗi lần đến nhà Bá Kiến là một lần Chí đánh mất

Trang 36

nốt phần nhân tính còn sót lại của mình Lần nào đến nhà Bá Kiến hắn cũng say khướt Lần một hắn đến nhà Bá Kiến ngay sau khi đi tù về và hắn đã nhanh chóng bị lão cáo già khôn ngoan ấy mua chuộc bằng mấy đồng bạc Lần thứ hai đến nhà Bá Kiến, Chí Phèo đã trở thành tên tay sai phục vụ cho

Bá Kiến Càng ngày Chí càng trượt dài trên dốc tha hóa, lưu manh hóa

Cuộc đời của Chí sẽ mãi là những tháng ngày tăm tối, triền miên trong những cơn say, nếu như hắn không có cuộc gặp gỡ với Thị Nở Chính sự gặp

gỡ với Thị Nở đã làm sống dậy trong Chí ý thức của một con người Chí khao khát được trở về cuộc sống của một con người lương thiện, muốn làm hòa với mọi người xung quanh: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao…” Chí đã hoàn toàn thức tỉnh, đã trở về với phẩm chất tốt đẹp vốn có trước đây của mình Như vậy, nhân vật của Nam Cao cho

dù bị tha hóa, lưu manh hóa nhưng vẫn không hoàn toàn mất đi phẩm chất lương thiện, tốt đẹp vốn có của họ, những phẩm chất đó vẫn âm ỉ trong họ, chỉ cần có xúc tác là nó sẽ bùng cháy lên Điều đó thể hiện niềm tin của Nam Cao vào phẩm chất hiền lành, lương thiện… của những người nông dân nghèo

Nhưng những ước mơ quay trở lại làm người lương thiện đối với Chí

đã không trở thành hiện thực Bà cô Thị Nở đại diện cho định kiến xã hội lúc

đó đã không chấp nhận Chí Chí lại rơi vào bi kịch - bi kịch cự tuyệt quyền sống, cự tuyệt quyền làm người Và hơn lúc nào hết, đây là lúc Chí tỉnh táo để nhận ra kẻ thù của đời mình đó chính là Bá Kiến Vì vậy, thay bằng việc xách dao đến nhà Thị Nở như dự tính ban đầu Chí đã xách dao đến nhà Bá Kiến Nếu như hai lần trước Chí Phèo đến nhà Bá Kiến đều bị đánh gục bởi sự nham hiểm độc ác của Bá Kiến thì lần thứ ba này, với tinh thần tỉnh táo, Chí nhận ra rằng mình hoàn toàn tuyệt vọng trên con đường trở về làm người lương thiện: “Tao không thể làm người lương thiện nữa…” Và rồi Chí đã giết

Trang 37

chết kẻ thù, rồi tự giết mình Chí đã chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc sống Vì không muốn tiếp tục cuộc sống như trước đây mà Chí đã lựa chọn cái chết Điều đó, đã cho thấy rõ hơn cho dù người nông dân có bị tha hóa, lưu manh hóa nhưng bản chất lương thiện, tốt đẹp vốn có của họ vẫn không bị hủy diệt

Truyện “Trẻ con không được ăn thịt chó” lại cho ta thấy sự tha hóa của nhân vật người cha Một người cha vì đói khát quá nên lúc nào cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn Trong đầu hắn lúc nào cũng nghĩ đến: Chai rượu Văn Điển và cái đùi chó…Sau khi lang thang ở các quán xá, hắn đã tự mình kiếm ra lý do

để huyễn hoặc bản thân mình, hắn đã quyết định giết con chó mà lẽ ra “con chó to bằng ấy, lúc này bán đâu không nổi ba đồng bạc? Cả nhà ăn gạo hàng nửa tháng” Nhưng miếng ăn đã khiến hắn quên hết số phận của vợ con, gia đình Thế là hắn thịt chó và thản nhiên ngồi ăn uống no nê cùng những người bạn mà cố tình không biết người vợ và bốn đứa con nhỏ đáng thương đang quằn quại trong cơn đói Người cha đã quát tháo những đứa con nhỏ khi chúng xúm vào mâm Để rồi những đứa trẻ ấy mếu máo thật tội nghiệp, đáng thương Đối diện với miếng ăn người cha đã lìa bỏ tình phụ tử: đã ăn hết phần con

Người cha ấy đáng trách nhưng cũng rất đáng thương bởi hắn cũng chỉ

là nạn nhân của tình trạng: “đói ăn vụng, túng làm càn” mà thôi Nhân vật của Nam Cao luôn bị đặt trong sự lựa chọn giữa nhịn đói để giữ lấy nhân cách và

vì miếng ăn mà bỏ đi nhân cách của mình Và đứng giữa sự lựa chọn ấy phần nhiều là họ lựa chọn miếng ăn Vì miếng ăn họ đã đánh quỵ đi nhân cách của mình

Ở “Tư cách mõ” lại là câu chuyện về một người vốn là một người nông dân hiền lành mà cuối cùng đã tha hóa, biến chất thành anh mõ thực sự, anh

Cu Lộ đã trở thành một người lầy là, tham lam,đê tiện…

Trang 38

Có biết bao người nông dân khác cũng giống như Chí Phèo, Thị Nở, người cha, anh Cu Lộ kia vì bị đẩy vào bước đường cùng mà dẫn đến sự tha hóa, lưu manh hóa Nguyên nhân đẩy người nông dân dẫn đến sự tha hóa, lưu manh hóa chính là do đói nghèo, do hoàn cảnh sống, hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ Vì những nguyên nhân trên mà người nông dân không thể ngóc đầu lên được, họ mãi sống trong nghèo khổ, trong sự tha hóa về cả nhân hình, nhân tính

2.3.2.2.2 Những người nông dân bị đẩy đến con đường cùng nhưng không chấp nhận bị tha hóa, lưu manh hóa

Bên cạnh những người nông dân bị đẩy vào con đường cùng dẫn đến sự tha hóa, lưu manh hóa thì vẫn còn một bộ phận người nông dân tuy bị đẩy vào cùng đường nhưng vẫn giữ được nhân cách Tiêu biểu cho những con người này đó chính là Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao viết “Lão Hạc” sau “Chí Phèo”, “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Tư cách mõ”, “Một bữa no”… Nhân vật trong các truyện ngắn đó từng ngã quỵ trước bản năng, miếng ăn, cái đói Còn Lão Hạc, cho đến chết, lão vẫn không hề hoen ố, vẫn đẹp như ngọc, vẫn giữ được nhân cách Đó là một ông già nông dân dù bị cái đói ấn vào chân tường nhưng vẫn không chịu quỵ ngã, vẫn giàu lòng tự trọng, tự trọng đến khảng khái

Cũng như bao người nông dân dưới chế độ xã hội lúc bấy giờ , lão Hạc rất nghèo, nghèo đến mức đứa con trai của lão không có đủ tiền để lấy vợ Phẫn chí, người con trai bỏ đi làm đồn điền cao su để lão ở lại một mình với một con chó làm bạn Thương con nhưng lão “chỉ còn biết khóc, chứ còn biết làm sao được nữa” Sau khi con đi, lão quyết giữ cho được mảnh vườn, bao nhiêu hoa lợi thu được lão đều bỏ riêng ra để khi nào con trai lão về, lão thêm vào cho con lão lấy vợ Còn lão thì làm thuê để kiếm ăn qua ngày Một người cha vì con mà phải khóc, vì con mà phải chịu đựng biết bao khổ sở, đức hi

Trang 39

sinh của lão Hạc thật lớn lao, nó làm đẹp nhân cách của lão Càng tiếp tục theo dõi cuộc đời của lão ta càng thấy nhân cách đó còn sáng hơn nữa, đẹp hơn nữa

Con trai lão đi, để lại cho lão một con chó, lão đã nâng niu nó, đặt tên

nó là cậu Vàng “như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự” Lão chăm sóc, trò chuyện với nó như một con người, một người bạn tri kỉ của lão “Lão cho nó

ăn cơm trong một cái bát như một nhà giầu Lão ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn…” Nhưng sau một trận ốm “hai tháng mười tám ngày đã không làm

ra được một xu, lại còn thuốc, lại còn ăn”, lão yếu người đi lắm, những việc nặng lão không làm được nữa: “một lão với một con chó, mỗi ngày ba hào gạo, mà gia sự vẫn còn đói deo đói dắt”, lão đã quyết định bán cậu Vàng đi:

“Thôi thì bán phắt đi! Đỡ được đồng nào hay đồng ấy Bây giờ tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu Tiêu lắm chỉ chết nó…” Sau khi bán cậu Vàng

đi, lão đã “hu hu khóc”, chửi mình là “khốn nạn”, “thì ra tôi già bằng này tuổi rồi còn đánh lừa một con chó” Trước đây, lão đã khóc vì người con trai, giờ đây lão lại khóc vì đã đánh lừa một con chó Quả là tấm lòng bao dung của lão Hạc, tấm lòng nhân hậu của lão thật lớn lao, đó chính là nhân cách đẹp của một người nông dân nghèo

Vì thương con mà lão đã bán cậu Vàng - người bạn duy nhất của lão -

đi, và cũng vì tình mẫu tử cao cả mà lão đã lựa chọn cho mình một con đường hoàn toàn trái ngược với người cha trong “Trẻ con không được ăn thịt chó”

Để xứng đáng là Con Người, một người cha thực sự biết thương con, lão Hạc

đã tự vẫn, bởi vì lão Hạc đã thấm thía đến tận cùng cái kiếp sống vô nghĩa, sống thừa của đời mình Lão sợ nếu sống nữa sẽ ăn lẹm vào mấy đồng vốn lão dành cho con, sẽ không đủ sức giữ gìn mảnh vườn của đứa con…Trước khi chết, lão đã lo chu tất mọi việc: đã gửi tiền làm ma để khỏi phải lụy đến dân làng, đã gửi đất, gửi nhà cho ông giáo…Cái chết vật vã, đau đớn của lão là

Trang 40

một minh chứng cho vẻ đẹp nhân cách: một người nông dân bị đẩy vào con đường cùng nhưng không hề tha hóa như Chí Phèo, cu Lộ, bà cái Tý… mà vẫn lấp lánh, vẫn sáng ngời vẻ đẹp nhân cách, lão Hạc đã chọn cho mình cái chết để giữ chọn nhân cách của mình Hạt giống lương thiện quằn quại mãi ở

“Chí Phèo” nay đã thành cây cao ngẩng đầu trong “Lão Hạc”

Như vậy, bên cạnh những nhân vật nông dân bị tha hóa thì vẫn còn một

bộ phận người nông dân tuy bị đẩy vào con đường cùng nhưng vẫn giữ được nhân cách cao đẹp Cái nhìn của Nam Cao thật đa dạng, phong phú, ông đã nhìn người nông dân trên nhiều phương diện, nhiều góc độ khác nhau, ông đã thấy cả mặt xấu, mặt tốt của họ nhưng xét đến cùng họ vẫn là những người nông dân hiền lành, lương thiện, là nạn nhân của xã hội đầy bất công, phi lí lúc bấy giờ

Qua hình tượng người nông dân đã thể hiện toàn bộ thái độ, tư tưởng của nhà văn Nam Cao Ông đã nhận thức một cách sâu sắc về đời sống khốn cùng của người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ, trong xã hội đầy bất công phi lí, bọn cường hào địa chủ đè đầu cưỡi cổ người nông dân, cùng với cái đói, cái nghèo đã dồn họ đến con đường cùng không lối thoát, người muốn sống thì phải tha hóa, lưu manh hóa, người muốn giữ nhân cách thì phải lựa chọn cái chết… Nhưng cho dù thế nào, Nam Cao vẫn thể hiện thái độ đồng cảm, bênh vực cho họ, vẫn tin tưởng mạnh mẽ vào bản chất tốt đẹp của người nông dân, họ vẫn là những người hiền lành, lương thiện, có ước mơ, khao khát một cuộc sống hạnh phúc Đó chính là tinh thần nhân đạo mà Nam Cao đã gửi gắm trong các tác phẩm của mình

2.4 Đọc hiểu các tác phẩm viết về người nông dân của Nam Cao ở nhà trường phổ thông trung học

2.4.1 Khái quát về đọc hiểu

2.4.1.1Đọc hiểu là gì?

Ngày đăng: 28/06/2020, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w