1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Giọng điệu trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh

57 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 533,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiờn, với khuụn khổ một khoỏ luận tốt nghiệp đại học, tỏc giả chỉ đi sõu tỡm hiểu phương diện giọng điệu - một biểu hiện nghệ thuật độc đỏo trong phong cỏch Tạ Duy Anh, qua cỏc tiểu

Trang 1

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tiểu thuyết Việt Nam thời kỡ này đứng trước nhu cầu “đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết” Điều này chứng tỏ sự nghiờm khắc nghề nghiệp và sự say mờ của đội ngũ cỏc nhà văn, cỏc tiểu thuyết gia đương đại Nằm trong dũng chảy chung của nền văn học Việt Nam thời kỡ đổi mới, tiểu thuyết cũng cú sự phõn kỡ phỏt triển Từ sau 1975 đến nay, tiểu thuyết phỏt triển qua 2 chặng: những năm tiền đổi mới (1975 - 1985) và cao trào đổi mới từ sau 1986 Đổi mới tiểu thuyết núi riờng và đổi mới văn học núi chung, suy cho cựng là sự đổi mới quan niệm về con người, về đời sống và quan niệm về bản thõn văn học Với tiểu thuyết đương đại, vấn đề đặc biệt được quan tõm, đú là sự đổi mới về phương diện nghệ thuật Sự đổi mới trong “tư duy nghệ thuật tiểu thuyết” sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là thay đổi cỏc yếu tố: đề tài, cốt truyện, nhõn vật, nghệ thuật trần thuật, Trong những năm đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam đó cú một

số thành tựu đỏng ghi nhận từ gúc độ thi phỏp thể loại

1.2 Trờn văn đàn tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, xuất hiện ngày càng nhiều tờn tuổi tài năng: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bỡnh Phương, Vừ Thị Hảo, Dương Hướng, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Trong số ấy cú thể núi Tạ Duy Anh là một cõy bỳt khỏ nổi, tờn tuổi ụng đó trở thành quen thuộc với cụng chỳng độc giả trong và ngoài nước Là một nhà văn

Trang 2

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

và cảm phục Đến nay, với hành trỡnh sỏng tạo khoảng 20 năm (1981 - 2010), ụng đó là chủ sở hữu của một khối lượng tỏc phẩm lớn, gồm hàng chục truyện ngắn và truyện thiếu nhi, nhiều tập truyện dài và tiểu thuyết, vài trăm bài tản văn, đoản văn trờn cỏc bỏo Tạ Duy Anh được đỏnh giỏ là “người cú sức sỏng tạo dồi dào, là một tấm gương lao động nhọc nhằn nhưng hiệu quả, một sự thành cụng của một niềm tin sắt đỏ vào những lỗ lực vượt bậc của chớnh mỡnh” [20, tr 172 ]

Trong sự nghiệp văn học phong phỳ và đa dạng ấy, hẳn sẽ cú nhiều phương diện cần nghiờn cứu Tuy nhiờn, với khuụn khổ một khoỏ luận tốt nghiệp đại học, tỏc giả chỉ đi sõu tỡm hiểu phương diện giọng điệu - một biểu hiện nghệ thuật độc đỏo trong phong cỏch Tạ Duy Anh, qua cỏc tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ụng: “Lóo Khổ”, “Thiờn thần sỏm hối” và “Gió biệt búng tối”

2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề

Với những thành cụng nổi bật, Tạ Duy Anh đó và đang thu hỳt được sự quan tõm của đụng đảo bạn đọc và giới phờ bỡnh Bằng cảm nhận cũng như những cỏch tiếp cận khỏc nhau, khi khỏm phỏ về Tạ Duy Anh, kết quả thu được khỏ phong phỳ và đa dạng

Bỏo Giỏo dục thời đại, số 80 năm 2004 cú viết: “Gần như thành thụng

lệ ở ta khi nhà văn nào đú cú được một tỏc phẩm nổi tiếng thỡ thường họ quay

về nhấm nhỏp niềm vinh quang, sớm thỏa món và cứ thế họ mất hỳt trong mắt độc giả Tạ Duy Anh từng cú “Bước qua lời nguyền” gõy chấn động văn đàn

và nhiều người đó nghĩ anh khú mà vượt qua được nghiệt lệ ấy Nhưng rồi anh cho ra đời “Lóo Khổ”, một cuốn sỏch mà càng ngày người ta sẽ càng phải tỡm đọc lại bởi núi như giỏo sư Hoàng Ngọc Hiến “Đõy là một cuốn tiểu thuyết quan trọng” Tiếp đú anh cho ra đời hàng chục tập truyện ngắn Nhưng một thành tựu khụng nhỏ như vậy vẫn cũn quỏ ớt với anh Trong khi văn đàn đang

cú dấu hiệu rệu ró thỡ liờn tiếp trong 2 năm Tạ Duy Anh cho ra 2 cuốn tiểu

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

thuyết gõy xụn xao dư luận trong và ngoài nước, trước hết bởi sự kỡ lạ về hỡnh thức và vấn đề nhức nhối mà nú quan tõm” [3, tr.150]

Bỏo Thể thao và văn hoỏ, số 47 năm 2004, đỏnh giỏ về giỏ trị tỏc phẩm

Tạ Duy Anh như sau: “Mối quan tõm lớn nhất của Tạ Duy Anh là cỏi vong bản, đỏnh mất mỡnh, của con người, dưới sự giằng giật xiờu dạt của lịch sử Trờn con đường truy tỡm lại mặt mỡnh, cũng như khả dĩ khuụn mặt thực của quỏ khứ, con người vấp phải và bị phong tỏa bởi thúi gian trỏ, đớn hốn, vật dục, tàn ỏc, kể cả trong mỗi cỏ nhõn Phỳc õm duy nhất là tỡnh yờu, tỡnh cảm trong sạch bản thể của hiện tại và cỏi nhỡn trung thực, nhõn đạo đối với những vết thương, lỗi lầm của quỏ khứ” [3, tr.123]

Bỏo Phỏp luật, số 140 năm 2004, nhận xột: “Tạ Duy Anh là tỏc giả của những tỏc phẩm luụn làm bạn đọc giật mỡnh và suy ngẫm bởi những vấn đề gai gúc của xó hội hiện đại ễng cũng là tỏc giả tõm huyết, trăn trở với số phận con người, nhất là khi họ rơi vào tỡnh trạng khủng hoảng nhõn cỏch Trong lăng kớnh đa chiều, Tạ Duy Anh đó nhỡn hiện thực một cỏch lý trớ, lạnh lựng nhưng cũng đầy thương xút con người” [3, tr.143]

Bỏo Văn nghệ Trẻ, số 28 năm 2008, cú nhận xột: “Sau truyện ngắn

"Bước qua lời nguyền”, Tạ Duy Anh cho cụng bố “Khỳc dạo đầu” (1991),

“Bố cục hoàn toàn” (Tập truyện ngắn, 2004), “Lóo Khổ” (Tiểu thuyết, 1992),

“Đi tỡm nhõn vật” (Tiểu thuyết, 1999), “Thiờn thần sỏm hối” (Tiểu thuyết, 2004), “Ngẫu hứng sỏng trưa chiều tối” (Tập tản văn, 2004)… cựng gần 10 tập sỏch dành cho thiếu nhi Đến giờ cú hai bản thảo tiểu thuyết và một tập quỏi truyện của Tạ Duy Anh đó hoàn thành và đang chờ được cụng bố Ngần

ấy cũng tạm đủ để ta thấy được bỳt lực dồi dào của Tạ Duy Anh…”

Nhà phờ bỡnh Bựi Viết Thắng cũng cho rằng: “Tạ Duy Anh được coi là cõy bỳt tiểu thuyết trẻ, khoẻ hiện nay Anh đó viết cỏc tiểu thuyết Lóo Khổ

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

(1992), Khỳc dạo đầu (1991), Đi tỡm nhõn vật (1992) và Thiờn thần sỏm hối (2004) Xem ra anh cũn dư lực viết dăm ba cuốn nữa” [15, tr 84]

Thỏng 6 năm 2008, Viện văn học – Viện khoa học xó hội Việt Nam tổ chức toạ đàm: “Tiểu thuyết Gió biệt búng tối trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại” Đến với buổi tọa đàm cú rất nhiều nhà phờ bỡnh uy tớn Phần lớn cỏc ý kiến trong buổi tọa đàm cho rằng: Sau “Đi tỡm nhõn vật”, “Thiờn thần sỏm hối”, thỡ “Gió biệt búng tối” là cuốn tiểu thuyết gõy được sự chỳ ý của bạn đọc… Giới nghiờn cứu cũng ghi nhận những lỗ lực của Tạ Duy Anh trong việc đổi mới tiểu thuyết, cỏch tõn nghệ thuật tự sự… Nhà giỏo Hoàng Thuỷ Hương cho rằng: “Xó hội ngày nay đó dõn chủ hơn so với trước đõy rất nhiều nờn phải trõn trọng tư tưởng và cỏch viết tự do của Tạ Duy Anh cũng như cỏc nhà tiểu thuyết khỏc”

Trong lời núi đầu của cuốn “Thiờn thần sỏm hối” của Nxb Hội nhà văn, cú đoạn viết: “Ngay sau khi ra đời lần đầu tiờn tại Nhà xuất bản Đà Nẵng, tiểu thuyết “Thiờn thần sỏm hối” đó thu hỳt mạnh mẽ sự chỳ ý của độc giả ở đủ mọi lứa tuổi Gần đõy, 20 tờ bỏo trong và ngoài nước, bằng nhiều hỡnh thức khỏc nhau đó nồng nhiệt chào mừng sự ra đời của cuốn sỏch, coi nú như một sự kiện văn học độc đỏo Điều gỡ khiến một cuốn sỏch chỉ với độ dày hơn trăm trang mà lại tạo ấn tượng và mối quan tõm rộng lớn của dư luận trong bối cảnh bựng nổ thụng tin như hụm nay đến vậy? Cõu trả lời đang ở trờn tay bạn, chỉ cần bạn mở sỏch ra, lắng theo cõu chuyện của một đứa trẻ cũn nằm trong bụng mẹ…”

Tạp chớ Văn học, số 7 năm 2009, tỏc giả Đoàn Ánh Dương trong bài:

“Lối viết tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập (qua trường hợp Tạ Duy Anh)” đó tập trung kiến giải cho cõu hỏi: Tại sao lại chọn Tạ Duy Anh? (qua trường hợp của Tạ Duy Anh), Tại sao lại chọn lối viết? Cuối bài, tỏc giả

Trang 5

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

đó đi đến khẳng định: chọn Tạ Duy Anh là tỏc giả tiờu biểu cho khuynh hướng tiếp nhận ảnh hưởng tư duy tiểu thuyết Phương Tõy là điều hợp lý,

Trong bài “Cú hay khụng những dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam sau 1986?” đăng trờn bỏo Văn nghệ, số 49 năm 2007:

Tỏc giả Phựng Gia Thế khẳng định: “Văn chương Tạ Duy Anh là nỗi khắc khoải đi tỡm bản ngó, tỡm một giỏ trị thật sự nhõn bản trờn cỏi đời sống

đổ nỏt, điờu tàn, là sự loay hoay lớ giải, hoỏ giải những nỗi đọa đày con người

từ tiền kiếp”

Nghiờn cứu về Tạ Duy Anh, phải kể tới cuốn sỏch “Thế giới nghệ thuật

Tạ Duy Anh” Cuốn sỏch được tập hợp từ cỏc luận văn:

Thứ nhất, “Tạ Duy Anh với việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết” của Nguyễn Thị Hồng Giang nghiờn cứu về việc “làm mới” văn chương, “làm mới” trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh; làm mới thực chất từ sự đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết

Thứ hai, “Thế giới nhõn vật trong sỏng tỏc Tạ Duy Anh” của Vũ Lờ Lan Hương đi sõu khỏm phỏ hành trỡnh văn học Tạ Duy Anh; một thế giới nhõn vật ngoại biờn và những thủ phỏp xõy dựng nhõn vật đỏng chỳ ý trong sỏng tỏc của Tạ Duy Anh

Thứ ba, “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh” của Vừ Thị Thanh Hà, nghiờn cứu Tạ Duy Anh trong bối cảnh đổi mới tiểu thuyết về con người và đặc sắc thế giới nhõn vật trong tiểu thuyết của ụng

Thụng qua cỏc bài nghiờn cứu, phờ bỡnh, giới nghiờn cứu đó chỉ ra những giỏ trị độc đỏo của sỏng tỏc Tạ Duy Anh, những cỏch tõn của ụng về tư duy nghệ thuật tiểu thuyết và lối viết tiểu thuyết, nhưng chưa cú cụng trỡnh nào đi sõu vào tỡm hiểu phương diện giọng điệu tiểu thuyết Tạ Duy Anh Coi giọng điệu như một yếu tớnh thể hiện tài năng của Tạ Duy Anh, tỏc giả khoỏ luận

Trang 6

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

mạnh dạn triển khai đề tài nghiờn cứu tập trung phương diện giọng điệu trong

cỏc tỏc phẩm nổi tiếng của ụng

3 Mục đớch nghiờn cứu

Khai thỏc và tỡm ra biểu hiện về giọng điệu tiểu thuyết Tạ Duy Anh

Thụng qua việc tỡm hiểu này, thấy được cỏch nhỡn cỏch cảm của nhà văn đối

với con người, cuộc đời và xó hội, thấy được chiều sõu nhõn bản toỏt lờn trong

cỏc sỏng tỏc của Tạ Duy Anh

4 Nhiệm vụ nghiờn cứu

Tỡm hiểu những vấn đề lý luận về giọng điệu trong tỏc phẩm văn

chương, cụ thể là giọng điệu trong thể loại tiểu thuyết

Tỡm hiểu biểu hiện của yếu tố giọng điệu và sự chuyển dịch của giọng

điệu trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh qua ba tiểu thuyết: “Lóo Khổ”, “Thiờn thần

sỏm hối” và “Gió biệt búng tối” Qua việc tỡm việc tỡm hiểu này, giỳp độc giả

thấy được nột độc đỏo trong sỏng tỏc của Tạ Duy Anh

5 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

Giọng điệu trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh, qua một số tiểu thuyết tiờu

biểu: “Lóo Khổ”, “Thiờn thần sỏm hối”, “Gió biệt búng tối”

6 Phương phỏp nghiờn cứu

- Phương phỏp tiếp cận đối tượng theo quan điểm thể loại

- Phương phỏp phõn tớch đối tượng theo quan điểm hệ thống

- Phương phỏp so sỏnh, đối chiếu

7 Đúng gúp của khúa luận

- Đưa ra một cỏch cú hệ thống những kiến thức lý luận về giọng điệu

- Nờu bật được đúng gúp của Tạ Duy Anh về phương diện cỏch tõn nghệ

thuật tiểu thuyết thời kỡ đổi mới, đặc biệt từ sau 1986

Trang 7

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Chỉ ra được sự độc đỏo trong phong cỏch nghệ thuật Tạ Duy Anh thụng qua yếu tố giọng điệu Gợi mở một cỏch tiếp cận mới đối với sự nghiệp văn học của Tạ Duy Anh

Trang 8

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

CHƯƠNG 1

KHÁI NIỆM GIỌNG ĐIỆU TRONG NGHIấN CỨU

Lí LUẬN VĂN HỌC

1.1 Giọng điệu trong đời sống

Trong đời sống, con người luụn cú nhu cầu trao đổi thụng tin, tõm tư, tỡnh cảm với nhau Ngụn ngữ chớnh là cụng cụ và phương tiện hữu hiệu nhất giỳp con người làm được điều đú Nếu cỏc loài sinh vật trũ chuyện với nhau bằng cỏc “kớ hiệu”, thỡ con người lại dựng ngụn ngữ Thực chất ngụn ngữ cũng

là một kiểu kớ hiệu Nhưng nú là một kiểu kớ hiệu mang tớnh quy ước Nú phải được cộng đồng người trong một xó hội chấp nhận và sử dụng C Mac và Ph Ăngghen cho rằng: “Ngụn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn, ngụn ngữ cũng tồn tại cho người khỏc nữa, và như vậy là cũng tồn tại lần đầu tiờn cho bản thõn tụi nữa, và cũng như ý thức, ngụn ngữ chỉ nảy sinh ra do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khỏc” [6, tr.8] Như vậy, ngụn ngữ là một sản phẩm kết tinh trong đú “mối quan hệ người” Khi núi, người núi bao giờ cũng muốn thể hiện một ý nghĩ, một cảm xỳc, một thỏi độ hay một tỡnh cảm nào đú Vớ như khi cất lờn một lời chào, người núi đó thể hiện được thỏi độ tụn trọng đối với người đang giao tiếp,… Tuy nhiờn, cũng phải thấy rằng, trong quỏ trỡnh giao tiếp của con người, cựng một cõu núi, nhưng với mỗi người khỏc nhau lại cú cỏch phỏt õm là khụng giống nhau Giọng của người này khỏc với của giọng của người kia Điều này chứng tỏ, giọng núi của con người thường mang õm sắc riờng, rất khú lẫn (nếu khụng cố ý) Cú nhiều nguyờn nhõn dẫn đến sự khỏc biệt trờn, tuy nhiờn cú thể quy vào một số nguyờn nhõn sau: do đặc điểm cấu tạo của cơ quan cấu õm và cỏch núi của từng nguời khụng giống nhau Trong cuộc sống ta bắt gặp cú người núi giọng trong, thanh; cú người lại núi giọng đục, khàn; cú người ăn núi nhẹ nhàng, cũng cú người “ăn to núi lớn”… Khụng chỉ vậy, giọng của mỗi cỏ nhõn cũn chịu ảnh hưởng của vựng

Trang 9

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

địa lý, văn húa nơi người đú sinh sống Ở Việt Nam, do cú sự phõn vựng địa lý nờn giọng của người miền Bắc khỏc với giọng của người miền Nam và khỏc với giọng của người miền Trung,…

Vậy giọng là gỡ? Từ điển tiếng Việt giải thớch:

Giọng: 1- Độ cao thấp, mạnh yếu của lời núi, tiếng hỏt

2- Cỏch phỏt õm của một địa phương

3- Cỏch diễn đạt bằng ngụn ngữ, biểu thị thỏi độ, tỡnh cảm nhất định

4- Gam đó xỏc định õm chủ

Trong đời sống, thường giọng được hỡnh dung trước hết như một tớn hiệu õm thanh, cú õm sắc, trường độ, cao độ Nú gắn liền với mụi trường giao tiếp và chủ thể giao tiếp, nú cú khả năng tạo ra tớnh khu biệt Khỏi niệm giọng chủ yếu gắn với người, núi tới giọng là núi tới giọng người Giọng khụng đơn thuần chỉ là một tớn hiệu õm thanh, giọng bao giờ cũng bao hàm cả thỏi độ, tỡnh cảm của người núi Hiểu theo nghĩa này, người ta đồng nhất khỏi niệm giọng

và giọng điệu “Giọng điệu là giọng núi, lời núi biểu thị một thỏi độ nhất định” Như vậy, giọng mang đậm tớnh vật lớ, cũn giọng điệu lại được nhỡn nhận

từ gúc độ tõm lớ Nhỡn vào hai định nghĩa giọng và giọng điệu, ta thấy định nghĩa giọng điệu trựng với nột thứ ba của định nghĩa về giọng Vỡ thế, tuỳ vào thực tiễn giao tiếp mà hai định nghĩa này thường bị đỏnh đồng Với cỏch hiểu như trờn, cú thể núi cú bao nhiờu hoàn cảnh giao tiếp, nhõn vật giao tiếp thỡ cú thể cú bấy nhiờu giọng điệu Giọng điệu thường thể hiện tõm tớnh của con người, phản ỏnh tõm trạng của họ Trong nhiều trường hợp cũng xuất hiện sự giả giọng, trong hoàn cảnh đú, người núi cú chủ định từ trước

Tuy nhiờn, trong cuộc sống, giọng điệu chỉ mang tớnh lõm thời Tức là giọng khụng cú tớnh ổn định, mà luụn cú sự thay đổi theo hoàn cảnh, khụng gian giao tiếp, thậm chớ là tõm trạng của chủ thể phỏt ngụn: khi vui núi một

Trang 10

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

giọng khỏc, khi buồn núi một giọng khỏc (sự thay đổi về õm sắc); ở chỗ đụng người núi khỏc với ở chỗ ớt người (sự thay đổi về cao độ, trường độ) … Điều này khỏc với giọng điệu trong tỏc phẩm văn chương Trong văn chương, giọng điệu khụng phải là sự đơn giản của những phỏt ngụn, mà bao giờ cũng là sự chọn lựa, tổ chức một cỏch cụng phu, và nú là kết quả của một quỏ trỡnh sỏng tạo thực thụ

Cũng cần chỳ ý, giọng điệu khụng chỉ bao hàm tỡnh cảm, thỏi độ của người núi; nú cũn thể hiện qua cỏch núi, nú in dấu ấn nghề nghiệp, giới tớnh và tuổi tỏc của chủ thể phỏt ngụn Trong cuộc sống, ta dễ dàng phõn biệt được giọng trẻ con với giọng người lớn, giọng nam với giọng nữ, giọng một người

cú học với giọng của người ớt học, giọng một bỏc sĩ với giọng của một nhà doanh nghiệp,

Như vậy, trong cuộc sống hằng ngày để nhận ra người này hay người khỏc ta cú thể căn cứ vào giọng núi của người đú Giọng núi, thể hiện được tỡnh cảm, thỏi độ cũng như in đậm dấu ấn nghề nghiệp, trỡnh độ của con người 1.2 Giọng điệu như một hiện tượng nghệ thuật

Giọng trong đời sống và giọng trong văn chương cú giống nhau khụng? Điểm giống và khỏc của giọng điệu trong đời sống và trong văn chương là ở đõu? Tại sao lại núi giọng điệu là một hiện tượng nghệ thuật? Trước hết, ta cần nhận thức được rằng, giọng trong đời sống và giọng trong văn chương cú nhiều nột tương đồng, nếu trong cuộc sống hằng ngày, dựa vào giọng núi ta cú thể nhận biết được người đang núi là ai thỡ trong văn chương cũng vậy Bởi trong một tỏc phẩm văn học, giọng cũng mang đặc tớnh õm thanh Duy cú điều, giọng trong văn chương khụng đơn giản là giọng của những nhõn vật trong tỏc phẩm,

mà đú là sự tổng hợp của nhiều giọng núi để tạo nờn giọng của người trần thuật Khi ấy giọng điệu trở thành một hiện tượng thẩm mĩ, một yếu tố cấu

Trang 11

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

thành nờn tỏc phẩm văn học, nú cú cấu trỳc và cơ chế vận hành phức tạp và đa dạng hơn nhiều so với giọng điệu trong đời sống xó hội

Bàn về giọng điệu, giới nghiờn cứu văn học thường đề cập tới cỏc thuật ngữ: “ Voice” và “tone” Bỏch khoa thư Mỹ cho rằng: Voice “là õm thanh do sinh vật phỏt ra” cũn Tone “là õm thanh được xột trong sự can thiệp của trường độ, cường độ, õm sắc và õm lượng của nú” [2] M Bakhtin khi núi về giọng điệu lại sử dụng khỏi niệm “Golos” - phỏt ngụn õm thanh mang tớnh cảm xỳc, thỏi độ, lập trường của chủ thể Như vậy, giữa Voice và Tone, vừa cú điểm chung, mang đặc tớnh õm thanh; vừa cú điểm riờng biệt, voice đơn thuần mang đặc điểm õm thanh, cũn tone bao hàm cả thỏi độ, cảm xỳc của người núi Ngày nay núi tới khỏi niệm giọng điệu, người ta hay hiểu theo nghĩa của thuật ngữ tone

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Giọng điệu là sự thể hiện thỏi độ, tỡnh cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miờu tả, thể hịờn trong lời văn quy định cỏch xưng hụ, gọi tờn, dựng từ, sắc điệu tỡnh cảm, cỏch cảm thụ xa gần, thõn sơ, thành kớnh hay suồng só, ngợi ca hay chõm biếm, ” [11, tr.134]

Tỏc giả Bớch Thu lại hiểu: “Giọng điệu được thiết kế bởi mối quan hệ thỏi độ, lập trường, tỡnh cảm của người kể chuyện với cỏc hiện tượng, sự kiện được miờu tả cũng như người nghe tạo thành giọng điệu trần thuật” [17, tr.59] M.B Khrapchenco thỡ cho rằng: “Hệ số tỡnh cảm của lời văn được biểu hiện trước hết trong giọng điệu cơ bản”, “giọng điệu là một trong những yếu

tố quan trọng cấu thành nột đặc trưng cho mỗi loại hỡnh lời văn nghệ thuật, đồng thời nú cũn gúp phần khu biệt đặc trưng phong cỏch của mỗi nhà văn” và

“giọng điệu chủ yếu khụng những loại trừ mà cũn cho phộp tồn tại trong tỏc phẩm”

Trang 12

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

Nhỡn chung, tất cả cỏc cỏch hiểu trờn đều đi đến chung một kết luận, giọng điệu là yếu tố cơ bản tạo thành phong cỏch nghệ thuật của nhà văn Phong cỏch nghệ thuật được hiểu như là một phạm trự thẩm mĩ “chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hỡnh tượng, của cỏc phương tiện biểu hiện nghệ thuật, núi lờn cỏi nhỡn độc đỏo trong sỏng tỏc của một nhà văn, trong tỏc phẩm riờng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dõn tộc” [6, tr.170 – 171] M.B Khrapchenco cũng cho rằng, phong cỏch là một hệ thống phức tạp và trong hệ thống ấy, điều cần chỳ ý đầu tiờn là phải tớnh đến “sự tổng hợp của những phương tiện giọng điệu”

Cần chỳ ý, khỏi niệm Tone khụng chỉ được dựng trong văn học mà cũn được dựng trong lĩnh vực hội hoạ, õm nhạc, nghĩa là nú được dựng một cỏch khỏ rộng rói Tone cú thể được dựng để chỉ trường độ, cường độ, õm sắc của giọng hỏt và tớnh chất của nú (giọng mượt mà, giọng nam cao, giọng nữ cao,…) Lại cú khi tone chỉ đặc điểm về hỡnh thức, tớnh chất nhằm phõn biệt cỏc loại hỡnh õm nhạc (điệu hỏt quan họ, điệu hỏt xoan,…) Trong hội họa, tone dựng để chỉ gam màu Trong nghệ thuật ngụn từ, giọng điệu khụng chỉ đơn thuần bộc lộ qua õm thanh, nhịp điệu mà cũn được bộc lộ qua màu sắc, đường nột, hỡnh ảnh,…

Khụng phải lỳc nào trong một tỏc phẩm văn học cũng chỉ cú một giọng điệu thuần nhất, đơn điệu; mà bao giờ nú cũng là sự tổng hợp của rất nhiều sắc điệu Việc phõn chia loại hỡnh giọng điệu văn chương cũng rất phức tạp, căn cứ vào phương diện cấu trỳc, người ta cú thể chia thành giọng chớnh và giọng phụ,

“gam ngữ điệu chủ yếu” và sắc điệu bao quanh cú tớnh bố đệm, đơn thanh và

đa thanh… nếu căn cứ vào sắc thỏi tỡnh cảm, cú thể núi đến giọng gay gắt hay bỡnh thản, trang trọng hay suồng só, mạnh hay yếu, kớnh cẩn hay chõm biếm Nếu căn cứ vào dạng thức tỡnh cảm sẽ cú giọng bi, giọng hài, giọng anh hựng ca… Nếu chỳ ý đến khuynh hướng tư tưởng thỡ ta cú thể thấy cỏc loại giọng:

Trang 13

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

thụng cảm hay lờn ỏn, yờu thương hay tố cỏo, khẳng định hay phủ định… Ngoài ra, nếu nhỡn từ gúc độ ngụn ngữ học, người ta cú thể chia giọng thành: Giọng trần thuật, giọng nghi vấn, giọng cảm thỏn Tuy nhiờn, về cơ bản, giọng điệu bộc lộ cỏc sắc điệu tỡnh cảm chủ thể phỏt ngụn Giọng điệu trong tỏc phẩm gắn với cỏi giọng “trời phỳ” của mỗi tỏc giả, nhưng mang nội dung khỏi quỏt nghệ thuật và phự hợp với đối tượng thể hiện Việc nhận diện giọng điệu trong một tỏc phẩm văn học khụng bao giờ là điều đơn giản Bởi giọng điệu là sự tổ hợp của rất nhiều yếu tố, nhiều khi giữa cỏc yếu tố điểm nhỡn, giọng điệu và phong cỏch cú sự giao thoa khú phõn biệt Vỡ vậy, khi xem xột rất cần cú sự cảm nhận tinh tế của người đọc

Một tỏc phẩm văn học thường cú giọng điệu chủ đạo và những giọng điệu khỏc Giọng điệu chủ đạo tạo thành õm hưởng chung, bao trựm lờn toàn

bộ tỏc phẩm Nú quyết định nhiều khõu, nhiều yếu tố trong việc xõy dựng tỏc phẩm Tỡm được giọng điệu phự hợp sẽ giỳp nhà văn kể chuyện hay hơn, thể hiện lớ tưởng thẩm mĩ của mỡnh sõu sắc hơn

Những nhà văn tài năng thường tạo nờn trong sỏng tỏc của mỡnh một hệ thống giọng điệu, một mụi trường giọng điệu độc đỏo M.B Khrapchenco khẳng định:“Đề tài, tư tưởng, hỡnh tượng chỉ được thể hiện trong một mụi trường và giọng điệu nhất định đối với đối tượng sỏng tỏc, đối với những mặt khỏc nhau của nú Hiệu xuất cảm xỳc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tỡnh trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tỏc phẩm văn học với tư cỏch là một thể thống nhất hoàn chỉnh” [14, tr.167] Như vậy, đặc trưng nổi bật của giọng điệu là màu sắc cảm xỳc trong mối quan

hệ mật thiết với cỏc yếu tố thuộc nội dung cũng như hỡnh thức của tỏc phẩm

Khi nghiờn cứu vấn đề giọng điệu để làm nổi bật giọng điệu trong tỏc phẩm văn chương, ta cũng cần phõn biệt khỏi niệm này với cỏc khỏi niệm cú liờn quan như: nhịp điệu, ngữ điệu và nhạc điệu Trong nhiều trường hợp do

Trang 14

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

khụng nắm vững nội hàm cỏc khỏi niệm này mà nhiều người xỏc định sai biểu hiện của cỏc yếu tố này trong sỏng tỏc văn học

Trước hết, giọng điệu khỏc với nhịp điệu Nhịp điệu “là một phương tiện quan trọng để cấu tạo hỡnh tượng nghệ thuật trong văn học, dựa trờn sự lặp lại cú tớnh chất chu kỡ, cỏch quóng hoặc luõn phiờn của cỏc yếu tố quan hệ tương đồng trong thời gian hay quỏ trỡnh nhằm chia tỏch và kết hợp cỏc ấn tượng thẩm mĩ” [11, tr.238] Trong văn học, nhịp điệu là sự lặp lại cỏch quóng đều đặn và cú thay đổi của hỡnh tượng ngụn ngữ, hỡnh ảnh, mụtip,… nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới, tạo ra cảm giỏc chuyển động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật Nhịp điệu cú vai trũ rất quan trọng khụng chỉ trong thể loại thơ ca, mà cả trong lĩnh vực văn xuụi Ju.N.Tynianov đó phõn biệt khỏ chớnh xỏc nhịp điệu trong thơ và nhịp điệu trong văn xuụi ễng viết: “Trong văn xuụi (nhờ sự đồng thời của lời núi), thời gian được cảm thấy rất rừ; hiển nhiờn đú khụng phải là những tương quan

về thời gian giữa cỏc sự kiện, mà chỉ là những tương quan cú tớnh ước lệ Trong thơ ca, thỡ thời gian khụng thể cảm giỏc được Cỏc tiểu tiết của chủ đề

và những đơn vị lớn của chủ đề đều được cõn bằng nhau bởi cấu trỳc chung của thơ” [14, tr.124 – 125] Trong chỉnh thể văn học, nhịp điệu là một phương diện bộc lộ giọng điệu M Bakhtin từng núi: “Nhịp điệu làm cho mỗi thành tố can dự trực tiếp với hệ thống giọng điệu của chỉnh thể” [4, tr.112]

Về bản chất, nhịp điệu gần với nhịp sinh học và nhịp tỡnh cảm của con người Nhịp điệu tồn tại ở mọi cấp độ của tỏc phẩm văn học, trong thơ nú thể hiện rừ qua kiểu ngắt nhịp của luật thơ,… trong văn xuụi, nhịp điệu thể hiện qua cỏch phõn chia chương, hồi, sự lặp lại của cỏc đơn vị cõu và ngắt nhịp trong bộ phận cõu

Giọng điệu cũng khỏc với ngữ điệu Giọng điệu là phạm trự của thi phỏp học, cũn ngữ điệu là phạm trự của ngụn ngữ học

Trang 15

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trong một phỏt ngụn, ngữ điệu thường thực hiện hai chức năng: phõn biệt cỏc kiểu thụng bỏo, phõn biệt cỏc bộ phận của phỏt ngụn Ngữ điệu thường được chia thành: ngữ điệu cảm thỏn, ngữ điệu hỏi, ngữ điệu cầu khiến, ngữ điệu mệnh lệnh, ngữ điệu liệt kờ,… ngữ điệu thuộc phạm vi cõu, giọng điệu lại

“phụ thuộc vào cấu trỳc nghệ thuật của tỏc phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tỏc giả và của thời đại” (Trần Đỡnh Sử) Ngữ điệu gúp phần biểu lộ giọng điệu

Khi tỡm hiểu tỏc phẩm văn học, khụng nờn đồng nhất giọng điệu và nhạc điệu Nhạc điệu “là cấu tạo ngữ õm của lời văn nghệ thuật hỡnh thành bởi vật liệu õm thanh của ngụn từ thể hiện đặc sắc của văn học như một nghệ thuật thời gian Yếu tố hỡnh thỏi vật chất tạo nờn nhạc điệu là điệp õm, điệp vận với cỏc hỡnh thức đa dạng của chỳng: bằng, trắc, nhịp điệu, niờm, vần, đối, vần, yếu tố tượng thanh, ngữ điệu” [11, tr 224] Chức năng cơ bản của nhạc điệu là làm cho cõu văn thờm hay, thờm rộo rắt, trầm bổng, cũn “cỏi làm nờn hồn của nhạc điệu là sự liờn tưởng của tổ chức õm thanh với cảm giỏc õm nhạc (nhạc cảm) trong lũng người” [11, tr.225] Trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là trong thơ, nhac điệu cú vai trũ vụ cựng quan trọng Nhạc điệu trong thơ được tổ chức nhờ nhiều yếu tố: ngắt nhịp, gieo vần, phối thanh…

Túm lại, tất cả những yếu tố: nhịp điệu, ngữ điệu và nhạc điệu mặc dự cú liờn quan chặt chẽ tới giọng điệu; nhưng nhỡn chung, chỳng chỉ mới là những thành tố gúp phần tạo nờn õm hưởng và giọng điệu văn chương Hiển nhiờn, khi khảo sỏt yếu tố này phải luụn luụn nhỡn chỳng trong mối quan hệ tương tỏc

và tương hợp với cỏc yếu tố cũn lại Mối quan hệ giữa cỏc yếu tố này phải được nhỡn trong sự toàn vẹn và thống nhất của một chỉnh thể nghệ thuật

1.3 Giọng điệu – yếu tố cơ bản biểu hiện phong cỏch nhà văn

Là sản phẩm mang tớnh cỏ biệt, độc đỏo, kết tinh sự thăng hoa sỏng tạo thực thụ của nhà văn, giọng điệu là một phương diện bộc lộ chủ thể sỏng tạo

Trang 16

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

Thụng qua giọng điệu mà ta nhận biết được thỏi độ, tư tưởng, tỡnh cảm và cỏch đỏnh giỏ của nhà văn với đối tượng được miờu tả: “Do chỗ giọng điệu gắn liền với việc miờu tả bằng hỡnh tượng, đối tượng của sỏng tỏc, cho nờn nú cú những đặc điểm của cỏch nhỡn nhận riờng của cỏ nhõn đối với cuộc sống Những người sành sỏi về văn học cú thể căn cứ vào những đặc điểm về giọng điệu của một đoạn văn tự sự nhất định mà họ chưa từng biết hay căn cứ vào mấy dũng thơ của một bài thơ mới lạ để xỏc định tỏc giả của những tỏc phẩm ấy Ở đõy yếu tố nội dung của giọng điệu được thể hiện khỏ rừ” [14, tr.119] Giọng điệu trong những trường hợp này đó trở thành “chỡa khoỏ” để “mở” tỏc phẩm Cú thể khẳng định rằng, giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hỡnh tượng tỏc giả trong tỏc phẩm Ngoài đời, nếu nghe giọng núi của mỗi người mà ta nhận biết được chủ thể phỏt ngụn là ai thỡ trong văn học, giọng điệu lại là yếu tố giỳp ta nhận diện tỏc giả

Văn thực sự phải là văn cú giọng điệu riờng Mỗi nhà văn phải tạo ra được giọng điệu riờng cho mỡnh Turghenhep cho rằng: “Cỏi quan trọng trong tài năng văn học… Võng, vả lại, tụi nghĩ rằng, cũng cú thể trong bất kỳ tài năng nào, là cỏi mà tụi muốn gọi là giọng điệu của mỡnh Võng, cỏi quan trọng

là giọng núi của mỡnh Quan trọng là những giọng núi riờng biệt, sống động của mỡnh, cỏi mà khụng thể tỡm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khỏc,… để cú thể núi được như vậy và cú được chớnh cỏi giọng đú cần phải cú chớnh cỏi cổ họng được cấu tạo một cỏch đặc biệt Cỏi đú cũng như ở loài chim vậy… Chớnh ở chỗ đú là điểm khỏc biệt chủ yếu của một tài năng độc đỏo, sống động” [14, tr.60] Nờmirụvich - Danchencụ đó tuyờn bố: “Trong một

vở kịch hay bao giờ cũng cú giọng điệu riờng của tỏc giả Nếu khụng cú giọng điệu riờng, tức là tỏc giả khụng cú tài năng” [14]

“Văn học là nghệ thuật ngụn từ” - chõn lý giản dị ấy ai cũng hiểu Nhưng theo nhà nghiờn cứu Hoàng Ngọc Hiến thỡ “ngụn từ khụng chỉ

Trang 17

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

bao gồm từ, mĩ từ Trong tỏc phẩm văn học, cõu văn phải cú hồn ( ) Cõu văn

cú hồn là cõu văn cú giọng, cú ngữ điệu, bởi vỡ từ ngữ của bài văn được chọn

cú thể thụng bỏo nhiều điều quan trọng nhưng bài văn khụng cú giọng điệu đọc lờn vẫn nhạt nhẽo vụ vị Sự phong phỳ, tớnh đa nghĩa, ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng Năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là ở năng lực bắt được trỳng cỏi giọng của văn bản mỡnh đọc và tạo ra được giọng đớch đỏng cho tỏc phẩm mỡnh viết” [10]

Giọng điệu là một phạm trự thẩm mĩ vừa cụ thể, lại vừa trừu tượng Người đọc cảm nhận giọng điệu của tỏc phẩm qua những yếu tố ngụn ngữ cụ thể (như cỏch gọi tờn, xưng hụ, từ ngữ miờu tả, lời bỡnh luận, lời trữ tỡnh, ) Đồng thời, thụng qua giọng điệu mà nhận ra tất cả chiều sõu tư tưởng, thỏi độ,

vị thế, phong cỏch, tài năng cũng như sở trường ngụn ngữ, cảm hứng sỏng tạo của người nghệ sĩ

1.4 Những phương thức biểu hiện chung của giọng điệu trong văn học

Tỡm hiểu giọng điệu trong văn chương, vấn đề đầu tiờn cần phải quan tõm đú là mối quan hệ giữa chủ thể sỏng tạo và khỏch thể được phản ỏnh

Trước hết, giọng điệu gắn bú mật thiết với chất thể, chủ thể sỏng tạo và đối tượng được phản ỏnh Văn bản văn chương là một tổ chức của cỏc kớ hiệu ngụn ngữ Núi khỏc đi, văn chương là nghệ thuật của ngụn từ, lấy ngụn từ làm chất liệu để xõy dựng hỡnh tượng nghệ thuật, tỏc phẩm văn học đó đạt được hiệu quả nghệ thuật lớn lao mà khụng ngành nghệ thuật nào cú thể cú được Chớnh ở phương diện này, tỏc phẩm văn học cú khả năng khỏi quỏt hiện thưc một cỏch toàn diện và triệt để Cũng xuất phỏt từ đặc trưng này, tựa vào ngụn

từ, văn học thể hiện giọng điệu của chủ thể sỏng tạo theo cỏch riờng của mỡnh Một kớ hiệu ngụn ngữ bao giờ cũng cú hai bỡnh diện:

a) Bỡnh diện cỏi biểu hiện (hỡnh thức)

b) Bỡnh diện cỏi được biểu hiện (nội dung)

Trang 18

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

Bỡnh diện cỏi biểu hiện cú hai yếu tố: hỡnh thức của cỏi biểu hiện (cỏi đang hiện ra trước mắt, đú là lời văn nghệ thuật) và chất thể của cỏi biểu hiện (chữ viết, đọc hoặc truyền khẩu) Bỡnh diện cỏi được biểu hiện cũng cú hai yếu tố: hỡnh thức của nội dung (bao gồm cả khối và diện của nội dung tỏc phẩm được tổ chức theo cỏch nào) và chất thể của nội dung (nội dung tư tưởng tỏc phẩm là cỏi nhỡn của nhà văn đối với đời sống)

Giọng điệu văn chương phụ thuộc rất nhiều vào hai bỡnh diện trờn Bởi cựng một cỏi được biểu hiện (nội dung) nhưng mỗi một nghệ sĩ lại cú hỡnh thức thể hiện và sở trường sử dụng ngụn ngữ riờng

Mặt khỏc giọng điệu cũn phụ thuộc vào đặc điểm tõm hồn nhà văn Mỗi nhà văn cú sở trường, cú cỏ tớnh và sở thớch riờng, bởi thế họ cú cỏch nhỡn, cỏch cảm và cú những ưu thế riờng Sỏng tỏc của họ, vỡ thế mà mang những vẻ đẹp khụng trộn lẫn Nhà nghiờn cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xột: “Mỗi nhà văn cú một cỏi tạng riờng, cú một chất tõm hồn riờng, nú tạo nờn một thứ nam chõm riờng để bắt lấy những gỡ thớch hợp với nú” Đặc điểm tõm hồn của người nghệ sĩ sẽ xỏc định và khoanh “vựng sỏng tỏc”, khoanh “vựng thẩm mĩ” trong sỏng tỏc của họ Cỏch cảm thụ thế giới của nhà văn cũng do sự quy định của nhiều yếu tố: cỏ tớnh, sở thớch, nhịp “sinh học”, mụi trường văn hoỏ, giỏo dục, Ngoài ra, giọng điệu cú quan hệ mật thiết với cảm hứng sỏng tạo của người nghệ sĩ Nhà nghiờn cứu Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Giọng điệu trong văn chương đó lớ giải mối quan hệ giữa cảm hứng và giọng điệu như sau:

“Cảm hứng nào, giọng điệu ấy nhưng cũng cú thể ngược lại, giọng điệu định hướng hỡnh thành cảm hứng”

Giọng điệu cũn phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng được miờu tả

Hiện thực được núi tới trong tỏc phẩm là sự vật, hiện tượng nào, cú ảnh hưởng và chi phối rất lớn tới việc xỏc lập giọng điệu cho tỏc phẩm Bởi miờu tả

và phản ỏnh đối tượng nào phải cú giọng điệu phự hợp với đối tượng ấy Chẳng

Trang 19

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

hạn, miờu tả con người giọng phải khỏc với miờu tả thiờn nhiờn, miờu tả cảnh mựa xuõn giọng phải khỏc với miờu tả cảnh mựa thu, miờu tả cỏi hài giọng phải khỏc với miờu tả cỏi bi, Turgeniev từng nhấn mạnh: “Tỏi hiện một cỏch chớnh xỏc và mạnh mẽ sự thật hiện thực của cuộc sống là hạnh phỳc cao nhất đối với nhà văn, dự cỏi sự thật ấy khụng phự hợp với thiện cảm của nhà văn chăng nữa” [ 18, tr 93] Cú thể hiểu một cỏch đơn giản ý kiến trờn như sau: khụng phải lỳc nào cỏi chủ quan của người nghệ sĩ cũng chiến thắng hoàn toàn, trong nhiều trường hợp cỏi khỏch quan làm thay đổi ý đồ sỏng tạo ban đầu của nhà văn Thực ra, đõy chớnh là sự tương tỏc giữa yếu tố chủ quan và khỏch quan trong quỏ trỡnh sỏng tạo nghệ thuật Cỏi khỏch quan và cỏi chủ quan bao giờ cũng cú mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau cựng nhau quy định, chi phối tới quỏ trỡnh sỏng tạo của người nghệ sĩ Lẽ tất nhiờn, như trờn đó đề cập yếu tố quan trọng nhất để tạo nờn giọng điệu vẫn là yếu tố chủ quan, xuất phỏt từ điệu tõm hồn, cỏch cảm nhận và đỏnh giỏ thế giới của người nghệ sĩ

Khụng chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chủ thể và khỏch thể, giọng điệu cũn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm thể loại

Mỗi thể loại văn học, do bản chất đặc trưng, mang sẵn trong mỡnh những tiền đề tạo ra giọng điệu phự hợp cho nú Theo M Bakhtin, nếu thơ ca

là thể loại “khộp kớn”, đơn thanh; thỡ tiểu thuyết lại là thể loại “chưa bị đụng cứng lại”, đa giọng, đa õm Với thể loại tiểu thuyết, giọng điệu thường mang tớnh suồng só, tự nhiờn, thõn mật, gần gũi, nú khụng chịu sự quy định khắt khe như giọng điệu trong sử thi Khi nghiờn cứu về tiểu thuyết, M Bakhtin nhận thấy ba đặc điểm sau đõy khiến cho tiểu thuyết trở thành thể loại năng động giàu sức sống nhất trong cỏc thể loại đó biết

a - Tớnh ba chiều cú ý nghĩa phong cỏch học tiểu thuyết gắn liền với ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểu thuyết Thực ra, tớnh đa ngữ vốn tồn tại từ

Trang 20

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

lõu nhưng chưa thực sự trở thành một nhõn tố sỏng tạo Phải đến thời hiện đại tiểu thuyết mới bắt đầu thỳc đẩy sự phỏt triển của ngụn từ, trao cho ngụn từ những quyền năng mới

b - Sự thay đổi cơ bản cỏc toạ độ thời gian của hỡnh tượng trong tiểu thuyết Nếu như với sử thi, hiện thực đương thời là hiện thực “hạ đẳng”, chỉ cú quỏ khứ tuyệt đối mới cú ý nghĩa thỡ tiểu thuyết đó làm một cuộc đảo lộn ngoạn mục Cỏi hiện thực “hạ đẳng” kia chỉ là khu vực của lĩnh vực “cười cợt - nghiờm tỳc” đó trở thành yếu tố làm nảy sinh một thể loại cường trỏng sau này: tiểu thuyết!

c - Sự tiếp xỳc tối đa với cỏi hiện đại (đương đại) thỡ chưa hoàn thành Ở đõy “tớnh vấn đề” mới là đặc trưng của tiểu thuyết, nú buộc tiểu thuyết phải luụn luụn kiến giải, đỏnh giỏ lại thế giới

Trong quỏ trỡnh nghiờn cứu, M Bakhtin luụn chia tiểu thuyết thành hai loại: Tiểu thuyết đơn thanh và tiểu thuyết đa thanh Ở tiểu thuyết đơn thanh, vai trũ của tỏc giả là tuyệt đối, thỡ ở tiểu thuyết đa thanh, vị thế của tỏc giả và nhõn vật là ngang hàng, bỡnh đẳng với nhau Như vậy, sự thay đổi về thể loại,

sẽ kộo theo sự thay đổi của cỏc yếu tố khỏc trong tỏc phẩm: kết cấu, nhõn vật, nghệ thuật trần thuật Núi khỏi quỏt hơn, chớnh thể loại sẽ quy định giọng điệu phự hợp cho tỏc phẩm Khỏc với sử thi và thơ ca, tiểu thuyết cú cỏch bộc lộ giọng điệu riờng Điều này trước hết xuất phỏt từ đặc trưng của thể loại: Tiểu thuyết lấy đời sống riờng tư làm đối tượng quan sỏt và miờu tả, chớnh vỡ vậy nú hấp thụ và phản ỏnh tất cả hiện thực của cuộc sống trong sự đa chiều, đa dạn,

nú khụng phải là thể loại “khộp kớn” Đỳng như M Bakhtin núi, tiểu thuyết là thể loại chưa xong, nú sẽ cũn thay đổi nhiều trong văn học

Túm lại, giọng điệu là một phương diện cơ bản cấu thành hỡnh thức nghệ thuật của tỏc phẩm văn học Nú cũng là thước đo khụng thể thiếu để xỏc định tài năng và phong cỏch độc đỏo của người nghệ sĩ Khoỏ luận này đi sõu vào

Trang 21

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

những vấn đề lý luận về giọng điệu trong tiểu thuyết Để tập trung làm nổi bật vấn đề, chỳng tụi tập trung tỡm hiểu giọng điệu tiểu thuyết thời kỡ cao trào đổi mới từ sau 1986 Bởi đõy là thời kỡ văn học cú bước chuyển mỡnh nhanh chúng, tiểu thuyết thu được nhiều thành tựu nổi bật và cú nhiều sự đổi mới quan trọng trong nghệ thuật biểu hiện

Trang 22

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

CHƯƠNG 2 GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH

Văn chương, trước hết là nghệ thuật của ngụn từ, là cỏch núi bằng ngụn ngữ Gắn liền với cỏch núi đú là thỏi độ, là giọng điệu của nhà văn ẩn sau cỏc

kớ hiệu, cỏc “mó”nghệ thuật Cú thể núi, trong cỏc sỏng tỏc ưu tỳ giọng điệu bao giờ cũng mang tớnh chất lượng, là sản phẩm sỏng tạo đớch thực của nhà văn Tuy nhiờn, tỏc phẩm văn học bao giờ cũng là một “quỏ trỡnh” Nghĩa là tỏc phẩm văn học chỉ là chớnh nú khi nú được tiếp nhận, nú luụn kờu gọi sự đồng sỏng tạo ở bạn đọc Điều quan trọng với bạn đọc là phải bắt được thật

“trỳng” giọng của người nghệ sĩ Tạo ra trong tỏc phẩm của mỡnh một hệ thống giọng điệu, một mụi trường giọng điệu vừa độc đỏo, vừa phong phỳ là thước

đo quan trọng đỏnh giỏ tài năng nghệ thuật của nhà văn

Hệ thống giọng điệu trong tỏc phẩm văn học bao giờ cũng cú sự phõn cấp Như phần trờn đó núi, giọng điệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt nú

cú quan hệ mật thiết với điệu tõm hồn của nhà văn, với cảm hứng sỏng tạo của người nghệ sĩ Khi giọng điệu gặp gỡ và cú sự trựng khớt với tõm hồn nhà văn, lỳc đú xuất hiện giọng chủ õm Cũn khi giọng điệu khụng trựng, khụng bắt nhịp với điệu tõm hồn nhà văn, thỡ đú là giọng mượn, giọng giả, hay đú là những sắc điệu bố đệm bao quanh giọng chủ, giọng chớnh Tuy nhiờn, dự là giọng chủ hay giọng mượn, chỳng đều nằm trong một hệ thống nhất thể, khụng mõu thuẫn, độc lập mà gắn thành một khối đụng kết, khụng tỏch biệt

Ngày nay trong xu thế của sự cỏch tõn, cỏc nhà văn cú khuynh hướng tỡm cho mỡnh một hướng đi mới, một sự thể hiện riờng Nguyờn Ngọc cú viết:

“Hỡnh như đang cú sự cố gắng hỡnh thành một giọng điệu mới của người viết – một cố gắng cũn khú nhọc, chưa định hỡnh Đú là sự xuất hiện ngày càng rừ

Trang 23

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

cỏi tớnh nghiờm nghị, mực thước, phỏ đổ cỏc “thần tượng ngụn từ” Nú đang

đi đến chỗ mỉa mai, tự chế giễu, và ta biết điều này là hết sức quan trọng cho

sự tự vấn” Rừ ràng, tiểu thuyết đang trờn đà đổi mới mạnh mẽ về giọng điệu,

cú sự chuyển hướng, tung hứng về giọng điệu

Phần tõm huyết và sõu sắc nhất của triết lớ Tạ Duy Anh trong sỏng tỏc của ụng đú là tập trung vào vấn đề: “Tại sao con người lại đỏnh mất mỡnh?”

Vỡ vậy, độc giả nghiệm thấy trong tỏc phẩm của ụng những chiờm nghiệm sõu

xa, thấm thớa, đậm tớnh nhõn văn về đời sống và thời cuộc: “Hóy trỏnh sự tỏi diễn tương tự bởi vỡ lịch sử luụn cú nguy cơ lặp lại” và hóy biết: “đũi cho con người cuộc sống mà họ xứng đỏng được hưởng” Cảm hứng chủ đạo trong sỏng tỏc của Tạ Duy Anh là những khỏt khao chỏy bỏng con người được sống xứng đỏng với danh hiệu cao quý của con người, được sống cuộc sống mà đỏng

ra con người được hưởng Số phận con người - những dấu ấn của cuộc nhào nặn dữ dằn, nghiệt ngó của lịch sử, đang quằn quại trong những đau đớn khụn nguụi trước sự băng hoại và xuống cấp của đạo đức Do sự ảnh hưởng của cảm hứng chủ đạo và cỏch nhỡn cuộc đời như trờn, Tạ Duy Anh đó tạo nờn một hệ thống giọng điệu hết sức phong phỳ và đa dạng trong sỏng tỏc của mỡnh, trong

đú nổi lờn một số giọng chủ, giọng chớnh Ngoài ra cũn rất nhiều sắc điệu bao quanh Tỡm hiểu giọng điệu trong một số sỏng tỏc chớnh của ụng ta thấy xuất hiện những giọng điệu chủ yếu sau:

2.1 Giọng quan hoài, da diết

Trong cao trào đổi mới, khuynh hướng “nhận thức lại” đó hỡnh thành rất đậm nột Gắn liền với những đỏnh giỏ khỏch quan về những được mất của con người, của dõn tộc trong và sau chiến tranh, văn xuụi cũng xuất hiện giọng trầm lắng, xút xa với õm hưởng chủ đạo là mụtip về nỗi đau, sự cụ đơn và những ưu tư của người nghệ sĩ trước những “bể dõu” của số phận, nhõn tỡnh

Vỡ thế, văn học sau 1986, núi nhiều đến nỗi đau, đến mất mỏt của từng cỏ nhõn

Trang 24

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

cụ thể Giọng văn do đú mà lắng xuống, cõu chữ như gẫy vụn, vỡ ũa trước sự thỳc ộp của rất nhiều xút xa, thương cảm

Đọc tiểu thuyết Tạ Duy Anh, ta cảm nhận rất rừ chất giọng này Nú cú khi lan toả thấm vào từng trang văn, từng cõu chữ; cú khi vang lờn trong những lời trữ tỡnh ngọai đề thiết tha sõu lắng, nhưng cũng cú lỳc lại thõm trầm toỏt lờn

từ õm hưởng chung của những số phận, những cuộc đời mỏi mũn, quẩn quanh, đầy bất hạnh

Cuộc đời Lóo Khổ trong truyện ngắn cựng tờn được Tạ Duy Anh kể bằng giọng buồn thương da diết, đầy nuối tiếc và bồi hồi xỳc động; đụi khi xen cả chất giọng chua chỏt, ngậm ngựi, cay đắng Lóo Khổ được coi là hiện thõn của lịch sử, cuộc đời lóo đó trải qua bao cung bậc thăng trầm của một kiếp người:

“Lừng danh một thời, ba đào một thời và lụn bại một thời” Đi tỡm nguyờn nhõn long đong của của cuộc đời lóo, tỏc giả đó đưa ra giả thuyết: “Lóo long đong vỡ khụng biết núi dối”, lóo cứ sống hồn nhiờn với nhõn cỏch, chõn lớ riờng của mỡnh, và tất yếu cuộc đời đen bạc khụng thể chấp nhận một nhõn cỏch sống như thế Do đú, lóo vừa trở thành nạn nhõn của cuộc đời vừa trở thành nạn nhõn của chớnh mỡnh Lóo cụ đơn, lạc lừng ngay giữa cuộc đời: “Lóo mự loà ngay trong cộng đồng của lóo Cú một cuộc sống bất chấp qui tắc vẫn diễn ra, trong đú lóo bị căm ghột và thương hại” Lóo Khổ của một thời được tung hụ, một thời được ngợi ca, nay bị chớnh cộng đồng “luận tội”, lóo bị cộng đồng

“đấu tố” Số kiếp lóo đỳng như lóo đó từng nghiệm ra: “Đa phần những việc đời lóo làm đều cú kết quả trỏi với ý định của lóo” hay “Mẹ kiếp! Lóo nghĩ - kiếp người thật ra chẳng sung sướng gỡ” [2, tr.7] Giọng quan hoài, da diết chủ yếu tập trung thể hiện sự nuối tiếc của lóo Khổ về một thời vàng son đó qua Vỡ thế, nú mang õm sắc ngậm ngựi, thương cảm

Đến với “Thiờn thần sỏm hối”, người đọc lại bắt gặp giọng điệu quan hoài, da diết, buồn thương và chua chỏt Tất cả những gỡ đang diễn ra ngoài

Trang 25

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

cuộc sống được bào thai lắng nghe và chiờm nghiệm Trong thời gian “trỡ hoón” sự ra đời, bào thai đó được nghe kể về biết bao cảnh đời, biết bao số phận Điểm chung của những số phận này là sự bất hạnh Họ chớnh là những nạn nhõn của cuộc đời Sự xuống dốc nhanh chúng của lối sống, sự băng hoại

về đạo đức trong xó hội đó ảnh hưởng, chi phối, và quyết định số phận của họ Đọc tỏc phẩm, người đọc khụng thể trỏnh khỏi cảm giỏc ngỡ ngàng và rựng mỡnh ghờ sợ trước mảng hiện thực được phản ỏnh Đằng sau những sự thật cú phần khắc nghiệt và dữ dội ấy, ta thấy cận cảnh những số phận đang rờn xiết

Đú là cõu chuyện về người đàn bà, sau khi đó cho người tỡnh “trỏng men” và bị phụ tỡnh thỡ cay đắng và chua xút kờu lờn: “Giỏ em là yờu tinh thỡ tốt biết mấy

Em sẽ cấu cổ hỳt mỏu từng thằng đàn ụng Làm người húa ra khốn nạn nhất chị ạ” [3, tr.14] Qua cõu chuyện kể của bà Phước, cõu chuyện về về một người phụ nữ bị chồng ngược đói, phải bỏ lờn thành phố kiếm ăn, chung đụng với bốn bố con gó xe ụm, đẻ ra bốn cỏi bọc và đồng ý cho người ta ngõm cồn bốn đứa con chưa thành người để lấy bốn triệu, người đọc bị ỏm ảnh bởi một mảng hiện thực cay nghiệt và quỏ tàn khốc Giọng quan hoài, da diết vỡ thế mà toỏt lờn một cỏch đầy chua xút, đau đớn

Giọng quan hoài da diết cũng được sử dụng khi nhà văn xõy dựng nhõn vật Tỏc giả đó luụn đặt nhõn vật của mỡnh trong cỏc mối quan hệ xó hội, để từ

đú nhõn vật tự bộc lộ bản chất, tớnh cỏch của mỡnh, từ đú làm nổi bật lờn vấn đề

mà tỏc phẩm quan tõm Một chàng trai, sẵn sàng phản khỏng bằng một thỏi độ quyết liệt khi được lờn chức bố; bởi với anh ta, sự ra đời của đứa con là một tai hoạ, một thứ của “nợ”, nú đỏnh một dấu chấm hết lờn cuộc đời hắn: “Mày vào dỳi cho con mụ đang làm phiếu chứng sinh chỗ tiền này Bảo mụ đặt thằng bộ

là Khốn Nạn, mục người bố thỡ khai: Hy sinh” Một thanh niờn sẵn sàng giết

bố mỡnh khi biết được sự thật “Ra là thế! Tụi ra đời trong sự nguyền rủa của cỏc người” Để cú việc làm, cú một chỗ đứng trong xó hội, người ta phải đỏnh

Trang 26

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

đổi bằng thõn xỏc của mỡnh, đỏnh đổi cả quyền được làm cha làm mẹ để suốt đời phải sống trong day dứt khụn nguụi

Tất cả những vấn đề bức xỳc trong cuộc sống hụm nay đều đựơc “khỳc xạ” trong sỏng tỏc của Tạ Duy Anh; để phản ỏnh được sự phong phỳ cũng như phức tạp trong quan hệ xó hội hiện đại, giọng quan hoài da diết là một chất giọng cú khả năng diễn đạt rất cú hiệu quả

Đọc “Gió biệt búng tối”, ta lại thấy giọng quan hoài, da diết mang sắc điệu thống thiết Giọng điệu trần thuật ở đõy thể hiện rừ nột qua cỏch xưng hụ, mỗi nhõn vật xuất hiện với một cỏch xưng hụ riờng, cú người xưng tụi, cú người xưng tao Kể về nhõn vật xưng tụi, tỏc giả đó khắc đậm dấu ấn của một cuộc đời đầy tủi nhục Tụi đó phải trải qua biết bao cay đắng tủi hờn: chưa một lần được biết mặt mẹ, bà mất, nú lang thang để kiếm ăn,… Nhưng trong xó hội đầy rẫy những lọc lừa, muốn được sống yờn ổn mà đõu cú được, nú phải đi lang thang để kiếm sống, thậm chớ phải ngủ trờn hố phố Tuy nhiờn, đối với nú ngay cả một chỗ ngủ “mạt hạng” là một gốc cõy cũng khụng cú được bởi trong

xó hội này, mọi thứ đều đó bị người khỏc xớ phần Nhõn vật cú lỳc mang tõm trạng đầy mặc cảm tủi hờn

Giọng quan hoài, da diết là giọng chủ đạo trong sỏng tỏc của Tạ Duy Anh, nhưng từ giọng điệu vang lờn như nốt nhạc chủ õm ấy, ta vẫn nhận ra ở mỗi tỏc phẩm cụ thể những sắc thỏi riờng Cựng là giọng quan hoài, da diết, ở

“Lóo Khổ” là giọng quan hũai ngậm ngựi pha với nỗi buồn, bơ vơ cay đắng của một con người cống hiến trọn đời cho cỏch mạng, cho cộng đồng để nhận lại sự thất bại, sư lạc lừng Trong “Thiờn thần sỏm hối”, đú là giọng quan hoài, da diết buồn thương day dứt hoà lẫn với niềm xút xa, chua chỏt, đầy đớn đau nhưng nhõn vật vẫn giữ được niềm tin và hy vọng: “Phải tranh đấu đến cựng - cuộc sống khụng thể dừng lại Nú phải được tiếp tục mạnh mẽ, tươi đẹp, đầy ý nghĩa ngay cả khi mỡnh khụng cũn trờn thế gian này Con ơi, hóy cho mẹ

Trang 27

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

cú cơ hội để sỏm hối về một lần mẹ đó chối bỏ con” [3, tr.109] Sang “Gió biệt búng tối”, giọng quan hoài, da diết lại pha lẫn với sắc điệu thống thiết Cú thể núi, sự lựa chọn giọng điệu của Tạ Duy Anh thật chớnh xỏc và tinh tế Nú phự hợp với việc khắc họa những cảnh đời đầy bất hạnh, tủi hờn Đồng thời cũng bộc lộ sõu sắc và chõn thành tỡnh cảm của nhà văn đối với nhõn vật, đối với sự xuống dốc mạnh mẽ của đạo đức xó hội

2.2 Giọng bỗ bó, dung tục

Điểm gõy ấn tượng mạnh nhất đối với bạn đọc trong sỏng tỏc của Tạ Duy Anh, đú là thứ ngụn ngữ đời sống đang bị xuống cấp trầm trọng Chớnh hệ thống ngụn ngữ này đó tạo cho tỏc phẩm của ụng cú được sức hỳt kỡ lạ Sỏng tỏc của Tạ Duy Anh khụng cú những mĩ từ, ngược lại ngụn ngữ được dựng rất gần vúi lời ăn tiếng núi hằng ngày Từ thứ ngụn ngữ này, Tạ Duy Anh đó dựng phổ biến chất giọng bỗ bó, dung tục Trong “Lóo Khổ”, nú toỏt lờn từ tiếng chửi cay nghiệt: “Mẹ kiếp! Mẹ kiếp! Đó thế ụng đếch thốm sống nữa” [2, tr.7] Hay “Đ.mẹ thằng khổ ăn gan uống mỏu người…” Tiếng chửi cất lờn như một

sự phản khỏng, sự trả thự đời, trả thự người Ở làng Đồng khụng khớ lỳc nào cũng ngột ngạt, ngột ngạt bởi con người luụn mang nặng sự hằn thự, lỳc nào cũng bị ỏm ảnh bởi suy nghĩ phải trả thự: “Thằng trời đỏnh thỏnh vật! Đời tao, đời con chỏu tao tàn lụi vỡ mày Mày giỡ bàn thờ tổ tiờn tao cho lũ mọi rợ làm chuồng lợn Quõn khốn kiếp! Chỉ ớt hụm nữa luật quả bỏo sẽ ứng nghiệm: Mày

sẽ chết bởi chớnh những gỡ mỡnh cố cụng tạo ra A ha! Nhõn dõn sắp xột xử mày… Tổ sư bố cả ổ cả ờ nhà mày”

Giọng dung tục xuất hiện với tần số đậm đặc ở “Thiờn thần sỏm hối”

Cú lẽ, chất giọng này đó rất phự hợp trong việc giỳp nhà văn khỏi quỏt một cỏch chớnh xỏc và đầy đủ diện mạo của cuộc sống Dóy nhà dành cho sản phụ bỗng chốc trở thành một cỏi chợ lớn, với đủ mọi tạp õm hỗn tạp, đủ mọi giọng: Giọng bà hộ lớ “the thộ”, “khàn khàn” lời lẽ cộc lốc: “chồng đõu?’’, “đi tõy

Trang 28

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

hả?’’, “ngừng giao hợp từ bao giờ?” Giọng chửi rủa của những người mẹ mang trong mỡnh nỗi đau trước cơn vựơt cạn và cả nỗi đau khi bị phụ tỡnh:

“Thằng chú họ Sở nú lừa em Nú cú vợ con ở quờ rồi mà em thỡ cả tin”; giọng

hả hờ vui sướng của người đàn bà khi trỳt được đứa con như trỳt được một gỏnh nặng: “Thằng chú, con mày đấy, đến mà nhận về Bà hết việc với mày rồi

Bà xoỏ nợ cho mày…” Giọng chờ bai, hợm hĩnh của những kẻ nhiều tiền, nhỡn mọi thứ với thỏi độ đầy khinh miệt: “Xỡ, đõy mà là phũng đẻ ư? Nhà trọ bến xe thỡ cú…”, “kinh sợ! Phũng đẻ y như nhà trọ!” [3, tr 31.32]; giọng bất cần, thụ

lỗ, trơ trỏo của những gó họ Sở: “Tiờn sư bọn chú!”, “Tởm quỏ!”, “Thế là hết

mẹ nú đời rồi”; nhưng cũng cú cả giọng đau xút, tức tưởi của người mẹ bị mất con: “Em phải gỏnh ỏc nghiệp do chồng em gõy ra (…) Em nằm mơ thấy ả cầm con dao thỏi thịt, ả đõm em một nhỏt Em cố ụm bụng, cho đến khi thấy núng hổi ở bẹn, ở mụng” Đú cũn là tiếng chửi cay cỳ của “papa" Hữu - một dờ già luụn nhỡn cấp dưới bằng ỏnh mắt thốm thuồng của một kẻ hỏo sắc, khỏt khao đầy dục vọng, khi khụng đạt được mục đớch thỡ sẵn sàng văng tục, chửi thề:

“Đ.mẹ cỏi thằng nào nghĩ ra từ papa Thà em cứ gọi tụi là cỳn con Hữu, Hữu mặt lưỡi cầy tụi cũn dễ thở hơn”

Với “Gió biệt búng tối”, một lần nữa người đọc nhận thấy trong đõy thứ ngụn ngữ đó xuống dốc một cỏch trầm trọng Hàng loạt những từ, những ngữ của bọn vụ đạo đức được tung ra Theo nhận xột của nhiều nhà nghiờn cứu, tỏc phẩm này thừa tiếng chửi Đú là tiếng chửi đời, chửi chớnh số phận “khốn nạn của mỡnh” Giọng bỗ bó, dung tục cũn được nhà văn sử dụng để nhõn vật thể hiện thỏi độ coi thường khinh miệt đối với loại người vụ lương tõm, tàn nhẫn

Đú là giọng chua ngoa của ả gỏi làm tiền: “Cỏc vị tưởng mỡnh cao giỏ lắm chắc? Một lũ đạo đức giả thối thõy chứ hơn gỡ? Một lũ mất cả khả năng làm đĩ thỡ đành đúng vai cỏc ụng lớn, bà lớn đõy lạ gỡ”, lời đỏp của một người nào đú trong đỏm đụng: “Nhột cứt vào mồm nú cho tụi, tội vạ đõu tụi chịu…” Giọng

Ngày đăng: 28/06/2020, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng điệu văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1998
7. Đoàn Ánh Dương (2009), “Lối viết tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập (qua trường hợp của Tạ Duy Anh)”, Tạp chí Văn học (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối viết tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập (qua trường hợp của Tạ Duy Anh)
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2009
11. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
14. M.B. Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Lê Sơn, Nguyễn Minh dịch, Nxb. Tác phẩm mới, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học
Tác giả: M.B. Khrapchenco
Nhà XB: Nxb. Tác phẩm mới
Năm: 1978
17. Bích Thu (2007), “Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải. Những năm 80 đến nay”, Tạp chí Văn học (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải. Những năm 80 đến nay
Tác giả: Bích Thu
Năm: 2007
19. Nhiều tác giả (2007), “Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh”, Nxb. Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2007
20. Nhiều tác giả (2007), Kể chuyện bút danh các nhà văn, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện bút danh các nhà văn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
1. Tạ Duy Anh, Giã biệt bóng tối, Nxb. Hội nhà văn (tái bản), 2008 Khác
2. Tạ Duy Anh, Lão Khổ, Nxb. Hội nhà văn (tái bản), 2005 Khác
3. Tạ Duy Anh, Thiên thần sám hối, Nxb. Hội nhà văn (tái bản), 2004 Khác
4. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển dịch và giới thiệu, Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội Khác
6. C. Mác - Ăngghen (1962), Bàn về ngôn ngữ học, Nxb. Sự thật, H Khác
8. Nguyễn Việt Hà, Cơ hội của Chúa, Nxb. Hội nhà văn (tái bản), 2004 Khác
9. Nguyễn Việt Hà, Khải huyền muộn, Nxb. Hội nhà văn (tái bản), 2007 Khác
10. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Tập bài giảng nghiên cứu văn học, Nxb. Giáo dục, H Khác
12. Phạm Thị Hoài, Thiên Sứ, Nxb. Hội nhà văn (tái bản), 2004 Khác
13. Bùi Công Hùng (1983), Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, Nxb. Văn học, Hà Nội Khác
15. Nguyễn Văn Long (chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam sau 1975, Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb. Giáo dục Khác
16. Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận của tình yêu), Nxb. Hội nhà văn, 2005 Khác
18. L.I. Timofeev (1962), Nguyên lý lý lụân văn học, 2 tập, Nxb. Văn hoá, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm