Từ việc điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng ta có thể đi đến kết luận sau: Chỉ riêng về tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ đã có nhiều bài viết đề cập về nội dung, khuynh h
Trang 1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình
và chu đáo của cô Nguyễn Thị Tính - Giảng viên tổ Văn học Việt Nam, các thầy, cô trong tổ Văn học Việt Nam, cùng toàn thể các thầy, cô trong Khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận đó được hoàn thành vào ngày 30 tháng 04 năm 2010
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Tính cùng toàn thể các thầy cô trong khoa đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Đối thoại trong
“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ” là một công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, căn cứ, kết quả nêu trong đề tài là trung thực Đề tài chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2010
Sinh viên
Đào Thuỳ Dung
Trang 3MỤC LỤC
Trang Mở đầu 1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6 Đóng góp của khoá luận 9
7 Bố cục của khoá luận 9
Nội dung Chương1 Những vấn đề chung 10 1.1.Thể loại truyền kì 10
1.1.1 Khái niệm 10 1.1.2 Đặc trưng của thể loại truyền kì 10
1.2.Nguyễn Dữ và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” 11
1.2.1 Thân thế và cuộc đời Nguyễn Dữ 11
1.2.2 Tác phẩm “Truyền kì mạn lục” 12
1.3 Quan niệm về đối thoại 15
Chương 2 Đối thoại trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ 18 2.1 Đối thoại trên phương diện quan niệm về tư tưởng 18
2.1.1 Đối thoại với các tư tưởng, quan niệm tôn giáo triết học 18
2.1.2 Đối thoại với quan niệm, tư tưởng dân gian 33
2.2.Đối thoại trên phương diện kết cấu truyện 42
2.2.1 Khái niệm kết cấu 42
2.2.2 Vai trò của kết cấu 43
Trang 42.2.4 Kết cấu đối thoại trong “Truyền kì mạn lục” 44 Kết luận 54 Tài liệu tham khảo 56
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Truyền kì là một thể loại văn học ra đời và phát triển mạnh trong thời kì trung đại Việt Nam Bản chất của thể loại này là ghi chép những truyện kỳ lạ được lưu truyền Trong văn học Việt Nam, “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn
Dữ đã đánh một dấu mốc rất quan trọng Nguyễn Dữ trở thành “cha đẻ” của thể loại truyền kì và chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam trung đại Viết
“Truyền kì mạn lục”, ngoài việc tiếp thu, kế thừa, sử dụng những “chất liệu”
có sẵn từ dân gian và văn học viết đời trước, ông còn phát huy khả năng sáng tạo, tưởng tượng, hư cấu và tư tưởng “mạn lục” để tạo nên áng “thiên cổ kì bút” đặc sắc này Vì thế, khi lựa chọn “Truyền kì mạn lục” để nghiên cứu, chúng tôi nhằm tìm hiểu sâu giá trị, ý nghĩa của tác phẩm
Hơn thế, cuộc sống chỉ thực sự “sống” nếu có sự trao đổi, qua lại, sự đối thoại giữa người với người Nhưng không phải cuộc đối thoại nào cũng trao đổi, cũng diễn ra một cách trực tiếp Bởi đôi khi cuộc đối thoại lại được diễn ra một cách gián tiếp, âm thầm Đó chính là cuộc “đối thoại ngầm” giữa nhà văn
và bạn đọc để nhà văn có thể bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình nhằm giải thích, chứng minh một sự kiện, một vấn đề xã hội nào đó thông qua tác phẩm Nguyễn Dữ, bằng “Truyền kì mạn lục”, đã gửi gắm nhiều tâm sự, nỗi niềm chất chứa nhằm “đối thoại” với những tư tưởng Nho, Phật, Đạo giáo cũng như với quan niệm dân gian Cuộc đối thoại này không diễn ra trực diện, không thể hiện ngay trên bề mặt tác phẩm mà ẩn sâu trong từng lớp chữ, từng lời văn nên không dễ dàng nhận diện ra được
Bởi vậy, khi tìm đọc tác phẩm để nghiên cứu, chúng tôi xét thấy việc tìm hiểu “Đối thoại trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ” là một đề tài
Trang 6về tác phẩm, mà còn cho nhiều bạn đọc khác khi muốn tiếp cận tìm hiểu thể loại truyền kì nói chung và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ nói riêng
“hoàn toàn hợp lí” và đầy sáng tạo
Riêng tác giả Trần Ích Nguyên với “Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục” thì ngoài việc khẳng định “Truyền kì mạn lục”
“cải biên từ thần thoại, chí quái Việt Nam” và “ghi chép lại truyền thuyết dân gian địa phương” còn cho rằng “ảnh hưởng” của “Tiễn đăng tân thoại” mới thật sự sâu đậm và rõ rệt đối với “Truyền kì mạn lục”
Song ta thấy rằng hai phẩm trên, các tác giả mới chỉ đề cập đến một vấn đề: mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết mà chưa đề cập đến ý nghĩa, đến sự “đối thoại” trong mỗi tác phẩm ấy là gì
Khi nghiên cứu về cái kì ảo trong “truyền kì” có bài viết “Cái “kì” trong tiểu thuyết truyền kì”, (Tạp chí Văn học, số 10/ 2005), tác giả cho rằng cái
“kì” là hạt nhân cơ bản của truyền kì Bởi yếu tố “kì” không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà tham gia vào cốt truyện, thúc đẩy diễn biến cốt truyện Hơn thế, cái “kì” còn ở sâu hơn chi phối vào tư duy nghệ thuật của tác giả Và cái
“kì” khiến cho câu chuyện không dừng lại ở việc ghi chép mà trở thành sản phẩm của hư cấu tưởng tượng Qua đó, người viết nhận thấy tác giả Đinh Phan Cẩm Vân đã phát hiện và nhấn mạnh đến nhiệm vụ nghệ thuật của yếu tố kì ảo
Trang 7mà chưa chỉ ra qua việc sử dụng hình thức kì ảo tác giả “Truyền kì mạn lục” muốn đối thoại điều gì với độc giả
Công trình nghiên cứu tiếp theo là cuốn “Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Na Trong bài viết “Người con gái Nam Xương - một bi kịch của con người”, tác giả đã đi đến khẳng định:
“Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ
nữ trong thể truyền kì Nhà văn đã phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, tức là đã đi tìm hiểu bi kịch muôn thuở của con người” Đây cũng là vấn đề mà các tác giả giai đoạn văn học thế kỉ X - XIV chưa đề cập đến
Về so sánh “Truyền kì mạn lục” có thể kể tới các bài viết như: “So sánh văn học và văn hoá - Nguyễn Dữ và Tiên thoại của Trung Quốc qua truyện
“Từ thức lấy vợ tiên” (GS Trần Đình Sử, Tạp chí Văn học, số 5/ 2000);
“Nghiên cứu so sánh một số tiểu thuyết truyền kì trong Kim ngao tân thoại (Hàn Quốc), Truyền kì mạn lục (Việt Nam) và Tiễn đăng tân thoại (Trung Quốc)” (Toàn Tuệ Khanh, Nghiên cứu so sánh văn học, số 2/ 2005); ““Truyền
kì mạn lục” dưới góc độ so sánh” (GS Nguyễn Đăng Na, Tạp chí Hán Nôm,
số 6 (73)/ 2005), nhưng hầu hết các tác giả nghiên cứu mới chỉ so sánh
“Truyền kì mạn lục” trên qui mô tác phẩm chứ chưa so sánh vấn đề “đối thoại” của tác phẩm với các tác phẩm kia
Từ việc điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng ta có thể đi đến kết luận sau: Chỉ riêng về tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ đã có nhiều bài viết đề cập về nội dung, khuynh hướng sáng tác, đặc biệt là vấn đề số phận
và hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội cũ, về quyền được sống và tự do yêu đương của con người Tuy nhiên, các bài viết trên còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ cho nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo
Trên cơ sở nguồn tư liệu và tham khảo trên, chúng tôi không kiến giải gì
Trang 8tài này, tôi hi vọng sẽ tìm ra một cái nhìn, một cách tiếp cận mới đối với tác phẩm “Truyền kì mạn lục”, đó là hiểu qua sự “đối thoại” của nhà văn với những tư tưởng, quan niệm truyền thống của dân gian và các giáo lí chính thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài “Đối thoại trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ”, chúng tôi nhằm khám phá ra một khía cạnh mới về ý nghĩa của tác phẩm
Từ đó khẳng định tài năng và tư tưởng, quan niệm của Nguyễn Dữ khi viết
“Truyền kì mạn lục” và các tác phẩm khác của ông
Trong phạm vi khoá luận này, trên cơ sở những giáo lí, quan niệm truyền thống của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và dân gian để tìm thấy sự “đối thoại”, lạm bàn của tác giả Đồng thời thấy được sự sáng tạo của nhà văn khi xây dựng những hình tượng nhân vật so với các tác giả trước đó Qua đây, giúp cho việc tiếp cận, tìm hiểu “Truyền kì mạn lục” trong nhà trường và cuộc sống phong phú hơn, hấp dẫn hơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nắm được các quan niệm, tư tưởng truyền thống của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và dân gian để thấy sự “đối thoại” của Nguyễn Dữ với những quan niệm, tư tưởng ấy
Bên cạnh đó, tìm hiểu những cơ sở lí luận, thực tế về xây dựng hình tượng nhân vật trong văn học viết từ thế kỉ X - XIV để thấy được sự sáng tạo và tài năng viết truyện của Nguyễn Dữ
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát thống kê
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp so sánh
Trang 95 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề “đối thoại” trong “Truyền kì mạn lục”
6 Đóng góp của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về “đối thoại” trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ Qua đó, thấy được sự đóng góp của Nguyễn Dữ với nền văn học Việt Nam Đồng thời, đây cũng là bài tập nghiên cứu khoa học rất hữu ích cho việc học tập và giảng dạy của bản thân tác giả khoá luận sau này
7 Bố cục của khoá luận
Chương 1 Những vấn đề chung
Chương 2 Đối thoại trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ
Trang 10
1.1.2 Đặc trưng của thể loại truyền kì
Các truyện truyền kì là những truyện ngắn, có cốt truyện, có nhân vật, mỗi truyện có độ dài không quá một trăm trang; có không gian, có thời gian hẹp; có
số lượng nhân vật ít và có kết cấu không phức tạp, chỉ phản ánh một phương diện, một lát cắt của cuộc sống
Trong “truyền kì”, “truyền” là truyền đi, là lưu truyền; “kì” là kì lạ “Kì” được coi như đặc trưng tiêu biểu của thể loại truyền kì Bất kì tác phẩm nào cũng dùng yếu tố kì ảo làm phương tiện phản ánh “Kì” là lạ, là hoang đường,
kì ảo “Truyền” là lưu truyền, người viết sử dụng những cốt truyện có sẵn Yếu tố kì ảo trong truyền kì chủ yếu ảnh hưởng cái kì ảo của văn học dân gian Tuy nhiên nó có một số điểm khác biệt:
Yếu tố kì ảo trong văn học dân gian gắn liền với niềm tin ngây thơ mang tính chất tuyệt đối Thêm nữa, nó mang tính đơn nhất, một chiều: Thần, Tiên luôn tốt, có phép vạn năng; ma quỷ là kẻ xấu xa, ác độc
Yếu tố kì ảo trong văn học dân gian thường đáp ứng khát vọng của con người: “Ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo” Kết thúc tác phẩm cái thiện phải được ban thưởng, cái ác bị trừng trị xứng đáng
Trang 11Yếu tố kì ảo sử dụng trong truyền kì làm giảm đi không ít niềm tin ngây thơ Nhân vật kì ảo được “nhào nặn” mang tính chất đa chiều, lưỡng hoá Mặt khác, yếu tố kì ảo trong tác phẩm truyền kì gắn bó mật thiết với yếu tố thực Tác giả dùng “kì” để nói thực Vả lại, bản thân cái kì ảo trong tác phẩm truyền kì nhiều khi đồng nhất với yếu tố thực Người xưa quan niệm hai thế giới âm dương của người sống và người chết chỉ là một, linh hồn của người
đã khuất đi về cả hai nẻo đường và ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ cuộc sống của con người trần thế (thời trung đại có việc sắc phong cho các vị thần)
Tỉ lệ yếu tố kì và thực trong tác phẩm truyền kì thường đạt đến độ cân đối Nếu quá nhiều yếu tố kì thì tác phẩm sẽ trở thành truyện chí quái, dị, u linh Nếu quá nhiều yếu tố thực tác phẩm sẽ trở thành truyện ngụ ngôn, truyện hiện đại
1.2 Nguyễn Dữ và tác phẩm “Truyền kì mạn lục”
1.2.1 Thân thế và cuộc đời Nguyễn Dữ
Hiện nay, vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng tác giả của “Truyền kì mạn lục”
là Nguyễn Tự chứ không phải là Nguyễn Dữ “Do đặc điểm văn tự, hầu hết họ
và tên các tác gia văn học trung đại Việt Nam được ghi bằng chữ Hán - Tên của Nguyễn Dữ cũng vậy” [11, 209] Tuy có nhiều ý kiến về Nguyễn Dữ hay Nguyễn Tự nhưng đều có một nguồn thông tin về thân thế của tác giả như sau:
Nguyễn Dữ, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân (Hải Dương), nay là làng Đỗ Lâm, xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện (Hải Dương) Cha của Nguyễn
Dữ là Nguyễn Tường Phiêu, tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) đời Lê Thánh Tông Theo Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân, người biên soạn
“Bạch Vân am cư sĩ phả kí” và Ân Quang hầu, người biên soạn tập thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ không ra làm quan, ẩn cư ở núi rừng Thanh Hoá và làm sách “Truyền kì mạn lục” Sách ấy được Nguyễn Bỉnh
Trang 12Nhưng theo bài tựa đề ở đầu cuốn truyện in mộc bản năm Cảnh Hưng thứ
24 (1763), Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”, Bùi Huy Bích trong
“Hoàng Việt thi tuyển” và một số bài tựa ở cuốn “Truyền kì mạn lục” về sau thì Nguyễn Dữ có đi thi Hương và đỗ Hương tiến (tức cử nhân) Sau đi thi Hội
và đỗ tam trường, ra làm quan tri huyện Thanh Toàn (nay là huyện Bình Xuyên
- Vĩnh Phúc) được một năm thì cáo quan về ở ẩn, lấy lí do là phải phụng dưỡng
mẹ già cho trọn đạo hiếu, từ đó “trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành”
Năm sinh và năm mất của Nguyễn Dữ hiện nay chưa rõ ràng Trong
“Hoàng Việt thi tuyển”, Bùi Huy Bích xếp Nguyễn Dữ vào hàng ngũ các tác giả thời Mạc, sau Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước Giáp Hải và Lê Quang Bí Lê Quý Đôn trong “Kiến Văn tiểu lục” cũng viết: “Sau vì nguỵ Mạc cướp ngôi vua, ông thề không ra làm quan, ở thôn quê dạy học trò không bao giờ để chân đến thị thành” Theo “Công dư tiệp kí” của Vũ Phương Đề, Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), bạn học với Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) Như vậy có thể biết Nguyễn Dữ sống vào đầu và giữa thế kỉ XVI, một thời kì lịch sử đầy biến động
Tóm lại, căn cứ vào những tài liệu hiện còn thì Nguyễn Dữ thuộc dòng khoa hoạn, từng dùi mài kinh sử, ôm ấp lí tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã xuất sĩ Về sau, vì “đại thế bất an”, vì bất mãn với kẻ đương quyền, hơn là vì phải “nuôi mẹ già cho trọn đạo hiếu”, Nguyễn Dữ lui về ẩn dật, viết “Truyền
kì mạn lục” để kí thác tâm sự và thể hiện hoài bão của mình
1.2.2 Tác phẩm “Truyền kì mạn lục”
“Truyền kì mạn lục” gồm 20 truyện (theo Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” thì “Truyền kì mạn lục” gồm 22 truyện), chia thành 4 tập, mỗi tập 5 truyện Các truyện đều viết bằng văn xuôi, xen lẫn một ít văn biền ngẫu và thơ ca Trừ truyện số 19 (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa),
Trang 13các truyện còn lại đều có lời bình của tác giả (hoặc những người có cùng chí hướng với tác giả) ở cuối truyện Khác với lời bàn của Sơn Nam Thúc trong
“Thánh Tông di thảo”, lời bình của các truyện ở “Truyền kì mạn lục” không bàn về nghệ thuật văn chương, chủ yếu bàn về nội dung ý nghĩa
Với Nguyễn Dữ khi đặt tên tác phẩm là “Truyền kì mạn lục”, ông muốn biểu lộ một thái độ nghiêm túc, khiêm tốn của người cầm bút Song cũng chính bởi cái tên “Truyền kì mạn lục” mà đó gây ra nhiều tranh cãi với tên tác phẩm này
Trước hết nói về hai chữ “mạn lục” theo Hán ngữ đại từ điển (T6, tr 89) giải thích rằng chữ “mạn lục” là “tuỳ bút kí lục” - viết theo cảm hứng của ngòi bút Và hai chữ kí lục có nghĩa là viết văn, làm văn, sáng tác, Đồng thời, thể mạn lục là một thể loại sáng tác văn thơ xuất hiện ở Trung Hoa khá sớm [12, 210] Nhưng khi vào Việt Nam, hai chữ “mạn lục” đó bị các nhà viết sách Việt Nam hiểu lạc đi so với ý nghĩa gốc của nó Bởi thế mà “Truyền kì mạn lục” được giải thích là “sao chép tản mạn các truyện lạ” [2, 57]; sau này được giải thích lại là “ghi chép tản mạn các truyện truyền kì” [16, 1124] Trong sách Ngữ văn 9, tập 1 (sách in năm 2005, tr 49) cũng giải thích: “Truyền kì mạn lục” là
“ghi chép tản mạn những điều kì lạ vẫn được lưu truyền” “Các cách giải thích chữ “mạn lục” là “ghi chép tản mạn” có hai điều bất ổn Thứ nhất, “Truyền kì mạn lục” là tác phẩm văn học thuộc loại hình truyện ngắn trung đại Do đó không thể coi đó là tác phẩm “ghi chép” Thứ hai, tác phẩm của Nguyễn Dữ không hề tản mạn, dù hai chữ “tản mạn” được dùng theo kiểu tu từ nói khiêm Thực ra, “mạn” là tuỳ ý, không câu thúc Bởi vậy, trong Hán ngữ có hàng loạt
từ chỉ thể loại tác phẩm có thành tố “mạn” như mạn hoạ, mạn thư, mạn bút, mạn tả và tất cả chúng đều dùng để chỉ thể loại tác phẩm” [7, 212]
Còn chữ “truyền kì” nếu đứng riêng thì là một thể tài của truyện ngắn
Trang 14cấu có những yếu tố lạ kì đặc biệt và người ta gọi là truyền kì “Nhưng trong cụm từ “truyền kì mạn lục” thì “truyền kì” lại làm định ngữ, chỉ tính chất của thể “mạn lục”, đó là một thể tự sự viết tự do, tuỳ hứng theo ý đồ sáng tác của tác giả, không bị câu thúc bởi bất cứ lí do gì cả” [7, 212]
Tuy cách đặt tên tác phẩm của tác giả đã để lại nhiều sự lí giải khác nhau Nhưng mục đích của ông là phân bua với độc giả rằng trước tác của mình không phải là cuốn sách có tính chất trang nghiêm như thực lục, liệt truyện, và cho đây là thứ “ngoại thư” bao gồm những truyện lạ (truyền kì) vẫn được lưu truyền Công việc của ông là ghi chép lại một cách rộng rãi (mạn lục) những sự việc ấy
Để phục vụ cho mục đích sáng tác của mình, Nguyễn Dữ đã không câu nệ, ông sử dụng yếu tố “lạ - kì ảo” một cách có ý thức Ông đã mượn truyện quái
để nói việc thực Ông dựa vào những tích cũ, phần nhiều là những truyện đã được lưu truyền từ lâu trong xã hội và được viết nên thành những thiên truyện mới Những truyện này thường lấy bối cảnh là thời Lí - Trần, Hồ, thuộc Minh,
Lê Sơ trên địa bàn từ Nghệ An ra Bắc “Truyền kì mạn lục” tuy có vẻ là
“truyện kì lạ” xảy ra hàng trăm năm về trước, nhưng thực chất lại phản ánh được những phần sâu sắc của hiện thực đương thời Và đằng sau thái độ dè dặt, khiêm tốn đó, Nguyễn Dữ muốn bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão của mình Qua tác phẩm, ông có thể phát biểu cảm nhận, bày tỏ quan điểm về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong xã hội mà mọi thứ đang trên đà “suy thoái" Nội dung của “Truyền kì mạn lục” phê phán hiện thực xã hội thối nát Ông lên
án tầng lớp vua quan nhũng nhiễu nhân dân, làm cho cuộc sống nhân dân cơ cực, khổ sở “Truyền kì mạn lục” cũng phản ánh số phận con người ở thế giới trần gian, thế giới tiên cảnh, thế giới âm phủ Bên cạnh đó, “Truyền kì mạn lục” còn thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi của những kiếp người bé nhỏ, hèn mọn trong cuộc đời
Trang 15Trong tác phẩm, Nguyễn Dữ đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố thực và kì Nhà văn đã sử dụng yếu tố “kì” như một chất liệu nghệ thuật, khiến
nó xác định vị trí, vai trò của nó trong sự sáng tạo của mình Yếu tố kì ảo đã giúp nhà văn phản ánh hiện thực sâu sắc hơn Bên cạnh đó, nghệ thuật xây dựng nhân vật với những hình tượng nhân vật có tính cách, có khí phách và tính luận thuyết làm cho các câu chuyện in đậm tính chất triết lí và quan điểm của nhà văn được sáng tỏ Sự kết hợp khéo léo, sáng tạo giữa ba lối văn: tản văn, biền văn, vận văn cũng giúp cho nhà văn triển khai dòng sáng tạo một cách linh hoạt, hấp dẫn
1.3 Quan niệm về đối thoại
Theo Từ điển Tiếng Việt, “đối thoại” được hiểu một cách đơn giản, nó bao gồm hai nghĩa
Thứ nhất: Đó là cuộc nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau Ví dụ như: Người đối thoại, cuộc đối thoại, đoạn đối thoại trong kịch… Thứ hai: Đó là cuộc bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên để giải quyết những vấn đề tranh chấp Chẳng hạn như chủ trương đối thoại không đối đầu của thế giới hiện đại
Đây là cách hiểu về “đối thoại” trực tiếp trong cuộc sống Trong “văn chương” đối thoại được hiểu rộng hơn, bao gồm cả đối thoại trực tiếp và đối thoại gián tiếp Vậy đối thoại trực tiếp và đối thoại gián tiếp có gì giống và khác nhau?
Đối thoại trực tiếp là cuộc đối thoại, đoạn đối thoại có sự góp mặt của hai hay nhiều bên trực tiếp để thực hiện giải quyết một số công việc, một vấn đề tranh chấp nào đó Trong cuộc đối thoại trực tiếp, thường có sự tham gia phát ngôn của tất cả các bên tham gia giao tiếp để nói lên ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm
và lập trường của mình trước công việc cần giải quyết
Trang 16Trong bài viết “Đối thoại trong thơ Hồ Xuân Hương” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhàn (Thông báo khoa học, số 3/ 2005, tr 166) có viết: “đối thoại là một cách thức thể hiện của nhân vật trong tác phẩm tự sự và kịch Để có đối thoại, cần có từ hai nhân vật trở lên Hiểu như thế, lời đối thoại gắn với việc những người nói hướng vào nhau và tác động vào nhau Cùng với độc thoại nội tâm, dòng ý thức, đối thoại giúp cho nhân vật bộc lộ tính cách, những tâm tư tình cảm, suy nghĩ Vì thế, đối thoại cũng trở thành một phạm trù nghệ thuật trong sáng tác văn chương”
Đối thoại gián tiếp cũng được hiểu là cuộc đối thoại, đoạn đối thoại nhưng những bên tham gia giao tiếp không bắt buộc phải có mặt Trong cuộc đối thoại đó có thể chỉ một bên phát ngôn nhằm gửi gắm suy nghĩ, tư tưởng, lập trường,… của mình với nhiều người khác thông qua những hình ảnh, những chi tiết xây dựng (như cuộc đối thoại giữa nhà văn với độc giả, hoạ sĩ với người xem thông qua tác phẩm của mình)
Từ đó ta thấy cũng là đối thoại, cũng nói về những suy nghĩ, những tư tưởng để nhằm trao đổi với nhau nhưng chúng khác nhau ở việc trực tiếp hay gián tiếp đối thoại với nhau
Cách hiểu này cũng xuất hiện trong Từ điển Hán Việt: ““đối thoại thể” tức là lời văn làm theo cách nói chuyện bằng vấn đáp”
Đối thoại khác với trần thuật Trần thuật thường được hiểu là tường thuật,
mô tả hoặc suy ngẫm, giải thích một sự việc nào đó “chức năng trần thuật triển khai trong khi dao động, và điều đó diễn ra theo một cách thuộc về riêng nó”[12, 245] Điều đó có nghĩa là việc trần thuật phụ thuộc vào bản thân sự việc được nói đến và phụ thuộc vào cảm quan nhìn nhận, đánh giá, kinh nghiệm người tiến hành trần thuật Còn đối thoại “không chỉ có chức năng trình bày các nhân vật như chúng là thế, ở nơi mà chúng xuất hiện, nó cũng phải đảm nhận một cách rộng rãi chức năng mô tả chặt chẽ của việc trần thuật Cũng
Trang 17ngang như truyện kể, các đối thoại cho phép chúng ta tự định hướng qua các vấn đề, các hoàn cảnh, các sự kiện, các nhân vật mới” [12, 246]
Nói tóm lại, đối thoại là một phương thức được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày, trong ngoại giao, công vụ,… Hơn thế, nó cũng được các nghệ sĩ sử dụng như một phương tiện hữu dụng trong sáng tạo nghệ thuật Người nghệ sĩ có thể qua đối thoại xây dựng những điển hình nhân vật, những hình tượng có cá tính, có số phận, có chiều hướng phát triển con đường đời,…
để phát biểu tư tưởng, lập trường của mình trước nghệ thuật và đời sống Từ đó hình thành nên những phong cách riêng của mỗi người nghệ sĩ
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐỐI THOẠI TRONG “TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” CỦA NGUYỄN DỮ
2.1 Đối thoại trên phương diện quan niệm về tư tưởng
2.1.1 Đối thoại với các tư tưởng, quan niệm tôn giáo triết học
Tư tưởng tôn giáo triết học là một vấn đề phức tạp Nó có ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của cuộc sống, đặc biệt là ảnh hưởng đến quan niệm về thế giới quan và cái nhìn về các mẫu hình của con người nói chung
“Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội nảy sinh trên cơ sở kinh tế xã hội
và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Do đó, tìm nguồn gốc hình thành của nó không phải trong “ý thức” mà phải trong lịch sử xã hội, lịch sử hoạt động thực tiễn của con người” [14, 26] Bởi vậy, Việt Nam, đặc biệt là trong thời trung đại, do lịch sử xã hội trải qua nhiều thăng trầm, đã từng chịu ảnh hưởng nặng
nề của nền văn hoá phương Bắc do hàng ngàn năm Bắc thuộc nên tư tưởng tôn giáo mang tính “hỗn dung” Tuy nhiên tính chất tôn giáo ở Việt Nam đã có sự cải biến đôi chỗ những tôn giáo tiếp thu từ bên ngoài vào cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử xã hội, với đặc điểm tâm sinh lí của người Việt Nam Phát triển ở Việt Nam dưới thời trung đại, cụ thể là dưới thời Nguyễn Dữ viết “Truyền kì mạn lục” là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, cùng một số tín ngưỡng dân gian khác như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người,…
Nhìn chung, mỗi một tư tưởng, một quan niệm tôn giáo lại có sự ảnh hưởng đậm nhạt, mạnh yếu khác nhau Chủ nghĩa Mac - Lênin cho rằng, tôn giáo chỉ
là “hạnh phúc hư ảo” của nhân dân, là “vầng hào quang thần thánh” trong cái biển khổ của nhân dân, là “những bông hoa tưởng tượng” trên xiềng xích của con người, là “mặt trời ảo vọng” xoay quanh con người Điều đó có nghĩa là dù
Trang 19ảnh hưởng ở mức độ nào thì nó cũng khiến cho con người luôn cần đến nó, và ngụp lặn trong hệ thống những quan niệm, những giáo lí chung đã hình thành Trước hết ta bàn về Nho giáo với những quan niệm của nó và đặt đối xứng với quan niệm ấy là tư tưởng của Nguyễn Dữ trong “Truyền kì mạn lục” Người ta cho rằng đã tìm thấy những điều “phi Nho giáo” trong “Truyền kì mạn lục” [6, 509] Tư tưởng Nho giáo được bộc lộ rõ nhất trong đời sống đó chính là quan niệm về con người, xây dựng nên những hình mẫu lí tưởng về con người Đó là hình mẫu về người quân tử với những chuẩn mực “tam cương, ngũ thường”, “tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ; thông hiểu thi - thư - lễ
- nhạc” Hình mẫu về người phụ nữ bị đối xử không công bằng, còn thiên lệch với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” Nho giáo đã “đẻ ra” nhiều luật lệ, nguyên tắc với người phụ nữ như không được đi học, đi thi, không được tham gia luận bàn việc gia đình, xã hội Đồng thời phải tuân thủ ngặt nghèo những qui tắc như
“tam tòng, tứ đức” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử; công - dung - ngôn - hạnh) Đối với các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội thì được phân ra thành người quân tử và kẻ tiểu nhân Quân tử là người có học, thống trị, lao tâm; còn tiểu nhân là hạng người vô học, bị trị, lao lực,…
Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Dữ đã chịu ảnh hưởng của ánh sáng Nho giáo một cách rõ nét Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó đã được Nguyễn Dữ tiếp thu và thể hiện dưới một góc độ khác Ngay mở đầu tác phẩm của mình, trong truyện ngắn “Câu chuyện ở đền Hạng Vương”, Nguyễn Dữ đó cho người đọc thấy được một cách nhìn mới, cách đánh giá mới về các nhân vật lịch sử, những người từng được coi là “người quân tử” một thời Truyện là cuộc đối thoại giữa
“hồn” của Hồ Tôn Thốc và hồn của Hạng Vương Hồ Tôn Thốc là một sứ thần Đại Việt sang đi sứ phương Bắc, ông có đề một bài thơ đậm tính chất mỉa mai đối với Hạng Vương Rồi đối diện tranh luận với họ Hạng, mạt sát bạo lực, bày
Trang 20thủ đoạn xảo trá của Lưu Bang Ông viết: “Sở dĩ đã đành trái với nhân nghĩa, nhưng Hán cũng chỉ là giống với nhân nghĩa Họ Hạng nước Sở không được là hạng bá giả mà vua Cao Tổ nhà Hán cũng chỉ là tạp nhạp” và “so Sở với Hán thì Hán hơn nhưng sánh Hán với bậc vương giả thì Hán còn xa lắm” Đánh giá Lưu Bang và Hạng Vũ như vậy đã thể hiện sự táo bạo của Nguyễn Dữ khi viết
về nhân vật lịch sử, trái hẳn với lời tán tụng của Tư Mã Thiên về hai nhân vật này Trong quan niệm của Nho giáo truyền thống, người làm vua phải lấy “đức trị” để yên lòng dân, cai trị đất nước khiến cho quốc thái dân an, ấm no hạnh phúc Song Lưu Bang và Hạng Vũ cùng là những ông vua quyền cao chức trọng, cùng được “tôn vinh” trong lịch sử nhưng lại đi ngược lại với quan niệm của Nho giáo Hạng Vũ “chỉ lấy thét làm oai, lấy cương cường làm đức Chém Tống Nghĩa là một tướng mạnh, vô quân đến đâu! Giết Tử Anh là người đã hàng, bất võ quá lắm! Hàn Sinh vô tội mà bị luộc, hình pháp trái thường; A Phòng vô cố mà bị thiêu, hung uy quá tệ Cứ những việc của nhà vua làm thì được lòng người chăng?”
Như vậy, một người như Hạng Vương đã vi phạm chữ “nhân” một cách nghiêm trọng trong qui tắc “đức trị” để cai trị đất nước Lòng dân oán hận như vậy thì làm sao có thể yên dân mà bình thiên hạ được Và hậu quả là đất nước
Sở đã tan vỡ không phương cứu chữa Còn với Lưu Bang - một ông vua được lịch sử tán tụng, Nguyễn Dữ đã mượn lời Hạng Vũ để vạch trần sự gian dối, sự
vi phạm chữ “tín” trong qui tắc “đức trị” của bậc đế vương Như thế, thì Lưu Bang phỏng còn đáng phục nữa không?
Khi bàn về Hạng Vũ và Lưu Bang như vậy thì Nguyễn Dữ đã ngầm đưa ra quan điểm của mình đối thoại với quan niệm truyền thống của Nho giáo: Đó là thực hiện “đức trị” hay “không đức trị” của các vị quân vương được lưu danh
sử sách Ông cho rằng: “Phàm xoay cái thế thiên hạ là ở trí chứ không phải là
ở sức; thu tấm lòng thiên hạ ở nhân chứ không phải ở bạo” Rằng kẻ trị dân
Trang 21nếu “chỉ lấy quát thét làm oai, lấy cương cường làm đức”, “đắp nền cao bằng máu mỡ của dân” thì sẽ bỏ mệnh, mất nước, mất lòng người Ông yêu cầu kẻ làm vua phải “giương cái cung thánh nhân, tuốt lưỡi gươm thiên tử, lấy nhân làm yên khấu, lấy nghĩa làm chèo lái, lấy hào kiệt làm nanh vuốt, lấy trung tín làm giáp trụ”, “mở lưới vơ hiền, giăng chài vét sĩ…”, “khiến trong triều nhiều bậc lương tá…” Ông còn cho rằng kẻ làm quan thì phải “tiết cứng như tùng, lòng bền tựa đá”, “đem cái tài nanh vuốt giữ cái trách phên giậu”, “sa cơ không chịu sống mà nhục, liều mình để được thác là vinh” Lí tưởng chính trị
xã hội của Nguyễn Dữ là một xã hội có “vua sáng tôi hiền” để “ban ân trạch cho dân sinh, đưa tất cả cuộc đời vào cõi nhân thọ”
Không chỉ có “Câu chuyện ở đền Hạng Vương” mà Nguyễn Dữ còn viết nhiều truyện ngắn khác cũng ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo như: “Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu”, “Chuyện tướng Dạ Xoa”, “Truyện đối đáp của người tiều phu núi Na”, “Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào”, “Chuyện Lý tướng quân”, “Chuyện nàng Thuý Tiêu”… cũng là những truyện ngắn được tác giả gửi gắm tư tưởng, qua đó muốn “đối thoại” với những kẻ sĩ trong xã hội phong kiến Quan niệm truyền thống của Nho giáo thì
kẻ sĩ phải chuyên tâm học hành rồi hành đạo cứu đời, ra làm quan, đem tài chí của mình để làm cho dân có cuộc sống no ấm, thờ phụng vua làm một bề tôi trung thành Song ở trong “Truyền kì mạn lục”, Nguyễn Dữ đã chỉ ra những
“tấm gương” kẻ sĩ sai lệch hẳn với những giá trị truyền thống của một kẻ sĩ trong thời loạn
Trong hệ thống tư tưởng chung, “Truyền kì mạn lục” phản ánh và phê phán những tệ lậu của xã hội phong kiến “Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu” thấy hiện lên cảnh chiến tranh khiến cho nhân dân lầm than “bấy giờ binh lửa rối ren, đường sá hiểm trở, phải lận đận hàng tuần mới vào được
Trang 22cảnh tượng thê thảm của nhân dân: “sống chẳng gặp thời, chết không phải số Đói không có gì cấp dưỡng, lui không có chỗ tựa nương Trong gò xương trắng rầu rĩ cỏ rêu, trên đống cát vàng lạnh lùng sương gió” Cho nên có tình trạng
“chết chóc nhiều, những oan hồn không chỗ tựa nương thường hợp thành đàn lũ” Trong cảnh hỗn loạn ấy mà đám vua quan lại nhởn nhơ ăn chơi trác táng, mặc kệ nhân dân Ngòi bút sắc sảo của tác giả đã tập hợp nhiều nét phác hoạ tiêu biểu để dựng lên bức tranh của “bề trên” với sự phê phán gay gắt Trong
“Truyện đối đáp của người tiều phu núi Na”, Nguyễn Dữ mượn lời người tiều phu tố cáo nhà vua “thường dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân
để dựng Kim Âu, dốc cạn của kho để mở phố Hoa Nhai, phao phí gấm là, vung vãi châu ngọc, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình phạt có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được, kẻ dùng lời ngay thì phải giết, kẻ nói điều nịnh thì được thưởng, lòng dân lay động…”
Khi Nguyễn Dữ đưa ra hàng loạt những hoàn cảnh éo le của nhân dân như vậy đâu phải chỉ là để kể, để cảm thông với nhân dân Hoàn cảnh của nhân dân
vô cùng tội nghiệp, họ càng tội nghiệp bao nhiêu thì câu hỏi mà Nguyễn Dữ đặt
ra càng lớn bấy nhiêu: Kẻ sĩ giúp đời, giúp dân, giúp nước đang ở đâu? Đọc
“Truyền kì mạn lục”, chúng ta đâu thấy các đấng trượng phu sẵn sàng ra tay hành đạo cứu đời mà lại bắt gặp họ, kẻ thì chìm đắm trong truỵ lạc, tàn ác hoang dâm; kẻ thì lao vào bể ái tình; người lại gửi thân vào mây núi như một cách lẩn trốn bụi trần Vậy họ là ai? Nguyễn Dữ muốn gửi gắm tâm sự gì khi đưa ra những chân dung tiêu biểu này để đối thoại?
“Chuyện nàng Thuý Tiêu” hiện lên hình ảnh của những hôn quân, những tướng binh độc ác, nham hiểm Lý Hữu Chi trong “Chuyện Lý tướng quân” là một nhân vật gian ác, hiểm độc, là một tên tướng có “sức khoẻ, giỏi chiến trận nhưng tính vốn dữ tợn” Khi “quyền vị đã cao, Lý bèn làm những việc trái pháp, dựa lũ trộm cướp như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc
Trang 23đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kì đá lạ từ huyện khác đem về” Khác với Lý tướng quân, Trần Phế
Đế trong “Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang” chỉ luẩn quẩn với việc săn bắn,
“quanh đầm mà vây, bọc núi mà đốt”, “đương mùa hạ mà giở những công việc khổ dân không phải thời, dầy trên lúa mà để thoả cái ham thích săn bắn không phải chỗ”; và Trụ quốc họ Thân trong “Chuyện nàng Thuý Tiêu” Ở truyện, Trụ quốc họ Thân nham hiểm và thâm độc trong mọi âm mưu của hắn Dư Nhuận Chi là một thư sinh nổi tiếng thơ hay, văn giỏi Chàng có vợ tên là Thuý Tiêu có vẻ đẹp sắc nước hương trời Nàng theo chồng vào kinh khảo thí, vô tình
bị quan Trụ quốc dâm ô bắt đem về dinh phủ Nàng đã định tự tử để giữ trọn khí tiết với chồng, viên quan này đó hứa sẽ cho nàng trở về bên người chồng
cũ Nhưng khi gọi người chồng cũ của nàng đến thì hắn đó giở trò lừa bịp Y giữ Nhuận Chi ở trong nhà mà chẳng bao giờ cho đôi lứa gặp nhau Cả hai cùng
vô cùng đau khổ Nhuận Chi đã sợ hại đến thân nên đã bỏ đi, và nhờ lão bộc giúp sức, nàng Thuý Tiêu đã cùng với Nhuận Chi bí mật trốn đi sống nơi khác Nhưng vợ chồng Thuý Tiêu đâu thoát khỏi bàn tay nham hiểm, tàn ác của tên Trụ quốc này Vì “hắn làm quan đến ngôi thượng công , quyền cao lộc hậu, việc khoản đãi khách khứa mỗi ngày tốn phí đến hàng chuông thóc” Nhưng bản chất của hắn khi ở trong phủ Thuý Tiêu đã biết rõ “Hắn chỉ là đồ hèn yếu thế mà làm đến bậc Vệ Hoắc, kêu xin chạy chọt, lúc nào ở cửa cũng rộn rập những người vào ra, vàng bạc châu báu trong nhà chồng chất đầy rẫy Trừ ra gặp phải hoả hoạn, của cải nhà ấy không có cách nào tiêu mòn được”
Nguyễn Dữ đó soi thẳng vào thực tế để nhìn cho rõ bản chất của bọn vua quan trong thời ông đang sống Nhiều kẻ không hề có tư tưởng “chí quân trạch dân” mà dùng thủ đoạn xấu xa trèo lên bậc thang danh vọng để “vinh thân phì
Trang 24Trong “Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào” thì ta lại thấy qua cuộc trao đổi giữa Tử Hư và thầy dạy mà tóm tắt quá trình thối nát, ruỗng mục của chế độ quan lại, những kẻ chịu ảnh hưởng trực tiếp của tư tưởng Nho giáo:
“ông mỗ ở ngôi trọng thần mà tham lam không chán, ông mỗ làm chức sư tư
mà mô phạm không đủ, ông mỗ coi lễ mà lễ nhiều thiếu thốn, ông mỗ chăn dân
mà dân nhiều tai hại, ông mỗ chấm văn mà lấy đỗ thiên vị, ông mỗ trị ngục mà buộc tội oan uổng; lại còn những lúc bàn nói thì mồm mép bẻo lẻo, đến lúc trù tính, quyết định kế lớn của quốc gia thì mờ mịt như ngồi trong đám mây mù, thậm chí không noi theo danh, không xét theo thực, không trung với đấng quân thượng, lớn thì làm việc bán nước,… nhỏ thì làm việc dối vua…” Vua quan thì như thế và sĩ phu cũng không ít kẻ hư hỏng, bước chân theo con đường ăn chơi truỵ lạc Dương Trạm nói với học trò: “Ngày nay những người mặc áo nhà Nho, đeo giải nhà Nho… thường đổi họ để đi học, thay tên để đi thi…” [6, 513] Qua đó, ta thấy đã phản ánh được sự suy vi, suy đồi của Nho học,việc học hành thi cử trở thành một thứ bậc công danh bám đầy nhơ bẩn Kẻ sĩ không nghĩ đến
đi học để lập công danh, để giúp vua trạch dân mà chạy theo văn chương thấp hèn, chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng mình Đồng thời lại ham thích hưởng lạc những thứ đồi bại, mất đi chí khí của kẻ sĩ, một nam tử
Hình ảnh của những kẻ sĩ mà Nguyễn Dữ muốn “đối thoại” không chỉ là những nam tử làm quan, tướng nhưng quên đi sứ mệnh yên dân của mình để đàn áp, bóc lột, hạch sách với dân Mà còn những văn nhân quên đi việc học hành chìm đắm trong sắc dục, trong bể ái tình Đó là anh chàng thư sinh Hà Nhân, bảnh bao được ăn học nhưng lại chìm đắm trong tình yêu nhục dục với hai nàng Đào Nương và Nhu Nương Chàng không đoái hoài đến nhiệm vụ học hành thi cử để hoàn thành nhiệm vụ của một kẻ sĩ Chàng cũng không hoàn thành trách nhiệm của một người con với cha mẹ mình Hà Nhân đã dối cha lừa
mẹ để được thảnh thơi qua lại với hai hoa yêu là Nhu Nương, Đào Nương Như
Trang 25thế, Hà Nhân đã vi phạm đạo đức của một nam tử trong thiên hạ Đó là vì sắc quên hiếu, vì sắc mà quên nghiệp, vì sắc mà bỏ tu thân Qua miêu tả về chàng
Hà Nhân như vậy, Nguyễn Dữ muốn nói với độc giả điều gì? Điều khiến cho Nguyễn Dữ trăn trở trong truyện ngắn này là: Nghiệp Thánh Hiền trong xã hội phong kiến thực sự không còn thiêng liêng, không còn là mục tiêu cuộc sống của biết bao nam tử như câu:
“Đi không há lẽ lại về không Cái nợ cầm thư phải trả xong”
Trang 26hay làm khi bất mãn với thời cuộc là đi tìm về với thiên nhiên, sống ẩn dật nơi núi cao rừng vắng, hay đi tìm nơi “bến tình” nào đó để neo đậu, thì chàng lại đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “thế nào là một cuộc sống có ý nghĩa, một cuộc đời hạnh phúc?” Giáo lí Nho học một thời chàng say mê nay đó không còn đủ sức cám dỗ chàng nữa Chàng thấy mình lạc lõng, bơ vơ ngay trong cuộc đời
Như vậy, “Truyền kì mạn lục” khắc hoạ cho người đọc thấy được hình ảnh của những người trí thức phong kiến với thái độ bất hợp tác với vương triều
và cuộc sống thực tại Dường như xã hội thối nát đã đẩy họ phải lựa chọn cách
đi ra ngoài lí tưởng truyền thống của người quân tử Thái độ đó biểu hiện ở mỗi nhân vật khác nhau nhưng đều hết sức sinh động và truyền tải được tư tưởng đối thoại của nhà văn với Nho giáo truyền thống Tác giả đã chứng minh thành công sự tương phản giữa lí thuyết và thực tế của tư tưởng Nho giáo Lí thuyết thì đúng đắn, trang trọng, thiêng liêng, là lí tưởng nhưng trên thực tế lại thối nát, xấu xa, suy đồi Và quan niệm, tư tưởng hướng đến những mẫu hình người quân tử lí tưởng chỉ là sự ảo tưởng bất khả thi
Trong “Truyền kì mạn lục”, Nguyễn Dữ không chỉ dùng tư tưởng Nho giáo để soi vào tư tưởng, quan niệm, hành động của người trí thức mà ông còn dùng nó để nhìn nhận, đánh giá và làm nổi bật hình ảnh của người phụ nữ Có
lẽ, người phụ nữ ở xã hội nào cũng luôn chịu thiệt thòi, đặc biệt là trong xã hội phong kiến thì sự thiệt thòi đó còn lớn hơn nhiều lần vì tư tưởng “trọng nam khinh nữ” Tư tưởng Nho giáo muốn người phụ nữ phải “tam tòng, tứ đức”, phải luôn biết sống nhẫn nhịn, muốn có tinh thần phản kháng, muốn có được hạnh phúc thì đều phải chịu đau khổ, phải chết những cái chết oan nghiệt Nguyễn Dữ khi phản ánh số phận của nàng Hàn Than trong “Chuyện nghiệp oan của Đào Thị”, nàng Nhị Khanh trong “Chuyện cây gạo”, “Chuyện nàng
Lệ Nương”, “Chuyện người con gái Nam Xương”… và muốn đối thoại với chế độ phong kiến mà tư tưởng Nho giáo đang ngự trị là: Khi Nho giáo đặt ra
Trang 27những luật lệ như vậy với người phụ nữ thì có nghĩ đến quyền lợi riêng tư của người phụ nữ hay không? Có mưu cầu hạnh phúc của từng cá nhân, từng số phận hay không? Hay đó chỉ là sự đòi hỏi nhận mà không cho của xã hội, của tư tưởng Nho giáo với người phụ nữ? Dĩ nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những qui định của Nho giáo đã “đào tạo” ra những người phụ nữ, những người vợ, người mẹ chuẩn mực, sẵn sàng hi sinh vì chồng vì con như nàng Nhị Khanh, Vũ Thị Thiết, Thuý Tiêu, Lệ Nương,… Họ đã hoàn thành tốt nghĩa vụ của một người phụ nữ trong gia đình nhưng số phận lại thật hẩm hiu, thật đáng thương xót
Không chỉ chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo trong sáng tác của mình và
“đối thoại” với những tư tưởng ấy thông qua việc xây dựng những hình tượng nhân vật về người quân tử, người phụ nữ,… Mà Nguyễn Dữ trong “Truyền kì mạn lục” còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Biểu hiện của việc ảnh hưởng này khá đa dạng, chúng như những câu hỏi được đặt ra để phản bác lại những giáo lí, những quan niệm truyền thống của đạo Phật Phật giáo cho rằng đời là bể khổ, thế giới là thế giới vô luân, vô thường nhưng tất cả chỉ là ảo ảnh Nghĩa là con người sống chỉ là hư vô, hư ảo, là ảo giác, chỉ là sự kí gửi vào cõi luân hồi mà thôi Ý thức được đời là bể khổ nên Phật khuyên con người nên diệt dục, diệt những ham muốn tầm thường, không sáng suốt Khi con người có những ham muốn tầm thường, xấu xa sẽ để lại những hậu quả xấu và chính con người phải nhận hậu quả, đó là nghiệp báo Phật khuyên con người sống tốt để được lên cõi Niết Bàn - chỉ có cõi Niết Bàn mới là nơi hạnh phúc, yên ổn nhất
Trang 28cho những con người đi theo Đức Phật, giờ đây cũng trở nên chán ngán những
lí lẽ giáo điều, khô khan của Phật thì còn ai tin vào Phật nữa!? “Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều” bóc trần chân tướng của bọn người ẩn nấp trong dáng dấp thần, Phật Còn đâu Phật Tổ? còn đâu Di Lặc… từ bi, hỉ xả? Trong cái nhìn của Nguyễn Dữ, thần, Phật cũng chỉ là bọn chuyên ăn trộm, ăn cắp “từ lợn, gà, ngan, ngỗng đến cá trong ao, quả trong vườn, phàm cái gỡ có thể ăn được đều bị mất hết” Nguyễn Dữ đã thấy rõ: “Nhà chùa lúc này hay chứa chấp những kẻ gian dâm, du đãng Thầy chùa phần nhiều là những kẻ đầy dục vọng, không theo được lối sống chân tu, khổ hạnh” [6, 514]
Sẽ là một thiếu sót nếu như chúng ta tìm hiểu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, Phật giáo với Nguyễn Dữ và sự “đối thoại” của ông khi viết “Truyền kì mạn lục”, mà lại không chú ý tới sự tác động của tư tưởng Đạo giáo Đạo giáo được hình thành rất sớm (từ thế kỉ II sau công nguyên), cơ sở lí luận của nó là Đạo đức kinh và Nam hoa kinh Hai cuốn sách này đó được trình bày một cách
cơ bản, đầy đủ những luận thuyết và phái tư tưởng do Lão Tử khởi xướng Khác với Nho gia, quan niệm cái đẹp phải có tính chất qui chuẩn thì Đạo gia cho việc theo đuổi công danh là “vật luỵ” tầm thường Do đó, lí tưởng thẩm mĩ của Đạo gia là “hướng tới cái đẹp của Đạo, cái đẹp mang bản sắc tự nhiên, siêu việt công lợi, vô vi tự mĩ Cái đẹp mà Đạo gia theo đuổi là cái đẹp của nhân cách chủ thể sáng tạo được giải phóng, là tự do, là cái đẹp tinh thần nằm ngoài mọi chế định của xã hội” [18, 272]
“Truyền kì mạn lục” được viết dưới con mắt và ngòi bút tài hoa của Nguyễn Dữ, nhưng trong tác phẩm này người đọc có thể cảm nhận được sự thấm đẫm tư tưởng Đạo gia ở mỗi trang truyện Đạo giáo khuyên người ta từ bỏ cõi trần nhiều tai ương, bon chen lợi lộc tầm thường như người tiều phu trong
“Truyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na” Người tiều phu ở núi Na là hình ảnh của bản thân Nguyễn Dữ Người tiều phu sống ở ngọn núi cao chót vót