Lý do chọn đề tài Nước ta là một nước nhiệt đới gió mùa có địa hình chia cắt, kéo dài trên nhiều vĩ tuyến lại có bờ biển kéo dài, hàng năm chịu nhiều tác động của các tai biến khí hậu t
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta là một nước nhiệt đới gió mùa có địa hình chia cắt, kéo dài trên nhiều vĩ tuyến lại có bờ biển kéo dài, hàng năm chịu nhiều tác động của các tai biến khí hậu thuỷ văn như: bão, lũ, rửa trôi, sói mòn Chúng ta đang tiến hành khẩn trương công cuộc HĐH và CNH đất nước trong hoàn cảnh có nhiều
hệ sinh thái mẫn cảm, kém bền vững Vì vậy nhiều vấn đề môi trường đang
được đặt ra khá cấp bách trên nhiều quy mô khác nhau
Bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lí các tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững hiện nay đang trở thành nhiệm vụ cấp bách mang tính toàn cầu Nhưng quá chú trọng tới phát triển kinh tế có thể đưa đến những vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng, tác động mạnh
đến những cộng đồng nghèo khổ Mặt khác, chú trọng thái quá cho việc bảo tồn thiên nhiên mà phải hy sinh phát triển kinh tế thì có thể sẽ không tạo ra đủ thu nhập để bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên
Phát triển kinh tế đang đem lại mức tăng thu nhập, mức tăng này sẽ làm tăng mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ xa xỉ, đồng thời cũng làm tăng thêm lượng chất thải lên môi trường Mẫu hình tiêu thụ là không phù hợp, thói quen này sẽ tác động nghiêm trọng lên môi trường, đòi hỏi phải có sự thay đổi từ nhận thức đến hành động thực tế
Con người tồn tại và hoạt động trong môi trường tự nhiên và xã hội cùng với đồng loại và các loại sinh vật khác, tạo nên các hệ sinh thái - nhân văn trên các lãnh thổ Trong các hệ sinh thái - nhân văn con người là một loại sinh vật đặc biệt so với các loài sinh vật khác Đó là loài sinh vật có ý thức, có
lý trí, sống đời sống xã hội và có nhiều tác động làm thay đổi môi trường
Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp, cả nước đang chuyển mình bởi tốc độ CNH mạnh mẽ ở các địa phương Hải Dương và Bắc Ninh cũng nằm trong guồng quay đó Cùng với
Trang 2quá trình CNH là sự ÔNMT do sự hoạt động của các KCN và nhà máy gây ra, nhất là các KCN sản xuất được hình thành từ lâu đời Một trong những KCN
đó có Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại (nay là Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại), được khởi công xây dựng từ những năm 1980 do Liên Xô cũ thiết kế và lắp đặt Mặc dù từ khi xây dựng đến nay, Nhà máy đã có nhiều cải tiến về kĩ thuật và quy trình hoạt động nhưng không thể tránh khỏi những tác động đến môi trường, đặc biệt là MTKK do chưa thể kiểm soát được hết lượng khí thải, chất thải Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự ÔNMTKK từ nhà máy đến khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, đồng thời tìm ra các giải pháp vừa đảm bảo duy trì hoạt động của Nhà máy, vừa cải thiện được môi trường sống đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người dân, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Đánh giá tác động của sự ô nhiễm môi trường không khí từ Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại tới khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
2 Mục đích của đề tài
Đề tài nghiên cứu của tôi nhằm giải quyết những mục tiêu sau:
- Đánh giá tác động của sự ÔNMTKK từ Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại tới khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu tối đa nguồn gây ô nhiễm môi trường nhưng vẫn đảm bảo duy trì sản xuất của Nhà máy
- Đề ra các giải pháp nhằm giảm thiểu tối đa sự ảnh hưởng do hoạt
động của Nhà máy đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, dân cư vùng xung quanh, đặc biệt là khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
3 Điểm mới của đề tài
- Phân tích quy trình sản xuất của Nhà máy ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra các giải pháp để duy trì sản xuất của Nhà máy,
đồng thời giảm thiểu ÔNMT tới các khu vực xung quanh nhà máy, đặc biệt là khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Trang 3- Các giải pháp tôi đưa ra sẽ được kiến nghị với chính quyền, với lãnh
đạo của Nhà máy để giảm thiểu ÔNMT, định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp vùng và bảo vệ sức khoẻ của người dân
4 ý nghĩa của đề tài
- Việc giải quyết các mục tiêu của đề tài sẽ là những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đảm bảo Nhà máy vừa duy trì được sản xuất, vừa giảm ÔNMT
đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các hệ sinh thái xung quanh nhà máy
- Từ những kết luận, bài học hữu ích rút ra từ vùng nghiên cứu có thể tạo ra những hướng đi mới thích hợp cho quá trình sản xuất của những nhà máy tương tự
- Những ảnh hưởng của sự ÔNMTKK từ Nhà máy tới sức khoẻ con người, tới sản xuất và sản lượng nông nghiệp ở khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh sẽ là những cơ sở để cho lãnh đạo xã có những kế hoạch và chiến lược lâu dài để bảo vệ sức khoẻ người dân và phương hướng để phát triển nông nghiệp
Trang 4Chương 1 tổng quan về đề tμi nghiên cứu 1.1 Vấn đề ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp Việt Nam
Mặc dù đô thị hoá, CNH và giao thông vận tải của nước ta chưa thực sự phát triển, nhưng ÔNKK đã xảy ra Nhiều nhà máy, nhiều KCN mọc lên ở khắp nơi trên đất nước Sự ra đời và hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp, các KCN đã gây nên ÔNMT Một số nhà máy, KCN đã phải đóng cửa, một số khác phải thay đổi công nghệ để duy trì sản xuất, cụ thể:
- ở Hà Nội, tại các khu vực Nhà máy dệt 8-3, Nhà máy cơ khí Mai
Động, KCN Thượng Đình, KCN Văn Điển, không khí đều bị ô nhiễm nặng KCN Thượng Đình (khu Cao - Xà - Lá, viết tắt của nhà máy Cao Su, Xà Phòng, Thuốc Lá) theo kết quả nghiên cứu thì môi trường không khí ở đây
đang bị ô nhiễm (lượng khí SO2 cao gấp hai lần tiêu chuẩn cho phép) Hiện nay KCN này đang được thay đổi dây chuyền sản xuất để thay đổi hoạt động của mình [10]
- ở Hải Phòng, ô nhiễm nặng ở khu Nhà máy xi măng, Nhà máy thuỷ tinh và sắt tráng men
Nhà máy xi măng Hải Phòng được xây dựng từ thời kỳ Pháp (25/12/1889), đây là nhà máy đầu tiên ở Đông Dương, cung cấp xi măng cho cả Đông Nam á Sau hơn một thế kỷ hoạt động do dây chuyền sản xuất của nhà máy cũ, lạc hậu không đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh môi trường nên nhà máy phải đóng cửa Đến năm 2005, nhà nước cấp vốn đầu tư hệ thống dây chuyền sản xuất mới, hiện đại, nhà máy hoạt động trở lại [10]
- ở Việt Trì, ô nhiễm nặng xung quanh nhà máy Supe phôtphát Lâm Thao, Nhà máy Giấy, Nhà máy Dệt
Nhà máy Nhiệt điện Việt Trì và KCN Việt Trì, trước kia khi nhắc tới Việt Trì người ta thường nhắc đến thành phố với ba chữ B “thành phố buồn, thành
Trang 5phố bẩn, thành phố bụi” Nhà máy Nhiệt điện Việt Trì sau một thời gian hoạt
động đã gây ÔNMT nước, không khí ở Việt Trì và những vùng lân cận, do không khắc phục được nên nhà máy phải đóng cửa [10]
- ở Ninh Bình, Nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình sau một thời gian hoạt
động cũng gây ÔNMT Nhưng nhà máy đã kịp thời thay đổi công nghệ sản xuất cũ sang công nghệ mới sử dụng lọc khói tĩnh điện, giảm được ÔNMT nên nhà máy vẫn duy trì hoạt động [10]
- Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, đơn vị anh hùng “con chim đầu
đàn” của ngành cơ khí Việt Nam, hiện nay bị đóng cửa do Nhà máy đã làm
ÔNMT [10]
- ở Thành Phố Hồ Chí Minh và cụm công nghiệp Biên Hoà không khí cũng bị ô nhiễm bởi nhiều nhà máy [10]
- Hầu hết các nhà máy hoá chất đều gây ÔNKK [10]
1.2 Các đề tài nghiên cứu về sự ô nhiễm môi trường ở Nhà máy Nhiệt
điện Phả Lại - Hải Dương
- Báo kinh tế Việt Nam và thế giới năm 1999 đã đăng bài với hàng tít lớn: “Điện Phả Lại: khi nào mới hết gây ô nhiễm” hoặc “Tín hiệu ô nhiễm môi trường phát đi từ Phả Lại” Tình trạng khiếu nại, đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm bụi khói từ Nhà máy của nhân dân các tỉnh xung quanh hết sức bức xúc, đặc biệt là nhân dân thuộc tỉnh Bắc Ninh [10]
- Tháng 3 năm 1999, Công ty Điện lực Việt Nam, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại và đại diện UBND huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh đã họp và thống nhất
hỗ trợ cho 3 xã Đức Long, Châu Phong và Phù Lãng mỗi xã 300 triệu đồng
Trang 6Chương 2
địa điểm, thời gian, phương pháp nghiên cứu
2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, thôn Phao Sơn, thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 4 năm 2009
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu thực địa
- Hai tháng đi một lần tại địa điểm Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại để điều tra về:
+ Nguồn thải và bãi thải
+ Các loại khí thải, chất thải
- Bốn tháng đi một lần tại địa điểm xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh để điều tra về tình hình sức khoẻ của người dân trong xã
- Các số liệu được ghi chép theo nhật kí quan sát
2.3.2 Thu thập, phân tích tài liệu
Tôi đã tiến hành thu thập những tài liệu có liên quan đến đề tài để phân tích, tổng kết số liệu
2.3.3 Xử lí số liệu
Tôi tiến hành xử lí các số liệu thu được bằng phương pháp thống kê thông thường trên phần mềm Excel thành lập các bảng thống kê
Trang 7Chương 3 điều kiện tự nhiên - xμ hội ở vùng nghiên
cứu vμ đặc điểm sơ lược về nhμ máy 3.1 Sơ lược về tình hình khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh [1]
3.1.1 Vị trí địa lí
- Xã An Thịnh là một xã nằm ở cuối của huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, về phía Cẩm Giàng của tỉnh Hải Dương:
+ Phía Đông giáp với huyện Cẩm Giàng của tỉnh Hải Dương
+ Phía Nam giáp xã Trung Kênh, Mỹ Hương của huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
+ Phía Tây giáp xã Phú Hoà của huyện Lương Tài và xã Bình Dương của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
+ Phía Bắc giáp xã Cao Đức của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Về các nút giao thông của xã thì có đường liên huyện chạy qua và gần sông Thái Bình thuận lợi cho giao thông đường thuỷ
3.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất
- Địa hình xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh là tương đối bằng phẳng, hơi dốc, cao từ Đông sang Tây
- Đây là một vùng đồng bằng do phù xa cũ và phù xa mới được bồi đắp
từ hệ thống các sông lớn, đặc biệt là sông Hồng, sông Thái Bình, đê chạy quanh khu vực xã
- Địa chất tương đối ổn định Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là đất thịt pha cát, đất cát pha, đất thịt nhẹ Độ dày tầng canh tác trung bình là 15 -
25 cm
3.1.3 Khí hậu
Nằm trong vùng Đồng Bằng Sông Hồng, xã An Thịnh có khí hậu điển hình của khí hậu miền Bắc Việt Nam, là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm
Trang 8mưa nhiều, một năm có hai mùa rõ rệt (mùa đông và mùa hè): có mùa đông lạnh, đầu mùa đông lạnh khô, cuối mùa đông lạnh ẩm do mưa phùn Mưa nhiều về mùa hè, lạnh khô về mùa đông Ngoài ra còn một số hiện tượng đặc
biệt: khô nóng, bão, sương mù, sương muối
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm của xã có nền nhiệt khá
cao, thuộc chế độ nhiệt nóng Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 22,3 - 24,20C, biên độ dao động giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 14oC Phân hoá hai mùa rõ rệt:
+ Mùa nóng dài 5 tháng (từ tháng V đến hết tháng IX): nhiệt độ trung bình khoảng 27oC, có khi hơn 290 C
+ Mùa lạnh kéo dài 3 - 4 tháng (từ tháng XII đến hết tháng II hoặc III năm sau): nhiệt độ có khi hạ xuống dưới 160C, nhiệt độ trung bình vào khoảng 18 - 190C
- Chế độ gió: Có hai hướng gió chính thịnh hành trong hai mùa rõ rệt:
+ Trong mùa hè (từ tháng IV đến tháng IX) hướng gió chủ đạo là
Đông Nam
+ Trong mùa đông (từ tháng X đến tháng III năm sau) hướng gió chủ
đạo là Đông Bắc, gió thường kéo theo không khí lạnh và sương muối gây ảnh hưởng tới sản xuất vụ Đông Xuân
Tốc độ gió trung bình hàng năm dao động 1,7 - 2 m/s Tốc độ trung bình của hướng gió thịnh hành là tương đối lớn, đạt 2 - 3 m/s
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 176,7 mm vào các
tháng VI, VII, VIII Lượng mưa thấp nhất là 8,5 mm rơi vào tháng XI, XII
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 86%, độ ẩm không
khí cao nhất là 89% (tháng IV) và thấp nhất là 79%
- Bức xạ nhiệt: Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1500 giờ/năm,
thuộc loại tương đối cao, thích hợp để canh tác ba vụ trong năm
Trang 9Nhìn chung, khí hậu của xã An Thịnh là tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng
+ Hệ thống kênh cấp 1, 2 từ Kênh Vàng chạy qua
+ Hệ thống mương B-52 kéo dài từ sông Bãi Hà, mương N-5 chạy qua xã Trung Kênh
+ Hệ thống mương cấp 3 chạy dọc qua các xã từ huyện Gia Bình
3.1.5 Đặc điểm dân cư, kinh tế - xã hội
* Dân cư và lao động:
- Tính đến năm 2008, toàn xã có tổng diện tích đất là 1008,20 ha, với dân số là 12066 người Quy mô dân số của xã là một trong những xã có dân số lớn nhất huyện, số người trong độ tuổi lao động là 9939, chiếm 82% tổng dân
số toàn xã
- Tình hình thống kê diện tích đất đai tính đến năm 2008 của xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh được trình bày trong bảng sau:
Trang 10Bảng 1: Diện tích đất đai tính đến năm 2008 của xã An Thịnh, huyện
Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
2 Đất nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp
- Đất chưa sử dụng và sông ngòi
631,96 531,96 100,00
3 Đất phi nông nghiệp
- Đất ở nông thôn
- Đất chuyên dùng
376,24 126,43 249,81
Trong đó đất dùng cho sản xuất nông nghiệp được thống kê như sau:
Bảng 2: Diện tích đất đai dùng cho sản xuất nông nghiệp tính đến năm
2008 của xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
1 Trồng lúa
- Lúa nước
- Lúa khác còn lại
506,55 468,5 38,05
2 Cây hoa màu
- Cây lâu năm
- Cây hành, tỏi, ớt
- Cây hoa màu khác (lạc, đậu đỗ, ngô, khoai…)
19,62 0,79 18,03 0,80
Như vậy, diện tích tự nhiên là tương đối nhiều (1008,20 ha), nhưng diện tích dùng để sản xuất nông nghiệp là rất ít (531,96 ha) chiếm chỉ hơn già nửa
- Theo kết quả tổng kết của Trưởng công an xã Phạm Văn Biển, tính
đến 20/3/2009, tình hình nhân khẩu trong xã được tổng kết như sau:
Trang 11Bảng 3: Nhân khẩu xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh tính
Trên 14 tuổi vắng
hộ gia đình là công nhân viên chức, một số chuyển sang làm dịch vụ
Đặc biệt ở xã có 347 số hộ vắng do di chuyển vào Miền Nam hoặc lên thành phố làm ăn
Những thành phần ở độ tuổi trên 14 vắng đa số là đi học ở các trường Cao
đẳng, Đại học hoặc Trung cấp
Trang 12- An Thịnh là một xã có truyền thống lâu đời, có bề dày thành tích trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, có nhiều di tích được phong tặng di sản quốc gia (chùa thôn Cường Tráng, thôn An Trụ )
* Đặc điểm kinh tế - xã hội:
- Xã An Thịnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với một số hộ gia đình chuyển hướng sang làm kinh tế trang trại Kinh tế của các hộ trong xã ở mức trung bình, chỉ một số hộ thuộc diện khá giả
- Xã An Thịnh là xã mà nhân dân có truyền thống hiếu học, chăm làm,
có kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất
- Tình hình kinh tế - xã hội trong xã tương đối ổn định, tuy là một vùng
đông dân nhưng các vụ tranh chấp, đánh nhau, các tệ nạn xã hội tương đối ít Nhân dân có ý thức trong việc sản xuất, giúp đỡ nhau trong công việc và có tình cảm thân thiết, gắn bó với nhau
3.2 Một số nét cơ bản về Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại
3.2.1 Hình thành và phát triển của Nhà máy
- Nhà máy nằm ở thôn Phao Sơn, thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
- Nhà máy điện 1 được khởi công xây dựng từ 17/5/1980 và hoàn thành năm 1986, có công suất thiết kế 440 MW gồm 4 tổ tuốc bin - máy phát và 8 lò hơi theo khối 2 lò - 1 máy, mỗi máy có công suất 110 MW
- Nhà máy điện 2 (mở rộng) được xây dựng 8/6/1998 trên mặt bằng còn lại phía Đông nhà máy, có công suất 600 MW gồm 2 tổ hợp là lò hơi - tuốc bin - máy phát, công suất mỗi tổ máy là 300 MW gọi là tổ máy số 5 và tổ máy
số 6 Tổ máy số 5 được bàn giao ngày 14/3/2003 Kể từ đó Nhà máy Nhiệt
điện Phả Lại có tổng công suất là 1040 MW, là nhà máy nhiệt điện chạy than lớn nhất Việt Nam và Đông Nam á
Trang 13- Ngày 30/3/2005, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại chuyển thành Công ty Nhiệt điện Phả Lại Ngày 26/1/2006, chuyển thành Công ty Cổ phần Nhiệt
điện Phả Lại
3.2.2 Một số nét chính về tình hình hoạt động của Nhà máy
Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại tiền thân là Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam, chuyên kinh doanh lĩnh vực
điện năng Sản lượng điện trung bình của Nhà máy xấp xỉ đạt 6 tỷ KWh/năm, chiếm khoảng 10% tổng sản lượng điện trung bình của cả nước và 40% sản lượng điện toàn Miền Bắc
Hiện nay, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại là nhà máy nhiệt điện chạy than
và là một trung tâm nhiệt điện vận hành với công nghệ than phun lớn nhất nước ta, có công suất lớn nhất cả nước Sản phẩm chủ yếu của Nhà máy là sản xuất điện năng với hai nhà máy sản xuất điện, gồm 6 tổ máy có công suất
Nhà máy gồm hai dây chuyền riêng biệt:
- Dây chuyền I do Liên Xô cũ thiết kế và lắp đặt, có công suất 440
MW được xây dựng từ năm 1980 và đi vào vận hành từ năm 1983
Dây chuyền I gồm 4 tổ máy Mỗi tổ máy 110 MW có 2 lò hơi, 1 tua bin và
1 máy phát Tám lò hơi được lắp đặt thiết bị lọc bụi tĩnh điện Khí thải sau khi
Trang 14qua lọc tĩnh điện được tập trung và thải qua một ống khói cao 200 m với
đường kính miệng thải 7,2 m
Thiết bị dây chuyền I thuộc thế hệ những thập niên 70 - 80 nên suất tiêu hao nhiên liệu cao Công việc đại tu, sửa chữa các thiết bị được đảm bảo đúng chu kỳ quy định, đặc biệt là hệ thống lò - máy và hệ thống lọc bụi tĩnh điện nhằm đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và giảm thiểu ÔNMT khu vực
- Dây chuyền II mới được xây dựng với các thiết bị của các nước G7 Công suất của dây chuyền II là 600 MW và gồm 2 tổ máy Mỗi tổ máy 300
MW có 1 lò hơi, 1 tua bin và 1 máy phát
Hai là hơi được lắp đặt thiết bị lọc tĩnh điện và thiết bị khử SO2 Khí thải mỗi lò sau khi qua thiết bị khử lưu huỳnh được tập trung và thải qua ống thải riêng biệt, đường kính miệng thải là 4,2 m, ống khói cao 200 m
Chất thải rắn của Nhà máy bao gồm xỉ lò và tro, được vận chuyển bằng
hệ thống thuỷ lực về hai trạm bơm thải xỉ (mỗi dây chuyền một trạm bơm riêng) Sau khi pha loãng với nước đạt tỉ lệ 1/9, hỗn hợp được các bơm than với công suất 1250 m3/h đẩy qua đường ống bên hồ xỉ Bình Giang
Nước lắng trong hồ xỉ Bình Giang được thu hồi vào bể chứa và bơm ngược về Nhà máy sử dụng cho việc vận tải tro xỉ
Nước làm mát cho các bình ngưng được lấy từ hai trạm bơm tuần hoàn cạnh bờ sông gần Nhà máy và được thải ra hai bên kênh hở chảy ra từ thượng
và hạ lưu sông Thái Bình Một phần nước tuần hoàn của dây chuyền I được dùng trực tiếp, từ khi có Nhà máy, tưới nước cho các cánh đồng lúa phía Nam của huyện Chí Linh bằng kênh Phao Tân - An Bài
3.2.3 Sản lượng điện các năm gần đây của Nhà máy
Do có thêm nhà máy điện 2 nên gần đây sản lượng điện của Nhà máy tăng và được thống kê như sau:
Năm 2003 đạt 5,810 tỷ KWh
Năm 2004 đạt 5,740 tỷ KWh
Trang 15Năm 2005 đạt 6,768 tỷ KWh
Năm 2006 đạt 7,254 tỷ KWh
Năm 2007 đạt 7,027 tỷ KWh
Năm 2008 đến 30/11 đạt 6,257 tỷ KWh
3.2.4 Ngành nghề kinh doanh của Nhà máy [10]
Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu của Nhà máy là sản xuất kinh doanh điện năng, quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo các công trình nhiệt điện, công trình kiến trúc của nhà máy điện Phát huy những lợi thế sẵn có, Nhà máy chủ trương mở rộng một số ngành nghề kinh doanh khác nhằm tận dụng được nguồn lực của Nhà máy như các phụ phẩm, chất thải sinh
ra trong quá trình sản xuất điện Cụ thể gồm:
- Hoạt động sản xuất, kinh doanh điện năng
- Thí nghiệm, hiệu chỉnh các thiết bị điện
- Lập dự án đầu tư xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng
- Tư vấn giám sát thi công xây lắp các công trình điện
- Mua bán xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị
- Sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng
- Sản xuất, chế tạo các thiết bị phụ tùng cơ - nhiệt điện
- Đầu tư các công trình nguồn và lưới điện
- Quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa các công trình nhiệt
điện, công trình kiến trúc của nhà máy nhiệt điện
- Bồi dưỡng cán bộ công nhân viên về quản lý thiết bị vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị nhà máy điện
- Ngành nghề kinh doanh bảo dưỡng trong điều lệ sửa đổi được thông qua Đại hội cổ đông thường niên 10/04/2007 gồm:
+ Đầu tư tài chính và môi giới chứng khoán
+ Kinh doanh bất động sản
Trang 163.2.5 Nhân lực của Nhà máy
Nhà máy có hơn 2000 cán bộ công nhân viên lao động, trong đó số lao
động đã qua đào tạo chiếm tỷ trọng chủ yếu (93,53%) trong cơ cấu lao động hiện tại của Nhà máy Đội ngũ chuyên viên, cán bộ kỹ thuật của Nhà máy đã thực hiện nhiều hợp đồng đào tạo cán bộ vận hành, quản lý kinh tế cho các Nhà máy Nhiệt điện chạy than khác
Bảng 4: Trình độ nhân lực của cán bộ công nhân viên của Nhà máy
Như vậy, nhân lực của Nhà máy tương đối lớn (2159 người) tỷ lệ đã qua
đào tạo là chủ yếu (93,53%) do đó đảm bảo cho sự hoạt động và phát triển lớn mạnh của Nhà máy
Trang 17Chương 4 Kết quả nghiên cứu vμ thảo luận 4.1 Đánh giá tác động đến môi trường không khí từ quá trình hoạt động của Nhà máy tới khu vực xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 4.1.1 Cơ sở lý luận
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, pháp triển của con người và thiên nhiên (Điều 1, Luật BVMT của Việt Nam, 1993)
Trái Đất của chúng ta là một hành tinh khá lớn nằm trong hệ Mặt Trời Trái Đất giống như một quả địa cầu đồng tâm gồm các quyển: Thuỷ quyển, Thạch quyển, Khí quyển (3 quyển vật chất), cùng với các hệ sinh thái chúng tạo thành Sinh quyển
Khí quyển là lớp vỏ ngoài của Trái Đất, với ranh giới dưới là bề mặt thuỷ quyển, thạch quyển và ranh giới trên là khoảng không giữa các hành tinh Khí quyển Trái Đất được hình thành do sự thoát hơi nước, các chất khí từ thuỷ quyển và thạch quyển Tầng khí quyển dày khoảng 2000 km, thường xuyên chịu ảnh hưởng của vũ trụ và Mặt Trời
Khí quyển Trái Đất có cấu trúc phân lớp, với các tầng đặc trưng từ dưới lên trên như sau: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng trung quyển, tầng ngoại quyển [5]:
+ Tầng đối lưu (Troposphere): Là tầng thấp nhất của khí quyển chiếm khoảng 70% khối lượng khí quyển, có nhiệt độ thay đổi giảm dần từ +40oC ở lớp sát mặt đất tới -50oC ở trên cao Ranh giới trên của tầng đối lưu khoảng 7 - 8 km ở hai cực và 16 - 18 km ở vùng xích đạo Trong tầng này luôn có chuyển động đối lưu của khối không khí bị nung nóng từ mặt đất nên thành phần khí quyển khá đồng nhất Tầng đối lưu tập trung nhiều nhất hơi
Trang 18Tầng đối lưu chứa 90% các phân tử không khí, trong đó có khoảng 78% N2; 21% O2; 0,03% CO2 và còn lại là các khí khác, cụ thể ở bảng sau:
75,51 23,15 1,28 0,005 0,00012 0,000007 0,000009 0,000029 0,000008 0,0000035 0,000008 0,00000036
+ Tầng bình lưu (Stratosphere): Nằm trên tầng đối lưu, với ranh giới trên dao động trong khoảng độ cao 50 km Nhiệt độ không khí của tầng bình lưu có xu hướng tăng dần theo chiều cao, từ -560C ở phía dưới lên -20C ở trên cao Không khí tầng bình lưu loãng hơn, ít chứa bụi và các hiện tượng thời tiết ở độ cao khoảng 25 km trong tầng bình lưu, tồn tại một lớp không khí giàu khí ôzôn (O3) thường được gọ là tầng ôzôn Tầng ôzôn có chức năng như một lá chắn của khí quyển, bảo vệ Trái Đất khỏi những ảnh hưởng độc hại của tia tử ngoại từ Mặt Trời chiếu xuống, bảo vệ sự sống
+ Tầng trung quyển (mesosphere): Nằm ở bên trong tầng bình lưu cho đến độ cao 80 km Nhiệt độ tầng này giảm dần theo độ cao, từ -20C ở phía dưới giảm xuống -920C ở phía trên
Trang 19+ Tầng nhiệt quyển (thermosphere): Có độ cao từ 80 km đến 500
km ở đây nhiệt độ không khí có xu hướng tăng dần theo độ cao, từ -920C đến +12000C Tuy nhiên, nhiệt độ không khí cũng thay đổi theo thời gian trong ngày, ban ngày thường rất cao và ban đêm thường thấp
+ Tầng ngoại quyển (exosphere): Bắt đầu từ độ cao 500 km trở lên
Do tác động của tia tử ngoại, các phân tử không khí loãng trong tầng này bị phân huỷ thành các ion dẫn điện, các điện tử tự do Thành phần khí quyển trong tầng có chứa nhiều các ion nhẹ như He+, H+, O2- [5]
Môi trường không khí nằm ở tầng đối lưu của khí quyển bị coi là ô nhiễm khi các thành phần bị biến đổi khác trạng thái bình thường Chất gây ô nhiễm là chất có trong thành phần khí quyển ở nồng độ cao hơn nồng độ bình thường của nó trong không khí hoặc chất đó thường không có trong không khí
Sự ÔNKK là kết quả của việc thải ra các chất khí, hơi, giọt và các lượng khí khác có nồng độ vượt quá thành phần bình thường trong không khí gây nên tác động có hại hoặc gây sự khó chịu (do mùi, bụi )
ÔNMTKK là sự thay đổi lớn trong các thành phần của không khí hoặc
có sự xuất hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, bụi, có sự toả mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật
Các “tác nhân gây ÔNKK” có thể ở thể rắn (bụi, bồ hóng, muội than), ở dưới hình thức giọt (sương mù, sunphát) hay ở thể khí (SO2, NO2, CO ) như bảng sau:
Trang 20Bảng 6: Các tác nhân gây ô nhiễm không khí
Tác nhân Ký
hiệu Lớp
Nguyên sinh hoặc thứ sinh Đặc tr−ng
đổi Hạt nhỏ Nguyên sinh Các hạt rắn
Axit sunfuric H2SO4 Hạt nhỏ Thứ sinh Giọt lỏng
Nitơ điôxit NO2 Nitơ ôxit Thứ sinh chủ
Sunfuađiôxit SO2 Sunfua ôxit Nguyên sinh Khí không màu,
Thứ sinh
Khí màu xanh xám với mùi vị ngọt
4.1.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm không khí do sự hoạt động của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại
Theo sự điều tra, phân tích thì các hoạt động: khai thác, vận chuyển than, vận chuyển xỉ than, và quá trình hoạt động tạo ra điện đều là nguyên nhân gây ÔNKK theo sơ đồ: