1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Phân tích nội dung - thiết kế bài giảng theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.

67 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 387,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học, đó là định hướng chung không chỉ riêng nước ta mà đang được quan tâm ở mọi quốc gia trên thế g

Trang 1

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI là thế kỷ đua tranh trí tuệ để phát triển, con người không cạnh tranh bằng cơ bắp mà cạnh tranh bằng trí tuệ Điều đó đòi hỏi ngành giáo dục phải thay đổi cách dạy và học nhằm tạo ra lớp người tích cực, năng

động, sáng tạo nếu không thì cá nhân, cộng động, quốc gia không tồn tại

Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo trong đó có sự đổi mới căn bản

về phương pháp dạy học, đó là định hướng chung không chỉ riêng nước ta mà

đang được quan tâm ở mọi quốc gia trên thế giới trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người, phục vụ các mục tiêu kinh tế – Xã hội Không có

đổi mới phương pháp dạy học sẽ không đạt được kết quả công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Vì vậy nghị quyết trung ương, luật giáo dục, chỉ thị của ngành đều nói đến đổi mới phương pháp dạy học

Do đổi mới nội dung SGK Năm học 2006 - 2007 hai bộ SGK lớp 10 cho hai ban Ban khoa học cơ bản và ban khoa học nâng cao được dạy ở tất cả các trường THPT trong cả nước Nội dung của SGK thay đổi theo hướng nâng cao kiến thức sinh học, tế bào học và sinh học vi sinh vật Cập nhật với sự phát triển của KHCN - làm cho mâu thuẫn giữa lượng thông tin ngày càng nhiều với thời gian có hạn của tiết học ngày càng găy gắt Trong khi đó tình trạng phổ biến hiện nay ở trường THPT là giáo viên và học sinh đã quen với phương pháp dạy học truyền thống: Thầy thông báo kiến thức trò lắng nghe ghi chép

Thực tiễn giảng dạy ở trường THPT đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu một câu hỏi lớn Làm thế nào để thiết kế bài giảng theo hướng tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, vừa đảm bảo nội dung kiến thức trong một tiết học vừa phát huy được vai trò chủ động của người học

Trang 2

Chúng tôi cho rằng: Nếu giáo viên có đủ tài liệu tham khảo, có kỹ năng phân tích bài giảng, xác định được các thành phần kiến thức, kiến thức trọng tâm, lôgic các thành phần kiến thức, các kiến thức bổ sung, sẽ thuận lợi hơn trong việc thiết kế các bài giảng theo hướng lấy học sinh làm trung tâm

Chính vì những lý do trên Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tôi đã tiến hành chọn đề tài "Phân tích nội dung, thiết kế bài giảng theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Chương II cấu trúc của tế bào - SGK - Sinh học

10 cơ bản"

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.1 Mục đích nghiên cứu:

- Vận dụng lý luận và phương pháp dạy học vào phân tích nội dung các bài 7, 8, 9, 10, 11 Chương II - Cấu trúc của tế bào - Phần hai sinh học tế bào

- Thiết kế một số bài giảng theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Phân tích nội dung, thiết kế bài giảng, 7, 8, 9, 10, 11 - Chương II - thuộc Phần hai: Sinh học tế bào

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng:

SGK sinh học 10 Chương II - Cấu trúc của tế bào Phần hai - Sinh học tế bào

Trang 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- SGK sinh học 10 cơ bản từ bài 7, 8, 9, 10 và 11 Chương II - Cấu trúc của tế bào - Phần hai - Sinh học tế bào Từ ngày 26/2/2006 đến ngày 20/4/2007

- Học sinh lớp 10 tại trường THPT Long Châu Sa

4 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

4.1 ý nghĩa khoa học:

Làm sáng tỏ cơ sở lý luận cho phương pháp dạy học, theo hướng lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

4.2 ý nghĩa thực tiễn:

Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ,theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đọc các tài liệu làm cơ sở xây dựng lý thuyết của đề tài:

- Tra cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học

- Đọc tài liệu lý luận dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, SGK sinh học 10 cơ bản, sách giáo viên lớp 10 môn sinh học, các tài liệu về tế bào học…

5.2 Phương pháp quan sát sư phạm

Trang 4

Dự giờ trao đổi kinh nghiệm với giáo viên phổ thông về phương pháp giảng dạy, theo hướng lấy học sinh làm trung tâm

5.3 Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến, nhận xét, đánh giá của giáo viên phổ thông về nội dung nghiên cứu của đề tài

Trang 5

Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.1 Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực

1.1.1 Trên thế giới

Phương pháp dạy học tích cực có mầm mống từ thế kỷ XIX Vào những năm 20 của thế kỷ XX ở Anh đã bắt đầu thí điểm các lớp học mới Đặc biệt chú ý đến khái niệm Tư duy của học sinh, các hoạt động độc lập

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, năm 1950 ở Pháp bắt đầu thí điểm 200 trường và sau đó triển khai rộng rãi ở tất cả các cấp học Vào những năm 1970

- 1980 Bộ Giáo dục Pháp chủ trương khuyết khích áp dụng phương pháp dạy học tích cực

Năm 1950 - 1960: Liên Xô Cũ, Đức, Ba Lan, bắt đầu đổi mới phương pháp dạy học, có những quy định cụ thể Giáo viên không được cung cấp kiến thức có sẵn cho học sinh, mà phải tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu, phát biểu các định nghĩa, định luật

1.1.2 Trong nước

Vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm tạo những con người lao động, sáng tạo, đã đặt ra từ những năm 1960, ngành giáo dục đã

có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

Năm 1970 nghiên cứu đầu tiên về phương pháp dạy học tích cực của giáo sư Trần Bá Hoành về phát huy trí thông minh của học sinh

Năm 1980 trở đi được nhiều nhà lý luận dạy học quan tâm

GS: Đinh Quang Báo (1981) GS: Lê Đình Trung (1985)

TS: Vũ Đức Thành (1985) GS: Vũ Đức Lưu(1995)

Trang 6

Đặc biệt năm 1995 có hội thảo lớn về phương pháp dạy học tích cực theo hướng hoạt động hoá người học

Từ năm 2000 đến nay luôn đề cập đến phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong tất cả các đợt thay sách, bồi dưỡng GV ở tất cả các môn học Cho đến bây giờ việc nghiên cứu, vận dụng phát huy tính tích cực của HS đã có những bước khởi đầu rõ nét, tạo những bước chuyển biến tích cực

1.2 Tính tích cực học tập của học sinh

1.2.1 Khái niệm về tính tích cực

Chủ nghĩa duy vật xem tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Con người khác với động vật ở chỗ, con người không chỉ tiêu thụ những gì có sẵn trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải, vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Sáng tạo ra nền văn hoá khoa học ở mỗi thời đại Chủ động cải biến môi trường tự nhiên và cải tạo xã hội

Theo Pa Lốp: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của con người hoạt động”

Theo LV Rebrova 1975: “tính tích cực học tập của học sinh là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt

động học tập của trẻ”

1.2.2 Tính tích cực của học tập

Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động, chủ động của chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học Tính tích cực trong hoạt động học tập - Về thực chất là tính tích cực của nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

Trang 7

Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học Quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết Mà nhằm lĩnh hội những tri thức của loài người đã tích luỹ được Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng phải khám phá ra những hiểu biết mới đối với bản thân Học sinh sẽ hiểu, ghi nhớ những gì nắm được qua hoạt động chủ

động, nỗ lực của chính mình

Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập, liên quan trước hết với

động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập

Tích tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: Hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đỏi hỏi giải thích những vấn

đề chưa rõ một cách cặn kẽ, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn

Tính tích cực đạt những cấp độ từ thấp lên cao như:

- Bắt chước: Gắng sức làm theo mẫu hoạt động của thầy của bạn

- Tìm tòi: Độc lập giải quyết vấn đề nêu ra Tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề…

- Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới, độc lập, hữu hiệu

1.3 Phương pháp tích cực

Phương pháp tích cực (PPTC), là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo cuả người học

Trang 8

“Tích cực” trong PPTC được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với hoạt động, thụ động Chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực

PPTC hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá, hoạt động nhận thức của người học Nghĩa là tập trung và phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy

Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy, rõ ràng là cách dạy chỉ

đạo cách học Nhưng ngược lại thói quen học tập của trò, có ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Vì vậy giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động, để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò

Sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Theo tinh thần đó dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực”

Theo lý luận cơ bản về “Dạy và học tích cực”, (dự án Việt - Bỉ) Cũng như tài liệu đổi mới phương pháp dạy học của Tác giả Trần Bá Hoành viện khoa học giáo dục

Phương pháp dạy học: Cách thức hoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo,

tổ chức các hoạt động học tập, nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêutrong dạy học

Minh hoạ qua sơ đồ:

Mục tiêu dạy - học (Kiến thức - kỹ năng - thái độ)

Mặt bên ngoài (các thao tác Mặt bên trong (Cách tổ chức

Trang 9

NQTW 4 khoá VII

NQTW 2 khoá VIII

Luật giáo dục

Thầy chỉ đạo Trò chủ động

PP DH: Cách thức hoạt động của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động

đạt các mục tiêu dạy học

MT giáo dục MT kinh tế xã hội của nhà trường của cộng đồng

Trang 10

Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,

sáng tạo của học sinh

- Bồi dưỡng phương pháp tự học

- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho

Dạy học lấy HS làm trung tâm (HSTT) còn có một số thuật ngữ tương

đương: Dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học Các thuật ngữ này có nội dung là làm nhấn mạnh hoạt động học và vai trò HS trong quá trình dạy học, khác với tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò giáo viên

Chuyển cách tiếp cận quá trình dạy học từ GVTT sang HSTT là một xu hướng tất yếu, có lý do lịch sử Trong lịch sử giáo dục, ở thời kỳ chưa hình thành tổ chức trường lớp, việc dạy học đã được thực hiện theo phương thức một thầy dạy một trò hoặc một thầy dạy cho một nhóm học trò Học trò trong nhóm có thể chênh lệch nhau khá nhiều về lứa tuổi và trình độ Ví dụ thầy đồ Nho ở nước ta thời kỳ phong kiến dạy trong cùng một “lớp” từ đứa trẻ bắt đầu học “Tam tự kinh” đến môn sinh chuẩn bị thi tú tài cử nhân Trong tổ chức dạy học như vậy, ông thầy bắt buộc phải và cũng có điều kiện để thực hiện

Trang 11

cách dạy thích hợp với trình độ, năng lực, tính cách của mỗi học trò, phát huy vai trò chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học kiểu như vậy thì năng suất quá thấp

Từ khi xuất hiện kiểu dạy trường – lớp, một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đều thì GV khó có điều kiện chăm

lo cho từng HS Từ đó hình thành kiểu dạy “Thông báo - đồng loạt” GV quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và SGK, cố gắng làm cho mọi HS hiểu

và nhớ những điều GV giảng Cách dạy như vậy đẻ ra cách học thụ động , thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ Tình trạng này ngày càng phổ biến đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học không đáp ứng yêu cầu của xã hội đối với sản phẩm của giáo nhà trường Để khắc phụ tình trạng đó, các nhà sư phạm kêu gọi phát huy tính tích cực chủ động của HS , thực hiện “dạy học phân hoá” quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân HS trong tập thể lớp Phương pháp tích cực, dạy học HS làm trung tâm ra đời trong bối cảnh đó

Theo quan điểm lịch sử thì đây là một sự trả lại vị trí vốn có từ thủa ban

đầu của người học Trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực, chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách vì không ai làm thay được Nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của dạy sẽ rất hạn chế

Trang 12

1.5.2.1 Mục tiêu dạy học

Điểm khác nhau cơ bản nhất là về mục tiêu

Trong GVTT, người ta chăm lo trước hết đến việc làm thực hiện nhiệm

vụ của GV là truyền đạt hết những kiến thức đã qui định trong chương trình và SGK, chú trọng khả năng và lợi ích của người dạy

Trong HSTT, người ta hướng vào việc cho HS sớm thích ứng với đời sống xã hội, hoà nhập và phát triển cộng đồng, tôn trọng nhu cầu, lợi ích, tiềm năng của người học …

1.5.2.2 Về nội dung dạy học

Sự khác nhau về mục tiêu quy định sự khác nhau về nội dung

Trong GVTT, chương trình học tập được thiết kế chủ yếu theo logic nội dung khoa học của các môn học, chú trọng trước hết đến hệ thống kiến thức lý thuyết, sự phát triển tuần tự các khái niệm, định luật, học thuyết khoa học

Trong HSTT, cho rằng hệ thống kiến thức lý thuyết chưa đủ để đáp ứng mục tiêu chuẩn bị cho cuộc sống Cần chú trọng các kỹ năng thực hành vận dụng kiến thức lý thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề thực tiễn

GV đã giảng, trả lời những câu hỏi GV nêu ra về những vấn đề đã dạy

Trong HSTT, người ta coi trọng việc tổ chức cho HS hoạt động độc lập học theo nhóm (thảo luận, làm thí nghiệm, quan sát mẫu vật, phân tích bảng

số liệu…)thông qua đó HS vừa tự lực nắm các tri thức, kỹ năng mới Đồng thời rèn luyện về phương pháp tự học, được tập dượt về phương pháp nghiên

Trang 13

cứu GV quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể HS để xây dựng bài học

1.5.2.4 Về hình thức tổ chức dạy và học

Trong GVTT, tổ chức trong phòng học mà bàn GV và bảng đen là điểm thu hút sự chú ý của mọi HS

Trong HSTT, thường bố trí thay đổi linh hoạt cho phù hợp với hoạt

động học tập trong tiết học, thậm chí theo từng phần trong học Nhiều bài tiến hành trong phòng thí nghiệm, ngoài trời, viện bảo tàng…

1.5.2.5 Về đánh giá

Trong GVTT, GV là người là độc quyền đánh giá kết quả học tập của

HS, chú đến khả năng ghi nhớ và tái hiện các thông tin GV đã cung cấp

Trong HSTT, HS tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau GV phải hướng dẫn cho HS phát triển kỹ năng tự đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lập lại kỹ năng đã học mà khuyến khích óc sáng tạo, phát triển sự chuyển biến thái độ hành vi của HS trước những vấn đề nảy sinh trong thực tế

Kết luận: Về PPDH trong HSTTngười ta coi trọng việc tổ chức cho HS hoạt động độc lập, chủ động tích cực chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, rèn luyện phương pháp tự học, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Vì vậy dạy học lấy HSTT chính là phương pháp tích cực

Trang 14

Chương 2 Phân tích nội dung - Thiết kế bài giảng

Phần hai: Sinh học tế bào Chương II: Cấu trúc của tế bào

Bài 7: Tế bào nhân sơ

1 Vị trí của bài trong chương

Bài: 7 là bài đầu tiên của chương II - Cấu trúc của tế bào - phần hai: Sinh học tế bào

2 Lôgíc kiến thức

Trước hết khẳng định đây là một bài quan trọng Cần phải dạy tốt làm cơ sở học các bài sau GV giúp HS hiểu thế giới sống được cấu tạo từ hai loại

tế bào là tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực Hiểu được tế bào nhân sơ có đặc

điểm và cấu trúc như thế nào? Để so sánh với các bài tiếp theo của chương

Để nghiên cứu về tế bào nhân sơ, trước hết phải nắm được đặc điểm chung của tế bào nhân sơ GV cần lưu ý giúp HS hiểu được tại sao tế bào lại cần có kích thước nhỏ? Tại sao S/V lớn lại dẫn đến khả năng phân bào nhanh

là câu hỏi khó hiểu đối với HS Chính vì thế, GV cần đưa ra các hoạt động thích hợp để làm sáng tỏ vấn đề này S/V lớn tức là tỷ lệ giữa diện tích màng

tế bào so với đơn vị thể tích lớn, khiến cho tốc độ trao đổi chất qua màng nhanh dẫn đến tế bào sinh trưởng nhanh và phân chia nhanh Ngoài ra kích thước tế bào nhỏ, thì sự khuếch tán các chất từ nơi này đến nơi kia trong tế bào cũng diễn ra nhanh hơn Dẫn đến tế bào sinh trưởng nhanh và phân chia nhanh

Cấu tạo tế bào nhân sơ, GV cần lưu ý giúp HS nắm được tế bào nhân sơ

có cấu tạo đơn giản thể hiện ở đặc điểm Trong tế bào chất không có hệ thống

Trang 15

nội màng chia tế bào thành các khoang nhỏ Tế bào không có các bào quan bào bọc mà chỉ có Ribôxôm với kích thước nhỏ (nhỏ hơn so với tế bào nhân thực) Ngoài ra, cũng cần cho HS thấy hầu hết các loài vi khuẩn đều có thành

tế bào Biết được các đặc điểm khác nhau này, chúng ta có thể dùng các loại thuốc kháng sinh để tiêu diệt tế bào vi khuẩn gây bệnh, mà không làm tổn thương đến tế bào của người

Ví dụ: Thuốc kháng sinh Pênxilin có tác dụng ngăn cản sự tổng hợp thành tế bào của nhiều loại vi khuẩn

3 Thành phần kiến thức

3.1 Các thành phần kiến thức

1 Thành tế bào, màng sinh chất, lông và roi

Trang 16

3.2 Kiến thức trọng tâm

- Cấu trúc và chức năng của các bộ phận cấu tạo nên tế bào nhân sơ

- Lợi thế về kích thước của tế bào nhân sơ

4 Kiến thức bổ sung

Một số tính chất khác biệt giữa vi khuẩn Gram dương và vi khuẩn Gram âm

- Phản ứng với chất

nhuộm Gram

- Giữ màu tinh thể tím,

do đó tế bào có màu tím hoặc tía

- Mất màu tím khi tẩy rửa, nhuộm màu phụ đỏ Saframin

- Khả năng chống chịu thấp

- Chống chịu với khô

hạn

5 Tài liệu tham khảo

- “Theo quan điểm hiện đại, thuyết tế bào gồm ba nguyên lý sau đây: + Mọi sinh vật đều gồm một hoặc nhiều tế bào, trong đó xảy ra các quá trình chuyển hoá vật chất và tồn tại tính di truyền

+ Tế bào là sinh vật sống nhỏ nhất, đơn vị tổ chức cơ bản của mọi cơ thể

+ Tế bào có thể tự sinh sản và chỉ xuất hiện nhờ quá trình phân chia của tế bào tồn tại trước” [3, tr 6]

Trang 17

- “Khác với tế bào thực vật, vách của tế bào vi khuẩn có cấu trúc đặc biệt có Peptiđôglican - Một phân tử lớn phức tạp gồm chất trùng hợp của

đường (Polixacarit) được liên kết ngang bằng các chuỗi axit amin ngắn (các

đơn vị Polipeptit ngắn) Không một tế bào nhân thật nào có vách tế bào theo kiểu này”.[3.tr,9]

- “Lớp vỏ vi khuẩn Gram dương là một lớp đồng nhất dày từ 15 - 30

nm, nằm sát màng sinh chất và được cấu tạo bởi Peptiđôglican là murêin Còn lớp vỏ bao Gram âm có cấu tạp phức tạp hơn, có độ dày từ 8 - 12 nm và gồm

có hai lớp Lớp murêin nằm sát màng lipoprotein (giống màng sinh chất) dính với lớp murêin bởi các protein đa diện”.[7 tr,45]

- “Vi khuẩn vận động thường có roi - phần phụ dài rất mỏng gồm các tiểu đơn vị của Protein (flagellin ) Roi có vận động quay (giống chân vịt tàu thuỷ) làm vi khuẩn vận động nhanh trong môi trường lỏng Vi khuẩn có lông giúp chúng bám vào bề mặt thích hợp”.[3.tr,11]

Bài 8: Tế bào nhân thực

1 vị trí của bài trong chương

Đây là bài thứ hai của chương, nhưng là bài kiến thức khác so với bài

đầu tiên của chương Sau khi học song bài này một phần sẽ giúp HS so sánh

được, điểm khác biệt giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực

2 Lôgíc kiến thức

GV có thể giải thích cho HS hiểu Tại sao lại gọi là tế bào nhân thực Tế bào nhân thực là tế bào có vật chất di truyền được bao bọc bởi màng nhân

Trong bài này GV không nên chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức

Mà nên tập trung vào rèn luyện kỹ năng cho HS Về nội dung kiến thức, HS có thể tự đọc SGK hoặc GV giới thiệu sơ lược về đặc điểm và chức năng của: Nhân tế bào, hệ thống lưới nội chất, ribôxôm và bộ máy gôngi GV cần chú ý

Trang 18

tạo ra các hoạt động về thí nghiệm chuyển nhân Để HS thấy được bằng cách nào đó, mà các nhà khoa học chứng minh được vai trò của nhân tế bào

3 Thành phần kiến thức

3.1 Các thành phần kiến thức

II Cấu tạo của tế bào nhân thực

3 Lưới nội chất

* Lưới nội chất hạt

* Lưới nội chất trơn

5 Tài liệu tham khảo

- “Thực ra, nhân con là tổ hợp gồm AND và một số Protêin Ribôxôm

được chuyển vào nhân từ lưới nội chất và tích luỹ ở những vùng nào trên nhiễm sắc thể, thường xảy ra hoạt động sinh tổng hợp mạnh mẽ ARN Nhân con chứa 10 - 20% ARN tế bào Ribôxôm được lắp ráp trong nhân con Các phân tử Protêin từ tế bào chất đi vào nhân con và ở đó chúng kết hợp với các

Trang 19

phân tử ARN để tạo nên Ribôxôm tế bào Về sau Ribôxôm ra khỏi

nhân”.[3.tr,28]

- “Lưới nội chất là một hệ thống các kênh, các túi các bể chứa phân bố

trong tế bào chất và được giới hạn bởi màng Lipôprôtêin Các kênh, túi và bể

chứa thông với nhau, hình thành nên mạng lưới ba chiều phức tạp Phân bố

khắp các tế bào”.[7.tr, 62]

- “ Trong một tế bào, mạng lưới nội chất nối liền với màng nguyên sinh

và màng nhân và liên hệ với bộ máy Gôngi và Lizôxôm Thành một hệ thống

nhất”.[8.tr, 347]

- “Hầu như tất cả các Protêin tiết đều là Glycôprotêin và chức năng

chính của gôngi là gắn nhóm tiền tố Hyđratcacbon vào Protêin đã chế tạo ở

lưới nội chất hạt Nghĩa là ở đây hoàn thiện việc tổng hợp phân tử

Glicoprotêin”[10.tr, 52]

Bài 9: Tế bào nhân thực (Tiếp theo)

1 Vị trí của bài trong chương

Đây là bài thứ 3 của chương II cấu trúc của tế bào Nhưng lại là bài tiếp

theo của bài 8 tế bào nhân thực

2 Lôgic kiến thức

Là bài tiếp theo của bài 8 tế bào nhân thực Nhằm giới thiệu tiếp cấu

trúc và chức năng của các thành phần cấu tạo nên tế bào nhân thực đó là: Ti

thể, lục lạp, không bào, Lizôxôm Là bài khá đơn giản GV cần tổ chức các

hoạt động rèn luyện kỹ năng cho HS hơn là việc nhắc lại kiến thức SGK

Cần cho HS nắm được cấu trúc của ti thể và lục lạp đó là có hai lớp

màng bên trong chứa ADN và Riboxôm

Chức năng của lục lạp là tổng hợp nên các phân tử đường và tinh bột

thông qua quá trình quang hợp (Học trong chương chuyển hoá vật chất và

năng lượng ở tế bào)

Trang 20

Chức năng của ti thể là tổng hợp nên ATP thông qua quá trình hô hấp

tế bào Ti thể có thể là ví như nhà máy điện của tế bào Còn lục lạp như nhà máy cung cấp nguyên liêu cho nhà máy điện

SGK không giới thiệu tất cả các bào quan còn lại của tế bào nhân thực,mà chỉ giới thiệu thêm 2 loại bào quan là không bào và Lizôxôm

Không bào là một bào quan rất quan trọng đối với tế bào thực vật Một

số tế bào động vật cũng có không bào làm nhiệm vụ tiêu hoá thức ăn, gọi là không bào tiêu hoá hay làm nhiệm vụ bơm nước ra khỏi tế bào như không bào co bóp

Lizôxôm là một bào quan rất quan trọng ở các tế bào động vật (ở thực vật một loại bào quan làm nhiệm vụ tương tự như Lizôxôm được gọi là Perôxixôm) Khi tế bào bị tổn thương không thể phục hồi được thì Lizôxôm tự

vỡ và giải phóng các enzim phân huỷ luôn tế bào Hoặc khi tế bào bạch cầu của người bắt giữ vi khuẩn lây bệnh bằng con đường thực bào thì sau đó Lizôxôm giải phóng enzim phân huỷ tế bào vi khuẩn

Trang 21

5 Tài liệu tham khảo

- “Ti thể giống như lục lạp được giới hạn bằng màng kép Màng trong gấp nếp tạo nhiều nếp màng trong (Cristae) hướng vào chất nền (Matrix) - Xoang trong chứa đầy dịch kiểu gen Chất nền chứa enzim phân giải các sản phẩm Hiđratcacbon, còn sự tổng hợp ATP xảy ra ở nếp màng trong Toàn bộ các chất mang điện tử và enzim tổng hợp ATP (ATP sinthetaza) đều định vị ở cristae” [3 tr, 31]

“ Lục lạp là bào quan chuyên hoá cho quanh hợp, có đường kính 4

-10m dài 1 - 5m Lục lạp thuộc nhóm bào quan thực vật gọi là lạp thể (Plastid) Trong số lạp thể còn có vô sắc lạp (Pleucoplas) chuyên dự trữ tinh bột và sắc lạp thể (chromoplast) chứa sắc tố vàng

Lục lạp được giới hạn bằng màng kép Bên trong có màng ngang bằng hơn tổ chức thành túi dẹt gọi là tilacôit hay túi màng tilacôit Nhiều tilacôit xếp chồng lên nhau trông giống chồng đồng tiền gọi là grana (hạt lục) Có màng nối tiếp giữa các grana gọi là lamellae (phiến mỏng) Khoang chứa đầy dịch giữa các grana gọi là chất nền (stroma)”.[3.tr, 29]

- “Cách đây gần 40 năm, Christian De Duve (1954 - 1955) đã phát hiện một bào quan lớn mới đặt tên là Lizôxôm (Lesis: hoà tan, Soma: thể) Đó là những túi có kích thước trung bình 0,25 - 0,6m được bao bằng màng đơn lipôprôtin bề dày 5 – 6nm Và chứa bên trong 10 loại enzim thuỷ phân (Hiđrôlaza) như phôtphataza axit (tách gốc phốt phat), ribônucleaza, deoxiribonucleaza (phân giải muco poliscacarit) Chúng được tạo thành từ bộ máy gôngi và mạng lưới nội chất có hạt”.[8 tr, 356

Trang 22

Bài 10: Tế bào nhân thực (Tiếp theo)

1 Vị trí của bài trong chương

Là bài thứ tư của chương II - Cấu trúc của tế bào Nhưng là bài thứ ba tiếp theo của bài 9 Tế bào nhân thực Bài 10 sẽ hoàn thiện kiến thức cơ bản về

tế bào nhân thực

2 Lôgic kiến thức

Đây cũng là một bài khá quan trọng Giúp HS có một cái nhìn hoàn chỉnh về toàn bộ cấu trúc và chức năng của các thành phần cấu tạo tế bào nhân thực

Trọng tâm chính của bài là màng sinh chất (màng tế bào) Các bộ phận như khung xương tế bào và thành tế bào chỉ cần giới thiệu qua

Khung xương tế bào chỉ có ở các tế bào nhân thực Cấu trúc này có thể

ví như một hệ thống khung giàn giáo được tạo thành từ các vi ống, vi sợi và sợi trung gian Sợi trung gian có đường kính trung gian của vi ống và vi sợi Chức năng của khung xương tế bào là làm giá đỡ cho các bào quan của tế bào, tạo hình dạng cho các tế bào động vật (vì không có thành tế bào như ở thực vật) Các vi ống còn là con đường “cao tốc” vận chuyển các chất trong tế bào từ nơi nọ đến nơi kia Các chất sau khi tổng hợp được bao gói trong túi tiết rồi nhờ các phân tử “động cơ” vận chuyển trên các vi ống Các vi ống và vi sợi cũng như sợi trung gian còn giúp tế bào chất di chuyển và qua đó các tế bào có thể tự mình di chuyển hoặc thay đổi hình dạng Khung xương tế bào không cứng nhắc mà có thể dễ dàng thay đổi làm biến đổi hình dạng tế bào

Cấu trúc màng sinh chất Cần làm cho HS hiểu rõ màng sinh chất có cấu trúc khảm động như thế nào?

Trang 23

Màng sinh chất của tất cả các loại tế bào cũng như màng của các bào quan đều được cấu tạo từ thành phần chính là phôtpholipit (hai lớp) và các loại Protein

Cần chú ý là: Phân tử phôtpholipit có một đầu chứa nhóm phốtphat ưa nước và một đầu có các axít béo kị nước vì thế hai lớp phôtpholipit trong màng luôn quay hai đuôi kị nước vào nhau và hai đầu ưa nước ra bên ngoài để tiếp xúc với môi trường nước

Protein của màng sinh chất bao gồm hai loại prôtêin xuyên màng và prôtêin bề mặt Prôtêin xuyên màng là những loại xuyên suốt qua hai lớp phốtpho lipit của màng sinh chất, còn prôtêin bề mặt là những prôtêin chỉ bám trên bề mặt màng sinh chất, (chèn vào một lớp photpholipit) Các prôtêin có thể liên kết với các chất khác nhau như cacbohidrat và lipit để thực hiện chức năng khác nhau Chức năng của màng sinh chất phụ thuộc nhiều vào thành phần hoá học của nó, đặc biệt là các loại prôtêin của màng sinh chất Các prôtêin của màng có thể thực hiện các chức năng vận chuyển các chất, thụ thể thu nhận thông tin, các dấu chuẩn để các tế bào nhận biết ra nhau, các prôtêin làm nhiệm vụ ghép nối tế bào thành các mô, các enzim…

GV cần giải thích cho học sinh hiểu rõ do đặc điểm cấu trúc của màng sinh chất nên nó chỉ cho một số chất nhất định ra vào tế bào Do vậy, người ta nói rằng màng sinh chất có tính bán thấm hay có tính thấm chọn lọc Nhờ có tính bán thấm nên màng sinh chất bảo vệ được tế bào khỏi sự tác động của các chất độc hại

Trang 24

5 Tài liệu tham khảo

- “Tính linh hoạt của màng đặc biệt là tính linh hoạt của các Prôtêin màng được kiểm soát bởi các nhân tố bên trong và bên ngoài

- Ví dụ: Lectin kích thích sự hợp nhóm của các glicôprôtêin màng - Lectin không xâm nhập vào tế bào nhưng chúng kích thích sự xâm nhập của một số chất vào tế bào và khởi động sự tăng trưởng của tế bào, thông qua các Prôtêin màng

Trang 25

- Sự kiểm soát tính linh hoạt của màng, tuỳ thuộc vào hệ thống bộ xương tế bào gồm các vi ống và vi sợi nằm sát màng liên kết với màng qua Prôtêin rìa trong của màng” [7 tr, 28]

Bài 11: Vận chuyển các chất QUA màng sinh chất

1 Vị trí của bài trong chương

Bài 11 vận chuyển các chất qua màng sinh chất Là bài cuối cùng của chương II - Cấu trúc của tế bào, để chuyển qua bài 12 thực hành Là bài rất quan trọng vì kiến thức của bài này còn được sử dụng đến nhiều ở các bài sau, thậm chí ở các lớp sau

Khái niệm thẩm thấu dùng để chỉ sự khuếch tán của nước qua màng

từ nơi có nồng độ phân tử nước tự do cao đến nơi có nồng độ phân tử nước

tự do thấp

Trang 26

Sự khuếch tán của các chất qua màng sinh chất có thể thực hiện dưới dạng:

- Khuếch tán trực tiếp qua lớp phôtpholipit kép

- Khuếch tán qua kênh Prôtêin xuyên màng

- Khuếch tán qua kênh Prôtêin đặc biệt (gọi là thẩm thấu)

Về phương thức vận chuyển chủ động: cần cho HS thấy vận chuyển thụ

động tiêu tốn năng lượng đó là cái giá mà tế bào phải trả để có thể đưa vào tế bào những chất cần thiết hoặc loại những chất độc hại ra bên ngoài

Vận chuyển chủ động tiêu tốn rất nhiều ATP,vì vậy tế bào cần vận chuyển các chất bằng phương thức vận chuyển chủ động thì phải tăng cường hô hấp tế bào

Về hình thức nhập bào, xuất bào: Cần cho HS hiểu nhập bào và xuất bào thực chất không phải sự vận chuyển các chất trực tiếp qua màng sinh chất như kiểu vận chuyển thụ động và vận chuyển chủ động Mà đây là cách tế bào

đưa thức ăn cũng như các chất thải ra và vào tế bào bằng cách biến dạng màng sinh chất

3 Thành phần kiến thức

3.1 Các thành phần kiến thức

I - Vận chuyển thụ động

1 Khái niệm

2 Các kiểu vận chuyển qua màng

- Khuếch tán trực tiếp qua lớp phôtpholipit kép

- Khuếch tán qua kênh Prôtêin xuyên màng

- Khuếch tán qua kênh Prôtêin đặc biệt (gọi là thẩm thấu)

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ khuếch tán của màng

* Một số loại môi trường

II - Vận chuyển chủ động

1 Khái niệm

Trang 27

5 Tài liệu tham khảo

- “Tốc độ khuếch tán lệ thuộc vào nhiệt độ kích thước và các tính chất hoá lí của chất tan như: Tính ưa mỡ, tính phân cực vào gradien nồng độ (độ chênh lệch của nồng độ bên trong và bên ngoài tế bào) Do màng nguyên sinh chứa phôtpholipit nên tính tan trong lipit có ý nghĩa quan trọng đối với tốc độ hấp thu nhiều chất hữu cơ Chẳng hạn tốc độ chui vào tế bào đồng biến với tốc

độ tan trong lipit theo chiều giảm dần của dãy sau: Rượu, mêtenol, ete etylglyxerin, ertritol” [8 tr, 385]

- “Sự xuất bào (excytosis) là hiện tượng tạo thành các bóng xuất bào (exosom) trong tế bào chất từ mạng lưới nội sinh chất và phức hệ gôngi Bóng xuất bào được bao bọc bởi màng và chứa các chất tiết (nội tiết và ngoại tiết) như các chất Mucigen, zimogei, và các hoocmôn… hoặc các chất thừa mà tế bào không dùng đến cần phải xuất ra khỏi tế bào”.[7 tr, 37]

Trang 28

2 2 Thiết kế bài giảng Phần hai: Sinh học tế bào

Chương II: Cấu trúc của tế bào

Bài 7: Tế bào nhân sơ

I.Mục tiêu bài học

1 Kiến thức:

Sau khi học xong bài này, HS cần:

- Nêu được đặc điểm của tế bào nhân sơ

- Giải thích được tế bào nhân sơ với kích thước nhỏ sẽ được lợi thế gì

- Trình bày được cấu trúc và chức năng của các bộ phận cấu tạo nên tế bào vi khuẩn

2.Phát triển

Rèn luyện một số kỹ năng:

- Quan sát hình nhận biết kiến thức

- Phân tích, so sánh, khái quát hoá

3 Giáo dục

- Giáo dục lòng say mê khoa học và yêu mến môn sinh học

- Hình thành niềm tin vào khả năng khám phá thế giới sinh vật của con người

Trang 29

III - Hoạt động dạy - học:

1 ổn định tổ chức

2 Kiểm tra bài cũ

Câu 1: Phân biệt phân tử ADN và ARN về cấu trúc và chức năng?

Câu 2: Trình bày cấu trúc không gian của phân tử ADN?

Câu 3: Trình bày cấu trúc và chức năng của từng loại ARN?

3 Bài mới

Đặt vấn đề: Tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên mọi cơ thể sinh vật Thế giới sống được cấu tạo từ hai loại tế bào Tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực Vậy tế bào nhân sơ có đặc điểm và cấu tạo như thế nào chúng ta tìm hiểu bài hôm nay

Chương II: Cấu trúc của tế bào

GV: Hãy cho biết tế bào nhân sơ

có đặc điểm gì về cấu tạo?

Trang 30

GV: Làm thí nghiệm (Chuẩn bị

sẵn)

- Khoai tây gọi vỏ, cắt khối lập

phương có cạnh 1,2,3 cm đã ngâm

vào dung dịch iốt

- Tiếp tục cắt các khối khoai tây

thành 4 phần bằng nhau

HS: Quan sát diện tích khoai tây bị

bắt màu

GV: Cùng một cm3 khoai tây diện

tích nhuộm màu sẽ sai khác nhau

như thế nào giữa khối khoai to và

- Được kính nhỏ 1 - 5 m (nhỏ bằng 1/10 tế bào nhân thực)

Trang 31

GV: Chính xác hoá

GV: (Lấy ví dụ)

- Tế bào vi khuẩn khoảng 30 phút

lại phân chia 1 lần

- Tế bào người trong môi trường

nuôi cấy ngoài cơ thể mất 24 giờ

GV: Vậy tế bào nhân sơ có cấu tạo

tế bào như thế nào ? II

GV: Treo tranh vẽ hình 7.2 SGK

giới hạn thành phần cấu tạo tế bào

nhân sơ.Yêu cầu HS quan sát tranh,

đọc thông tin SGK

HS: quan sát tranh, đọc thông tin

SGK

* Tế bào nhân sơ có kích thước nhỏ có lợi:

- Do tỷ lệ giữa diện tích bề mặt tế bào trên thể tích của tế bào lớn (S/V lớn) Nên tế bào trao đổi chất với môi trường nhanh

- Tế bào sinh trưởng nhanh

- Khả năng phân chia nhanh, số lượng tế bào tăng nhanh

II Cấu tạo tế bào nhân sơ

Gồm 3 thành phần chính

1 Thành tế bào, màng sinh chất, lông

và roi

Trang 32

GV: Thành tế bào có cấu tạo như

thế nào ?

HS:

GV: Chính xác hoá

GV: Treo bảng một số tính chất

khác biệt giữa vi khuẩn gram dương

và vi khuẩn gram âm , giảng giải

+ Phương pháp nhuộm gram

+ Một số tính chất có liên quan đến

hoạt động và cách diệt vi khuẩn

GV: Tại sao cùng là vi khuẩn

nhưng phải sử dụng những loại

thuốc kháng sinh khác nhau?

- Thành phần hoá học cấu tạo nên thành

tế bào là Peptiđôglican (Cấu tạo từ chuỗi cacbonhiđrat liên kết với nhau bằng các đoạn Polipeptit ngắn)

- Vai trò: Quy định hình dạng tế bào

- Vi khuẩn chia làm hai loại

Trang 33

GV: Lưu ý

GV: Màng sinh chất ở tế bào nhân

thực và tế bào nhân sơ khác nhau và

khác nhau giữa các loài

Yêu HS sinh nghiên cứu thông tin

SGK trang 33

HS: Nghiên cứu thông tin SGK

GV: Màng sinh chất có đặc điểm

GV: Nghiên cứu thông tin SGK

trang 33 Em hãy cho biết lông và

Ngày đăng: 28/06/2020, 13:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo – Nguyễn Đức Thành (2003), Lí luận dạy học sinh học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Bộ Giáo dục & Đào tạo- Phục vụ giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: Bộ Giáo dục & Đào tạo- Phục vụ giáo viên
Năm: 1995
9. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn sinh học (2006), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn sinh học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
10. W.D.PHILLIP – J.J.CHIN TON (2003), Sinh học tập I, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học tập I
Tác giả: W.D.PHILLIP, J.J.CHIN TON
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
3. Hoàng Đức Cự (2001), Sinh học đại cương – Tập I, NXBĐHQG Hà Nội Khác
4. Nguyễn Thành Đạt (2006), SGK – Sinh học 10 – Ban cơ bản, NXB Giáo dôc Khác
5. Nguyễn Thành Đạt (2006), Sinh học 10 –Sách giáo viên - Ban cơ bản, NXB Giáo dục – Bộ Giáo dục & Đào tạo Khác
6. Trần Bá Hoành (1998), Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, NXB Giáo dôc Khác
7. Nguyễn Như Hiền ( 2002), Tế bào học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
8. Phan Cự Nhân (2004), Sinh học đại cương – Tập 1, NXB Đại học Sư phạm Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w