1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ẢNH HƢỞNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TÍN NGƢỠNG NGƢỜI HMƠNG Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

105 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài: “Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống tín ngưỡng người Hmông ở miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay”, là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

======================

LÊ THỊ NGA

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG NGƯỜI HMÔNG

Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tôn giáo học

Mã số: 60.22.03.09

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Kim Oanh

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài: “Ảnh

hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống tín ngưỡng người Hmông ở miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay”, là công trình nghiên cứu của cá

nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trần Thị Kim Oanh

Các số liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Thị Nga

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn với đề tài “Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến đời sống tín

ngưỡng người Hmông ở miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay” được hoàn

thành tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Để hoàn thành được Luận văn, bên cạnh những cố gắng của bản thân, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể Trước tiên, với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới PGS TS Phạm Thị Kim Oanh, cô đã nhiệt tình hướng dẫn khoa học cho tác

giả để Luận văn được hoàn thành

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Triết học, các thầy

cô trong bộ môn Tôn giáo học và các thầy cô công tác ở các đơn vị ngoài trường, các cán bộ, công chức của các phòng, ban, thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã hết sức giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu tại khoa, trường

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn thạc sỹ của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả Luận văn

Lê Thị Nga

Trang 5

KÝ HIỆU CÁC SÁCH KINH THÁNH CỦA ĐẠO TIN LÀNH

(Xếp theo thứ tự A, B, C trong tiếng Việt) Viết tắt Tên sách Viết tắt Tên sách

Trang 6

Giô Giô-ên 2Tê 2Tê-sa-lô-ni-ca

Trang 7

CÁCH TRÍCH DẪN TRONG LUẬN VĂN

Trích dẫn Kinh Thánh:

Sử dụng ký hiệu chung của Kitô giáo toàn cầu là để trong dấu ngoặc đơn ( ) lần lượt hiển thị: Tên sách viết tắt, số thứ tự đoạn, số câu, đặt trước ngoặc vuông [ ] theo quy định chung của Bộ giáo dục và Đào tạo, lần lượt hiển thị: số tài liệu tham khảo, số trang của tài liệu Ví dụ:

(Mt 19:24), [15, 1356] = Tin Mừng Mát-thêu, đoạn 19, câu 24, tài liệu tham khảo

Trang 8

M C C

MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 9 CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO TIN ÀNH VÀ ĐỜI SỐNG TÍN

NGƯỠNG CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 9

1.1 Khái quát chung về đạo Tin Lành 9 1.2 Đời sống tín ngưỡng của người Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay 30

CHƯƠNG II ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA ĐẠO TIN ÀNH ĐẾN ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG NGƯỜI HMÔNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 42

2.1 Ảnh hưởng tích cực của đạo Tin Lành đến đời sống tín ngưỡng người Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay 42 2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của đạo Tin Lành đến đời sống tín ngưỡng người Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay 58

CHƯƠNG III XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO TIN ÀNH ĐẾN ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG NGƯỜI HMÔNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 70

3.1 Xu hướng vận động của đạo Tin Lành ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay 70 3.2 Một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo Tin Lành đến tín ngưỡng người Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay 75

KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, do con người sáng tạo ra và sau đó lại tác động mạnh trở lại đối với xã hội loài người Hiện nay, tôn giáo đang nổi lên như là một vấn đề mang tính toàn cầu, được mọi nhà nước, mọi quốc gia cùng các giới chính trị, văn hóa quan tâm sâu sắc

Đạo Tin Lành ra đời ở Châu Âu vào thế kỷ thứ XVI là kết quả của sự phân hóa lần thứ hai trong Kitô giáo (lúc này là Công giáo) Tin Lành chủ trương phản đối một số tục lệ, truyền thống hoặc cấu trúc của nhà thờ Công giáo La Mã Sự xuất hiện của đạo Tin lành gắn liền với sự xuất hiện của giai cấp tư sản Tây phương và được coi như hệ tư tưởng mới của giai cấp

tư sản nhằm đối chọi với Công giáo – là bệ đỡ tư tưởng của chế độ phong kiến thời bấy giờ Tin Lành là một tôn giáo đặc biệt đa dạng và phức tạp với hàng trăm giáo hội, giáo phái, tổ chức theo các xu hướng khác nhau, hoạt động truyền giáo rất năng động và tích cực trên quy mô lớn

Đạo Tin Lành bắt đầu du nhập và phát triển ở Việt Nam từ đầu thế

kỷ XX Khi đó Việt Nam đang ở thời kỳ bị Pháp đô hộ và do nhiều lý do đạo Tin Lành phát triển còn chậm chạp Chỉ đến thời kỳ Mỹ xâm lược miền Nam, đạo Tin Lành mới có môi trường thuận lợi để phát triển Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất, do có một số chức sắc của đạo Tin Lành, nhất là ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, tham gia lực lượng phản động FULRO chống phá cách mạng nên đạo Tin Lành ở miền Nam bị hạn chế phát triển Thời gian gần đây, đạo Tin Lành phát triển trở lại trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở một số tỉnh miền núi Phía Bắc nước ta, đặc biệt là trong đồng bào dân tộc Hmông

Đạo Tin Lành truyền bá và phát triển trong cộng đồng người Hmông

ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta tính đến nay đã được 28 năm (tính từ năm 1986), từ chỗ hầu như không có, đến nay số lượng người Hmông theo

Trang 10

đạo Tin Lành đã lên tới hơn 170.000 người [30; tr 22] Sự phát triển với tốc

độ bất thường của Tin Lành đã gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống

xã hội, từ kinh tế, chính trị, tư tưởng, an ninh trật tự, văn hóa truyền thống

và đặc biệt là đến tín ngưỡng của người Hmông, làm thay đổi rất lớn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc này

Trước thực trạng đạo Tin Lành có sự phát triển đột biến và bất thường như vậy trong đồng bào Hmông nói riêng và ở các nước nói chung, ngày 04/02/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 01/2005/CT TTg về Một số công tác đối với đạo Tin Lành, chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề đạo Tin Lành ở nước ta

Như vậy, tìm hiểu về vấn đề xã hội – tín ngưỡng đặc biệt này với những tác động đa chiều phức tạp của nó để rút ra những bài học cần thiết nhằm ngăn chặn sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch là một nhiệm

vụ mang tính khoa học và thực tiễn cấp bách, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập văn hoá, sự du nhập của nhiều phong trào, tổ chức tôn giáo từ bên ngoài vào Việt Nam hiện nay

Vì lý do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của đạo Tin

Lành đối với đời sống tín ngưỡng người Hmông ở miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam, nếu như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo do lịch sử du nhập lâu đời và có ảnh hưởng văn hóa sâu đậm đã được nghiên cứu khá toàn diện và quy mô thì ngược lại, đối với Kitô giáo nói chung và đạo Tin Lành nói riêng thì còn là mảng đề tài mới mẻ và mang tính thời sự Tin Lành là một tôn giáo du nhập vào khá muộn Vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, lúc ban đầu, Tin Lành chưa thực sự được chú ý nhiều, mãi sau đó, sự truyền bá và phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của Tin Lành ở các vùng

Trang 11

dân tộc thiểu số mới thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Có thể kể đến một tác giả và tác phẩm tiêu biểu về vấn đề này như:

Tác giả Nguyễn Thanh Xuân với các cuốn sách “Một số tôn giáo ở

Việt Nam” [69], “Đạo Tin Lành ở Việt Nam” [68], là một trong số ít những

tác phẩm tiêu biểu nghiên cứu về đạo Tin Lành Trong các sách này, tác giả

đã trình bày một cách tương đối khái quát và cơ bản: từ bối cảnh ra đời, vai trò của những cá nhân tiêu biểu, giáo lý, luật lệ, lễ nghi, tổ chức, các hệ phái cho đến Tin Lành ở Việt Nam

Tác giả Nguyễn Hồng Dương với cuốn “Kitô giáo ở Hà Nội” [10]

đã trình bày cụ thể quá trình truyền bá và phát triển của Kitô giáo (gồm Công giáo và Tin Lành) ở Hà Nội từ thời điểm đầu du nhập đến nay Đặc biệt quan tâm đến nghi lễ và lối sống của cộng đồng Tin Lành tại Hà Nội

Jean Bauberót có cuốn “Lịch sử đạo Tin Lành” [5], được Trần Sa

dịch sang tiếng Việt được coi là tác phẩm quan trọng trong các nghiên cứu

về đạo Tin Lành Trong tác phẩm này, quá trình hình thành, ổn định và phát triển cho đến ngày nay của đạo Tin Lành được trình bày một cách hệ thống rõ ràng Tuy nhiên tác phẩm chưa đi sâu nghiên cứu giáo lý của đạo

mà chỉ tập trung vào phần lịch sử hình thành và phát triển

Đặc biệt, trong những năm trở lại đây cũng có một số công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành, điển hình như:

Tác giả Phạm Gia Thoan với tác phẩm “Đạo Tin Lành – Tri thức cơ

bản” [52]

Tác giả Đỗ Quang Hưng với công trình: “Đạo Tin Lành ở Việt Nam

Nguồn gốc, những đặc điểm thần học và đời sống tôn giáo”[26] là một

trong số những tác phẩm tiêu biểu của ông về đạo Tin Lành ở Việt Nam

Riêng về vấn đề văn hóa và tín ngưỡng của người Hmông lại có khá nhiều sách chuyên khảo Có thể kể đến một số như:

Trang 12

“Văn hóa Hmông”[45] của tác giả Trần Hữu Sơn đã trình bày một

cách khái quát các đặc điểm lịch sử tộc người, kinh tế xã hội, văn hóa và tôn giáo của người Hmông

“Văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt Nam truyền thống và hiện tại” [43] của tác giả Vương Duy Quang trình bày khái quát về người

Hmông ở Việt Nam, văn hóa tâm linh truyền thống của người Hmông ở Việt Nam, chỉ ra những biến đổi trong văn hóa tâm linh của họ và đưa ra một vài nhận xét

Riêng về ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với văn hóa nói chung và tín ngưỡng, tôn giáo của người Hmông nói riêng thì có bài viết của tác giả

Nguyễn Xuân Hùng, “Tìm hiểu hệ quả của việc truyền đạo Tin Lành đối

với văn hóa tuyền thống và tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam” [22], “Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của đạo Tin Lành với văn hóa truyền thống ở vùng đồng bào Hmông huyện Bắc Hà”[4] của tác giả Vi Hoàng Bắc, “Xu hướng biến động của đạo Tin Lành vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay”[12]

của Hoàng Minh Đô, “Giải pháp đối với đạo Tin Lành vùng núi phía Bắc

nước ta hiện nay” [48]của Ngô Hữu Thảo…

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn về đạo Tin Lành và ảnh hưởng của nó đến một số lĩnh vực đời sống xã hội trong đó có đề cập qua đến ảnh hưởng đối với tín ngưỡng người Hmông

như: “Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống đồng bào dân tộc

Hmông ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” [30] luận văn của

Nguyễn Thị Thùy Linh; “Vấn đề đạo Tin Lành trong đồng bào dân tộc

Hmông, Dao ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” [14] luận án của

Nguyễn Khắc Đức; “Ảnh hưởng của đạo Tin Lành trong đời sống đồng bào

các dân tộc ít người ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” [37] luận văn của Cao Nguyên; “Tư tưởng nhân học xã hội trong Kinh Thánh” [39] luận văn của Nguyễn Công Oánh

Trang 13

Tuy nhiên, các công trình này đều thiên về hướng nghiên cứu khái quát đạo Tin Lành, đạo Tin Lành ở Việt Nam, văn hóa tín ngưỡng của người Hmông, hoặc quá trình truyền đạo, ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội người Hmông chứ chưa đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với tín ngưỡng truyền thống của người Hmông tại một số tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, tác giả luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu về ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống tín ngưỡng người Hmông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích

Đề tài tập trung nghiên cứu chỉ ra được ảnh hưởng của đạo Tin lành đối với đời sống tín ngưỡng của người Hmông ở các tỉnh miền núi Phía Bắc nước ta Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp cở bản nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của đạo Tin Lành đối với đời sống tín ngưỡng của đồng bào nơi đây

- Nhiệm vụ

Khái quát chung về đạo Tin Lành, quá trình truyền bá và phát triển đạo Tin Lành ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, điều kiện kinh tế, xã hội và hệ thống tín ngưỡng truyền thống của người Hmông ở 03 tỉnh: Hà Giang, Điện Biên và Lai Châu

Làm rõ những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo Tin Lành đến đời sống tín ngưỡng của người Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc

Trên cơ sở xu hướng vận động của đạo Tin Lành đưa ra được một số giải pháp cơ bản để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của đạo Tin Lành đến đời sống tín ngưỡng của đồng bào Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay

Trang 14

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo

- Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, một số phương pháp nghiên cứu của các khoa học chuyên ngành và liên ngành như: tôn giáo học, sử học, văn hóa học cụ thể là: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, lịch sử-logic, phỏng vấn, đọc và diễn giải kinh điển…

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống tín ngưỡng của người Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống tín ngưỡng của người Hmông 3 tỉnh: Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn trình bày tương đối rõ ràng về sự ra đời, giáo lý cơ bản cũng như quá trình truyền bá của đạo Tin Lành vào một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, khái quát chung về hệ thống tín ngưỡng truyền thống của người Hmông từ đó chỉ ra ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến đời sống tín ngưỡng của họ Trên cơ sở xu hướng vận động của đạo Tin Lành đưa ra một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nó đến đời sống tín ngưỡng người Hmông ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Trang 15

Đề tài nghiên cứu có thể làm tư liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu về đạo Tin Lành nói chung, đời sống tín ngưỡng của người Hmông và

sự ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống tín ngưỡng của người Hmông

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề tôn giáo học nói chung và đạo Tin Lành nói riêng

Góp phần làm phong phú thêm hệ thống tài liệu tham khảo cho một

số ban ngành làm công tác quản lý tôn giáo cũng như hoạch định chính sách tôn giáo trong những năm tới đây

8 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 6 tiết

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO TIN LÀNH VÀ ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI

PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Khái quát chung về đạo Tin Lành

1.1.1 Sự hình thành và giáo lý, lễ nghi cơ bản của đạo Tin Lành

xã hội đó là sự cân bằng quyền lực của Giáo hội và Nhà nước thế tục Các thế lực phong kiến muốn được thần dân tuân phục phải nhờ đến giáo quyền hậu thuẫn, và giáo quyền muốn có thế lực phải dựa và sự ủng hộ của thế quyền Nói cách khác, giai cấp phong kiến đã sử dụng Công giáo làm bệ đỡ

tư tưởng cho sự thống trị của mình đối với xã hội Ngược lại, Giáo hội Công giáo đã phong kiến hóa, chính trị hóa tôn giáo của mình và quan hệ chặt chẽ với thế lực phong kiến Với tư cách một lực lượng tiến bộ trong xã hội, giai cấp tư sản đương nhiên muốn loại bỏ quyền lực của giai cấp phong kiến, đồng thời xóa bỏ chế độ cũ, thiết lập chế độ mới Song, muốn làm được điều đó thì trước tiên giai cấp tư sản phải có một hệ tưởng mới để đối chọi với hệ tư tưởng Công giáo đang bao bọc nhà nước phong kiến lúc bấy giờ Hệ tư tưởng đó, hay tôn giáo đó phải đáp ứng được yêu cầu của giai

Trang 17

cấp tư sản và thời đại, không tổ chức cầu kỳ, nghi lễ phức tạp, tốn kém cả

về vật chất và thời gian mà phải là một tôn giáo hiện đại, lễ nghi đơn giản,

ít tục lệ phiền toái mà lại gần gũi với đời sống con người, phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường, tư tưởng tự do, dân chủ kiểu tư sản Cải tổ Giáo hội Công giáo, quay trở về với hình bóng nguyên sơ ban đầu của Kitô giáo, đơn giản và có sự bình đẳng giữa các tín đồ đối với Thiên Chúa là cách mà giai cấp tư sản đã chọn để xây dựng tôn giáo mới của mình

Như vậy, sự xuất hiện của giai cấp tư sản ở Châu Âu thế kỷ XVI và cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản với các thế lực phong kiến là một trong những tiền đề cho sự ra đời của đạo Tin Lành

Thứ hai, sự bế tắc của nền thần học kinh viện và sự tha hóa của Giáo hội Công giáo La Mã

Nền Thần học Kinh viện được coi là cơ sở quyền lực của Giáo hội Công giáo ở Châu Âu thời kỳ Trung cổ, được hình thành vào khoảng thế kỷ XI

và phát triển mạnh mẽ trong khoảng thế kỷ XIII – XIV Thần học Kinh viện là chỗ dựa vững chắc của giáo thuyết và giáo quyền, đề cao quyền lực của Giáo hội và đặc biệt là quyền lực của Giáo Hoàng: “Giáo hội Công giáo tồn tại như một lực lượng siêu phàm đứng trên thế quyền, chi phối thế quyền Giáo Hoàng ở vị trí tột đỉnh về quyền lực, cả về thần quyền và thế quyền, Giáo Hoàng có quyền ban vương miện cho người này hoặc đổi lại cho người kia nếu họ thuần phục Giáo hội” [67; tr 26] Nhưng tới cuối thế

kỷ XV, trước những luồng gió mới của phong trào phục hưng văn hóa, tư tưởng duy vật tiến bộ, đề cao những giá trị nhân văn, nền Thần học Kinh viện bị suy thoái và bế tắc do chỉ tập trung vào những lý thuyết của xã hội

cũ để lại, tách rời khỏi sự vận động thực tiễn của xã hội đương thời Nền Thần học Kinh viện đã trở nên lỗi thời so với luồng phục hưng văn hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng được sự vận động mới của xã hội

Trang 18

Bên cạnh sự bế tác của nền Thần học Kinh viện là sự tha hóa của hàng Giáo phẩm Công giáo đòi hỏi phải tiến hành cuộc cải cách tôn giáo Các nhân vật được xem là đại diện cho Chúa Trời thực hiện những nghi lễ mang tính thiêng liêng nay không còn nữa, họ mải mê vơ vét của cải của con chiên để làm giàu cho bản thân, ăn chơi sa đọa, đạo đức bị xuống cấp nghiêm trọng Đặc biệt dưới thời Giáo hoàng Leon X (1513 -1521), cả Giáo Hoàng và hàng Giáo phẩm sống xa hoa, trần tục, lợi dụng danh nghĩa thánh thần nhằm mục đích kinh tế Năm 1511, Giáo Hoàng Leon X ra lệnh ban “ơn toàn xá” cho những ai dâng cúng tiền cho Giáo hội với việc bán

“bùa xá tội”, cùng lời truyền ai mua nhiều sẽ được xóa mọi tội lỗi, dù tội đang phạm, đã phạm hay chưa phạm và khi chết sẽ nhanh chóng được lên thiên đường Trong lúc đó, đời sống của các tầng lớp nhân dân và các tín

đồ châu Âu rất cơ cực, thiếu thốn nên họ rất oán hận Giáo hội Việc làm sai trái của Giáo hội đã tạo ra một làm sóng phản ứng mạnh mẽ trong các tín

đồ, giáo sỹ nước Đức, nơi được mệnh danh là “con bò sữa của Giáo Hoàng” [67; tr 51] Phong trào cải cách tôn giáo dấy lên từ đây và đó chính

là một trong những tiền đề cho đạo Tin Lành ra đời

Thứ ba, sự tác động ảnh hưởng của phong trào văn hóa phục hưng

và chủ nghĩa nhân văn

Trong thời kỳ Trung cổ, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như văn hóa nói chung, văn học nghệ thuật, triết học, khoa học tự nhiên đều sự chi phối của thế lực phong kiến và Giáo hội Những tư tưởng tiến bộ của nhân loại đã đạt được ở thời kỳ Hy Lạp – La Mã cổ đại đều chịu sự chi phối của tôn giáo, chìm đắm trong “đem trường trung cổ” Mọi hoạt động của xã hội đều tập trung phục vụ cho sự phát triển của Thần học, của Giáo hội Công giáo với phương châm “Thượng Đế là tất cả” Nhiều nhà khoa học và nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đứng ra bảo vệ chân lý, chống lại Giáo hội đều bị săn đuổi, truy lung hoặc chết trên giàn hỏa thiêu

Trang 19

Bắt đầu từ thế kỷ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc trung cổ bước vào thời kỳ tan rã Giai cấp tư sản mới và tầng lớp tiểu tư sản thị dân nhận thấy cần thiết phải thay thế thiết chế văn hóa bị chi phối bởi màu sắc tôn giáo, không còn phù hợp với thực tiễn mới của xã hội Họ mong muốn xây dựng nền văn hóa mới ca ngợi sự tự do của con người, giải phóng con người Hay nói cách khác, họ muốn phục hưng văn hóa, phục hồi giá trị văn hóa đã đạt được ở thời kỳ cổ đại về tự do tư tưởng và đề cao nhân phẩm con người Văn hóa phục hưng chủ trương con người là đối tượng phản ánh của văn hóa, con người là trung tâm của vũ trụ, là một thực thể vĩ đại, con người hãy thờ phụng chính bản thân mình, chiêm ngưỡng cái đẹp của chính mình, chứ không phải là những sinh vật nhỏ bé, yếu đuối, phụ thuộc vào Thượng Đế

Như vậy, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của văn hóa phục hưng chống lại quan niệm tôn giáo thần bí, thoát khỏi ảnh hưởng của thần học và Giáo hội đã tạo môi trường và đặt cơ sở tư tưởng cho một cuộc cải cách tôn giáo, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành ở thế kỷ XVI

Thứ tư, sự ra đời của đạo Tin Lành gắn liền với vai trò của Martin Luther

Martin Luther (1483 – 1546) là người đề xướng và trở thành lãnh tụ có ảnh hưởng lớn đối với phong trào cải cách Công giáo ở Đức Ông sinh ra ở

xứ Saxon nước Đức, là người thông minh, có tư tưởng tiến bộ, là linh mục dòng Augustin, giáo sư trường đại học Wittenberg và là tiến sĩ thần học Ông có nhiều bài viết quan trọng chống lại Giáo hội Công giáo và Giáo Hoàng như: “Chín mươi lăm luận đề”, “Tặng cho quý tộc Đức”, “Cuộc lưu đày Babilon”, “Sự tự do cho tín đồ”… Đặc biệt, vào giai đoạn cuối đời, ông tập trung vào việc giải thích Kinh Thánh và dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức Việc dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức của ông là một sự cống hiến lớn cho văn hóa nước Đức

Trang 20

Những tư tưởng cơ bản của Luther phục vụ cho cuộc cải cách Công giáo, tập trung chống lại sự tha hóa, sự xuống cấp về mặt đạo đức, lối sống trần tục, hủ bại, xa hoa nơi Giáo triều của Giáo Hoàng và Giáo quyền La

Mã – nơi được xem là linh thiêng, thánh thiện Bắt đầu bằng việc công bố bài viết “Chín mươi lăm luận đề” của mình, Luther phê phán và lên án Giáo Hoàng và Giáo triều Rôma lợi dụng việc bán “Bùa xá tội” để bóc lột kinh tế của các con chiên Ông thẳng thắn phê phán Giáo Hoàng: “Nếu Giáo hoàng có thể giải cứu linh hồn người ta khỏi ngục luyện tội, cớ sao không tỏ lòng đau xót các linh hồn đáng thương hại ấy mà giải cứu hết một lượt”… “thà ông (Giáo Hoàng) trông thấy đại giáo đường thánh Pierre bị phóng hỏa ra tro bụi còn hơn xây cất nó trên xương máu của con chiên trong bầy mình” [67; tr 57] Giáo Hoàng không có quyền xóa bất kỳ tội lỗi nào, ông chỉ có quyền xóa sự trừng phạt mà ông ta dùng quyền của mình, hoặc uy quyền tôn giáo đối với con người Việc làm của Martin Luther đã được đông đảo nhân dân và tín đồ ủng hộ, tạo thêm cho ông một động lực mạnh trong công cuộc cải cách tôn giáo

Ngoài lực lượng có tư tưởng tiến bộ ủng hộ ý đồ cải cách Công giáo của ông, thì hàng Giáo phẩm cao cấp và các nhà Thần học Kinh viện lại kịch liệt phản đối, răn đe, ngăn cản Bất chấp mọi lực cản từ phía Giáo hội, ông

đã tuyên bố: “phủ nhận quyền lực của Giáo triều Rôma và Công đồng chung, chỉ công nhận có Chúa Giêsu và Kinh Thánh” [69; tr 216] Điển hình là sự kiện Giáo hoàng Leon X ban sắc lệnh phủ nhận giáo thuyết của Luther Ông phản ứng bằng việc đốt Sắc lệnh của Giáo hoàng và khẳng định: “Mọi việc đã quyết định xong, đời tôi sẽ không bao giờ làm hòa với

La Mã” [69; tr 217] Để bảo vệ sự bình an của Giáo hội Công giáo, trật tự

xã hội phong kiến, Giáo Hội tìm mọi cách kết tội Martin Luther, đốt hết các tác phẩm và đưa ông lên giàn hỏa thiêu Được sự giúp đỡ của Vương hầu

Trang 21

xứ Saxon, ông thoát chết và được đưa về lánh nạn ở Watbourg Tại đây, ông tiếp tục viết sách và dịch Kinh Thánh chống lại Giáo triều Rôma Phong trào cải cách Công giáo theo tư tưởng của Martin Luther ở nước Đức tiếp tục phát triển mạnh mẽ, buộc Hoàng đế nước Đức phải ký hòa ước Nurenberg vào năm 1532 cho đạo Tin Lành được hoạt động Từ nước Đức, Tin Lành bắt đầu lan dần sang các nước châu Âu khác như: Thụy Sĩ, Pháp, Scotland, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, Tiệp và theo chân quân đội châu Âu truyền sang khu vực Bắc Mỹ Tại đây, tư tưởng tự do của Tin Lành gặp được vùng đất mới còn hoang sơ nên phát triển nhanh chóng Rồi từ Bắc Mỹ, bằng nhiều con đường, trong đó có việc nhờ dựa vào vị thế, ảnh hưởng của Mỹ, đạo Tin Lành truyền trở lại châu

Âu và lan tỏa ra toàn thế giới, đến châu Phi, châu Mỹ và châu Á, trong đó

có Việt Nam

Giáo lý cơ bản của đạo Tin Lành

Đạo Tin Lành được tách ra từ Công giáo nên về cư bản vẫn trên cơ sở giáo lý Công giáo nhưng phủ nhận một vài tín điều của các Công đồng, bỏ hẳn cơ cấu tổ chức, cải biến lễ nghi và các hình thức sinh hoạt tôn giáo, bỏ hẳn lề luật và đường lối tu hành của hàng giáo sĩ và đặc biệt bỏ hẳn hình thức tập quyền độc tôn lãnh đạo của Giáo triều Tin lành đề cao vị trí của Kinh Thánh, coi Kinh Thánh là chuẩn mực của đức tin mà tất cả mọi người đều có thể đọc và làm theo Nó khác với quan niệm cho rằng chỉ có hàng ngũ giáo sĩ mới có quyền tiếp cận và rao giảng Kinh Thánh của đạo Công giáo Toàn bộ giáo lý của đạo Tin Lành đều được gói tron trong Kinh Thánh

Giống như Công giáo, Kinh Thánh của đạo Tin Lành cũng bao gồm hai bộ: Cựu Ước và Tân Ước Về mặt thời gian, Cựu ước chỉ thời kỳ TCN, còn Tân ước chỉ thời kỳ sau Công nguyên (SCN) – thời kỳ từ khi Chúa Giêsu

Trang 22

Kitô ra đời Bộ Cựu ước của đạo Tin lành có 39 quyền và bộ Tân ước có 27 quyển

- Sự thể hiện giáo lý của đạo Tin Lành:

Bởi vì giáo lý Tin lành đặt hoàn toàn trên nền tảng Kinh Thánh cho nên, cũng như Công giáo, Tin Lành tin vào Thiên Chúa và sự màu nhiệm của Thiên Chúa Tin rằng, Thiên Chúa có trước đời đời, có trước cả không gian

và thời gian Thiên Chúa có ba ngôi: ngôi một là Cha, ngôi hai là Con, (Giêsu Christ), ngôi ba là Thánh Thần Tuy ba ngôi nhưng cùng chung một bản thế là Thiên Chúa Ngôi Con bởi ngôi Cha mà ra, Ngôi Thánh Thần bở Ngôi Cha và Ngôi Con mà ra Ba ngôi “đồng vinh – đồng đẳng – đồng quyền” nhưng mỗi ngôi lại có chức năng, vai trò khác nhau: Ngôi Cha tạo dựng, Ngôi Con cứu chuộc, Ngôi Thánh Thần thánh hóa Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, quyền phép vạn năng, là Đấng sáng tạo và điều hành thế giới

Thiên Chúa là Đấng sáng tạo nên trời đất và muôn loài từ hư không, sáng tạo ra con người theo hình ảnh của mình Con người có hai phần linh hồn (tính thiêng liêng) và thể xác (tính phàm tục) tách biệt nhau Phần linh hồn do Chúa truyền vào và khi chết thì thể xác trở về cát bụi, còn linh hồn tồn tại vĩnh cửu Sự sáng tạo ra con người của Thiên Chúa được coi là một sản phẩm cao nhất, hoàn hảo và tuyệt mỹ Vì con người có trí khôn, có lương tâm và đạo đức nên làm chủ thế giới Con người có mối quan hệ trực tiếp với Thên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương hơn hết cả Sau này, khi con người mắc phải tội tổ tông, thì mối quan hệ trực tiếp đó không còn nữa Muốn quan hệ với Thiên Chúa, con người phải thông qua Đấng Cứu chuộc là Chúa Giêsu

Giêsu chính là Thiên Chúa sinh ra làm người gồm hai bản tính: Thiên tính và nhân tính Giêsu ở cùng cha mẹ 30 năm, đến năm 30 tuổi đi giảng đạo và thu nhận 12 môn đệ và truyền dạy giáo lý cho họ Sau khi chết, Giêsu được an táng trong mồ đá Sau ba ngày sống lại gặp lại mẹ và

Trang 23

các môn đệ, ở lại nhân thế 40 ngày rồi lên trời, hứa 10 ngày sau sẽ cho Chúa Thánh Thần xuống thánh hóa nhân loại, khai mạc Hội thánh Tin Lành cũng như Công giáo tin rằng, một ngày kia toàn thế giới sẽ bị hủy diệt, con người sẽ chết, khi đó Thiên Chúa sẽ đích thân xuống để phán xử loài người, ai tuân giữ lề luật sẽ lên Thiên đàng, ai ở ác sẽ bị đày xuống hỏa ngục Con người sẽ phải chết và sẽ sống lại với sự nghiệp của mình khi còn sống Khi trở về trời Chúa Giêsu giao cho 12 môn đệ tiếp tục sự nghiệp của mình đi giảng đạo cho mọi dân mọi nước không chỉ hạn hẹp ở Israel

Như vậy, điểm khác biệt cơ bản của đạo Tin Lành với Công giáo là học thuyết về mối liên hệ trực tiếp của Chúa với con người Theo quan niệm của các tín đồ đạo Tin Lành, Thiên huệ là do Chúa ban cho con người không thông qua Giáo hội, sự “cứu rỗi” chỉ đạt được nhờ lòng tin cá nhân của con người và nhờ ý muốn của Chúa Học thuyết này đã phá hoại địa vị đứng đầu của quyền lực Giáo hội đối với chính quyền và vai trò thống trị của Giáo hội Thiên Chúa giáo cũng như Giáo hoàng La Mã, đã giải phóng con người ra khỏi xiềng xích phong kiến và làm thức tỉnh ở họ những tình cảm về sở hữu cá nhân, những quan niệm cá nhân tư sản

Do chỉ tin vào Kinh Thánh nên đạo Tin Lành cũng phủ nhận tất cả những giáo lý mà Giáo Hội Công giáo bổ sung qua các Công đồng và những tư tưởng chứa trong các sách mà Tin Lành không thừa nhận Cụ thể là:

Người Tin Lành không tin vào tín điều Đức Mẹ Maria trọn đời đồng trinh, họ cho rằng, bà Maria chỉ là mẹ nhân tính chứ không phải là mẹ thần tính và chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu

Do không thừa nhận sách Macabê nên đạo Tin Lành không thừa nhận việc cầu nguyện cho người quá cố và không công nhận có luyện ngục để thanh luyện các linh hồn trước khi được lên Thiên Đàng Không công nhận việc cầu nguyện nhờ các Sứ đồ, các Thánh và Đức Maria cầu nguyện giúp

Trang 24

mà chỉ cầu nguyện trực tiếp với Thiên Chúa qua Đấng trung gian duy nhất

là Chúa Giêsu

Đạo Tin Lành không coi Kinh Thánh là một cuốn sách cấm đọc như Công giáo mà chủ trương phổ biến rộng rãi Kinh Thánh đến các tín đồ; không thừa nhận Giáo Hội có uy quyền tương đương với Kinh Thánh mà coi Kinh Thánh là quyền uy bậc nhất; không thừa nhận ơn “bất khả ngộ” của Giáo Hoàng như Công giáo

Luật lệ, lễ nghi và tổ chức giáo hội

- Về luật lệ: Bên cạnh giáo lý thì lề luật đạo Tin lành cũng hình thành

trên nền tảng Kinh Thánh Giáo hội Tin lành không được phép ban hành lề luật mà chỉ có các quy chế, điều lệ mà thôi Những điều cấm kỵ trong Kinh Thánh là luật pháp của Tin lành và quan trọng nhất là Luật Thập giới Luật này do Đức Chúa Trời trực tiếp trao cho Mô-sê tại núi Xi-nai trên đường từ nơi lưu đày xứ Ai Cập về đất hứa Ca-na-an

1 Thờ kính Đức Chúa trời và chỉ một mình Ngài mà thôi

2 Không được thờ lạy tà thần, không được thờ hình tượng

3 Không được kêu danh Đức Chúa Trời vào việc phàm tục tầm thường

4 Phải giữ ngày thứ bảy là ngày của Chúa để nghỉ việc mà thờ kính (Chủ nhật)

5 Phải hiếu kính cha mẹ

6 Không được giết người

7 Không được tà dâm

8 Không được trộm cướp

9 Không được chứng gian

10 Không được ham muốn vợ người, của cải người (Xuất 20: 2-17), [17, tr 76-77]

Trang 25

Mười điều răn tóm lại là Luật kính Chúa và yêu Người Các Giáo hội Tin lành cũng cụ thể hóa Luật này trong đời sống tôn giáo, nhưng mọi điều được cụ thể hóa không thể nằm ngoài Kinh Thánh

- Về lễ nghi: Tin Lành là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức

tin Các nghi lễ thờ phụng trong đạo Tin Lành là sự cụ thể hóa của giáo lý

và luật lệ Cụ thể là:

Vì đạo Tin Lành không tin bà Maria trọn đời đồng trinh nên người Tin Lành chỉ kính trọng chứ không tôn sùng thờ lạy bà như Công giáo; tin có các Thiên sứ, các Thánh Tông đồ, Thánh tử đạo và các Thánh khác nhưng cũng không sùng bái và thờ lạy họ bởi họ không có khả năng cứu rỗi Đối với người Tin Lành, Đức Chúa ba ngôi giữ một địa vị hoàn toàn độc quyền, không thừa nhận bất cư một vị thần linh nào khác, ngoài Thiên Chúa ra còn lại đều là tà thần và không cho phép các tín đồ thờ lạy

Tin Lành cũng không thờ tranh ảnh, các bức phù điêu, không hành hương đến các Thánh địa, kể cả Giê-ru-sa-lem, núi Xi-nai, đền Thánh Phê-

rô, Phao-lô Người Tin Lành không vẽ, tạc hình tượng Chúa, không bái lạy bất cứ hình tượng hay Thánh tích biểu trưng nào, không Thánh hiến bất cứ vật dụng, hình tượng, khí cụ nào dùng trong việc thờ phụng, chỉ kêu danh Đức Chúa trong cầu nguyện và hành lễ [17; tr 77] Nhà thờ Tin lành cũng

vì thế mà được xây dựng hiện đại, đơn giản, trong nhà thờ không có tượng ảnh, chỉ có cây Thập giá biểu tượng Chúa Giêsu chịu nạn Có những trường hợp, đạo Tin lành còn sử dụng những phòng họp, hội trường hay nhà của tín đồ để làm nơi nhóm họp Nó khác hẳn với nhà thờ của người Công giáo – được cho là nơi Chúa ngự một cách linh thiêng

Đạo Tin Lành cho rằng sự cứu vớt chỉ đến bởi đức tin chứ không phải từ luật lệ, lễ nghi, do vậy lễ nghi của đạo Tin Lành đơn giản, không cầu kỳ, rườm rà như đạo Công giáo Điểm rõ nhất đó là trong bảy phép bí tích của đạo Công giáo: Rửa tội, Thánh thể, Thêm sức, Giải tội, Hôn phối, Xức dầu

Trang 26

và Truyền chức thì đạo Tin lành chỉ công nhận và thực hiện phép Rửa tội (Báp-têm) và phép Thánh thể (Tiệc Thánh) Họ cho rằng, trong Kinh Thánh chỉ nhắc đến những phép ấy mà thôi Tuy nhiên, bên cạnh đó, đạo Tin lành còn thực hiện các lễ: Lễ thờ phượng (Lễ Chủ nhật, Lễ Thương khó, Lễ Phục sinh), Lễ Dâng con (dựa theo tích trong Cựu ước rằng: Abraham đã dâng con trai là Isac cho Thiên Chúa), Lễ Hôn phối và Lễ truyền chức cho giáo sĩ

Đối với hôn nhân, đạo Tin lành cũng thực hiện nghi thức cầu nguyện chúc phúc cho đôi tân hôn hợp pháp nhưng lại không mang ý nghĩa Bí tích như của Công giáo Người Tin lành cũng thực hiện gia đình một vợ một chồng, không đa thê đa phu, cấm ngoại tình, gian dâm: “Hôn nhân phải được mọi người kính trọng, loan phòng phải giữ cho tinh khiết, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục và kẻ ngoại tình” (Hê 13:4), [17; tr.1400] và không được ly dị ngoại trừ người phối ngẫu phạm giới luật Đức Chúa Trời mà không chịu thống hối, sửa chữa sau nhiều lần khuyên dụ:

“Ta nói cho các ông rõ: TRừ trường hợp vợ gian dâm, nếu ai ly dị vợ mà cưới người khác, người ấy phạm tội ngoại tình” (Mat 19:9), [17, 1133] Hình thức xưng tội của Tin Lành không tiến hành trong tòa kín với linh mục như của Công giáo mà xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa Khi xưng tội cũng như khi cầu nguyện, tín đồ Tin Lành có thể đứng giữa nhà thờ, đứng trước đám đông để sám hối, hoặc nói lên ý nguyện của mình một cách công khai

Về giáo sĩ và tổ chức Giáo hội: các giáo sĩ của đạo Tin lành có cả nam,

nữ và được phép lập gia đình, mưu cầu hạnh phúc riêng Giáo sĩ của đạo Tin lành được tuyển chọn, đào tạo khác công phu, sau thời gian học tập phải qua tập sự mới được bổ nhiệm chức truyền đạo, sau đó nếu đủ điều kiện mới phong chức mục sư Đạo Tin Lành đặc biệt đề cao chế độ dân chủ, một số hệ phái thực hiện chế độ tín đồ bầu mục sư Đây là điểm thể

Trang 27

hiện rõ tư tưởng dân chủ của đạo Tin lành trong xã hội tư sản so với Công giáo Các hoạt động của giáo sĩ chịu sự kiểm soát của các tín đồ Các giáo

sĩ của đạo Tin lành không phải là người có vai trò tuyệt đối, không có thần quyền, không có vị trí tối thượng trong đời sống tâm linh của tín đồ, không

là cầu nối trung gian giữa Thiên Chúa và tín đồ

Đạo Tin lành không lập ra tổ chức Giáo hội mang tính phổ quát cho toàn đạo mà xây dựng Giáo hội riêng rẽ, độc lập với hình thức khác nhau theo từng hệ phái, từng quốc gia Tổ chức của đạo Tin lành, giáo quyền lỏng lẻo, trao quyền tự quản, tự dưỡng cho các Hội thánh địa phương, không chặt chẽ như đạo Công giáo Thậm chí, một số hệ phái Tin lành còn cho tín đồ, giáo sĩ tự do tách khỏi hệ phái này, hay hệ phái khác hoặc tách

ra đứng độc lập Giáo hội Tin lành không cấu thành bởi các vị giáo sỹ một cách cố định như Công giáo mà cả tín đồ, giáo sỹ tham gia bầu cử một cách dân chủ Đại hội các cấp của Giáo hội (Đại hội đồng) có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thay đổi cơ cấu tổ chức nhân sự, lề lối làm việc của Giáo hội và hoạt động tôn giáo, xã hội

Tóm lại, giáo lý, luật lệ, lễ nghi, cơ cấu tổ chức Giáo hội của đạo Tin Lành chịu sự ảnh hưởng khá đậm nét của tư tưởng dân chủ tư sản, tư tưởng tiến bộ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật đã tạo điều kiện cho khuynh hướng tự do cá nhân, phù hợp với yêu cầu của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong mọi hoàn cảnh chính trị - xã hội, đạo Tin Lành luôn năng động, đơn giản và linh hoạt trong luật lệ, lễ nghi, truyền đạo nhấn mạnh yếu tố cá nhân Sự ra đời và phát triển đạo Tin Lành đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của tầng lớp tư sản, trí thức, công chức… trong xã hội

tư sản hiện đại và trong thời đại ngày nay Trước những biến đổi phức tạp của thế giới, đạo Tin lành đã trở thành một tôn giáo có tính quốc tế: “Có sắc thái mới, thu hút nhiều tầng lớp trong xã hội hiện đại, nhất là tầng lớp

Trang 28

trí thức, công chức Vì vậy, giới chủ nhà cầm quyền các nước tư bản vẫn khuyến khích, thậm chí đầu tư tư bản thêm cho các giáo phái Tin lành trở nên hùng mạnh và xuất những món hàng tôn giáo này ra phạm vi toàn cầu

1.1.2 Quá trình truyền giáo và phát triển đạo Tin Lành trong đồng bào dân tộc Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta

Quá trình truyền giáo, phát triển đạo Tin lành ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc có những bản sắc, giá trị văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng riêng Với vị trí địa lí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế giới Trong quá trình phát triển của mình, các dân tộc Việt Nam đã hình thành nên một nền văn hóa Việt Nam đã dạng, phong phú giàu bản sắc Bên cạnh các tôn giáo nội sinh như đạo Cao đài, Phật giáo Hào hảo Việt Nam còn chịu ảnh hưởng, tiếp nhận nhiều luồng văn hóa lớn như Ấn Độ và Trung Hoa, tiếp nhận nhiều tôn giáo lớn từ bên ngoài như Phật giáo, Nho giáo, Công giáo, Hồi giáo… Các tôn giáo du nhập vào Việt Nam được nhân dân Việt Nam tiếp nhận rất linh hoạt và đa dạng Các tôn giáo vào Việt Nam cũng trong các thời điểm khác nhau song nó đã khẳng định được chỗ đứng trong lòng nhân dân Việt Nam cùng tồn tại với tôn giáo, tín ngưỡng bản địa

Trang 29

Đạo Tin Lành vào Việt Nam muộn hơn so với các tôn giáo khác Khoảng thế kỉ thứ XIX, hội truyền giáo thuộc địa (Societé dÉrangélisation des Colonies) thuộc giáo hội Tin Lành cải cách Pháp đã truyền bá đạo Tin Lành vào Việt Nam Hội truyền giáo đã cử một số mục sư sang Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn để phục vụ cho binh lính và nhân viên quân đội viễn chinh Pháp và ngoài việc phục vụ cho số đối tượng trên, các mục sư cũng rất quan tâm tới việc truyền bá tôn giáo này cho nhân dân Việt Nam nhằm mục đích mở rộng nước Chúa Nhưng tổ chức tôn giáo này đã không triển khai, thực hiện được kế hoạch truyền giáo ở Việt Nam

Năm 1887 mục sư A.B Simpson, người lập Hội truyền giáo CMA (The Chirstian and Missionnarg of Alliane – Hội Liên hiệp Phúc âm và truyền giáo) khi đến truyền giáo vùng Hoa Nam (Trung Quốc) đã sang nghiên cứu tình hình ở Việt Nam Sau khi rời khỏi Việt Nam ông đã viết

trên tạp chí “Lời nói, việc làm và thế giới” (Word, work and world)

(1-1887) rằng: “Miền bán đảo Đông Dương đã bị lãng quên quá nhiều Đại vương quốc An Nam phải được chinh phạt cho Đấng Kitô Tại sao vương quốc An Nam này cùng với Tây Tạng lại không được dân sự của Đức Chúa trời xem như một trong những khu vực truyền giáo đầu tiên của cuộc tiến hành mới” [69; tr 288] Năm 1893, một cộng sự của A.B Simpon – D Leclaccheur đã đến Sài Gòn quan sát tình hình và trở về đã nhận định:

“Cánh cửa tại Việt Nam cũng như toàn xứ Đông Dương thuộc Pháp đã mở

ra cho việc giảng Tin Lành” [37; tr 25]

Năm 1897, mục sư C.H Recves từ Quảng Tây – Trung Quốc đã đến Lạng Sơn nghiên cứu tình hình nhằm cho công việc truyền giáo song không thành Đến năm 1899, mục sư R.A Jaffay từ Trung Quốc theo đường sông Hồng đã tới Hà Nội dự định thiết lập cơ sở ở đây nhưng không thực hiện được Năm 1902 hai vợ chồng mục sư Sylvain Dayan người Canada đến

Trang 30

Hải Phòng với hi vọng nhận được sự ủng hộ của người Pháp, nhưng sau một năm hai vợ chồng đã không đạt được kết quả gì

Năm 1911, các Mục sư CMA là Faffray, Hoster và Hosler đã chính thức đến truyền đạo tại Đà Nẵng và thành lập Hội Thánh Tin Lành đầu tiên Tuy nhiên, những năm đầu truyền đạo tại Việt Nam, CMA gặp hoàn cảnh không mấy thuận lợi về chính trị, văn hóa, xã hội và tư tưởng lúc bấy giờ, nhất là bị thực dân Pháp gây khó khăn, cho nên sự phát triển của đạo Tin Lành không đáng kể

Năm 1915 khi chiến tranh thế giới xảy ra, nhà cầm quyền Pháp ở Đồng Dương đã ra lệnh cấm các giáo sỹ Hội truyền giáo CMA hoạt động dưới cớ các giáo sỹ Tin Lành Mỹ làm gián điệp cho Đức Trước tình hình

đó, năm 1916 mục sư R.A Jaffay với tư cách là Phó Hội trưởng Hội truyền giáo CMA đã gặp toàn quyền Đông Dương yêu cầu cho các giáo sỹ Tin Lành được tự do truyền đạo Sau 7 năm truyền giáo, năm 1918 Hội truyền giáo CMA đã thiết lập được 16 chi hội trên cả nước Các chi hội Tin Lành lúc đó đều được cấp giấy phép hoạt động của Khâm sứ Pháp và của Chính phủ Nam triều lấy tên là “Hội Thánh Tin Lành Đông Dương Pháp” (Mission Evangelique de Lindochine Francaire – MEL) [69; tr 290]

Trong những năm 1914 – 1925 chuẩn bị cho việc truyền giáo được thuận lợi hơn các giáo sỹ Hội truyền giáo CMA đã dành nhiều thời gian dich kinh thánh và xây dựng nhà thờ Tin Lành ở Hà Nội (1921), trường Thánh kinh (1921) ở Đà Nẵng Về mặt tổ chức, trong ba năm (1924, 1925, 1926) tại Đà Nẵng Hội truyền giáo CMA đã tổ chức bồi linh hiệp nguyện

có tính chất như Đại hội đồng để giải quyết các công việc của đạo Đến năm 1927, Đại Hội đồng lần thứ IV được tổ chức và bầu ra ban trị sự đặt tên là Hội Tin Lành Việt Nam Đông Pháp, đổi thành Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Tại Đại Hội đồng lần thứ V – 1928 quyết định chia Tin Lành

Trang 31

Việt Nam thành hai hạt là Bắc – Trung hạt và Nam hạt Năm 1931 chia thành ba hạt là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ và tồn tại cho đến năm 1954 Thời kì đầu truyền đạo ở Việt Nam, Hội truyền giáo CMA đã gặp rất nhiều khó khăn, không mấy thuận lợi cả về chính trị, văn hóa, tư tưởng Nhưng với sự kiên trì các nhà truyền giáo đã đạt được những kết quả nhất định Tính đến năm 1945 đạo Tin Lành ở Việt Nam có khoảng 15.000 tín đồ với trên dưới 100 chi hội; đến năm 1954 đã lên tới khoảng 60.000 tín đồ, 154 chi hội, gần 100 mục sư truyền đạo [69; tr 292]

Sau Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền dưới hai chế độ chính trị khác nhau: Miền Bắc tiến lên Chủ nghĩa Xã hội, miền Nam bị Mỹ xâm lược và thồng trị Do đó, tình hình đạo Tin Lành ở hai miền phát triển có sự khác nhau

Quá trình truyền giáo, phát triển đạo Tin Lành trong đồng bào Hmông

ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta

Du nhập vào Việt Nam muộn, khi mà các tôn giáo khác đã có chỗ đứng vững chắc, đạo Tin Lành chú trọng truyền bá và phát triển đạo ở vùng sâu, vùng xa, những vùng dân cư còn trống vắng tôn giáo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Ở các tỉnh miền núi phía Bắc thì Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu là 3 tỉnh có điều kiện tự nhiên, kính tế khá giống nhau, lại là 3 tỉnh có người Hmông di cư đến sớm nhất, dân số người Hmông lại đông nhất cả nước Người Hmông lại có một số đặc điểm tín ngưỡng khá tương đồng với đạo Tin Lành nên đã được lựa chọn, sau đó dễ dàng du nhập và có xu hướng ngày càng phát triển trong cộng đồng dân cư này Có thể tạm chia các giai đoạn phát triển của đạo Tin Lành trong đồng bào Hmông ở 3 tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay như sau:

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1986 đến 1992

Năm 1986, Đạo Tin Lành xuất hiện ở miền núi phía Bắc nước ta dưới tên gọi “Vàng Chứ” Vì một số kẻ đã lợi dụng tâm lý xưng vua, đón

Trang 32

vua, mong ước có một ông vua dẫn dắt người Hmông đến một cuộc sống sung sướng để sáng tác ra khái niệm “Vàng Chứ” tức Vua chủ hay Vương chủ, đồng thời lồng ghép hình tượng Chúa Trời với vị vua của người Hmông nhằm lôi kéo người Hmông theo đạo Càng về sau thì nội dung của Tin Lành càng biểu hiện rõ rệt, về đối tượng tôn thờ, kinh thánh, nghi lễ của đạo Tin Lành Như vậy, về bản chất thì Vàng Chứ chính là Tin Lành

Đạo Tin Lành truyền vào đầu tiên là ở tỉnh Hà Giang, dưới hình thức gián tiếp là qua đài FEBC – một mạng lưới phát thanh quốc tế đặt trụ sở tại Philippin, hợp tác với các tổ chức Tin Lành trên thế giới nhằm truyền bá đạo Tin Lành Một số người đứng đầu địa phương đã tụ tập một bộ phận quần chúng nhân dân nghe đài Manila phát bằng tiếng Hmông để kích động đồng bào theo đạo Đến năm 1987, đạo này phát triển sang các xã vùng cao thuộc các huyện Điện Biên, Tuần Giao, Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ,… thuộc địa bàn tỉnh Lai Châu cũ [68, tr.141]

Tại bản Háng Xung, xã Phì Nhừ, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu (cũ), Hạng Chù Vá và Hạng A Di tuyên truyền Vàng Chứ xuất hiện Từ bản Háng Xung, tin này đã lan ra các xã Phì Nhừ, Nà Tấu, Mường Mươn (huyện Điện Biên) Người Hmông cũng bắt đầu được tuyên truyền phải mở đài nước ngoài nói bằng tiếng Hmông để nghe Vàng Chứ dạy Họ nghe được: “Năm 2000, Vàng Chứ sẽ xuất hiện, sẽ làm cho trái đất bằng phẳng, người Hmông không phải sống trên núi cao nữa” “Mọi người phải sẵn sàng, phải tập bay để đón Vàng Chứ”, “Vàng Chứ sẽ cho cây ngô ra bảy bắp, lúa chín tự về nhà, người Hmông không làm cũng có ăn”… Thế rồi, Vàng Chứ phát triển ồ ạt tới các huyện Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ, Tuần Giáo (Điện Biên) Đặc biệt sau trận lũ lớn, tháng 6 năm 1990, ở thị xã Lai Châu và huyện Mường Lay, các phần tử xấu đã lợi dụng tuyên truyền

đe dọa, thập chí ép buộc người dân theo Vàng Chứ Do vậy, chỉ trong một

Trang 33

thời gian ngắn, số lượng người theo Vàng Chứ ở huyện Mường Lay đã tăng nhanh đột biến

Năm 1991-1992 là những năm chuyển từ Vàng Chứ sang Công giáo

Từ năm 1991, một số người cầm đầu tuyên truyền Vàng Chứ đã tìm đến nhà thờ Công giáo ở Yên Bái và Hà Nội Số này được các linh mục củng cố đức tin, bồi dưỡng giáo lý, cấp Kinh thánh Khi trở về địa phương, họ công khai tuyên bố bỏ Vàng Chứ, đi theo Công Giáo và tuyên truyền Công giáo trong người Hmông Vì vậy, hầu hết số người Hmông theo Vàng Chứ lại chuyển sang Công Giáo Nhưng sau một thời gian, người ta phát hiện thấy Công giáo có nhiều điểm không giống với đạo đã được tuyên truyền, lại có nhiều thủ tục, lễ nghi phức tạp, vì thế những người Hmông theo Công Giáo lại chuyển sang đạo Tin Lành

Như vậy, giai đoạn đầu của việc truyền đạo Tin Lành vào các tỉnh miền núi phía Bắc này diễn ra một cách khá bất ngờ đối với cả các cấp chính quyền lẫn Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) Lợi dụng tâm lý

“xưng Vua”, “đón Vua” của người Hmông, những người truyền đạo đã xây dựng một hình ảnh Thiên Chúa là Vua của người Hmông để dễ dàng truyền đạo và thu hút tín đồ Bên cạnh đó, dưới trình độ dân trí thấp của người Hmông, những người truyền đạo cũng đồng thời lợi dụng hiện tượng thiên tai tung tin đồn thất thiệt nhằm dụ dỗ, lôi kéo, thậm chí hù dọa để đồng bào theo Vàng Chứ

Việc truyền đạo bằng cách gián tiếp không thông qua các nhà truyền giáo trong giai đoạn này đã tạo ra rất nhiều sự sai lệch về đạo Tin Lành, mang sắc thái gây rối, kích động đồng bào, tạo ra nhiều mâu thuẫn trong gia đình, dòng họ, làng bản, sản xuất bị trì trệ, xã hội bất ổn, tạo thành ấn tượng xấu đối với chính quyền, dẫn đến việc cấm đạo

Trang 34

1.2.2 Giai đoạn từ 1993 - 2004

Đây là giai đoạn đạo Tin lành phát triển “đột biến”, diễn biến phức tạp Từ năm 1993, những người Hmông truyền đạo tìm đến Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) ở số 2 ngõ Trạm, Hà Nội để tìm hiểu Hội thánh tiếp đón họ, cấp tài liệu, giảng giải về đạo Tin Lành một cách bài bản Trở

về địa phương, số người này phân phát tài liệu về đạo Tin lành cho đồng bào của mình; lập danh sách người xin theo đạo

Cho đến năm 1995, số người truyền đạo hoạt động công khai hơn, với nhiều hình thức Trong khi đó, số người theo đạo cũng dần dần được củng cố đức tin, bước đầu hình thành tổ chức, như lập Ban Chấp sự, dựng nhà nguyện trái pháp luật Tính đến tháng 8 năm 1999, số người chịu ảnh hưởng của đạo Tin Lành ở tỉnh Lai Châu là 14.000 người, tỉnh Hà Giang là 10.000 người [30; tr 19] Những năm 2000 – 2002, đạo Tin lành vẫn phát triển mạnh

Nhưng từ năm 2003, số người theo đạo Tin lành có chiều hướng giảm Song đó là giảm về số lượng, còn về niềm tin thì lại được củng cố và phát triển Rất đáng chú ý là, để hạn chế những khó khăn trong sinh hoạt tôn giáo, những người theo đạo khẳng định theo đạo Tin lành chứ không phải theo Vàng Chứ và đề nghị có nhà nguyện để sinh hoạt đạo, có chức sắc hướng dẫn, được sinh hoạt như tín đồ của các tôn giáo khác ở nước ta

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, đến năm 2004, cả nước ta có hơn 105.000 người Hmông (chiếm 13% tổng số người Hmông), ở 735/2.384 bản Hmông theo đạo Tin lành [30; tr 20]

Cùng với sự tăng nhanh của số lượng tín đồ ở giai đoạn này, đạo Tin lành cũng dần hình thành tổ chức Các điểm nhóm theo bản thực hiện cơ chế như tổ chức Hội nhánh, có một số hội nhánh còn có trưởng nhóm Từ hội nhánh tiếp tục phát triển lên thành Hội thánh cơ sở (Chi hội), lập ban

Trang 35

Chấp sự hoặc ban Hiệp nguyện Thành viên ban Chấp sự, ban Hiệp Nguyện, trưởng nhóm là người dân tộc thiểu số ở địa phương, được Hội thánh giúp đỡ, đào tạo thành những người truyền đạo tích cực

Đặc biệt trong giai đoạn này, có sự liên hệ về tổ chức với một số hệ phái Tin Lành khác nhau, có tổ chức được Nhà nước công nhận, có tổ chức chưa được Nhà nước công nhận như: Hội Thánh Liên hữu Cơ Đốc Việt Nam, Hội Thánh Báp-típ, Hội Thánh Trưởng Lão Việt Nam, Liên đoàn truyền giáo Phúc âm, Hội Thánh truyền giảng Phúc âm, Hội Thánh Phúc

âm toàn vẹn Việt Nam, Hội Thánh Tin Lành Ngũ tuần…, trong đó đa số liên hệ vớ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) Các hoạt động truyền đạo có tính tổ chức hơn và có hiện tượng ở bên ngoài can thiệp rõ ràng hơn, thông qua các tổ chức Tin Lành hoặc phi chính phủ của Tin Lành [19; tr 3]

Như vậy, sự phát triển của đạo Tin lành trong thời gian này đã có sự can thiệp trực tiếp hơn từ Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) trở nên

có quy củ và trật tự hơn, niềm tin tôn giáo cũng được củng cố hơn Tuy nhiên, niềm tin vào Chúa Trời càng vững chắc thì càng dễ tạo ra mâu thuẫn giữa những người theo đạo và không theo đạo, đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cần được giải quyết Nhiều địa phương vẫn lựa chọn biện pháp cấm đạo Tin Lành

1.2.2 Giai đoạn từ 2005 đến nay

Ngày 4/2/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chị thị số: 01/2005/CT-TTg, Về một số công tác đối với đạo Tin lành Từ đó, đạo Tin lành trong dân tộc Hmông diễn biến theo xu hướng ổn định, số người theo đạo Tin lành gia tăng tại một số tỉnh miền núi phía bắc, nhưng tỷ lệ không quá lớn để gây nên những căng thẳng, phức tạp ở địa phương này

Năm 2005, theo Ban Tôn giáo Chính phủ, số người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc là 101.889 người, gồm các dân tộc Hmông, Dao, Thái, Pà Thẻn, La Hủ… ở 927 bản Trong đó, người

Trang 36

Hmông theo đạo Tin Lành ở Điện Biên là 23.205 người, ở Hà Giang là 12.556 người, ở Lai Châu là 11.307 người Như vậy, so với thời kỳ đầu phát triển đạo, số lượng người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã tăng rất đáng kể về số lượng, thành phần dân tộc và địa bàn ảnh hưởng Đến năm 2012, người Hmông theo đạo Tin Lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã tăng lên đến 170.000 người trong đó ở Điện Biên là 36.000 người, ở Lai Châu là 35.000 người và ở Hà Giang là 25.000 người [30; tr 22]

Ngoài ra, nếu theo số liệu của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) thì đạo Tin Lành ở Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang trong 03 năm gần đây cũng có sự phát triển tương đối ổn định

Tỉnh Điểm

nhóm Tín hữu

Truyền đạo Nhân sự

Trưởng nhóm Mục sư Năm 2012

Điện Biên 171 30.893 6 25 171

Lai Châu 146 24.846 5 24 146

Năm 2013 Điện Biên 176 29.129 13 25 176

Bảng 1 Thống kê số lượng tín đồ theo đạo Tin Lành thuộc Hội Thánh Tin

lành Việt Nam (miền Bắc) trong 3 năm gần đây [19; tr 3-5]

Trang 37

Nhìn chung thì trong ba gần đây, số lượng tín đồ, số điểm nhóm, số người truyền đạo, số nhân sự và số trường nhóm của 3 tỉnh Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu có sự tăng nhẹ, chức mục sư cũng đã được đào tạo và bổ nhiệm Điều này chứng tỏ sự quan tâm của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) đến sự truyền bá và phát triển đạo ở các tỉnh này

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn đạo Tin Lành đã xâm nhập và phát triển mạnh trong vùng đồng bào dân tộc Hmông ở Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội

Trước tình hình đó, khi thực hiện theo chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, chính quyền các địa phương đã có nhận thức đúng đắn hơn về việc giải quyết vấn đề đạo Tin Lành, hướng dẫn đồng bào theo đạo thực hiện sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, tạo điều kiện cho những người theo đạo đăng ký điểm nhóm sinh hoạt, từ đó quản lý một cách sát sao có hiệu quả hơn Đến thời điểm này, nhìn chung đạo Tin Lành đã phát triển theo hướng công khai, hoạt động có nề nếp, trật tự, những ảnh hưởng tiêu cực đang giảm dần

1.2 Đời sống tín ngưỡng của người Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay

1.2.1 Đời sống kinh tế, xã hội của người Hmông ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta

Ba tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên là các tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc nước ta, có diện tích tự nhiên rộng lớn Hà Giang phía Đông giáo Cao Bằng, phía Tây giáp Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp Tuyên Quang, phía Bắc Giáp Vân Nam và Quảng Tây – Trung Quốc; Điện Biên – vốn là một huyện thuộc Lai Châu cũ, năm 2003 mới được tách ra thành một tỉnh độc lập – giáp với Lai Châu và Sơn La của Việt Nam, phía Bắc giáp với Vân Nam của Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp Phongsaly và

Trang 38

Luangprabang của Lào; Lai Châu phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáo Điện Biên, phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, phía Đông Nam giáp tỉnh Yên Bái và phía Nam giáp tỉnh Sơn La Đường biên giới giáp với Trung Quốc và Lào dài là điều kiện tiện quyết để người Hmông từ Vân Nam thiên di sang, vẫn giữ được mối liên hệ sâu sắc với người Hmông ở Lào và Trung Quốc Ba tỉnh này cũng là nơi có số lượng người Hmông đông nhất cả nước

Theo số liệu điều tra dân số năm 1999, người Hmông ở Việt Nam có khoảng 800.000 người và năm 2009 có 1.068.189 người, đứng thứ 8 trong tổng số các dân tộc nước ta, có mặt ở 62 tỉnh thành trong cả nước nhưng cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên Trong

đó, người Hmông ở Hà Giang có 231.464 người (chiếm 31.9% dân số toàn tỉnh), ở Điện Biên có 170.648 người (chiếm 34.8% dân số toàn tỉnh), ở Lai Châu có 83.324 người (chiếm 22.5% dân số toàn tỉnh) Người Hmông phân chia thành 4 nhóm: Hmông Hoa (Hmông Lềnh), Hmông Đen (Hmông Dú), Hmông Xanh (Hmông Chúa), Hmông Trắng (Hmông Đu) [72]

Người Hmông di cư vào phía Bắc Việt Nam khá muộn so với các dân tộc khác, cách đây khoảng 300 năm, bằng nhiều đợt với các quy mô lớn nhỏ Hà Giang, Lai Châu và Điện Biên là nơi người Hmông đặt chân đến trước nhất Sự di cư khá muộn của người Hmông vào Việt Nam là một yếu

tố khiến dân tộc này phải cư trú trên các dải núi cao, ở các vùng địa hình bị chia cắt mạnh, núi non hiểm trở, có độ cao từ 800-1000m so với mặt nước biển

Về kinh tế

Người Hmông ở 3 tỉnh: Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu có điều kiện tự nhiên gần giống nhau nên về kinh tế cũng tương tự nhau Người Hmông sống gắn bó với rừng và đất rừng mặc dù họ có nguồn gốc là cư dân lúa

Trang 39

nước Hoàn cảnh đó đã làm cho nông nghiệp nương rẫy trở thành nền tảng kinh tế vô cùng quan trọng của người Hmông

Cũng như các dân tộc khác quan niệm, nương rẫy là một mảnh đất rừng được chặt phá, đốt dọn, được chọc lỗ hay xới lên để trồng trọt Người Hmông chia thành hai loại hình nương rẫy, chính là hai mô hình kỹ thuật canh tác của đồng bào đó là nương du canh và nương định canh Nương du canh là nương không được sử dụng thường xuyên, liên tục bởi vì đất nhanh bạc màu, kỹ thuật canh tác đơn sơ nên năng suất cây trồng thấp, không ổn định Nương định canh là nương cố định của người Hmông, được họ sử dụng liên tục từ năm này sang năm khác, từ đời này qua đời khác, do được canh tác tốt hơn nên năng suất có cao hơn

Bên cạnh đó, các nghề thủ công như: đan lát, xe lanh dệt vài, in hoa văn bằng sáp ong, hay rèn đúc góp phần thể hiện rõ nền kinh tế tự cung tự cấp của đồng bào Hmông Mỗi gia đình Hmông là một đơn vị kinh tế độc lập,

họ gần như tự làm ra mọi thứ thiết yếu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, phụ nữ trồng lanh, dệt vải còn đàn ông rèn đúc, đan lát

Ngoài ra, chăn nuôi, săn bắn và hái lượm là những hoạt động kinh tế phổ biến của người Hmông Chăn nuôi hoàn toàn mang tính tự phát và gắn liền với kinh tế hộ gia đình Họ nuôi gia súc, gia cầm không chỉ là thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày hay làm sức kéo cho sản xuất, cho sinh hoạt, hay buôn bán nhỏ mà hơn thế nó là nguồn cung cấp lễ vật cho những hoạt động tín ngưỡng tôn giáo cũng như các lễ thức không thể thiếu trong chu kỳ đời người Săn bắn, hái lượm các nguồn tài nguyên rừng cũng đóng một vai trò đáng kể trong thu nhập của người Hmông, thường được tiến hành nhiều nhất vào thời kỳ giáp hạt và nông nhàn, đặc biệt vào những năm mất mùa, đói kém

Địa hình, thổ nhưỡng của khu vực người Hmông sinh sống là điều hạn chế đối với nền nông nghiệp lúa nước nhưng lại là điều kiện phù hợp với

Trang 40

cây thuốc phiện Cây thuốc phiện cũng gắn với đời sống người Hmông từ bao đời, là nguồn sống chủ yếu của đồng bào Hmông, đến nỗi người Hmông có câu: “Ở đâu có cây tống quá sủi (cây sống qua mùa đông) thì ở

đó có người Hmông, giàng cũng thả cây thuốc phiện xuống mặt đất cho người Hmông” Lúc ban đầu, thực tế thuốc phiện không chỉ dùng để hút, thiết đãi nhau trong các ngày vui như cưới hỏi, ma chay, dựng nhà hay các phong tục tập quán khác mà còn dùng để chữa bệnh cho người và súc vật, đến sau này vì lợi ích kinh tế nên bị kẻ xấu lợi dụng mới gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng

Năm 1991, hòng ngăn ngừa tác hại nghiêm trọng mà cây thuốc phiện gây ra, Đảng và Nhà nước chủ trương xóa bỏ nó Việc này đã tạo ra một cú sốc đối với kinh tế người Hmông, làm họ càng trở nên nghèo đói, là cơ hội

để đạo Tin Lành truyền vào được thuận lợi nhưng theo chiều hướng tiêu cực Trải theo thời gian, do nhiều tác động khác nhau, đặc biệt là tác động của thời kỳ đổi mới ở nước ta, sự hỗ trợ của Nhà nước và nhiều yếu tố tích cực khác đã giúp tỷ lệ đói nghèo của nhiều vùng người Hmông ở Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu nói riêng và ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam giảm xuống đá kể, số người Hmông giàu có đã xuất hiện, kéo theo đó là sự phát triển dần trở nên ổn định của đạo Tin Lành

Về quan hệ xã hội

Xã hội truyền thống của người Hmông có cấu trúc khá thống nhất đó là

xã hội phụ quyền rất mạnh với sự đề cao vai trò và quyền lợi cũng như trách nhiệm của người đàn ông Cấu trúc ấy được xây dựng trên cơ sở của các tế bào xã hội đó là gia đình Sau gia đình là đến dòng họ Dòng họ người Hmông có một vị trí vô cùng quan trọng, đó là những yếu tố cốt lõi cấu thành nên xã hội Hmông và thể hiện bản sắc dân tộc của họ Đồng bào Hmông quan niệm cùng dòng họ là những người cùng gốc bắt nguồn từ

Ngày đăng: 27/06/2020, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm