1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh

40 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chung của đề tài là nâng cao thu nhập cho người dân nuôi cua biển, góp phần xóa đói giảm nghèo, đa dạng hóa đối tượng nuôi và sử dụng một cách có hiệu quả đất nuôi trồng thủy sản ven biển đồng thời góp phần phát triển ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh Trà Vinh.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH KHOA NÔNG NGHIỆP – THỦY SẢN

ĐỀ TÀI CẤP TRƯỜNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

THỰC NGHIỆM NUÔI CUA BIỂN (Scylla sp.) TRONG

LỒNG NHỎ TẠI TỈNH TRÀ VINH

DIỆP THÀNH TOÀN

Trà Vinh, 2/2009

QT6.2/KHCN1-BM3.2

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Nhóm tác giả thực hiện đề tài xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Trà Vinh

- Khoa Nông Nghiệp – Thủy sản

- Phòng Nghiên cứu Khoa Học và Đào tạo sau đại học

- Phòng Kế hoạch - Tài Vụ

- Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản nước mặn

…đã tạo điều kiện tốt để hoàn thành nghiên cứu này

Nhóm tác giả cũng gởi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, các anh chị em tại xã

Trường Long Hòa và đặc biệt là em Mai Văn Hoàng, Dương Văn Dân, Hồ

Khánh Nam và Lâm Công Bằng đã giúp đỡ nhiệt tình trong thu thập số liệu,

chăm sóc cua thí nghiệm và thu hoạch sản phẩm

Trà Vinh, 22 tháng 2 năm 2009

Nhóm tác giả

Trang 3

TÓM TẮT

Cua biển (Scylla sp.) là loài động vật giáp xác biển có giá trị kinh tế cao, thịt

thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng được nhiều người ưa chuộng nên được nhiềunơi nuôi Các mô hình nuôi cua thường là trong ao và lồng tre Đề tài này gồm 2

thí nghiệm Thí nghiệm 1 so sánh nuôi cua trong lồng gỗ 1 m2 và lồng nhựa PP0,05 m2, kết quả trọng lượng cua khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

nhưng có sự khác biệt lớn về tỷ lệ sống, năng suất và FCR Thí nghiệm 2 nuôi

cua trong lồng nhựa 0,05 m2 với 3 giai đoạn cua khác nhau: 1/ Nuôi cua conthành cua thịt Kết quả sau 4 tháng cua tăng trọng 3,4 lần so với lúc thả, tỷ lệsống 18,89%, đạt năng suất 3,69 kg/m2 2/ Nuôi vỗ béo cua chấm thành cua gạch.Kết quả sau 28 cua tăng trọng 11,23%, tỷ lệ sống 93,33 %, thời gian đầy gạch18,62 ngày, FCR 2,15 và đạt năng suất 6,59 kg/m2 3/ Nuôi cua lột Kết quả cua

tăng trưởng 11,83% về CW và 29,68% về trọng lượng, cần 16,3 ngày để thu cua

lột xác, tỷ lệ sống 84,35%, tỷ lệ lột xác 79,29% và năng suất 1,87 kg/m2 Kết

thúc đề tài còn thu được 28,89 kg cá chẽm và cá rô phi từ việc tận dụng diện tích

mặt nước còn lại

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH SÁCH HÌNH vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu đề tài 1

1.3 Nội dung đề tài 1

PHẦN 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học của cua biển 3

2.1.1 Đặc điểm phân loại 3

2.1.2 Đặc điểm phân bố 3

2.1.3 Tập tính sống cua biển 4

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4

2.1.5 Lột xác và sinh trưởng 5

2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sống của cua biển 5

2.3 Tình hình nghiên cứu nuôi cua biển 6

2.3.1 Nghiên cứu nuôi cua biển trên thế giới 6

2.3.2 Nuôi cua biển ở Việt Nam 8

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Thời gian và địa điểm 12

3.2 Bố trí thí nghiệm 12

3.3 Điều kiện thí nghiệm 13

3.3.1 Nguồn nước và xử lý nước 13

3.3.2 Môi trường nuôi cua biển 13

3.3.3 Cua thí nghiệm 13

3.3.4 Lồng nuôi cua 14

3.3.5 Thức ăn 14

3.3.6 Thả cá 15

3.4 Thu mẫu và xử lý số liệu 15

3.4.1 Thu mẫu 15

3.4.2 Xử lý số liệu 15

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16

4.1 Thí nghiệm 1: Nuôi cua biển thương phẩm với các loại lồng khác nhau .16

Trang 5

4.1.1 Các yếu tố môi trường 16

4.1.2 Tăng trưởng của cua nuôi 18

4.1.3 Tỷ lệ sống 20

4.1.4 Năng suất và tiêu tốn thức ăn 21

4.2 Thí nghiệm 2: Nuôi cua biển trong lồng nhỏ với các giai đoạn khác nhau 21

4.2.1 Các yếu tố môi trường 21

4.2.2 Tăng trưởng của cua nuôi 22

4.2.3 Tỷ lệ sống, tỷ lệ lột xác và năng suất 23

4.2.4 Tiêu tốn thức ăn 24

4.2.5 Thu hoạch cá 25

4.2.6 Phân tích hiệu quả kinh tế 25

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 27

5.1 Kết luận 27

5.2 Đề xuất 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình nuôi cua biển tỉnh Trà Vinh năm 2001-2006 9

Bảng 2.2: Kế hoạch nuôi cua biển tỉnh Trà Vinh năm 2006-2010 9

Bảng 4.1: Biến động các yếu tố môi trường thí nghiệm 1 16

Bảng 4.2: Tăng trưởng về chiều rộng mai cua (cm) qua các lần đo 18

Bảng 4.3: Tăng trưởng về trọng lượng cua 19

Bảng 4.4: Diễn biến tỷ lệ sống của thí nghiệm 1 20

Bảng 4.5: Năng suất và tiêu tốn thức ăn 21

Bảng 4.6: Các yếu tố môi trường thí nghiệm 2 21

Bảng 4.7: Tăng trưởng của cua trong thí nghiệm 2 22

Bảng 4.8: Tỷ lệ sống, tỷ lệ lột xác và năng suất thí nghiệm 2 23

Bảng 4.9: Tiêu tốn thức ăn thí nghiệm 2 25

Bảng 4.10: Kết quả thu hoạch cá chẽm và cá rô phi 25

Bảng 4.11: Phân tích hiệu quả kinh tế 25

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Vòng đời cua biển theo NIOT 4

Hình 2.2: Lồng tre nuôi cua 1 con/lồng theo Cholik và Hanafi (1991) 7

Hình 2.3: Lồng tre nuôi cua 1 con/lồng ở Ấn Độ theo NIOT 7

Hình 2.4: Xuất khẩu cua biển của Việt Nam năm 2001-2004 9

Hình 2.5: Lồng nuôi cua bằng tre và nhựa PP 11

Hình 3.1: Ao thực hiện thí nghiệm 12

Hình 3.2: Các cỡ cua thí nghiệm 13

Hình 3.3: Lồng gỗ 1 m3 và lồng nhựa 0,006 m3 14

Hình 3.4: Hệ thống phao nổi 14

Hình 3.5: Cân trọng lượng cua 15

Hình 3.6: Đo chiều rộng mai cua 15

Hình 3.7: Kiểm tra cua gạch 15

Hình 3.8: Ba khía làm thức ăn cho cua 15

Hình 4.1: Diễn biến nhiệt độ thí nghiệm 1 16

Hình 4.2: Diễn biến pH thí nghiệm 1 17

Hình 4.3: Diễn biến oxy thí nghiệm 1 17

Hình 4.4: Diễn biến độ mặn thí nghiệm 1 18

Hình 4.5: Diễn biến độ kiềm thí nghiệm 1 18

Hình 4.6: Tăng trưởng về chiều rộng mai cua sau 120 ngày nuôi 19

Hình 4.7: Tăng trưởng về trọng lượng cua sau 120 ngày nuôi 20

Hình 4.8: Chiều rộng mai thí nghiệm 2 23

Hình 4.9: Trọng lượng cua thí nghiệm 2 23

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CW: Carapace Wide – Chiều rộng mai cua (cm)

TB: Trung bình

ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cữu Long

DWG: Day weigh growth: Tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày)

SGR: Specific growth rate: Tăng trưởng tương đối (%/ngày)

TB: Trung bình

FCR: Feed conversion ratio – Tiêu tốn thức ăn

NIOT: National Institute of Ocean Technology

Trang 9

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu

Việt Nam có nguồn lợi cua biển phong phú, những năm gần đây do nhu cầu tiêuthụ trong nước và xuất khẩu tăng nên cùng với nghề khai thác cua tự nhiên, nghề

nuôi cua đã phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước, mô hình nuôi một vụ

cua và một vụ tôm sú được ứng dụng rộng rãi, nó đã đem lại hiệu quả kinh tế cao

và phần nào hạn chế được dịch bệnh tôm (Nguyễn Cơ Thạch và ctv, 2004).

Cua biển (Scylla sp.) là loài động vật giáp xác biển có giá trị kinh tế cao, thịtngon, giàu chất dinh dưỡng được nhiều người ưa chuộng Trước tình hình dịchbệnh tôm ngày càng diễn biến phức tạp, phong trào nuôi cua ngày một phát triển(Trung tâm Khuyến nông Quốc Gia, 2008) Con cua được xem là đối tượng nuôi

xoá đói giảm nghèo của bà con ngư dân vùng biển (Nguyễn Ngọc Tú, 2008)

Hiện nay, người dân nuôi cua theo nhiều hình thức như nuôi cua ao, nuôi kết hợphoặc luân canh với tôm sú quảng canh, nuôi kết hợp tôm-cua-rừng, nuôi cuatrong lồng tùy theo điều kiện vùng nuôi Sản phẩm thu lại theo mong muốn làcua gạch nhưng cua y, cua chấm, cua đực và cua xô cũng chiếm tỷ lệ khá cao

nhưng giá trị thấp nhiều so với cua gạch Mặt khác, sản phẩm cua lột hiện nay là

mặt hàng thực phẩm phổ biến có giá trị xuất khẩu cao, được chế biến thành sảnphẩm cua tẩm bột chiên, một món ăn hấp dẫn và quen thuộc đối với thị trường

châu Á, xu hướng đang mở rộng sang nhiều thị trường khác trên thế giới

(http://www.fishtenet.gov.vn)

Tại Trà Vinh, nghề nuôi cua đang phát triển mạnh do có nguồn giống dồi dào.Hình thức nuôi chủ yếu là nuôi kết hợp và nuôi chuyên trong ao(Hồ Hoàng Hà,2005) Việc sử dụng lồng để nuôi vỗ béo hay nuôi cua lột chưa được nhiều ngườinuôi quan tâm vì chưa có mô hình thí điểm

Xuất phát từ thực tế trên và nhằm góp phần phát triển nghề nuôi cua biển thương

phẩm, chúng tôi đề xuất đề tài “Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp) trong

lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh”.

1.2 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu chung của đề tài là nâng cao thu nhập cho người dân nuôi cua biển, gópphần xóa đói giảm nghèo, đa dạng hóa đối tượng nuôi và sử dụng một cách cóhiệu quả đất nuôi trồng thủy sản ven biển đồng thời góp phần phát triển ngànhnuôi trồng thủy sản của tỉnh Trà Vinh

Mục tiêu cụ thể của đề tài là :

 Xây dựng mô hình nuôi cua biển mới hiệu quả cao, dễ áp dụng

 Nâng giá trị cua thương phẩm trên đơn vị một diện tích

1.3 Nội dung đề tài

(1) Nuôi cua biển trong lồng

(2) Nuôi cua biển trong lồng nhỏ với các giai đoạn khác nhau

Trang 10

(3) Khảo sát một số chỉ tiêu môi trường nước và sinh trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ lộtxác, năng suất và FCR.

(4) Đánh giá hiệu quả mô hình nuôi

Trang 11

PHẦN 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học của cua biển

2.1.1 Đặc điểm phân loại

Cua biển có tên tiếng Anh là mud-crab, green crab, hay mangrove crab; tên tiếngViệt gọi là cua biển, cua sú, cua xanh, cua bùn, là một trong những hải sản có giátrị cao trong thực phẩm và y dược học (Joachim và Felicitas, 2000; NguyễnChung, 2006)

Bằng phương pháp điện di và hình thái giải phẫu, Keenan (1999) đã đi đến kết

luận cua biển giống Scylla có 4 loài phân biệt và được định danh trong hệ thống

phân loại như sau:

Loài S paramamosain (Estampador, 1949)

Thạch và ctv, 2004; Phạm Thị Tuyết Ngân, 2005).

Ở Việt Nam cua biển được khai thác và nuôi ở các tỉnh ven biển như Quảng

Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Thừa Thiên-Huế, Bà Rịa-Vũng Tàu, TP.HCM,Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Minh Hải và Kiên Giang (Hoang Duc Dat, 1999;

Vũ Ngọc Út, 2005) Đặc biệt, ĐBSCL với diện tích mặt nước lợ gần 300.000 ha

được đánh giá là nơi quan trọng cho cua biển phân bố tự nhiên trong đầm lầy

rừng ngập mặn và vùng ven biển cửa sông (Trần Ngọc Hải và ctv, 2003; Vũ

Ngọc Út, 2005; Nguyễn Chung, 2006)

Theo Keenan và ctv (1998 trích dẫn bởi Phạm Thị Tuyết Ngân và ctv, 2005) ở Việt Nam, đặc biệt là vùng ĐBSCL có hai loài chủ yếu là S.paramamosain và

S.olivacea Loài cua S.paramamosain chiếm ưu thế ở ĐBSCL (Hoang Duc Dat,

1999) Nhưng DANIDA-Bộ Thủy Sản (2003) cho rằng cua biển phân bố rộng ởViệt Nam, đặc biệt vùng triều, cửa sông và rừng ngập mặn, có cả ở châu thổ

ĐBSCL và Sông Hồng

Trang 12

2.1.3 Tập tính sống cua biển

Vòng đời cua biển trãi qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn có tậptính sống, cư trú khác nhau Thời kỳ phôi thai được cua mẹ mang và phát triển ởvùng ven biển ven bờ, ấu trùng Zoea và Mysis sống trôi nổi và nhờ dòng nước

đưa vào ven bờ biến thái thành cua con Cua con theo thuỷ triều dạt vào vùngnước lợ: những bãi lầy ven bờ biển, cửa sông, nơi có đáy bùn, bùn cát hoặc đất

thịt pha cát mịn giàu mùn bã hữu cơ thuộc vùng trung, hạ triều chuyển từ đờisống trong môi trường nước mặn sang nước lợ Cua bắt đầu sống bò trên đáy và

đào hang để sống hay chui rúc vào gốc cây, bụi rậm.Cua đạt giai đoạn thành thục

có tập tính di cư ra vùng nước mặn ven biển sinh sản Cua có khả năng bò lên cạn

và di chuyển rất xa Đặc biệt, vào thời kỳ sinh sản cua có khả năng vượt cả rào

chắn để ra biển sinh sản (Hoàng Đức Đạt, 1995; Trần Ngọc Hải và ctv, 1999; DANIDA-Bộ Thủy Sản, 2003) Theo Trần Ngọc Hải và ctv (1999) cua có thể di

chuyển trung bình 13 giờ/ngày và gần như suốt đêm Quãng đường trung bìnhcua di chuyển trong một đêm là 461 m, dao động 219-910 m Cua cái có thể bò

xa 45 km để tìm bãi đẻ (Lee, 1991)

Theo báo cáo của Hyland (1984 trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải, 1999) sự phân bốcủa cua trong tự nhiên có liên quan đến dòng chảy, trong đó, vận tốc nước thíchhợp 0,06-1,6 m/giây

Hình 2.1: Vòng đời cua biển theo NIOT

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Cua là động vật ăn thịt, thích bắt cá, tôm, động vật hai mảnh vỏ (DANIDA-Bộ

Thủy Sản, 2003; Trung tâm khuyến ngư Quốc Gia-Bộ Thủy Sản, 2006) Theo

Phạm Thị Tuyết Ngân và ctv (2005) thức ăn tự nhiên chứa 50% nhuyễn thể, 21%

giáp xác, 29% các mảnh vụn hữu cơ, ít khi có cá trong ống tiêu hóa của cua Tuynhiên, tập tính dinh dưỡng của cua biến thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển

Trang 13

Giai đoạn ấu trùng cua thích ăn thực vật và động vật phù du Cua con chuyển dầnsang ăn tạp như rong tảo, giáp xác, nhuyển thể, cá hay ngay cả xác chết động vật.

Cua con 2-7 cm ăn chủ yếu là giáp xác, cua 7-13 cm thích ăn nhuyễn thể và cualớn hơn thường ăn cua nhỏ, cá Cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn

vào ban đêm Nhu cầu thức ăn của chúng khá lớn nhưng chúng có khả năng nhịn

đói 10-15 ngày (Trần Ngọc Hải và ctv, 1999; Nguyễn Chung, 2006; Nguyễn

Thanh Bình, 2007; Nguyễn Ngọc Tú, 2008)

2.1.5 Lột xác và sinh trưởng

Từ ấu trùng đến trưởng thành cua phải qua nhiều lần lột xác và qua mỗi lần lộtxác vừa để sinh trưởng vừa để biến thái, thay đổi về kích thước và hình thái cấutạo để đạt được hình dạng và cấu tạo thực thụ của cua Ở giai đoạn ấu trùng vàcua bột thời gian giữa các lần lột xác thường ngắn, từ 2-3 ngày hoặc 3-5 ngày.Cua bột 3 ngày tuổi lột xác lần thứ nhất có chiều rộng mai đạt 5 mm và chiều dàimai 3,5 mm Ở cua giống và trưởng thành thời gian lột xác dài hơn thường lộtxác vào chu kỳ của thuỷ triều (Hoàng Đức Đạt, 1995; Nguyễn chung, 2006).Cua biển là loài sinh trưởng không liên tục, được đặc trưng bởi sự gia tăng độtngột về kích thước và trọng lượng Cua lột xác để tăng kích thước và quá trìnhnày phụ thuộc rất lớn vào điều kiện dinh dưỡng, môi truờng và giai đoạn phát

triển của cơ thể Theo Triño và ctv (1999), khi nuôi chung cua đực và cua cái thì

cua đực tăng trưởng tốt hơn cua cái Khatun và ctv (2008) nuôi cua S.olivacea

đơn tính (cua đực hoặc cua cái) và cả 2 giới tính (cua cái + cua) đực) thì cua đực

cũng tăng trưởng tốt hơn cua cái

Cua biển trải qua 12 lần lột xác, khi tuyến sinh dục bắt đầu phát, cua lột xáclần thứ 13 trước khi giao phối (Trung tâm khuyến ngư Quốc Gia-Bộ Thủy Sản,2006) Cua trưởng thành có khoảng cách giữa 2 lần lột xác từ 20-28 ngày (KhoaSinh – Trường Đại Học Tổng Hợp Huế, 1994) Quá trình lột xác của cua mang

tính đặc trung riêng biệt từng loài Cua càng lớn thì chu kỳ lột xác càng kéo

dài Ðặc biệt, trong quá trình lột xác, cơ thể của chúng có thể tái sinh nhữngphần phụ bộ đã mất Ðối với những con cua bị tổn thương, khi mất phần phụ

bộ thì cua có khuynh hướng lột xác sớm hơn (Trần Ngọc Hải và ctv, 1999).

Tuổi thọ trung bình của cua từ 2-4 năm, qua mỗi lần lột xác trọng lượng cua tăngtrung bình 20-50% Kích thước tối đa của cua biển có thể từ 19-28 cm với trọng

lượng từ 1-3 kg/con Thông thường trong tự nhiên cua có kích cỡ trong khoảng

7,5-10,5 cm Với kích cỡ tương đương nhau về chiều dài hay chiều rộng thì cua

đực nặng hơn cua cái (http://www.vietlinh.com.vn)

2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sống của cua biển

pH: Cua sống phát triển tốt trong nước độ pH trong khoảng 7,5 – 9,2 thích hợp

nhất từ 7,5-8,2 Tuy nhiên cua có thể chịu đựng được trong nước có độ pH thấp

hơn 6.5 (Hoàng Đức Đạt 1995; Nguyễn Chung, 2006) Theo Munawar và ctv

(1998) cần quản lý pH ở mức 7,5-8,5

Độ mặn: Trong tự nhiên, từ giai đoạn cua con trở đi, cua có thể chịu đựng được

độ mặn 2-60o/oo(Trần Ngọc Hải và ctv, 1999) Theo Hoàng Đức Đạt (1995), Trần Ngọc Hải và ctv (1999), Nguyễn Chung (2006) cua có khả năng thích ứng cao

Trang 14

với sự thay đổi độ mặn của nước Cua có thể sống trong vùng nước gần như ngọt

cho đến độ mặn trên 33o/oo Nhưng trong thời kỳ đẻ trứng, ấp trứng và thời kỳ ấutrùng, cua đòi hỏi độ mặn từ 28 – 32%o Tuy nhiên, theo Trung tâm Khuyến ngư

Quốc Gia-Bộ Thủy Sản (2006) cua biển sống, sinh trưởng và phát triển tốt trong

độ mặn từ 5-33,2o/oo và phù hợp nhất 13,7-26,9o/oo DANIDA-Bộ Thủy Sản(2003) cho rằng giới hạn độ mặn để cua sống và phát triển từ 2-35o/oo

Nhiệt độ nước: Cua biển là loài chuyên sống ở đáy, thích ứng với nhiệt độ rộng

(Trung tâm khuyến ngư Quốc Gia-Bộ Thủy Sản, 2006) Ở vùng biển phía nam

nước ta cua biển thích nghi với nhiệt độ nước từ 25 – 290C Nhiệt độ cao thường

ảnh hưởng xấu đến các hoạt động sinh lý của cua, là một trong nhưng nguyên

nhân gây chết (Hoàng Đức Đạt, 1995) Theo Nguyễn Chung (2006) cua pháttriển tốt ở nhiệt độ 25-290C, chịu đựng nhiệt độ thấp dưới 10-150C, nhiệt độ trên

32 0C sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động sinh lý và có thể làm cua chết Tuy nhiêntheo Trung tâm khuyến ngư Quốc Gia-Bộ Thủy Sản (2006) nhiệt độ thích hợp18-320C, nhiệt độ dưới 180C cua giảm hoạt động và giảm bắt mồi, nhiệt độ 70Ccua dừng hoạt động hoàn toàn, vùi mình trong bùn chỉ để lộ 2 mắt và rơi vàotrạng thái ngủ, nhiệt độ 5 0C cua sống được 4-5 ngày, nếu nhiệt độ nước cao đến

350C cua nằm ngửa và dơ chân bò lên trời để phần bụng không tiếp xúc với bùn

đất hoặc năm bò trên bãi bùn Nhiệt độ nước lên đến 39 0C, mai cua xuất hiệnnhững chấm đỏ xám, cua yếu dần rồi chết

Nhu cầu oxy hoà tan: Hàm lượng oxy hoà tan lớn hơn 2 mg/l, cua bắt mồi rất

nhiều Khi hàm lượng oxy hoà tan nhỏ hơn 1 mg/l, cua phản ứng chậm chạp,không bắt mồi, xuất hiện nổi đầu, thậm chí chết Khi cua lột xác, yêu cầu hàm

lượng oxy hòa tan rất cao, nếu không đủ oxy việc lột xác không thuận lợi, cua sẽ

chết (Trung tâm khuyến ngư Quốc Gia-Bộ Thủy Sản, 2006)

Ðịch hại của cua: Theo Hoàng Ðức Ðạt (1995) cua có nhiều địch thủ lợi

hại: Cua ăn thịt lẫn nhau Ngoài ra, còn có rất nhiều loài dịch hại khác gây hại

đến cua, tùy mỗi giai đoạn cua sẽ có từng loại dịch hại khác nhau bao gồm

nhiều loài động vật sống trong nước, trên cạn như các loài cá dữ, chim ăn thịt,chuột, rắn,…

2.3 Tình hình nghiên cứu nuôi cua biển

2.3.1 Nghiên cứu nuôi cua biển trên thế giới

Trên thế giới, nuôi cua biển đã phát triển ở Trung Quốc từ hơn 100 năm và hơn

30 năm tại các nước Châu Á khác (Keenan, 1999)

Rất nhiều báo cáo về nuôi cua được đề cập tại hội thảo về nuôi và thương mạicua biển tổ chức tại Swat Thani, Thái Lan năm 1991 như Báo cáo về nuôi,

thương mại và định hướng phát triển cua biển ở vịnh Bengal của

Sivasubramaniam và Angell; Báo cáo về sinh học và nuôi cua biển ở Queenslandcủa Lee; nuôi cua biển ở Philippines của Jericardo và Mondgagon; về nuôi vỗbéo cua ở Sri Lanka (Silva), ở Thái Lan (Rattanachote và Dangwatanakul), ởMalaysia (Liong); nuôi cua biển trong ao ở Sri Lanka của Samarasinghe và

ctv…Đặc biệt báo cáo về khai thác và nuôi cua biển ở Indonesia của Cholik và

Hanafi Trong đó ý tưởng nuôi vỗ béo cua 1 con/lồng 0,025 m2 dùng để nuôi vỗ

lên cua gạch đã được trình bày, hệ thống này nuôi được 40 con cua/1 m2 cũng

Trang 15

với ý tưởng này, Zafar (2005) ở Bangladesh lồng tre 7 m x 3 m x 1 m, phân ra 60

ô nhỏ, mỗi ô nuôi 1 con Theo NIOT ở Ấn Độ nuôi cua vỗ béo 1 con/lồng tre 1m

x 1m x 0,2 m

Hình 2.2: Lồng tre nuôi cua 1 con/lồng theo Cholik và Hanafi (1991)

Hình 2.3: Lồng tre nuôi cua 1 con/lồng ở Ấn Độ theo NIOT

Theo Keenan (1999) trên thế giới có 2 cách nuôi cua cơ bản là nuôi vỗ béo vànuôi cua thịt Các nước có nghề nuôi cua phát triển như Srilanka, Thái Lan,

Malaysia, Phillipine, Đài Loan… Tuy nhiên, theo Khoa Sinh-Trường Đại học

Tổng Hợp Huế (1994), Hoàng Đức Đạt (1995), Doan Van Dau et al (1998),Hoang Duc Dat(1999) ở Việt Nam ngoài 2 cách thức trên còn có hình thức nuôicua lột

Nuôi cua vỗ béo: Tại Malaysia , Tan (1999) tổng kết nuôi vỗ béo cua cần 10-20

ngày để đạt kích cỡ xuất bán trên 150 g Tuy nhiên, tại Thái Lan, Rattanachote và

Dangwatanakul (1991) thời gian là 20-30 ngày với tỷ lệ sống 85,20-93,77%.Nghiên cứu của Liong (1991) trong ao và lồng tre chỉ cần sau 2-14 ngày là cua

đầy gạch với tỷ lệ sống 60-80% (trong lồng) và 50-80% (trong ao) Theo Hoang

Duc Dat (1999) trong điều kiện Việt Nam nuôi vỗ béo cần 25-35 ngày với mật độ0,5-1 kg/m2 trong ao và 10-25 kg/m2 trong lồng Về trọng lượng tăng thêm sau

vỗ béo: Theo Ladra (1991) ở Philippine nuôi trong ao và lồng tre (140 x 70 x 25cm) Trọng lượng tăng thêm 110 g sau 15-30 ngày nuôi Nghiên cứu của Silva(1991) ở Sri Slanka nuôi vỗ trong bể ximăng (4 x 4 x 1m) trọng lượng cua tăng62,83% sau 62 ngày nuôi và 96 g sau 35 ngày nuôi trong ao nuôi tôm 0,4 ha

Trang 16

Về nuôi cua thịt trong ao: Tại Ấn Độ, Munawar và ctv (1998) nuôi cua S.

tranquebarica trọng lượng 80-100 g/con, mật độ 1-5 con/m2 nuôi 4 tháng đạt

400-500 g/con, nuôi 7 tháng đạt 800-1.000 g/con Tỷ lệ sống đạt 70-80%

Christensen và ctv (2004) nuôi cua trong ao ở ĐBSCL, Việt Nam từ 120-186

ngày đạt kích cỡ 200-300 g/con Tại Indonesia, Cholik (1999) thí nghiệm nuôi

cua với 3 mật độ 1, 3 và 5 con/m2 trong 6 ao 96 m2 sau 90 ngày cua đạt kết quảtương ứng 146, 159 và 158 g/con với tỷ lệ sống 81,2%, 43,1% và 32,9%

Một vấn đề cũng được một số tác giả nghiên cứu là so sánh nuôi cua đực và cái

riêng Báo cáo mới nhất về vấn đề này là của Khatun và ctv (2008) ở Bangladesh

so sánh tăng trưởng loài cua S.olivacea nuôi đơn tính (cua đực hoặc cua cái) và

cả 2 giới tính (cua cái + cua) đực) trong lồng tre với mật độ (0,5 con/m2) chothấy: Sau 100 ngày nuôi cua đạt 80-120g/con Mô hình nuôi cua toàn đực có tốc

độ tăng trưởng khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nuôi toàn cái, trong khi đó

mô hình cua đủ 2 giới tính tốc độ tăng trưởng khác biệt không có ý nghĩa thống

kê so với nuôi toàn đực và toàn cái Trước đó, Trino và ctv (1999) dùng cua

S.serrata thí nghiệm với 3 mật độ 0,5, 1,5 và 3 con/m2 với đực và cái riêng Kếtquả có sự khác biệt giữa mật độ nuôi và giới tính cua (P<0,05)…

2.3.2 Nuôi cua biển ở Việt Nam

2.3.2.1 Tình hình nuôi cua biển

Nghề nuôi cua biển của Việt Nam bắt đầu từ đầu những năm 1980 Cua biển ViệtNam dồi dào giá thấp hấp dẫn nên các công ty ở Hồng Kông, Đài Loan đến mua.Khi sản lượng khai thác cua tự nhiên giảm sút nhưng lợi nhuận hấp dẫn nên ở CàMau, Bạc Liêu, Bến Tre nhiều người đã bắt cua giống, cua ốp ngoài thiên nhiên

về thả nuôi (Nguyễn Chung, 2006)

Năm 1993, Việt Nam đã đạt sản lượng nuôi 3.800 tấn trên diện tích 1.600 ha

(Doan Van Dau et al, 1998) Tuy nhiên, sau đó (1993) xu hướng nuôi cua bị lấn

át bởi phong trào nuôi tôm sú vì lợi nhuận cao hơn rất nhiều lần so với nuôi cua.Nhiều người phát lên nhờ tôm sú nhưng cũng nhiều người đã và đang lận đận vìcon tôm sú Vì vậy, nhiều hộ ngư dân nay lại trở về với nghề nuôi cua biển Theo

số liệu điều tra năm 1995 thì ÐBSCL có trên 3.000 ha nuôi cua với sản luợng

trên 1.600 tấn/năm (Trần Ngọc Hải và ctv, 2003).

Theo DANIDA-Bộ Thủy Sản (2003) cua được nuôi rộng rãi khắp các tỉnh venbiển đặc biệt vùng cửa sông Châu thổ phía Bắc (Thái Bình, Hải Phòng, Nam

Định) và các tỉnh Duyên Hải Nam Bộ Năng suất nuôi cua đạt 1.000 kg/ha/vụ.Năm 2004, khối lượng cua biển xuất khẩu Việt Nam đạt gần 6000 tấn, giá trị hơn

25 triệu USD (http://www.fishtenet.gov.vn)

Trang 17

Nguồn: http://www.fishtenet.gov.vn

Hình 2.4: Xuất khẩu cua biển của Việt Nam năm 2001-2004

Tại ĐBSCL, theo điều tra của Vũ Ngọc Út (2005) có 8 tỉnh nuôi cua: Cà Mau,Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, Tiền Giang, Bến Tre và Long An ỞTiền Giang, phong trào nuôi cua còn rất kém phát triển, chỉ rải rác ở huyện Gò

Công Trong khi đó, Long An là địa phương duy nhất có mô hình nuôi cua lột rất

phát triển ở huyện Cần Giuộc Sóc Trăng, Kiên Giang và Bến Tre là các địa bàn

có hình thức nuôi cua đơn trong ao phổ biến và một số hình thức nuôi kết hợpcua-tôm và cua-tôm-rừng Cà Mau và Bạc Liêu phổ biến nhất với các mô hình(ngoại trừ nuôi cua lột), trong đó kết hợp cua-tôm và cua-tôm-rừng là chủ lực

Ở Trà Vinh, nghề nuôi cua biển đã hình thành và phát triển ở 4 địa phương ven

biển của tỉnh, đặc biệt nuôi nhiều ở huyện Duyên Hải, mang lại nhiều thu nhập

cho người dân và cũng là đối tượng “cứu cánh” cho nhiều người nuôi tôm sú thất

bại (Hồ Hoàng Hà, 2005) Diện tích nuôi cua biển của tỉnh Trà Vinh khôngngừng được mở rộng

Bảng 2.1: Tình hình nuôi cua biển tỉnh Trà Vinh năm 2001-2006

2.3.2.2 Nghiên cứu về cua biển ở Việt Nam

Nguồn giống cung cấp cho nghề nuôi cua biển ở nước ta chủ yếu là bắt từ tự

nhiên (Nguyễn Cơ Thạch và ctv; Vũ Ngọc Út, 2005) Cua giống tự nhiên thường

được vận chuyển xa từ địa bàn nuôi và qua nhiều thương lái nên khi về đến aonuôi thường yếu và có tỉ lệ tỷ lệ sống thấp (Vũ Ngọc Út, 2005) Tuy nhiên, cua

sản xuất nhân tạo cũng đã được nuôi thử nghiệm thành công Theo Trung tâm

Trang 18

Khuyến Nông Quốc Gia (2008) cua bột có kích thước 0,5-0,7 cm được ương

trong giai đặt trong ao đất lên giống 2-3 cm Sau đó thả nuôi trong ao với mật độ

thả 1 con/m2 Sau gần 6 tháng nuôi, cua đạt tỷ lệ sống trên 60%, năng suất đemlại gần 1,2 tấn cua/ha, giá bán 80.000 đồng/kg cua thương phẩm 250-350 g/con,sau khi trừ các khoản chi phí, lợi nhuận hơn 30 triệu đồng/ha”

Về hình thức nuôi: theo Doan Van Dau et al (1998), Hoang Duc Dat (1999) gồm

có nuôi cua thịt, nuôi cua vỗ béo và nuôi cua lột Tuy nhiên, theo Vũ Ngọc Út(2005) nuôi cua được phát triển dưới các hình thức như nuôi cua đơn (trong ao),nuôi cua kết hợp với tôm (cua-tôm) hoặc cua kết hợp với tôm trong rừng (cua-tôm-rừng) Với hình thức nuôi cua đơn thì có các mô hình nuôi cua thịt (từ congiống lên kích thước thương phẩm), nuôi cua gạch và nuôi cua lột Ý tưởng nuôicua trong hộp nhựa PP tại Việt Nam được Nguyễn Chung (2006) đề cập đến

trong sách “Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi ghẹ xanh, cua biển” trên cơ sở tài

liệu kỹ thuật nuôi ghẹ xanh của Thái Lan và nuôi cua lột của Việt Nam

Về nuôi cua lột: đây là một loại cua thương phẩm đặc biệt và có giá trị cao

(Hoàng Đức Đạt, 1995; Nguyễn Chung, 2006) Mô hình nuôi cua lột rất phát

triển ở huyện Cần Giuộc – Long An từ 1998 (Cửu Long, 2003; Vũ Ngọc Út,2005) Năm 2000 có hơn 500 tấn cua lột thương phẩm tiêu thụ trong nước vàxuất khẩu (Nguyễn Chung, 2006) Trên thế giới chưa có nhiều báo cáo về nuôicua lột Tại Việt Nam, năm 1994, Khoa Sinh-Trường Đại học Tổng Hợp Huế đã

đề cập đến kỹ thuật này Năm 1995, Hoàng Đức Đạt đề cập đến trong sách “Kỹ

thuật nuôi cua biển” Năm 1999, trong báo cáo tại Hội nghị Sinh học và nuôi cuabiển tại Australia, Hoang Duc Dat mô tả: sử dụng cua 30-60 g, bẻ càng và chân

bò chỉ chừa 2 chân chèo Cho cua vào lồng tre (1,5m x 1m x 0,25m) hoặc ao, sau11-20 ngày có thể thu sản phẩm cua lột Trước đó, kỹ thuật này được Doan VanDau et al báo cáo tại Hội nghị quốc tế về nuôi cua tại Philippine năm 1998 nhưngvới cỡ cua 50-100 g với mật độ (ao hoặc lồng) 10-12 kg/m2 và thời gian cua lột

xác là 20-30 ngày Năm 2006, Trần Ngọc Hải và ctv đã phát triển kỹ thuật nuôi

cua lột trong bể composite với hệ thống tuần hoàn Theo Nguyễn Chung (2006)ngoài các hình thức nuôi cua lột truyền thống có thể phát triển cách nuôi cua lộttrong lồng nhựa PP

Về nuôi cua vỗ béo: là nuôi cua thương phẩm còn ốp (ít thịt, chưa đầy gạch) đểtạo thành cua y (cua chắc, nhiều thịt) và cua gạch để bán giá cao hơn(Prinpanapong và Youngwanichsaed, 1991) Ý tưởng này được Khoa Sinh –

Trường Đại Học Tổng Hợp Huế đề cập năm 1994 Có thể thuật ngữ “nuôi cua vỗbéo” được đề cập ở Việt Nam từ tài liệu này Hoàng Đức Đạt (1995), Doan Van

Dau et al el al (1998), Đoàn Văn Đẩu (1998), Hoang Duc Dat (1999)… là nhữngtác giả tiếp theo đề cập đến vấn đề nuôi vỗ béo cua trong hệ thống lồng tre Ý

tưởng nuôi cua vỗ béo trong lồng nhựa PP 0,05 m2 chỉ được Nguyễn Chung đềcập đến năm 2006

Về nuôi cua thịt, có nhiều báo cáo đề cập đến Một trong những sách viết về nuôicua biển đầu tiên tại Việt Nam là cuốn “Kỹ thuật nuôi cua” của Vụ quản lý khoahọc kỹ thuật–Bộ Thủy Sản xuất bản tháng 1/1991 Năm 1994, Khoa Sinh-Trường

Đại học Tổng Hợp Huế xuất bản sách “Kỹ thuật nuôi và vỗ béo cua biển” phục

vụ cho Chương trình Quốc tế EC về tái hòa nhập người Việt Nam hồi hương

Trang 19

Năm 1995, Hoàng Đức Đạt đã tập hợp các công trình nghiên cứu về cua biển và

viết sách “Kỹ thuật nuôi cua biển” đến nay vẫn còn giá trị tham khảo Các nghiêncứu tiếp theo của Hoàng Đức Đạt về các mô hình nuôi cua ở Việt Nam đượctrình bày tại các hội nghị quốc tế về Sinh học và nuôi cua biển tại Australia năm

1999, của Doan Van Dau et al tại Hội thảo quốc tế về cua biển tại Phillipine năm

1998 về nuôi cua giống Scylla ở Việt Nam Đoàn Văn Đẩu và ctv (1998) công bố

báo cáo “Kết quả nghiên cứu sinh trưởng và sinh sản của cua biển (Scylla

serrata) nuôi trong đầm nước lợ” trong Tuyển tập các công trình nghiên cứu cá

biển (tập 1)-Viện nghiên cứu Hải Sản-Bộ Thuỷ Sản Nghiên cứu này đề cập chitiết về các yếu tốt môi trường, sinh trưởng…bằng thực nghiệm tại ao Các tác giả

nước ngoài nghiên cứu về nuôi cua ở Việt Nam nổi bật nhất là Johnston và

Keenan với khảo sát “Nuôi cua biển tại Minh Hải, Việt Nam” Đề tài này đượctrình bày năm 1999 ở Hội nghị quốc tế về Sinh học và nuôi cua biển tại Australia

– tại hội nghị này Keenan đã trình bày hoàn chỉnh về phân loại cua biển trên thế

giới trong đó có cua biển ở Việt Nam

Các nghiên cứu về cua biển đã, đang và sẽ tiếp tục nhằm các cải tiến năng suất,

tỷ lệ sống và hiệu quả nghề nuôi, đặc biệt khi xu hướng phát triển nuôi cua của

người dân đã trở lại (do nuôi tôm sú thất bại) và con giống sản xuất nhân tạo

ngày càng nhiều thêm Nghiên cứu về hình thức nuôi cua 1 con/lồng như ởIndonesia và Bangladesh nhằm kiểm chứng lại và phát triển thêm mô hình nuôicua mới của Trà Vinh và Việt Nam

Hình 2.5: Lồng nuôi cua bằng tre và nhựa PP

NIOT

Trang 20

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm

- Thời gian: Từ tháng 01/2008 – 01/2009

- Địa điểm: Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản nước mặn, Khoa NôngNghiệp - Thủy Sản, Trường Đại học Trà Vinh - Ấp Ba Động, Xã Trường LongHòa, Huyện Duyên Hải, Tỉnh Trà Vinh

3.2 Bố trí thí nghiệm

Đề tài gồm 2 thí nghiệm :

Thí nghiệm 1: Nuôi cua biển thương phẩm với các loại lồng khác nhau

Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên trong lồng lớn (1 m2) và lồngnhỏ (0,05 m2), 3 lần lập lại ở mỗi nghiệm thức:

-Nghiệm thức 1 (NT1) : nuôi cua trong lồng nhỏ

- Nghiệm thức 2 (NT2): nuôi cua trong lồng lớn

Các lồng thí nghiệm được đặt trong ao đất Mật độ thả cua là 1 con/lồng nhỏ, 30con/lồng lớn Cỡ cua là cua giống lớn 40 -60 g/con Thời gian nuôi 3-4 tháng Sốmẫu cua của nghiệm thức 1 là 90 con Lồng được cố định bằng tầm vong và hệthống làm nổi

Các số liệu cần theo dõi: môi trường nước, tăng trưởng cua, tỷ lệ sống, thức ăn

Hình 3.1: Ao thực hiện thí nghiệm

Thí nghiệm 2: Nuôi cua biển trong lồng nhỏ với các giai đoạn cua khác nhau

Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại:

-Nghiệm thức 1 (NT1): Nuôi từ cua nhỏ lên cua thương phẩm

- Nghiệm thức 2 (NT2): Nuôi cua chấm lên cua gạch

- Nghiệm thức 3 (NT3): Nuôi cua lột

Ngày đăng: 27/06/2020, 20:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cerezo, R.B., 1998. Effect of aftificial shelters on the growth and survival of mud crab, Scylla serrata Forskal, fed with commercial. International forum on the culture of Portunid Crabs 1-4 December 1998 Boracay, Philippine.SPONSORS. Page: 65-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
10. Doan Van Dau et al, 1998. The culture of Scylla species in Vietnam.International forum on the culture of Portunid crabs 1-4 December 1998 Boracay, Philippine. SPONSORS. Page: 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla
11. Đoàn Văn Đẩu, Phạm Ngọc Đẳng, Đồng Xuân Vĩnh, Đỗ Văn Minh Và Nguyễn Cơ Thạch, 1998. Kết quả nghiên cứu sinh trưởng và sinh sản của cua biển (Scylla serrata) nuôi trong đầm nước lợ. Tuyển tập các công trình nghiên cứu cá biển (tập 1). Viện nghiên cứu Hải Sản-Bộ Thuỷ Sản. NXB Nông nghiệp. Trang 371-379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp. Trang 371-379
17. Jerome G.G., 1998. Study of pen culture of the mud crab, Scylla serrata, in a mangrove area at two stocking densities with and without feed. International forum on the culture of Portunid Crabs 1-4 December 1998 Boracay, Philippine. SPONSORS. Page: 47-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
20. Keenan, C.P., 1999. The fourth species of Scylla. Mud crab aquaculture and biology - Proceeding of an international scientific forum held in Darwin, Australia 21-24 April 1997. ACIAR proceedings No 78. Page: 48-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla
21. Keenan, C.P., 1999a. Aquaculture of the Mud Crab, Genus Scylla-Past, Present and Future. Mud crab aquaculture and biology - Proceeding of an international scientific forum held in Darwin, Australia 21-24 April 1997.ACIAR proceedings No 78. Page: 9-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla
22. Khatun, M., D.Kamal, K.Ikejima &amp; Yang Yi, 2008. Comparisons of growth and economic performance among monosex and mixed-sex culture of red mud crab (Scylla olivacea Herbst, 1796) in bamboo pens in the tidal flats of mangrove forests, Bangladesh. Aquaculture Research Early View, Date: October 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla olivacea
26. Lee, C., 1991. A brief overwiew of the ecology and fisheries of the mud crab, Scylla serrata, in Queensland. The mud crab a report on the seminar convened in Surat Thani, Thailand, November 5-8, 1991. Pages: 65-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
27. Liong, P.C., 1991. The fattening and culture of the mud crab (Scylla serrata) in Maylaysia. The mud crab a report on the seminar convened in Surat Thani, Thailand, November 5-8, 1991. Pages: 185-190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
30. Nguyễn Cơ Thạch, Trương Quốc Thái, Nguyễn Diễu, Nguyễn Thanh Thùy, Hà Văn Khô và Đỗ Văn Phiên, 2004. Đặc điểm sinh học sinh sản và quy trình kỹ thuật sản xuất cua giống loài Scylla serratavar.paramamosain Estampador, 1949. Trang: 227-266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata"var".paramamosain
35. Phạm Thị Tuyết Ngân, Vũ Ngọc Út, Trương Trọng Nghĩa, Trần Thị Thanh Hiền, Tô Công Tâm, Quách Thế Vinh và Phạm Trần Nguyên Thảo, 2005.Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng lên chất lượng bố mẹ và ấu trùng cua biển (Scylla paramamosain). Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (Đề tài cấp bộ). Mã số đề tài: B2003-31-52. Trang: 4-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla paramamosain
36. Prinpanapong, S and T.Youngwanichsaed, 1991. Rearing of mud crab (Scylla serrata). The mud crab a report on the seminar convened in Surat Thani, Thailand, November 5-8, 1991. Pages: 191-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scyllaserrata
37. Rattanachote, A and R.Dangwatanakul, 1991. Mud crab (Scylla serrata Forskal) fattening in Surat Thani province. The mud crab a report on the seminar convened in Surat Thani, Thailand, November 5-8, 1991. Pages: 171- 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
38. Romeo, D.F and G.A.A. Mamon, 1998. Use of bamboo shelters in the reading of the mud crab Scylla serrata Forskal in shallow brackishwater earthen pons.International forum on the culture of Portunid Crabs 1-4 December 1998 Boracay, Philippine. SPONSORS. Page: 67-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
40. Silva, L.B.D.D., 1991. Result of mud crab (Scylla serrata) fattening. The mud crab a report on the seminar convened in Surat Thani, Thailand, November 5- 8, 1991. Pages: 155-159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
41. Sivasubramaniam, K and C. Angell., 1991. A review of the culture, marketing and resources of the mud crab (Scylla serrata) in the bay of Bengal regon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
44. Srinivasagam, S. and M. Kathirvel, 1991. A review of experimental culture of the mud crab, Scylla serrata (Forskal) in Indian. The mud crab a report on the seminar convened in Surat Thani, Thailand, November 5-8, 1991. Pages:195-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
52. Triủo, A.T., O.M. Millamena and C.P.Keenan, 1998. Pond culture of the mud crab Scylla serrata (Forskal) formalua diet with or without Vitamin and mineral supplements. International forum on the culture of Portunid Crabs 1-4 December 1998 Boracay, Philippine. SPONSORS. Page: 45-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata
8. Cửu Long, 2003. Thăng trầm nghề nuôi cua lột. http://vietnamnet.vn/kinhte /toancanh/2003/12/38838/ Link
31. Nguyễn Ngọc Tú, 2008. Kỹ thuật nuôi cua thương phẩm trong ao đất.http://www.khuyennongvn.gov.vn/e-khcn/ky-thuat-nuoi-cua-thuong-pham-trong-ao-111at. Cập nhật: 02/10/2008 10:30 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Vòng đời cua biển theo NIOT - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 2.1 Vòng đời cua biển theo NIOT (Trang 12)
Hình 2.2: Lồng tre nuôi cua 1 con/lồng theo Cholik và Hanafi (1991) - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 2.2 Lồng tre nuôi cua 1 con/lồng theo Cholik và Hanafi (1991) (Trang 15)
Bảng 2.1: Tình hình nuôi cuabi ển tỉnh Trà Vinh năm 2001-2006 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Bảng 2.1 Tình hình nuôi cuabi ển tỉnh Trà Vinh năm 2001-2006 (Trang 17)
Hình 2.4: Xuất khẩu cua biển của Việt Nam năm 2001-2004 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 2.4 Xuất khẩu cua biển của Việt Nam năm 2001-2004 (Trang 17)
Hình 2.5: Lồng nuôi cuab ằng tre và nhựa PPNIOT - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 2.5 Lồng nuôi cuab ằng tre và nhựa PPNIOT (Trang 19)
Hình 3.1: Ao thực hiện thí nghiệm - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 3.1 Ao thực hiện thí nghiệm (Trang 20)
Hình 3.2: Các cỡ cua thí nghiệm - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 3.2 Các cỡ cua thí nghiệm (Trang 21)
Hình 3.3: Lồng gỗ 1 m3 và lồng nhựa 0,006 m3 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 3.3 Lồng gỗ 1 m3 và lồng nhựa 0,006 m3 (Trang 22)
Hình 3.4: Hệ thống phao nổi - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 3.4 Hệ thống phao nổi (Trang 22)
Hình 3.6: Cân trọng lượng cua Hình 3.7: Đo chiều rộng mai cua - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 3.6 Cân trọng lượng cua Hình 3.7: Đo chiều rộng mai cua (Trang 23)
Hình 4.10: Diễn biến nhiệt độ thí nghiệm 1 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 4.10 Diễn biến nhiệt độ thí nghiệm 1 (Trang 24)
Hình 4.11: Diễn biến pH thí nghiệm 1 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 4.11 Diễn biến pH thí nghiệm 1 (Trang 25)
Hình 4.4: Diễn biến độ mặn thí nghiệm 1 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 4.4 Diễn biến độ mặn thí nghiệm 1 (Trang 26)
Hình 4.5: Diễn biến độ kiềm thí nghiệm 1 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 4.5 Diễn biến độ kiềm thí nghiệm 1 (Trang 26)
Qua Bảng 4.2 và Hình 4.6 cho thấy, tăng trưởng về chiều rộng mai cua NT1 và NT2 qua nhiều lần đo khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P&gt;0,05), chỉ lần đo vào ngày 60 sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P&lt;0,05) - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
ua Bảng 4.2 và Hình 4.6 cho thấy, tăng trưởng về chiều rộng mai cua NT1 và NT2 qua nhiều lần đo khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P&gt;0,05), chỉ lần đo vào ngày 60 sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P&lt;0,05) (Trang 27)
Hình 4.12: Tăng trưởng về chiều rộng mai cua sau 120 ngày nuôi - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 4.12 Tăng trưởng về chiều rộng mai cua sau 120 ngày nuôi (Trang 27)
Hình 4.7: Tăng trưởng về trọng lượng cua sau 120 ngày nuôi - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 4.7 Tăng trưởng về trọng lượng cua sau 120 ngày nuôi (Trang 28)
Bảng 4.3 và Hình 4.7 cho thấy: Sau 120 ngày cua đạt trọng lượng trung bình 195,94 g/con, dao động 180-211,8 g/con.Ở NT2 trong khoảng 90 ngày đầu tăng trọng luôn thấp hơn NT1 nhưng sau 90 ngày đến kết thu hoạch thì lớn hơn NT1 (211,8 g/con so với 180 g/con - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Bảng 4.3 và Hình 4.7 cho thấy: Sau 120 ngày cua đạt trọng lượng trung bình 195,94 g/con, dao động 180-211,8 g/con.Ở NT2 trong khoảng 90 ngày đầu tăng trọng luôn thấp hơn NT1 nhưng sau 90 ngày đến kết thu hoạch thì lớn hơn NT1 (211,8 g/con so với 180 g/con (Trang 28)
Bảng 4.5: Năng suất và tiêu tốn thức ăn - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Bảng 4.5 Năng suất và tiêu tốn thức ăn (Trang 29)
Bảng 4.7: Tăng trưởng của cua trong thí nghiệ m2 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Bảng 4.7 Tăng trưởng của cua trong thí nghiệ m2 (Trang 30)
Hình 4.14: Trọng lượng cua thí nghiệ m2 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 4.14 Trọng lượng cua thí nghiệ m2 (Trang 31)
Hình 4.13: chiều rộng mai thí nghiệ m2 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Hình 4.13 chiều rộng mai thí nghiệ m2 (Trang 31)
Bảng 4.9: Tiêu tốn thức ăn thí nghiệ m2 - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Bảng 4.9 Tiêu tốn thức ăn thí nghiệ m2 (Trang 33)
Bảng 4.4: Kết quả thu hoạch cá chẽm và cá rô phi - Đề tài cấp trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Thực nghiệm nuôi cua biển (Scylla sp.) trong lồng nhỏ tại tỉnh Trà Vinh
Bảng 4.4 Kết quả thu hoạch cá chẽm và cá rô phi (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w