1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam

95 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 624 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài Thị trường KH&CN giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phục hồi và thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua quá trình thúc đẩy kết nối cung cầu về công nghệ, tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực KH&CN quốc gia phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội. Sự tác động của Nhà nước vào thị trường KH&CN thông qua chính sách có ý nghĩa tích cực nhằm khắc phục những khiếm khuyết của thị trường. Việc thúc đẩy nguồn cung, nguồn cầu và phát triển các tổ chức trung gian về công nghệ là một trong những nội dung quan trọng trong Chương trình phát triển thị trường KH&CN. Đây được coi là động lực để phát triển kinh tế, xã hội dựa trên nền tảng KH&CN, được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận. Tại Việt Nam, thị trường KH&CN là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được Nhà nước quan tâm đầu tư. Việc phát triển thị trường KH&CN gắn liền với việc thực thi, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các tổ chức tham gia thị trường, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động ứng dụng công nghệ, thúc đẩy quan hệ cung, cầu đối với hàng hóa công nghệ và dịch vụ KH&CN. Quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 8/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 đã đưa ra mục tiêu: Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường hằng năm bình quân không dưới 15%, không dưới 20% đối với một số công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; Tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN đạt không dưới 20% vào năm 2020; đến năm 2020, thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ. Mặc dù Chương trình phát triển thị trường KH&CN đã đạt được những thành tựu nhất định trong thời gian vừa qua, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như nguồn cung công nghệ còn chưa đa dạng, hoạt động kết nối cung, cầu công nghệ còn gặp nhiều khó khăn, tốc độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp diễn ra còn chậm, tỷ trọng giao dịch mua bán giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật trong tổng giá trị giao dịch mua bán còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ giao dịch về máy móc, trang thiết bị. Điều này có ảnh hưởng tới việc hoạt động quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình nhằm đạt được mục tiêu của Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Qua đó, góp phần đẩy nhanh tiến trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, nâng cao giá trị giao dịch công nghệ, đặc biệt là các giao dịch về công nghệ cao, giao, công nghệ tiên tiến, tài sản trí tuệ. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài 2.1. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài Để phát triển triển thị trường KH&CN, một số quốc gia cũng đã có những chính sách, chương trình phù hợp trong việc kích cung, kích cầu công nghệ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan. Ví dụ như Hàn Quốc, việc phát triển thị trường KH&CN được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu từ những năm 1960 đến 1970; giai đoạn chuyển sang phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao từ những năm 1970 đến 1990; giai đoạn từ năm 1990 đến nay, quá trình toàn cầu hoá, hội nhập và tự do hoá thương mại. Đã có một số nghiên cứu trên thế giới về chính sách thúc đẩy nguồn cung, nguồn cầu và kết nối cung - cầu công nghệ., Các chính sách phát triển nguồn cung về cơ bản hướng tới việc tạo ra các ưu đãi để khuyến khích hoạt động nghiên cứu phát triển, bao gồm các ưu đãi thuế, tài trợ, cho vay, đầu tư. Các chính sách phát triển nguồn cầu hướng tới việc tạo ra môi trường thuận lợi, giảm thiểu rủi ro để khuyến khích sản phẩm công nghệ được đưa ra thị trường (Aho, E., Cornu, J., Georghiou, L., Subira, A, 2006; Patarapong Intarakumnerd and Akira Goto, 2016). Trên cơ sở các hoạt động ưu đãi phổ biến như thuế, ưu đãi vốn vay, tài trợ, đối với phát triển nguồn cung công nghệ, các quốc gia sẽ có các chính sách khác nhau theo các giai đoạn cụ thể. Ví dụ, trong nghiên cứu của Học viện Ngân hàng Phát triển Châu Á (Patarapong Intarakumnerd and Akira Goto, 2016) đã phân tích tương đối cụ thể về ưu điểm và nhược điểm của các loại hình ưu đãi này và cách thức khác nhau khi các quốc gia đã áp dụng trong chính sách phát triển nguồn cung. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng triển khai nhiều nghiên cứu đối với hoạt động phát triển nguồn cầu để đánh giá hiệu quả của các chính sách khác nhau đã được thực hiện tại các quốc gia này. OECD (2011) đã tiến hành đánh giá 14 chương trình phát triển nguồn cầu để đưa ra các bài học kinh nghiệm có gia trị, đặc biệt là các nước đang phát triển tại các quốc gia thành viên. Xây dựng các chính sách, chương trình thúc đẩy kết nối nguồn cung, nguồn cầu công nghệ trên thị trường KH&CN nhằm tạo môi trường thuận lợi để tạo điều kiện cho hoạt động chuyển giao công nghệ. Mục tiêu chung là xây dựng được môi trường thuận lợi cho hoạt động kết nối cung cầu, phát triển các tổ chức trung gian để hỗ trợ quá trình tiếp nhận và chuyển giao công nghệ. Điều này được thực hiện thông qua các chính sách khuyến khích hình thành và hoàn thiện thể chế trung gian, tạo lập nền tảng pháp lý về sở hữu trí tuệ, khuyến khích trao đổi tri thức giữa khu vực sản xuất và nghiên cứu. Ví dụ, trong nghiên cứu của LHQ (UNCTAD, 2015) đã nêu và phân tích hiệu quả các chính sách phát triển KH&CN của Thái Lan, các chính sách, chương trình thúc đẩy kết nối cung, cầu công nghệ có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam đã được nghiên cứu. 2.2. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở trong nước Tại Việt Nam, trong giai đoạn vừa qua, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với KH&CN, nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai và có các đóng góp nhất định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động kết nối cung - cầu nói riêng, cụ thể: Về thuật ngữ “Thị trường công nghệ” hay “Thị trường KH&CN”. Đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu luận bàn về việc sử dụng thuật ngữ “Thị trường công nghệ” hay “Thị trường KH&CN” bằng các quan điểm, cách tiếp cận khác nhau như Nguyễn Võ Hưng (2003), Hoàng Xuân Long (2007), Hồ Ngọc Luật (2008), Hồ Đức Việt (2010), Nguyễn Vân Anh (2011), Trần Văn Hải (2012). Thực tế cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ngày càng được rút ngắn, ranh giới giữa KH&CN ngày càng khó tách bạch. Có quan điểm cho rằng không có thị trường KH&CN, mà chỉ có thị trường công nghệ, bởi vì khoa học có chức năng tìm ra những kiến thức mới, những kiến thức này được phổ biến cho toàn xã hội nên không mua bán được, vì vậy không xuất hiện thị trường, ví dụ không ai mua bán định luật Faraday hay Pitago cả trong khi đó công nghệ thì được mua bán và trao đổi trên thị trường và tuân theo qui luật cung, cầu. Một số công trình nghiên cứu về phát triển thị trường KH&CN cho thấy, thị trường KH&CN là những cơ chế phân bổ đảm bảo việc giao dịch hàng hóa công nghệ diễn ra thuận lợi trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia, gắn với phương thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống (Nguyễn Quang Tuấn, 2013; Nguyễn Hữu Xuyên, 2015). Để phát triển được thị trường KH&CN cần phải nhận dạng, xác định rõ hàng hóa công nghệ là gì? Theo Luật Chuyển giao công nghệ (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm; Còn khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy (Luật Khoa học và Công nghệ, 2013). Do đó, hàng hóa công nghệ khác với hàng hóa thông thường bởi vì hàm chứa một phần quan trọng, đó là các kiến thức, hiểu biết gắn liền với phương pháp, qui trình được sử dụng trong sản xuất và cung ứng dịch vụ. Đặc biệt, việc xác định giá trị của công nghệ phụ thuộc vào hàm lượng tri thức hàm chứa trong công nghệ đó và có sự chênh lệch giữa bên tiếp nhận và bên chuyển giao công nghệ. Như vậy, các công trình trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã có ý nghĩa tích cực tới hoạt động quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển KH&CN và đề ra các giải pháp hoàn thiện quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam chưa thực sự được làm rõ. Đây là các nội dung cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện trong giai đoạn tới nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị giao dịch công nghệ trên thị trường khoa học và công nghệ. 3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3.1. Mục tiêu tổng quát: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 phù hợp với điều kiện của Việt Nam. 3.2. Mục tiêu cụ thể: - Làm rõ được khung nghiên cứu về quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN. - Đánh giá thực trạng quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam giai đoạn 2015-2017. - Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020, định hướng tới năm 2025. 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Khung nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN: - Yếu tố thuộc về cơ quan quản lý nhiệm vụ KH&CN - Yếu tố thuộc về đối tượng thực hiện nhiệm vụ KH&CN - Yếu tố bên ngoài cơ quan quản lý nhiệm vụ KH&CN Quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN: - Tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn đề xuất nhiệm vụ KH&CN - Tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN - Thẩm định nội dung, kinh phí, phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN - Kiểm tra, đánh giá, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN - Nghiệm thu, công nhận kết quả và thành lý hợp đồng nhiệm vụ KH&CN Mục tiêu quản lý c nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN: - Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường. - Tăng tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN. - Thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ. 4.2. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu lý thuyết và tài liệu có liên quan đến thị trường khoa học và công nghệ, kết nối cung, cầu công nghệ, chính sách phát triển thị trường KH&CN; đồng thời luận văn còn sử dụng các số liệu, dữ liệu từ các công trình ở trong và ngoài nước đã công bố, các báo cáo của cơ quan quản lý về KH&CN như Bộ KH&CN, Tổng cục Thống kê. Để rõ hơn, tác giả luận văn còn tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, thị trường KH&CN (05 chuyên gia) như Cục Phát triểnThị trường và Doanh nghiệp KH&CN, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ,…. Do hạn chế về nguồn lực, tác giả chỉ tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia mà không tiến hành khảo sát các chủ nhiệm nhiệm vụ, đây là một trong những hạn chế của đề tài luận văn. Sau khi có số liệu, dữ liệu, tác giả luận văn tiến hành làm sạch và phân tích số liệu để làm rõ thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN. Đây là một trong những cơ sở quan trọng để có thể đề xuất được giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CN Chương trình phát triển thị trường KH&CN trong thời gian tới. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5.1. Đối tượng nghiên cứu Quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN. 5.2. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam có phạm vi rộng, luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vào quy trình quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN theo Quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 8/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020. - Phạm vi không gian: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu, khảo sát số liệu thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 do Bộ KH&CN quản lý, chủ thể quản lý nhiệm vụ KH&CN là Bộ KH&CN. - Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN từ năm 2015 đến năm 2017, đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020. 6. Những đóng góp của đề tài 6.1. Đóng góp về lý luận - Làm rõ được khung nghiên cứu về quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN. - Xác định được các yếu tố có ảnh hưởng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN. 6.2. Đóng góp về thực tiễn - Làm rõ được thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN giai đoạn 2015 - 2017. - Đề xuất các giải pháp có tính khả thi về việc hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CN Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020. 7. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệthuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN Chương 2: Thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn vàgiúp đỡ tận tình của TS Nguyễn Hữu Xuyên, các thầy cô giáo Trường Đại họcKinh tế quốc dân cùng một số cơ quan tại Bộ Khoa học và Công nghệ Với tình cảmchân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:

Ban Giám hiệu, các giảng viên Khoa Khoa học quản lý đã giảng dạy và tạođiều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và trong quá trình thực hiện luận vănnày Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới của TS Nguyễn Hữu Xuyên, làngười thầy hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo và cho tôi những lời khuyên sâusắc giúp tôi hoàn thành đúng hạn luận văn

Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia vàCục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN đã tạo mọi điều kiện tốt nhấtcho tôi trong quá trình làm luận văn

Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn sát cánh động viên vàgiúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Phạm Hải Minh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1.Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường KH&CN giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phục hồi và thúcđẩy phát triển kinh tế thông qua quá trình thúc đẩy kết nối cung cầu về công nghệ,tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao nănglực KH&CN quốc gia phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội Tại Việt Nam, thịtrường KH&CN là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, được Nhà nước quan tâm đầu tư Mặc dù Chương trình phát triểnthị trường KH&CN đã đạt được những thành tựu nhất định trong thời gian vừa qua,tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Điều này có ảnh hưởng tới việchoạt động quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình nhằm đạt được mục tiêucủa Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 Do đó, việc nghiêncứu đề tài “Quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trườngKH&CN tại Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài bao gồm: Các côngtrình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài, Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở trongnước

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lýnhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020phù hợp với điều kiện của Việt Nam Cụ thể: Làm rõ được khung nghiên cứu vềquản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học

và công nghệ; Đánh giá thực trạng quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chươngtrình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2017; Đề xuấtđược các giải pháp hoàn thiện quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trìnhphát triển thị trường KH&CN đến năm 2020, định hướng tới năm 2025

Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụngphương pháp nêu lên khung nghiên cứu, đồng thời thu thập và xử lý số liệu Để rõhơn, tác giả luận văn còn tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực

Trang 7

khoa học và công nghệ, thị trường KH&CN

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc

Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nội dung: Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại ViệtNam có phạm vi rộng, luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vào quy trình quản lýcác nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN theoQuyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 8/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phêduyệt Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 (gắn với giai đoạn

5 năm của Chương trình, đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CNthuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020)

Khung nghiên cứu:

- Yếu tố thuộc về cơ

quan quản lý nhiệm vụ

KH&CN

- Yếu tố thuộc về đối

tượng thực hiện nhiệm

vụ KH&CN

- Yếu tố bên ngoài cơ

quan quản lý nhiệm vụ

KH&CN

Quản lý các nhiệm vụ khoahọc và công nghệ1 thuộcChương trình phát triển thịtrường KH&CN:

- Tiếp nhận, đánh giá và lựachọn đề xuất nhiệm vụKH&CN

- Tổ chức tuyển chọn, xétchọn tổ chức, cá nhân chủtrì nhiệm vụ KH&CN

- Thẩm định nội dung, kinhphí, phê duyệt và ký hợpđồng thực hiện nhiệm vụKH&CN

- Kiểm tra, đánh giá, xử lýcác vấn đề phát sinh trongquá trình thực hiện nhiệm

vụ KH&CN

- Nghiệm thu, công nhậnkết quả và thành lý hợpđồng nhiệm vụ KH&CN

Mục tiêu quản lý cnhiệm vụ KH&CNthuộc Chương trình pháttriển thị trườngKH&CN:

- Tăng giá trị giao dịchmua bán các sản phẩm

và dịch vụ KH&CN trênthị trường

- Tăng tỷ trọng giao dịchmua bán tài sản trí tuệtrong tổng giá trị giaodịch mua bán các sảnphẩm và dịch vụ trên thịtrường KH&CN

- Thiết lập mạng lưới sàngiao dịch công nghệ kèmtheo hệ thống tổ chứcdịch vụ KH&CN hỗ trợ

1 Nhiệm vụ là các đề tài, dự án, đề án thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ.

Trang 8

Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục và tài liệu tham khảo,luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trìnhphát triển thị KH&CN

Chương 2: Thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình pháttriển thị trường KH&CN tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộcChương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KH&CN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Thị trường khoa học công nghệ và chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Thị trường là tập hợp các sự thỏa thuận thông qua có người bán và ngườimua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ Thị trường hình thành khi có

sự tiếp xúc giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ và đượcxác định bằng quan hệ cung cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ hàng đó KH&CN như làmột loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, cũng được mua bán, trao đổi lưu thông trên thịtrường tương tự như các loại hàng hóa, dịch vụ khác

Chương trình phát triển thị trường KH&CN được hiểu là tập hợp hệ thống

các quan điểm phát triển, các mục tiêu, các định hướng, công cụ và các nhiệm vụphải thực hiện để thúc đẩy phát triển cầu công nghệ, cung công nghệ, các tổ chứctrung gian của thị trường khoa học và công nghệ

1.2 Nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CNđược thực hiện nhằm: góp phần phổ biến, truyền bá tri thức về thị trường, khoa học,công nghệ; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho thị trường KH&CN phát triển; gópphần nâng cao năng lực của các tổ chức thực thi pháp luật về thị trường khoa học vàcông nghệ; tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, nângcao năng lực chuyển giao công nghệ, hỗ trợ cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồnnhân lực khoa học và công nghệ

Trang 9

Các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CNThứ nhất, đề án, đề tài KH&CN

Thứ hai, dự án KH&CN

Thứ ba, các hoạt động hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học

và công nghệ, tài sản trí tuệ

1.3 Quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

- Mục tiêu quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thịtrường KH&CN: tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CNtrên thị trường, nâng cao tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ, thiết lập mạnglưới sàn giao dịch công nghệ, hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực tư vấn pháp pháp lý

để hình thành và phát triển các trung tâm xúc tiến chuyển giao công nghệ, trung tâm

hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ, trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo…

- Nguyên tắc quản lý của Chương trình phát triển thị trường KH&CN Mộtchương trình KH&CN thường có nhiều đề tài, dự án, đề án KH&CN và các hoạtđộng (gọi chung là nhiệm vụ khoa học và công nghệ), các nhiệm vụ có mối quan hệgắn kết và liên ngành với nhau theo một logic nhằm quyết tổng thể mục tiêu nghiêncứu trung và dài hạn Việc quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình pháttriển thị trường KH&CN là đảm bảo cho các chương trình được thực hiện đúngđường lối, chính sách, pháp luật về KH&CN, phục vụ cho quá trình phát triển kinh

tế, xã hội

- Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trìnhphát triển thị trường KH&CN

Các yếu tố thuộc về cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ

a Chất lượng của các hội đồng tư vấn nhiệm vụ khoa học công nghệ và năng lực của Ban Quản lý Chương trình

b Nguồn kinh phí phục vụ hoạt động quản lý của chương trình

Các yếu tố thuộc về chủ nhiệm và đơn vị chủ trì nhiệm vụ KH&CN

Các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài

a Phương hướng phát triển KH&CN quốc gia

b Chính sách, cơ chế về quản lý chương trình KH&CN cấp quốc gia

Trang 10

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KH&CN THUỘCCHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KH&CN TẠI

VIỆT NAM 2.1 Khái quát chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

2.1.1.Thực trạng phát triển thị trường KH&CN Việt Nam

Về môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý cho thị trường KH&CN đã được Nhà nước quan tâm từsớm Nghị định số 159/2004/NĐ-CP, ngày 31/8/2004 đã chỉ rõ tổ chức hoạt động vàquản lý Chợ công nghệ và thiết bị là một trong những nội dung quan trọng của thịtrường khoa học và công nghệ Để đưa vào cuộc sống Chương trình hành động củaChính phủ triển khai thực hiện Kết luận Hội nghị TW6 (khoá IX), Bộ KH&CN đãchỉ đạo và trực tiếp tổ chức các hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ, thươngmại hoá các kết quả nghiên cứu, đưa các thành tựu KH&CN vào sản xuất Nhànước đã ban hành 8 Luật liên quan tới phát triển thị trường KH&CN Nhìnchung, các văn bản luật trên đã tạo ra hàng lang pháp lý tương đối đầy đủ chothị trường KH&CN phát triển

Về cung, cầu công nghệ và giao dịch công nghệ

Theo Bộ KH&CN (2017), trong giai đoạn 2010 - 2016, thông qua các sàngiao dịch đã có khoảng 500 hợp đồng và biên bản ghi nhớ được ký kết với giá trịgiao dịch công nghệ, thiết bị là 600 tỷ đồng Các kỳ Techmart và Techdemo giaiđoạn 2006 - 2015 đã kết nối, ký kết hơn 7.000 hợp đồng, biên bản được ghi nhớ vớitổng giá trị giao dịch hơn 8.700 tỷ đồng Giai đoạn 2010 - 2016, các trung tâm ứngdụng và chuyển giao công nghệ đã ký kết 16.112 hợp đồng tư vấn chuyển giao côngnghệ với tổng giá trị 313 tỷ đồng Trong giai đoạn 2006 - 2016, giá trị giao dịchgiảm so với năm trước, nhưng về cơ bản toàn bộ giai đoạn, xu hướng các năm saugiao dịch tăng cao hơn năm trước khoảng 15%, tổng giá trị giao dịch từ các hoạtđộng nêu trên giai đoạn này là gần 10.000 tỷ đồng Hoạt động chuyển giao các kếtquả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ giữa viện, trường và doanh nghiệp

có chuyển biến tích cực nhưng chưa được như kỳ vọng

Thực trạng các tổ chức trung gian về công nghệ

Trang 11

Theo Bộ KH&CN (2017), hiện nay trên cả nước có 13 sàn giao dịch côngnghệ, đa phần các sàn giao dịch công nghệ này đang hoạt động với tư cách là mộtđơn vị sự nghiệp KH&CN thuộc Sở KH&CN, được đảm bảo kinh phí ngân sáchnhà nước để duy trì hoạt động thường xuyên Bên cạnh đó, cả nước hiện nay có 8công viên phần mềm, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 9 cơ sở ươmtạo công nghệ cao và ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao đã được xây dựng và đivào hoạt động, 50 vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp KH&CN, 63 trung tâmứng dụng tiến bộ khoa họcvà chuyển giao công nghệ ở 63 tỉnh, thành phố

2.1.2 Giới thiệu chương trình phát triển thị trường khoa học công nghệ

Căn cứ xây dựng và mục tiêu chương trình

Luận văn đã nêu lên những căn cứ pháp lý của Chương trình phát triển thịtrường KH&CN như Luật KH&CN (2000, sửa đổi 2013); các văn bản dưới Luậthướng dẫn thực hiện Luật… và đưa ra những mục tiêu của Chương trình phát triểnthị trường KH&CN đến năm 2020

Tổ chức bộ máy quản lý của chương trình

1- Bộ máy quản lý Chương trình bao gồm: Bộ KH&CN chủ trì, BCN Chương trình

có trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình Các vụ chức năng của BộKH&CN thực hiện vai trò QLNN của Bộ KH&CN trong tổ chức quản lý Chươngtrình, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, Quỹ Phát triển KH&CNquốc gia, giúp Bộ trưởng Bộ KH&CN thực hiện chức năng quản lý hoạt động cácChương trình”

2- Nội dung quản lý Chương trình bao gồm: Xác định danh mục đề tài; Tổ chứctuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thuộc Chương trình; Thẩm định nộidung, kinh phí; Tổ chức thực hiện, kiểm tra; Tổ chức nghiệm thu, đánh giá, côngnhận kết quả nhiệm vụ

2.1.3 Thực trạng các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Trong giai đoạn 2015 - 2017, trong tổng số 41 nhiệm vụ được phê duyệt thì

có 12 đề tài, đề án KH&CN được thực hiện, cụ thể như sau:

- Năm 2015 là năm khởi đầu của Chương trình nên các nhiệm vụ được phê

Trang 12

duyệt, tập trung vào các đề tài nghiên cứu về hoàn thiện thể chế, chính sách, hoànthiện các mô hình đánh giá, định giá công nghệ, các dự án xúc tiến phát triển thịtrường KH&CN, đào tạo nguồn nhân lực, dự án hỗ trợ thương mại hóa một số côngnghệ trong hai lĩnh vực vật liệu mới và bảo vệ môi trường, góp phần hoàn thiện thểchế về phát triển thị trường KH&CN, thúc đẩy kết nối cung cầu công nghệ, thúc đẩythương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

- Năm 2016 tập trung chủ yếu vào các dự án xúc tiến phát triển thị trường,bao gồm cả khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, các dự án nâng cấp, phát triển hoạt độngcủa các tổ chức trung gian, đào tạo nguồn nhân lực cho các tổ chức trung gian,doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trong đó đặc biệt chú trọng các dự án hỗ trợTMH công nghệ, tài sản trí tuệ trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và chế biến,chế tạo

Năm 2017 các nhiệm vụ tập trung nhiều vào các dự án, hoạt động nhằm thúcđẩy giá trị giao dịch công nghệ Việc triển khai Chương trình phát triển thị trườngKH&CN đã góp phần nhất định trong việc tạo động lực, thúc đẩy các hoạt động liêndoanh, liên kết trong nghiên cứu phát triển công nghệ Các sự kiện được tổ chứctrong khuôn khổ của Chương trình mở ra nhiều cơ hội thương mại hóa, hợp tác,chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp, viện, trường, thúc đẩy hoạt động kết nốidoanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, các tổ chức tài chính, các quỹ đầu tư mạo hiểmcũng như thúc đẩy thương mại hóa các ý tưởng sáng tạo, sản phẩm của các cá nhân,nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp

2.1.4 Đánh giá quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Những ưu điểm chính

Thứ nhất, về tiếp nhận, đánh giá, lựa chọn và tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổchức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN đã từng bước được hoàn thiện;Thứ hai, hoạt động thẩm định nội dung, kinh phí, phê duyệt và ký hợp đồng thựchiện nhiệm vụ KH&CN đã được đẩy nhanh; Thứ ba, hoạt động kiểm tra, giám sát

và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công

Trang 13

nghệ, cũng như quá trình đánh giá, nghiệm thu, công nhận kết quả thực hiện nhiệm

vụ KH&CN đã có những cải tiến đáng kể

Những hạn chế cơ bản:

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả nhất định, tuy nhiên các hoạt động phục vụcho Chương trình phát triển thị trường KH&CN còn có những hạn chế; mặc dù hoạtđộng tiếp nhận, đánh giá, lựa chọn các đề xuất, tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổchức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ đã có những cải thiện nhưng chưa đáp ứng kỳ vọngcủa các tổ chức, cá nhân khi tham gia Chương trình phát triển thị trường KH&CN;việc thẩm định nội dung, kinh phí, phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệmKH&CN vẫn còn những hạn chế; việc kiểm tra, giám sát, xử lý các vấn đề phát sinhtrong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cũng như quá trình nghiệm thu, đánh giá vàcông nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ chưa mang lại hiệu quả cao, còn rườm rà,hình thức

Nguyên nhân của những hạn chế

Mặc dù định hướng phát triển KH&CN của Việt Nam đã có những chuyển biếntích cực nhưng chưa đáp ứng tốt được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội cơ sở pháp

lý để BCN chương trình có thể kiểm soát các nhiệm vụ KH&CN, hướng tới các kếtquả sau nghiệm thu chưa thực sự đủ chưa lựa chọn được tốt các thanh viên tronghội đồng tư vấn, xét chọn, tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình pháttriển thị trường KH&CN Nguồn tài chính cho Chương trình phát triển thị trườngKH&CN còn hạn chế

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KH&CN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ

3.1 Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình phát triển thị trường KH&CN

Mục tiêu hoàn thiện

Kích thích hoạt đông đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, kích cung, tạo cầunhằm tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị

Trang 14

trường KH&CN; hỗ trợ doanh nghiệp kết nối, tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiệnđại; đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chínhnhằm đẩy nhanh tiến độ đổi mới công nghệ, tạo điều kiện cho thị trường KH&CNphát triển Đặc biệt đẩy mạnh thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo

hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ

Phương hướng hoàn thiện

Các nhiệm vụ được thực hiện cần hướng tới hoạt động thương mại hóa và có tínhứng dụng cao trong thực tiễn Để kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN có chất lượng, cầntiếp tục hoàn thiện cách thức và tăng cường đánh giá giữa kỳ một cách thường xuyên, việcđánh giá giữa kỳ một cách khoa học sẽ giúp khâu đánh giá, nghiệm cuối cùng thu bớt đicác thủ tục, tạo điều kiện cho việc tập trung đánh giá chất lượng kết quả thực hiện nhiệm

vụ KH&CN Để có chất lượng tốt trong toàn bộ quy trình từ khâu xây dựng kế hoạch, xácđịnh nhiệm vụ tới đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ thì cần phải lựa chọn các chuyên gia phùhợp, có uy tín trong lĩnh vực KH&CN

Ngoài ra, để việc thực hiện theo quy trình diễn ra thuận lợi thì cần thiết phải tiếp tụcđổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức, quản lý, ứng dụng các kết quả nghiên cứu:

3.2 Điều kiện để thực hiện các giải pháp

Đối với Chính phủ

Thứ nhất, Chính phủ cần làm rõ hơn các định hướng phát triển KH&CNtheo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, tăng tỷ lệ đầu tư cho hoạt độngkhoa học và công nghệ

Thứ hai, Chính phủ cần tăng cường quản lý nguồn ngân sách cho thực hiệncác chương trình, dự án phát triển thị trường KH&CN, đảm bảo cung cấp vốn đầy

đủ, đúng tiến độ

Đối với cơ quan tổ chức triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Cần gắn trách nhiệm cao của người đứng đầu Bộ KH&CN trong việc đề xuất đặthàng nhiệm vụ KH&CN Nâng cao năng lực quản lý của BCN Chương trình, nănglực của Hội đồng tư vấn, xét chọn Năng lực của các đơn vị tham gia chương trình,nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cán bộ kế toán chuyên trách trong quản lýngân sách cho Chương trình phát triển thị trường KH&CN theo phương án đã được

Trang 15

lãnh đạo Bộ KH&CN phê duyệt Tạo ra cơ chế hữu hiệu để tập trung giải quyết cácnhiệm vụ KH&CN quy mô lớn, liên quan các sản phẩm chủ lực, có thế mạnh trongcạnh tranh quốc tế của đất nước Khuyến khích nhiệm vụ có định hướng tìm kiếm bíquyết và giải mã công nghệ Có cơ chế chính sách đầu tư đến ngưỡng cho các côngtrình nghiên cứu có triển vọng, nhằm thúc đẩy việc áp dụng các kết quả KH&CNvào sản xuất và đời sống.

Ngoài ra, cần giao cho các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà sản xuất amhiểu sâu sắc vấn đề thực tiễn, nắm bắt tốt các xu hướng phát triển của công nghệđưa ra các đề xuất BCN cùng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN,

Bộ KH&CN tổ chức hội thảo, lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhàquản lý rồi ra đề bài đặt hàng Nếu làm được như vậy sẽ tránh tình trạng như nhữnggiai đoạn trước đây là thu thập các đề xuất của các nhà khoa học nhiều khi mangtính rời rạc, chủ quan, ý nghĩa thực tiễn và tính khả thi thấp rồi lựa chọn theo kiểu

bỏ phiếu

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường KH&CN giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phục hồi và thúcđẩy phát triển kinh tế thông qua quá trình thúc đẩy kết nối cung cầu về công nghệ,tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao nănglực KH&CN quốc gia phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội Sự tác động của Nhànước vào thị trường KH&CN thông qua chính sách có ý nghĩa tích cực nhằm khắcphục những khiếm khuyết của thị trường Việc thúc đẩy nguồn cung, nguồn cầu vàphát triển các tổ chức trung gian về công nghệ là một trong những nội dung quantrọng trong Chương trình phát triển thị trường KH&CN Đây được coi là động lực

để phát triển kinh tế, xã hội dựa trên nền tảng KH&CN, được nhiều quốc gia trênthế giới thừa nhận

Tại Việt Nam, thị trường KH&CN là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được Nhà nước quan tâm đầu tư Việcphát triển thị trường KH&CN gắn liền với việc thực thi, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệcủa các tổ chức tham gia thị trường, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt độngứng dụng công nghệ, thúc đẩy quan hệ cung, cầu đối với hàng hóa công nghệ vàdịch vụ KH&CN Quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 8/11/2013 của Thủ tướngChính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020

đã đưa ra mục tiêu: Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụKH&CN trên thị trường hằng năm bình quân không dưới 15%, không dưới 20% đốivới một số công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; Tỷ trọng giao dịch muabán tài sản trí tuệ (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) trong tổng giá trị giaodịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN đạt không dưới 20%vào năm 2020; đến năm 2020, thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèmtheo hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ

Mặc dù Chương trình phát triển thị trường KH&CN đã đạt được những thànhtựu nhất định trong thời gian vừa qua, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất

Trang 17

định như nguồn cung công nghệ còn chưa đa dạng, hoạt động kết nối cung, cầucông nghệ còn gặp nhiều khó khăn, tốc độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệpdiễn ra còn chậm, tỷ trọng giao dịch mua bán giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuậttrong tổng giá trị giao dịch mua bán còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ giao dịch về máymóc, trang thiết bị Điều này có ảnh hưởng tới việc hoạt động quản lý nhiệm vụKH&CN thuộc chương trình nhằm đạt được mục tiêu của Chương trình phát triểnthị trường KH&CN đến năm 2020 Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhiệm

vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại Việt Nam” có ýnghĩa lý luận và thực tiễn Qua đó, góp phần đẩy nhanh tiến trình đổi mới côngnghệ của doanh nghiệp, nâng cao giá trị giao dịch công nghệ, đặc biệt là các giaodịch về công nghệ cao, giao, công nghệ tiên tiến, tài sản trí tuệ

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài

Để phát triển triển thị trường KH&CN, một số quốc gia cũng đã có nhữngchính sách, chương trình phù hợp trong việc kích cung, kích cầu công nghệ nhưNhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan Ví dụ như Hàn Quốc, việc phát triểnthị trường KH&CN được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn công nghiệp hóa địnhhướng xuất khẩu từ những năm 1960 đến 1970; giai đoạn chuyển sang phát triểncác ngành công nghiệp kỹ thuật cao từ những năm 1970 đến 1990; giai đoạn từ năm

1990 đến nay, quá trình toàn cầu hoá, hội nhập và tự do hoá thương mại Đã có một

số nghiên cứu trên thế giới về chính sách thúc đẩy nguồn cung, nguồn cầu và kếtnối cung - cầu công nghệ., Các chính sách phát triển nguồn cung về cơ bản hướngtới việc tạo ra các ưu đãi để khuyến khích hoạt động nghiên cứu phát triển, bao gồmcác ưu đãi thuế, tài trợ, cho vay, đầu tư Các chính sách phát triển nguồn cầu hướngtới việc tạo ra môi trường thuận lợi, giảm thiểu rủi ro để khuyến khích sản phẩmcông nghệ được đưa ra thị trường (Aho, E., Cornu, J., Georghiou, L., Subira, A,2006; Patarapong Intarakumnerd and Akira Goto, 2016)

Trên cơ sở các hoạt động ưu đãi phổ biến như thuế, ưu đãi vốn vay, tài trợ,đối với phát triển nguồn cung công nghệ, các quốc gia sẽ có các chính sách khác

Trang 18

nhau theo các giai đoạn cụ thể Ví dụ, trong nghiên cứu của Học viện Ngân hàngPhát triển Châu Á (Patarapong Intarakumnerd and Akira Goto, 2016) đã phân tíchtương đối cụ thể về ưu điểm và nhược điểm của các loại hình ưu đãi này và cáchthức khác nhau khi các quốc gia đã áp dụng trong chính sách phát triển nguồn cung.

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng triển khai nhiều nghiên cứu đốivới hoạt động phát triển nguồn cầu để đánh giá hiệu quả của các chính sách khácnhau đã được thực hiện tại các quốc gia này OECD (2011) đã tiến hành đánh giá 14chương trình phát triển nguồn cầu để đưa ra các bài học kinh nghiệm có gia trị, đặcbiệt là các nước đang phát triển tại các quốc gia thành viên

Xây dựng các chính sách, chương trình thúc đẩy kết nối nguồn cung, nguồncầu công nghệ trên thị trường KH&CN nhằm tạo môi trường thuận lợi để tạo điềukiện cho hoạt động chuyển giao công nghệ Mục tiêu chung là xây dựng được môitrường thuận lợi cho hoạt động kết nối cung cầu, phát triển các tổ chức trung gian

để hỗ trợ quá trình tiếp nhận và chuyển giao công nghệ Điều này được thực hiệnthông qua các chính sách khuyến khích hình thành và hoàn thiện thể chế trung gian,tạo lập nền tảng pháp lý về sở hữu trí tuệ, khuyến khích trao đổi tri thức giữa khuvực sản xuất và nghiên cứu Ví dụ, trong nghiên cứu của LHQ (UNCTAD, 2015) đãnêu và phân tích hiệu quả các chính sách phát triển KH&CN của Thái Lan, cácchính sách, chương trình thúc đẩy kết nối cung, cầu công nghệ có nhiều điểm tươngđồng với Việt Nam đã được nghiên cứu

2.2 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở trong nước

Tại Việt Nam, trong giai đoạn vừa qua, cùng với sự quan tâm của Đảng vàNhà nước đối với KH&CN, nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai và cócác đóng góp nhất định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN nói chung

và hoạt động kết nối cung - cầu nói riêng, cụ thể:

Về thuật ngữ “Thị trường công nghệ” hay “Thị trường KH&CN” Đến nay,

đã có nhiều nhà nghiên cứu luận bàn về việc sử dụng thuật ngữ “Thị trường côngnghệ” hay “Thị trường KH&CN” bằng các quan điểm, cách tiếp cận khác nhau nhưNguyễn Võ Hưng (2003), Hoàng Xuân Long (2007), Hồ Ngọc Luật (2008), Hồ ĐứcViệt (2010), Nguyễn Vân Anh (2011), Trần Văn Hải (2012) Thực tế cho thấy

Trang 19

khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ngày càng được rútngắn, ranh giới giữa KH&CN ngày càng khó tách bạch Có quan điểm cho rằngkhông có thị trường KH&CN, mà chỉ có thị trường công nghệ, bởi vì khoa học cóchức năng tìm ra những kiến thức mới, những kiến thức này được phổ biến cho toàn

xã hội nên không mua bán được, vì vậy không xuất hiện thị trường, ví dụ không aimua bán định luật Faraday hay Pitago cả trong khi đó công nghệ thì được mua bán

và trao đổi trên thị trường và tuân theo qui luật cung, cầu

Một số công trình nghiên cứu về phát triển thị trường KH&CN cho thấy, thịtrường KH&CN là những cơ chế phân bổ đảm bảo việc giao dịch hàng hóa côngnghệ diễn ra thuận lợi trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia, gắn với phương thứcthương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống(Nguyễn Quang Tuấn, 2013; Nguyễn Hữu Xuyên, 2015) Để phát triển được thịtrường KH&CN cần phải nhận dạng, xác định rõ hàng hóa công nghệ là gì? TheoLuật Chuyển giao công nghệ (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết cókèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sảnphẩm; Còn khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triểncủa sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy (Luật Khoa học và Công nghệ,2013) Do đó, hàng hóa công nghệ khác với hàng hóa thông thường bởi vì hàmchứa một phần quan trọng, đó là các kiến thức, hiểu biết gắn liền với phương pháp,qui trình được sử dụng trong sản xuất và cung ứng dịch vụ Đặc biệt, việc xác địnhgiá trị của công nghệ phụ thuộc vào hàm lượng tri thức hàm chứa trong công nghệ

đó và có sự chênh lệch giữa bên tiếp nhận và bên chuyển giao công nghệ

Như vậy, các công trình trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã có ýnghĩa tích cực tới hoạt động quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình pháttriển thị trường KH&CN Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý cácnhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển KH&CN và đề ra các giải pháp hoànthiện quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CNtại Việt Nam chưa thực sự được làm rõ Đây là các nội dung cần tiếp tục được nghiêncứu và hoàn thiện trong giai đoạn tới nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nângcao giá trị giao dịch công nghệ trên thị trường khoa học và công nghệ

Trang 20

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Khung nghiên cứu

- Yếu tố thuộc về cơ

quan quản lý nhiệm vụ

KH&CN

- Yếu tố thuộc về đối

tượng thực hiện nhiệm

vụ KH&CN

- Yếu tố bên ngoài cơ

quan quản lý nhiệm vụ

KH&CN

Quản lý các nhiệm vụ khoahọc và công nghệ2 thuộcChương trình phát triển thịtrường KH&CN:

- Tiếp nhận, đánh giá và lựachọn đề xuất nhiệm vụKH&CN

- Tổ chức tuyển chọn, xétchọn tổ chức, cá nhân chủtrì nhiệm vụ KH&CN

- Thẩm định nội dung, kinhphí, phê duyệt và ký hợpđồng thực hiện nhiệm vụKH&CN

- Kiểm tra, đánh giá, xử lýcác vấn đề phát sinh trongquá trình thực hiện nhiệm

vụ KH&CN

- Nghiệm thu, công nhậnkết quả và thành lý hợpđồng nhiệm vụ KH&CN

Mục tiêu quản lý cnhiệm vụ KH&CNthuộc Chương trình pháttriển thị trườngKH&CN:

- Tăng giá trị giao dịchmua bán các sản phẩm

và dịch vụ KH&CN trênthị trường

- Tăng tỷ trọng giao dịchmua bán tài sản trí tuệtrong tổng giá trị giaodịch mua bán các sảnphẩm và dịch vụ trên thịtrường KH&CN

- Thiết lập mạng lưới sàngiao dịch công nghệ kèmtheo hệ thống tổ chứcdịch vụ KH&CN hỗ trợ

2 Nhiệm vụ là các đề tài, dự án, đề án thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ.

Trang 21

4.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp phântích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu lý thuyết và tài liệu có liên quan đến thị trườngkhoa học và công nghệ, kết nối cung, cầu công nghệ, chính sách phát triển thịtrường KH&CN; đồng thời luận văn còn sử dụng các số liệu, dữ liệu từ các côngtrình ở trong và ngoài nước đã công bố, các báo cáo của cơ quan quản lý vềKH&CN như Bộ KH&CN, Tổng cục Thống kê

Để rõ hơn, tác giả luận văn còn tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên giatrong lĩnh vực khoa học và công nghệ, thị trường KH&CN (05 chuyên gia) như CụcPhát triểnThị trường và Doanh nghiệp KH&CN, Cục Ứng dụng và Phát triển côngnghệ,… Do hạn chế về nguồn lực, tác giả chỉ tiến hành phỏng vấn sâu các chuyêngia mà không tiến hành khảo sát các chủ nhiệm nhiệm vụ, đây là một trong nhữnghạn chế của đề tài luận văn Sau khi có số liệu, dữ liệu, tác giả luận văn tiến hànhlàm sạch và phân tích số liệu để làm rõ thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộcChương trình phát triển thị trường KH&CN Đây là một trong những cơ sở quantrọng để có thể đề xuất được giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CNChương trình phát triển thị trường KH&CN trong thời gian tới

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Chương trình phát triển thị trường KH&CN tại ViệtNam có phạm vi rộng, luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vào quy trình quản lýcác nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN theoQuyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 8/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phêduyệt Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020

- Phạm vi không gian: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu, khảo sát số liệuthuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 do Bộ KH&CNquản lý, chủ thể quản lý nhiệm vụ KH&CN là Bộ KH&CN

Trang 22

- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộcChương trình phát triển thị trường KH&CN từ năm 2015 đến năm 2017, đề xuấtgiải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thịtrường KH&CN đến năm 2020.

Trang 23

Thị trường khoa học và công nghệ

2.1.1.1 Khái niệm thị trường khoa học và công nghệ

a Khoa học

Theo nghĩa rộng, KH là bất kỳ hệ thống kiến thức nào gắn với việc mô hìnhhóa thực tế khách quan bằng cách sử dụng các phương pháp luận, các kỹ thuật đểđưa ra dự báo và lượng hóa các sự vật, hiện tượng xảy ra trong tương lai Theonghĩa hẹp, KH là một hệ thống kiến thức được tạo ra bằng các phương pháp khoahọc, cũng như tổ chức sắp xếp hệ thống kiến thức thu nhận được từ hoạt độngnghiên cứu khoa học

Theo Vũ Cao Đàm (2008), khoa học là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sảnxuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy Khoa học là tập hợp trithức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượngtuân theo một qui luật xác định Theo cách tiếp cận hoạt động, khoa học là một dạnghoạt động đặc thù của con người nhằm nhận thức về thế giới khách quan, đây là mộtdạng hoạt động để sản xuất ra tri thức thông qua việc phát hiện ra bản chất của sựvật và sáng tạo ra các sự vật mới nhằm cải tạo và phát triển thế giới (Nguyễn HữuXuyên, 2014)

Tại Điều 3, mục 1 của Luật KH&CN (2013), khoa học là hệ thống tri thức vềbản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tưduy Hệ thống tri thức được phát hiện, tích lũy, bổ sung qua nhiều thế hệ, được hệthống hóa, đánh gía, phân loại sắp xếp theo lôgic nội tại của khoa học để truyền lại

Trang 24

cho người sau tiếp tục phát triển lên những nấc thang mới Đó là hoạt động củakhông chỉ riêng của các nhà khoa học, mà cũng của cả loài người Do đó, người tacũng hiểu khoa học là một hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra hệthống tri thức ấy; chính hoạt động và quan hệ con người trong quá trình tiến hànhhoạt động này là đối tượng điều chỉnh của Luật

Theo quan điểm triết học, khoa học là phạm trực thuộc ý thức xã hội Nhàbác học vật lý của Đại học London - Anh, J D Bernal (1901-1971), đồng thờicũng là một trong những người đặt nền móng cho khoa học luận ngày nay, đãnghiên cứu lịch sử khoa học và nhận xét rằng, "với bản chất của khoa học không thểdùng định nghĩa bất biến để trói chặt nó Khoa học là một quá trình mô tả, nghiêncứu, là một loại hoạt động của con người, loại hoạt động này lại có liên hệ với nhiềuloại hoạt động khác nhau của nhân loại, hơn nữa tác dụng tương hỗ giữa chúng làliên tục không ngừng"

Như vậy, có nhiều khái niệm về khoa học khác nhau và khó có thể có mộtđịnh nghĩa duy nhất về khoa học đáp ứng mọi yêu cầu và mục đích của con ngườitrong mọi điều kiện, cho những lĩnh vực quan tâm khác nhau Do đó, khoa họctrong luận văn này được hiểu theo Luật KH&CN (2013), theo đó, khoa học là hệthống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tựnhiên, xã hội và tư duy

b Công nghệ

Khái niệm về công nghệ cùng với sự phát triển của khoa học, cũng được đưa

ra bởi các tổ chức quốc tế có uy tín Theo Tổ chức Phát triển công nghiệp của LHQ(UNIDO), công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụngcác kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp TheoHội nghị LHQ về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), công nghệ là đầu vào cầnthiết cho sản xuất và như vậy nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóađược thể hiện ở một trong các dạng sau: tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩmtrung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định địnhđầu tư; nhân lực và thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có

Trang 25

trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng thiết bị và kỹ thuật và làmchủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin; thông tin, dù đó là thôngtin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bímật như một phần của hoạt động độc quyền.

Theo Luật Chuyển giao công nghệ (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình,

bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng đểbiến đổi nguồn lực thành sản phẩm Nói rộng ra, công nghệ là một tri thức có hệthống được tạo nên từ những thành quả nghiên cứu của khoa học tự nhiên, đượcbiểu hiện dưới các thành tố vừa nêu để sản xuất ra một sản phẩm hay tiến hành mộtdịch vụ

Xét trên khía cạnh thương mại, công nghệ là kiến thức có hệ thống về quitrình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin; công nghệ bao gồm kiến thức, kỹnăng, phương pháp, thiết bị và các hệ thống dùng để tạo ra hàng hóa và cung cấpdịch vụ (Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương - ESCAP) Côngnghệ gồm bốn yếu tố cấu thành: phần máy móc, thiết bị (T), phần con người (H),phần thông tin (I), phần tổ chức (O) Các yếu tố này có quan hệ mật thiết, thốngnhất và cơ hữu với nhau để tạo thành một chỉnh thể hệ thống hoàn chỉnh Bốn khíacạnh cần được xem xét ở đây, đó là: Công nghệ là một máy biến đổi, khía cạnh này

đề cập tới việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ đáp ứng được các mục tiêu khi

sử dụng công nghệ và mãn yêu cầu về mặt kinh tế nếu nó muốn được áp dụng trongthực tế; Công nghệ là công cụ, khía cạnh này đề cấp tới công nghệ là một sản phẩmcủa con người, vì thế mà con người có thể làm chủ được chúng; Công nghệ là kiếnthức, khía cạnh này nhấn mạnh công nghệ không nhất thiết phải nhìn thấy được và

để sử dụng được công nghệ thì con người cần phải được đào tạo; Công nghệ hàmchứa trong các dạng hiện thân của nó, khía cạnh này đề cập dù công nghệ là kiếnthức nhưng vẫn được mua bán, trao đổi trên thị trường và tuân theo luât cung cầu

Thuật ngữ công nghệ trong thực tế thường được gắn với khái niệm côngnghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ sạch Luật Chuyển giao

công nghệ (2017) cho rằng, công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao

Trang 26

về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựuKH&CN hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị giatăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thànhngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.

Công nghệ tiên tiến là công nghệ có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ

cùng loại hiện có tại Việt Nam, đã được ứng dụng trong thực tiễn, nâng cao năng

suất, chất lượng sản phẩm vượt trội và thân thiện với môi trường Công nghệ mới là

công nghệ lần đầu tiên được tạo ra hoặc ứng dụng tại Việt Nam hoặc trên thế giới,

có trình độ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện có tại Việt Nam, thân thiệnvới môi trường, có tính ứng dụng trong thực tiễn và khả năng nâng cao năng suất,

chất lượng sản phẩm Công nghệ sạch là công nghệ phát thải ở mức thấp chất gây ô

nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật,

sử dụng ít tài nguyên không tái tạo hơn so với công nghệ hiện có

Do đó, trong luận văn này, công nghệ được hiểu theo Luật Chuyển giao công

nghệ (2017), theo đó công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm

theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thànhsản phẩm

c Thị trường và thị trường khoa học và công nghệ

Thị trường là tập hợp các sự thỏa thuận thông qua có người bán và ngườimua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ Thị trường hình thành khi có

sự tiếp xúc giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ và đượcxác định bằng quan hệ cung cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ hàng đó KH&CN như làmột loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, cũng được mua bán, trao đổi lưu thông trên thịtrường tương tự như các loại hàng hóa, dịch vụ khác

Việc sử dụng thuật ngữ “Thị trường khoa học và công nghệ”, hay “Thịtrường công nghệ” còn đang gây nhiều tranh cãi Có quan điểm cho rằng không cóthị trường KH&CN mà chỉ có thị trường công nghệ vì khoa học có chức năng tìmkiếm ra những kiến thức mới mà kiến thức và hiểu biết được phổ biến cho quầnchúng và không mua bán được (ví dụ không ai đi mua bán định luật Faraday, hay

Trang 27

Pitago cả) Khái niệm thị trường KH&CN trên thế giới cũng ít sử dụng và thường

sử dụng thuật ngữ là thị trường công nghệ vì khoa học hầu như không biên giớinhưng công nghệ thì cần phải mua bán trên thị trường và tuân theo luật cung, cầu(Nguyễn Hữu Xuyên, 2015) Tuy nhiên, đối với một vấn đề đang gây nhiều tranhluận, song ở Việt Nam và Trung Quốc thường sử dụng khái niệm “Thị trườngKH&CN” bởi hiện nay khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ ngày càng được rút ngắn, ranh giới giữa KH&CN khó tách bạch Do vậy, trênthực tiễn việc sử dụng khái niệm “Thị trường KH&CN” hay “Thị trường côngnghệ” có thể được hiểu nhau, nhưng cần phải thống nhất được các yếu tố hình thànhnên thị trường

Thị trường KH&CN được hiểu là phương thức thương mại hóa kết quảnghiên cứu gắn KH&CN với thực tiễn sản xuất và đời sống Tuy nhiên, thương mạihóa kết quả nghiên cứu là một quá trình lâu dài và là một vấn đề mới ở nước ta,thành công của thương mại hóa phụ thuộc nhiều vào năng lực đổi mới, năng lực tiếpthu và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp (Nguyễn Quang Tuấn, 2013)

Thị trường KH&CN là không gian thực hoặc ảo diễn ra hoạt động trao đổihàng hoá khoa học và công nghệ, sử dụng dịch vụ KH&CN và chuyển nhượngquyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá KH&CN Hàng hoá lưu thông trên thị trườngKH&CN là thành quả KH&CN Thành quả KH&CN (sản phẩm KH&CN) là sảnphẩm của hoạt động tư duy vận dụng tri thức khoa học đã có, thông qua điều tra,quan sát, thí nghiệm hoặc phép biện chứng để khám phá những bí mật và quy luậtcủa tự nhiên, xã hội, giải quyết những vấn đề trong quá trình phát triển xã hội loàingười Đặc trưng cơ bản của thành quả KH&CN là tính mới, tính tiên tiến, tính ápdụng công nghiệp: tính mới là tính đổi mới của thành quả KH&CN, tức là yêu cầuphải có lý luận mới, phương pháp mới, sản phẩm mới, không làm lại hoặc sao chéplại thành quả của người khác; tính tiên tiến là trình độ học thuật của thành quảKH&CN và trình độ công nghệ phải so sánh với trình độ dẫn đầu đã có, cụ thể làthành quả KH&CN đồng thời lại phải cao hơn trình độ thành quả đã có; tính ápdụng công nghiệp là giá trị học thuật, giá trị kinh tế và giá trị xã hội của thành quả

Trang 28

khoa học và công nghệ, tức là thành quả phải có ý nghĩa học thuật đối với việc pháttriển một bộ môn nào đó, hoặc trong thực tế sản xuất ứng dụng có thể thu được hiệuquả xã hội hoặc hiệu quả kinh tế thậm chí tốt hơn.

Theo Bộ KH&CN (Thông tư 01/VBHN-BKHCN, 2017), thị trường KH&CN

là môi trường pháp lý, đầu tư và thương mại thúc đẩy quan hệ giao dịch, trao đổi, mua bán các sản phẩm, dịch vụ KH&CN được vận hành có sự định hướng, điều tiết

và hỗ trợ của Nhà nước Do đó, việc phát triển thị trường KH&CN có sự gắn kết

chặt chẽ với quá trình phát triển hệ thống hạ tầng, nguồn nhân lực, các thiết chếtrung gian, quan hệ cung, cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ KH&CN

2.1.1.2 Các yếu tố cấu thành thị trường khoa học và công nghệ

Các yếu tố cơ bản cấu thành thị trường KH&CN gồm (Sơ đồ 1.1): (i) Sự hiệndiện của hàng hoá công nghệ và các chủ thể trên thị trường (bên bán - bên có nănglực làm ra sản phẩm KH&CN; bên mua - bên có nhu cầu mua sản phẩm KH&CN;các tổ chức trung gian làm cầu nối giữa cung và cầu); (ii) Sự hiện diện của thể chế,đảm bảo hoạt động của thị trường (hệ thống văn bản pháp quy và các tổ chức quản

• Bên mua (bên có nhu cầu công nghệ)

Các tổ chức trung gian: môi giới, kinh doanh,

• Điều lệ pháp quy cho thị trường hoạt động trên cơ sở lợi ích bên mua và bên bán theo pháp luật

• Hàng hoá bày bán (hữu hình hoặc vô hình)

Trang 29

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Về cơ bản, thị trường KH&CN được hình thành trên 3 yếu tố chính: Phải cóhàng hóa, mà hàng hóa ở đây là công nghệ; Phân công lao động xã hội phải pháttriển tương ứng sao cho có sự tồn tại quan hệ cung cầu giữa các thành viên trong xãhội và giữa các loại hình sản xuất trong xã hội, tức là hình thành bên cung và bêncầu về công nghệ; Phải có thể chế đảm bảo cho hoạt động của thị trường như hệthống các văn bản pháp qui, các chính sách hỗ trợ và tổ chức quản lý, thực thi thểchế

Thị trường KH&CN là loại thị trường đặc biệt và có các đặc trưng: hàng hóacủa KH&CN thực chất là tri thức, chất xám khó lượng định, được thể hiện dướidạng vật chất hữu hình như bằng phát minh sáng chế hoặc vô hình dưới dạng ýtưởng công nghệ; Việc xác định giá trị của hàng hóa công nghệ là điều rất khó, nóphụ thuộc vào hàm lượng chất xám của con người hàm chứa trong công nghệ đó và

có sự chênh lệch giữa bên tiếp nhận và bên chuyển giao; Công nghệ được tạo ra dựatrên nền tảng của khoa học, vì vậy thông thường, thị trường KH&CN hình thành vàphát triển muộn hơn các thị trường hàng hóa thông thường khác Hàng hóa côngnghệ khác với hàng hóa thông thường bởi vì hàm chứa một phần quan trọng, đó làcác kiến thức, hiểu biết gắn liền với phương pháp, qui trình được sử dụng trong sảnxuất và cung ứng dịch vụ

Một vật phẩm có giá trị sử dụng chỉ trở thành hàng hóa khi chúng được mang

ra trao đổi, công nghệ có giá trị bởi chúng là hiện thân của tri thức và do vậy, côngnghệ được sử dụng như một loại hàng hóa và có giá trị thương mại, trong đó giá trịtrao đổi bị tác động bởi quan hệ cung cầu trên thị trường công nghệ Tuy nhiên, việcxác định giá trị của công nghệ là một vấn đề phức tạp, bởi vì nó không chỉ là máy

Trang 30

móc, thiết bị, nhà xưởng mà còn hàm chứa trong đó như bí quyết công nghệ, kiếnthức Vì thế, có nhiều các phương thức thanh toán, chuyển giao và định giá côngnghệ khác nhau như: theo vốn đầu tư, theo doanh số sản phẩm bán ra, theo lợinhuận do công nghệ tạo ra, theo lợi nhuận thu thêm do áp dụng công nghệ mớimang lại và thỏa thuận giữa bên tiếp nhận và bên chuyển giao Do đó, để hình thành

và phát triển thị trường KH&CN cần có hàng hóa công nghệ, bên cung, bên cầucông nghệ, có các thể thể để đảm bảo duy trì và phát triểu thị trường, đồng thời cần

có các thể chế hỗ trợ như các thể chế liên quan tới hoạt động hỗ trợ nghiên cứu vàphát triển, vấn đề về sở hữu công nghiệp, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, các chínhsách hỗ trợ tài chính, chính sách thương mại, công nghiệp, các tổ chức giám địnhcông nghệ, các dịch vụ hỗ trợ pháp lý về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

2.1.1.3 Các hoạt động chủ yếu trên thị trường khoa học và công nghệ

Thứ nhất, hoạt động giao dịch: Hoạt động giao dịch được thực hiện theo

phương thức trực tiếp giữa bên mua và bên bán hoặc thực hiện qua tổ chức môi giới

- trung gian, qua hội chợ giao dịch thành quả công nghệ (hội nghị mời thầu, nhậnthầu, giới thiệu công nghệ, khoá công nghệ…), qua chợ trên mạng,… Loại hàng vàtiêu chí, tiêu chuẩn của hàng hoá được đăng ký và giao dịch trên thị trường sẽ docác đơn vị tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm quy định hoặc do các cơ quan tiếp nhậnđăng ký hợp đồng (căn cứ theo quy định của các văn bản pháp luật)

Thứ hai, hoạt động môi giới: Môi giới thường được hiểu là một loại hình

hoạt động cung ứng dịch vụ dàn xếp, tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc, giao dịch,trao đổi, ký kết, thực hiện các hợp đồng mua bán các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụtrên thị trường Quan hệ môi giới được thiết lập trên cơ sở hợp đồng môi giới bằngvăn bản hoặc bằng thoả thuận miệng, tùy theo sự thoả thuận giữa bên cung ứng dịch

vụ môi giới và bên khách hàng sử dụng dịch vụ môi giới hoặc theo quy định củapháp luật Hình thức thực hiện môi giới có thể là giao dịch trực tiếp hoặc thông quaphương tiện điện tử hoặc các hình thức khác với khách hàng do các bên thoả thuận

Thứ ba, hoạt động định giá công nghệ: Định giá công nghệ là hoạt động xác

định giá trị của sản phẩm công nghệ và tài sản trí tuệ nói chung để phục vụ cho việc

Trang 31

chuyển giao công nghệ và đầu tư góp vốn cổ phần Thông thường, định giá công

nghệ được thực hiện theo các phương pháp sau đây: Phương pháp chi phí (xác định

giá trị tài sản trí tuệ theo chi phí vật liệu, nhân công đã sử dụng và tiêu hao tứcthời) Phương pháp này thường được áp dụng trong việc định giá các thiết kế côngtrình, phần mềm máy tính, giấy phép kinh doanh và trong định giá tổn thất liên quan

đến tố tụng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Phương pháp thị trường (xác định giá

trị tài sản trí tuệ thông qua điều chỉnh thích hợp theo giá trị sử dụng và nhu cầu trênthị trường) Đối với những nước mà kinh tế thị trường chưa phát triển như nước ta,

việc sử dụng phương pháp này chưa thích hợp Phương pháp thu nhập (xác định giá

trị tài sản trí tuệ bằng cách lấy thu nhập tạo ra trong kỳ thu nhập tương lai của tàisản trí tuệ trừ đi một tỉ lệ lỗ vốn thích hợp làm giá trị hiện thời) Đây là phươngpháp định giá được áp dụng phổ biến hiện nay

Thứ tư, hoạt động quản lý thị trường: Hoạt động quản lý thị trường KH&CN

bao gồm các nội dung sau: tổ chức xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật vềthị trường KH&CN; vận dụng các biện pháp về hành chính, kinh tế để điều hòa vĩ

mô và chỉ đạo phát triển thị trường khoa học và công nghệ; làm đầu mối giám định,đăng ký hợp đồng công nghệ và phụ trách công tác thống kê, phân tích thị trườngKH&CN; phối hợp xây dựng cơ quan trọng tài hợp đồng công nghệ; phối hợp với

cơ quan tài chính và các cơ quan có liên quan khai thác các nguồn kinh tế, phát triểnquỹ hỗ trợ nhằm thúc đẩy thương mại hóa thành quả KH&CN; phối hợp với các cơquan liên quan kiểm tra, phê duyệt và quản lý cơ quan kinh doanh, môi giới, dịch vụcông nghệ; tổ chức chỉ đạo lưu thông thông tin về thương mại hóa công nghệ; tổchức công tác đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ cho thị trường công nghệ; tổchức và triển khai nghiên cứu và tuyên truyền về thị trường khoa học và công nghệ;

tổ chức việc khen thưởng công tác thị trường KH&CN

1.1.2 Chương trình phát triển thị trường KH&CN

Theo cách tiếp cận quản trị, chương trình là một loại hình của kế hoạch Kế

hoạch là một quá trình ra quyết định và lựa chọn các phương án khác nhau nhằm sử

dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực có hạn để đạt được các mục tiêu đề ra cho một

Trang 32

thời kỳ nhất định trong tương lai Do đó, chương trình bao gồm mục đích, chínhsách, thủ tục, quy tắc, các nhiệm vụ được giao, các bước phải tiến hành, các nguồnlực có thể huy động và các yếu tố khác Còn phát triển là thuật ngữ dùng để chỉ sựvận động theo chiều hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoànthiện đến hoàn thiện; cái cũ bị thay thế bởi cái mới hơn, cái lạc hậu bị thay thế bởicái tiến bộ hơn.

Do đó, Chương trình phát triển thị trường KH&CN được hiểu là tập hợp hệthống các quan điểm phát triển, các mục tiêu, các định hướng, công cụ và các nhiệm

vụ phải thực hiện để thúc đẩy phát triển cầu công nghệ, cung công nghệ, các tổ chứctrung gian của thị trường khoa học và công nghệ

2.2 Nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN Khái niệm nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Theo nghĩa thông thường, nhiệm vụ là những vấn đề cần được giải quyết đểđáp ứng yêu cầu thực tiễn Do đó, nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triểnthị trường KH&CN là những vấn đề KH&CN cần được giải quyết để đáp ứng mụctiêu của chương trình phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội,đảm bảo an ninh quốc phòng

Biểu hiện của nhiệm vụ KH&CN dưới dạng đề tài, đề án, dự án và các hoạtđộng nhằm góp phần khuyến khích hoạt động đổi mới công nghệ, gia tăng giá trịgiao dịch, mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường KH&CN

Mục tiêu của nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN

Các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CNđược thực hiện nhằm:

Thứ nhất, góp phần phổ biến, truyền bá tri thức về thị trường, khoa học,công nghệ nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về sự phát triển của thị trườngkhoa học và công nghệ KH&CN chỉ trở thành nguồn lực cho tăng trưởng nếu nhưchúng được áp dụng hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩmphục vụ con người và xã hội Do đó, các nhiệm vụ thuộc chương trình phát triển thị

Trang 33

trường KH&CN là một bộ phận cấu quan trọng, có vai trò then chốt trong việc tạomôi trường thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lựcKH&CN quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Thứ hai, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho thị trường KH&CN phát triển,góp phần kích thích bên cung, bên cầu, các tổ chức trung gian nhằm đa dạng hóacác hình thức giao dịch công nghệ Các hình thức giao dịch trên thị trường KH&CNgồm có các hình thức như: Giao dịch mua, bản quyền sở hữu, quyền sử dụng đốitượng sở hữu công nghiệp, giao dịch chuyển giao công nghệ là các thiết bị, máymóc, công nghệ thuần tuý giữa các chủ thể tham gia thị trường

Thứ ba, góp phần nâng cao năng lực của các tổ chức thực thi pháp luật về thịtrường KH&CN, nâng cao năng lực của bên cung, bên cầu và mạng lưới tổ chứctrung gian về công nghệ, đồng thời thúc đẩy hoạt động liên kết, hợp tác thương mạihóa kết quả nghiên cứu KH&CN, tài sản trí tuệ phục vụ sản xuất kinh doanh

Ngoài ra, các nhiệm vụ thuộc KH&CN thuộc Chương trình phát triển thịtrường KH&CN sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới công nghệ của doanhnghiệp, nâng cao năng lực chuyển giao công nghệ, hỗ trợ cho quá trình đào tạo, bồidưỡng nguồn nhân lực KH&CN Đặc biệt, thúc đẩy sự hình thành và phát triển cácsàn giao dịch công nghệ, các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo, trung tâm xúc tiến và

hỗ trợ chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợ đánh giá, định giá tài sản trí tuệ, cơ

sở ươm tạo và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Thứ nhất, đề án, đề tài KH&CN Đây là nhiệm vụ KH&CN có mục tiêu, nộidung, phương pháp rõ ràng nhằm tạo ra các kết quả mới, đáp ứng yêu cầu quản lýnhà nước về phát triển thị trường KH&CN Theo Bộ KH&CN (2013), các đề án, đềtài được hỗ trợ theo quy định tại mục 2, điều 7 của Thông tư số 32/2014/TT-BKHCN ngày 06 tháng 11 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ KH&CN

Thứ hai, dự án khoa học và công nghệ Đây là một loại nhiệm vụ KH&CNbao gồm dự án nghiên cứu KH&CN và dự án sản xuất thử nghiệm có sự gắn kết

Trang 34

hữu cơ, đồng bộ được tiến hành trong một thời gian nhất định, nhằm giải quyết cácvấn đề KH&CN chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất một sản phẩm hoặc nhóm sảnphẩm trọng điểm, chủ lực, ưu tiên, mũi nhọn có tác động nâng cao trình độ côngnghệ của một ngành, lĩnh vực và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước (Bộ KH&CN, 2013) Các dự án KH&CN trong chương trình pháttriển thị trường KH&CN nhằm thúc đẩy quan hệ cung, cầu công nghệ, nâng caonăng lực tổ chức trung gian, phát triển dịch vụ KH&CN.

Thứ ba, các hoạt động hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN,tài sản trí tuệ Chú trọng tới các hoạt động tổ chức chợ công nghệ và thiết bị, trìnhdiễn kết nối cung cầu công nghệ, hội thảo triển lãm giới thiệu kết quả nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ của cơ sở nghiên cứu, đào tạo, ngày hội đầu tưthương mại hóa công nghệ, ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, triển lãm sángchế và các sản phẩm KH&CN tiềm năng thương mại hóa ở trong nước và nướcngoài

2.3 Quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN

Khái niệm và mục tiêu quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN

2.3.1.1 Khái niệm quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN

Quản lý thường được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượngquản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môitrường Xét từ phương diện quản lý nhà nước về KH&CN, chủ thể quản lý là nhànước, đây là dạng quản lý xã hội có tính quyền lực để điều chỉnh các quan hệ xã hội

và hành vi của con người trong hoạt động KH&CN nhằm đạt được các mục tiêu đềra

Như vậy, quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thịtrường KH&CN được hiểu là sự tác động của nhà nước bằng công cụ chính sách vàpháp luật tới các đối tượng (tổ chức, cá nhân) thực hiện nhiệm vụ KH&CN trongchương trình phát triển thị trường KH&CN nhằm đạt được mục tiêu về phát triển thị

Trang 35

trường KH&CN trong từng giai đoạn cụ thể.

2.3.1.2 Mục tiêu quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN

Thứ nhất, tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CNtrên thị trường, đặc biệt đối với một số công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, côngnghệ mới thông qua việc thúc đẩy nguồn cung công nghệ, cầu công nghệ, đẩynhanh tiến trình cải tiến, đổi mới công nghệ

Thứ hai, nâng cao tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ, các sáng chế,giải pháp hữu ích, quy trình, bí quyết công nghệ trong tổng giá trị giao dịch muabán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN nhằm hỗ trợ quá trình thíchnghi, làm chủ và giải mã công nghệ

Thứ ba, thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ, kích thích, tạo động lựccho các tổ chức trung gian phát triển nhằm hỗ trợ hoạt động kết nối cung, cầu vềcác sản phẩm KH&CN như các sàn giao dịch công nghệ trực tuyến, các trung tâmgiao dịch công nghệ,…

Ngoài ra, mục tiêu quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình phát triểnthị trường KH&CN còn nhằm hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực tư vấn pháp pháp lý

để hình thành và phát triển các trung tâm xúc tiến chuyển giao công nghệ, trung tâm

hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ, trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo,…

Quy trình quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình phát triển thị trường KH&CN

Một chương trình KH&CN thường có nhiều đề tài, dự án, đề án KH&CN vàcác hoạt động (gọi chung là nhiệm vụ KH&CN), các nhiệm vụ có mối quan hệ gắnkết và liên ngành với nhau theo một logic nhằm quyết tổng thể mục tiêu nghiên cứutrung và dài hạn Việc quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình phát triểnthị trường KH&CN là đảm bảo cho các chương trình được thực hiện đúng đườnglối, chính sách, pháp luật về KH&CN, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, xãhội Trên thực tế, quy trình quản lý đối với các nhiệm vụ KH&CN thuộc chươngtrình phát triển thị trường KH&CN như sau (Sơ đồ 1.2)

Nghiệm thu, công nhận kết quả và

thành lý hợp đồng

Điều chỉnh tiến độ thực hiện Chấm dứt Hợp đồng

Tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn đề xuất nhiệm vụ

Tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ

Kiểm tra, đánh giá quá trình thực

Trang 36

Sơ đồ 1.2: Các nội dung cơ bản của quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương

trình phát triển thị trường KH&CN

Nguồn: Tác giả tổng hợp 2.3.1.3 Tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Mục tiêu của hoạt động này là nhằm đánh giá để lựa chọn được đề xuấtnhiệm vụ đảm bảo có tính cấp thiết cao, có ý nghĩa trọng đối với phát triển kinh tế

xã hội, an ninh quốc phòng trong phạm vi cả nước Đồng thời xem xét các nhiệm vụ

có khoa học cần huy động nguồn lực KH&CN của quốc gia hoặc góp phần giảiquyết những nhiệm vụ mang tính liên vùng, liên ngành, đặc biệt quan trọng nhằmgiải quyết yêu cầu khẩn cấp của quốc gia Hơn nữa, đảm bảo các nhiệm vụ không bịtrùng lặp về nội dung với các nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước đã vàđang thực hiện

Trang 37

Trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, Chiến lược phát triểnKH&CN của quốc gia, mục tiêu, nội dung, sản phẩm dự kiến của Chương trình, cơquan quản lý nhà nước kêu gọi các tổ chức, cá nhân, Bộ, ngành, địa phương vàdoanh nghiệp đề xuất nhiệm vụ để đề xuất đặt hàng tổ chức, cá nhân thực hiện(dưới lên) hoặc có thể từ trên xuống (đặt hàng của cơ quan quản lý nhà nước) Saukhi tiếp nhận, cơ quan quản lý nhà nước có thể căn cứ vào ý kiến tư vấn của chuyêngia thông qua việc thành lập Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ để đánh giá, thẩmđịnh, lựa chọn và phê duyệt danh mục đề tài, dự án, đề án, sau đó thông báo tới các

tổ chức, cá nhân tham gia dưới hình thức tuyển chọn, hay giao trực tiếp

2.3.1.4 Tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Trên cơ sở danh mục nhiệm vụ KH&CN được đề xuất là “thực hiện”, cơquan quản lý Nhà nước công bố công khai trên trên các phương tiện thông tin đạichúng theo qui định để tuyển chọn hoặc giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân có đủnăng lực triển khai thực hiện Đối với chương trình KH&CN đặt hàng có thể xemxét giao cho tổ chức, cơ quan đủ năng lực triển khai thực hiện Hội đồng gồm cácnhà khoa học xác định cụ thể tên đề tài, dự án nghiên cứu và phát triển, xây dựngthuyết minh đề cương và nộp cho cơ quan quản lý các nhiệm vụ để tiến hành tuyểnchọn hoặc giao thực hiện và cơ quan quản lý KH&CN nhà nước liên quan tiến hànhphê duyệt thực hiện

Quy trình tuyển chọn, xét chọn được coi là một trong những khâu quantrọng, được tiến hành dựa vào cơ chế bình đẳng, minh bạch và mang tính cạnh tranhcao trong nghiên cứu khoa học, thay thế cho quy trình bổ nhiệm các chủ nhiệmnhiệm vụ theo đề xuất đã được áp dụng trước đó Mục tiêu chính của việc tuyển/xétchọn là lựa chọn được tổ chức và cá nhân có đủ năng lực và kinh nghiệm chủ trì đềtài/dự án KH&CN, đảm bảo thực hiện thành công nhiệm vụ đã giao, cần phải hoànthành một cách tốt nhất nhiệm vụ trên cơ sở đề cương đề xuất đã được xem xét,đánh giá và phê duyệt

Trong quá trình tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực

Trang 38

hiện nhiệm vụ KH&CN có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị quản lý, ban chủnghiệm chương trình, các nhà khoa học, chuyển giao, các quỹ hay đơn vị cấp vốn.Việc phối hợp chặt chẽ, hiệu quả có tính quyết định đến việc thực thi và hoàn thànhcác nhiệm vụ được giao.

2.3.1.5 Thẩm định nội dung, kinh phí, phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm

vụ KH&CN

Thẩm định nội dung, kinh phí nhiệm vụ KH&CN được xem xét dựa vào sựphù hợp giữa các nội dung nghiên cứu với kết luận của hội đồng tuyển chọn, xétchọn Dự toán kinh phí của nhiệm vụ KH&CN với chế độ quy định, định mức kinh

tế, kỹ thuật, định mức chi tiêu hiện hành của nhà nước do các cơ quan có thẩmquyền ban hành để xác định, gồm: chi phí công cho các thành viên thực hiện; chiphí thuê chuyên gia trong/ngoài nước; kinh phí hỗ trợ mua nguyên vật liệu, thiết bị

và các khoản chi khác cũng như thời gian cần thiết để thực hiện

Cơ quan quản lý nhà nước về chương trình phát triển thị trường KH&CN cóthể thành lập tổ chuyên gia thẩm định để kiến nghị tổng mức kinh phí thực hiệnnhiệm vụ KH&CN (bao gồm kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và các nguồnkinh phí hợp pháp khác), thời gian thực hiện và phương thức khoán chi đến sảnphẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần Tổ chức kiểm tra, xác minh phần kinhphí đối ứng (ngoài ngân sách Nhà nước) của tổ chức đăng ký tuyển chọn, giao trựctiếp Căn cứ vào ý kiến tư vấn của Tổ thẩm định, cơ quan quản lý nhà nước phêduyệt nội dung, kinh phí của đề tài, dự án để tổ chức, cá nhân chủ trì tiến hành thựchiện

Sau khi được thẩm định về nội dung và kinh phí của nhiệm vụ, cơ quan quản

lý nhà nước nhà nước phê duyệt, giao nhiệm vụ và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụvới Tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ theo các quy định hiện hành của phápluật trong lĩnh vực KH&CN

2.3.1.6 Kiểm tra, giám sát và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Trong quá trình cá nhân, tổ chức chủ trì nhiệm vụ tiến hành triển khai thực hiện

Trang 39

nhiệm vụ Định kỳ hoặc đột xuất cơ quan quản lý nhà nước sẽ kiểm tra, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện (tiến độ, nội dung khoa học và sản phẩm) nhiệm vụ KH&CN.

Trong quá trình thực hiện, có những vấn đề phát sinh hoặc thay đổi khôngnằm trong dự kiến ban đầu của nhiệm vụ như: mục tiêu, sản phẩm, tiến độ thựchiện, nguồn kinh phí, thì cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét vàquyết định việc điều chỉnh trên cơ sở đề xuất của tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ

Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét và quyết định việc dừngthực hiện nhiệm vụ trong trường hợp nhiệm vụ gặp các trường hợp khách quan dẫnđến không thể hoàn thành nội dung và mục tiêu được duyệt; hoặc tổ chức, cá nhânchủ trì nhiệm vụ không đủ năng lực tổ chức quản lý, thực hiện nhiệm vụ; hướngnghiên cứu của đề tài, dự án bị bế tắc hoặc không còn nhu cầu phải nghiên cứu,

2.3.1.7 Nghiệm thu, đánh giá và công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Tổ chức chủ trì nhiệm vụ tổ chức đánh giá cấp cơ sở đối với các sản phẩm củanhiệm vụ và hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả đánh giá gửi về cơ quan quản lý có thẩmquyền để tổ chức đánh giá nghiệm thu chính thức Cơ quan nhà nước có thẩm quyền

ra quyết định công nhận kết quả đề tài, dự án trên cơ sở kết luận của Hội đồng tưvấn đánh giá hoặc tổ chức tư vấn độc lập nghiệm thu chính thức và xác định tráchnhiệm của các bên liên quan, có hình thức xử lý phù hợp theo quy định đối với các

đề tài, dự án có kết quả được đánh giá, nghiệm thu chính thức ở mức “không đạt”

Sau khi kết thúc, đơn vị chủ quản và tổ chức chủ trì chịu trách nhiệm tổ chứcquản lý, khai thác, chuyển giao các kết quả của đề tài, dự án theo quy định của phápluật Quyền sở hữu, quyền tác giả, quyền sử dụng kết quả đề tài, dự án của Chươngtrình thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ

và chuyển giao công nghệ; Chương trình sẽ được đánh giá tổng kết về sự hoànthành mục tiêu, các kết quả đạt được của Chương trình và hiệu quả kinh tế xã hội,làm cơ sở cho việc hình thành chương trình KH&CN mới

Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát

Trang 40

triển thị trường khoa học và công nghệ

2.3.1.8 Các yếu tố thuộc về cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ

a Chất lượng của các hội đồng tư vấn nhiệm vụ khoa học công nghệ và năng lực của Ban quản lý chương trình

Ngày đăng: 27/06/2020, 18:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2014), Nghị định số 08/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2014), "Nghị định số 08/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
2. Bộ KH&CN (2014), Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN, Quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ KH&CN (2014), "Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN, Quy định việc đánhgiá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia sử dụngngân sách nhà nước
Tác giả: Bộ KH&CN
Năm: 2014
3. Bộ KH&CN (2014), Quyết định số 588/QĐ-BKHCN về việc xây dựng, quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu chuyên gia khoa học và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ KH&CN (2014), "Quyết định số 588/QĐ-BKHCN về việc xây dựng, quảnlý và sử dụng cơ sở dữ liệu chuyên gia khoa học và công nghệ
Tác giả: Bộ KH&CN
Năm: 2014
4. Bộ KH&CN (2014), Thông tư số 14/2014/TT-BKHCN quy định về việc thu thập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ KH&CN (2014), "Thông tư số 14/2014/TT-BKHCN quy định về việc thuthập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ khoa học và côngnghệ
Tác giả: Bộ KH&CN
Năm: 2014
5. Bộ KH&CN (2015), Thông tư số 04/2015/TT-BKHCN quy định việc kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh và chấm dứt hợp đồng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ KH&CN (2015), "Thông tư số 04/2015/TT-BKHCN quy định việc kiểmtra, đánh giá, điều chỉnh và chấm dứt hợp đồng trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
Tác giả: Bộ KH&CN
Năm: 2015
7. Hoàng Xuân Long (2013), Đổi mới cơ chế đánh giá kết quả nhiệm vụ nghiệm thu khoa học và công nghệ, Tạp chí Tuyên giáo số 7/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Xuân Long (2013), "Đổi mới cơ chế đánh giá kết quả nhiệm vụnghiệm thu khoa học và công nghệ
Tác giả: Hoàng Xuân Long
Năm: 2013
8. Vũ Đình Cự (2004), Thị trường khoa học, Tạp chí hoạt động KH&CN số tháng 10/2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w