1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các rủi ro chính và biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế

20 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 53,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế Rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế là những biến cố không mong đợi, xảy ra khi ngân hàng tiến hành hỗ trợ về mặt tài c

Trang 1

NỘI DUNG

I Tổng quan

I.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế

Rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế là những biến cố không mong

đợi, xảy ra khi ngân hàng tiến hành hỗ trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp XNK Những rủi ro này có thể dẫn đến những tổn thất về mặt tài sản, làm giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến của ngân hàng hay làm giảm uy tín của ngân hàng đối với khách hàng hoặc bên thứ ba

Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế thường có sự tham gia của rất nhiều bên,

cả bên Việt Nam và bên nước ngoài; các bên khó có đầy đủ thông tin về tình hình tài chính và sự thiện chí của nhau vì vậy nên đây là một trong những hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất của ngân hàng

I.2 Nguyên nhân

- Khoảng cách địa lý giữa các bên tham gia hợp đồng xa hơn (trừ trường hợp mua bán với khu chế xuất) làm hạn chế sự hiểu biết lẫn nhau, hiểu biết về thị trường đồng thời nảy sinh rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa

- Luật điều chỉnh thương mại quốc tế nói chung rất đa dạng, phức tạp có thể là các điều ước quốc tế, luật nước ngoài, tập quán quốc tế thậm chí là các án lệ Phán quyết của tòa án, trọng tài trong nước khó thực thi ở nước ngoài và dù có thực thi được thì cũng với chi phí rất cao

- Tập quán mua bán, kinh doanh của các quốc gia, các vùng lãnh thổ rất khác nhau đòi hỏi nhà xuất khẩu, nhập khẩu phải am hiểu về nghệ thuật đàm phán,

ký kết hợp đồng

- Bất đồng về ngôn ngữ làm tăng rủi ro không hiểu biết lẫn nhau, mỗi bên hiểu hợp đồng theo cách riêng của mình dẫn đến hậu quả khôn lường Do vậy, những người làm xuất nhập khẩu cần nắm rõ các thuật ngữ thương mại chuyên ngành để tránh những hiểu lầm đáng tiếc

1

Trang 2

I.3 Ảnh hưởng

Rủi ro tài trợ thương mại quốc tế khi xảy ra không chỉ ảnh hưởng tới các ngân hàng thương mại nói riêng mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế nói chung vì các ngân hàng thương mại có thể coi là những trung tâm tài chính thu nhỏ của cả nền kinh

tế Do đó, khi ngân hàng gặp rủi ro thì tất yếu sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Các ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, khi một ngân hàng gặp rủi ro thì có thể kéo theo một hệ thống ngân hàng bị khủng hoảng Điều này kéo theo tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, làm giảm giá trị của đồng nội tệ, đẩy tỷ giá hối đoái lên cao, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá Lúc đó nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng như: Mức sống giảm, thất nghiệp tăng, các vấn đề xã hội trở nên trầm trọng Chính vì những lý do trên mà công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế là vô cùng cấp thiết

I.4 Đặc điểm

- Rủi ro mang tính gián tiếp: Rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế phụ thuộc vào tình hình tài chính, sự thiện chí trả nợ của khách hàng và môi trường kinh tế khách quan

- Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: Hoạt động thương mại quốc tế hết sức

đa dạng và phức tạp do đó khi tiến hành tài trợ thương mại quốc tế, các ngân hàng thương mại cũng phải đối phó với các rủi ro có nguyên nhân, hình thức

và hậu quả rất đa dạng, phức tạp Do vậy, khi phòng ngừa và hạn chế rủi ro, các ngân hàng cần phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, phải xuất phát từ nguyên nhân, bản chất, hậu quả của rủi ro để có những biện pháp xử lý thích hợp

- Rủi ro mang tính tất yếu khách quan, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tài trợ của ngân hàng: Tình trạng thông tin bất cân xứng khiến cho ngân hàng không thể nắm bắt và lường trước được các rủi ro một cách toàn diện và đầy

đủ, điều này làm cho hoạt động tài trợ luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro

Trang 3

II Các rủi ro chính

II.1 Rủi ro vĩ mô

Rủi ro vĩ mô có thể được định nghĩa là những yếu tố bên ngoài có xu hướng tác động xấu đến hoạt động thương mại quốc tế của khách hàng Một số vấn đề thường gặp trong tài trợ thương mại quốc tế là do thiếu đánh giá cao rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại hối, rủi ro ngành, rủi ro ngân hàng và sự gian lận

II.1.1 Rủi ro quốc gia

Các yếu tố liên quan đến loại rủi ro này thường là sự ổn định về chính trị và kinh tế của một quốc gia, kiểm soát ngoại hối (nếu có), và chính sách bảo hộ ngành công nghiệp trong nước trong thời gian ngắn Tất cả các yếu tố này sẽ quyết định liệu quốc gia có thể và sẽ thực hiện đúng các cam kết thanh toán của họ đúng hạn hay không Ví dụ, từ nhiều quan điểm của các quốc gia trên thế giới, Sri Lanka được coi là

ít rủi ro trong ngắn hạn, (nghĩa là, rủi ro trong việc xuất khẩu tới hai năm sẽ được xem xét, với điều kiện nhà nhập khẩu Sri Lanka có thể phát hành tín dụng chứng từ, tốt nhất là được xác nhận bởi một ngân hàng có uy tín cao) Điều này là do Sri Lanka đã

tự do hóa kiểm soát hối đoái, không có lịch sử mắc lỗi trong các cam kết nợ nước ngoài và có một nền kinh tế khá mạnh Điều khiến đất nước này không được coi là mức độ rủi ro "thoải mái hơn" là các vấn đề chính trị gây ra bởi vấn đề ly khai

Hầu hết các ngân hàng đều có các đơn vị chuyên trách đối phó với rủi ro quốc gia

và họ kiểm soát mức độ rủi ro mà ngân hàng sẽ gánh chịu cho mỗi quốc gia Hệ thống kiểm soát này rất quan trọng trong việc cân bằng sự ổn định của các tổ chức, chống lại các giao dịch lợi nhuận cao đi kèm với rủi ro cao hơn Tuy nhiên, thường có rất nhiều xích mích giữa các nhân viên ngân hàng thương mại và các đơn vị này, nơi mà trước đây tạo ra cảm giác sau này quá nghiêm ngặt và việc kinh doanh là quá khó

II.1.2 Rủi ro hối đoái

Thanh toán và các khoản thu bằng ngoại tệ xuất hiện hàng ngày trong thương mại quốc tế và thương nhân luôn phải chịu sự biến động của tỷ giá hối đoái do nhiều

lý do kinh tế, chính trị và thậm chí hoàn toàn là đầu cơ Khối lượng trao đổi vô cùng lớn của thị trường ngoại hối toàn cầu khiến nhà nhập khẩu / nhà xuất khẩu không

Trang 4

kiểm soát và các biến động bất lợi trong giao dịch tiền tệ với đồng nội tệ có thể xóa sạch toàn bộ lợi nhuận và nhiều giao dịch hơn

Điều quan trọng là các nhà giao dịch giả mạo liên kết với các phòng giao dịch ngoại hối trong các ngân hàng vì sau đó họ sẽ có thể theo kịp thị trường năng động và quan trọng hơn là tham gia vào các giao dịch ngoại hối kỳ hạn để bảo vệ biên lợi nhuận của họ Đáng ngạc nhiên, nhiều nhân viên tín dụng trong các ngân hàng coi phòng giao dịch của một ngân hàng là một nơi bí ẩn và để khách hàng của họ thảo luận về bất kỳ vấn đề tỷ giá hối đoái với các đại lý Điều này không nên xảy ra và người cho vay phải nỗ lực để đạt được ít nhất một sự hiểu biết cơ bản về hoạt động và

xu hướng trên thị trường

II.1.3 Rủi ro nghiệp vụ

Khi tiến hành hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, các ngân hàng luôn luôn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro nghiệp vụ Một sai sót của đội ngũ cán bộ ngân hàng cũng có thể gây tổn thất lớn cho các bên khách hàng đồng thời tổn hại đến lợi ích và

uy tín của chính ngân hàng Đối với trường hợp thanh toán bằng L/C, nếu ngân hàng tiếp nhận một bộ chứng từ sai biệt nhưng không phát hiện ra mà vẫn tiến hành thanh toán cho bên xuất khẩu thì đây chính là một sai sót lớn liên quan đến nghiệp vụ Trong trường hợp này ngân hàng không những sẽ không nhận được thanh toán từ bên nhập khẩu mà còn gây mất lòng tin với các khách hàng, ảnh hưởng lớn tới hoạt động chung của ngân hàng

Tại Việt Nam, do đặc thù, các giao dịch thường phát sinh vào buổi chiều, dồn

hồ sơ lên Sở Giao dịch tạo sức ép phải xử lý nhanh đối với thanh toán viên và kiểm soát viên Đây chính là nguyên nhân dẫn tới các rủi ro, sai sót trong quá trình tác nghiệp

II.1.4 Rủi ro đạo đức

Để bao quát các khía cạnh khác nhau của hàng hải và thực sự là bất kỳ loại gian lận thương mại nào khác đòi hỏi phải có khối lượng giấy tờ Có nhiều loại gian lận như gian lận tài liệu, lừa đảo đối tác, lừa đảo bảo hiểm, trộm cắp hàng hóa, đánh cắp và vi phạm bản quyền Thật không may, có một số quốc gia bị từ chối vì chứa chấp những kẻ lừa đảo Nguyên tắc vàng là "nếu thỏa thuận có vẻ quá tốt là sự thật thì

Trang 5

có lẽ là như vậy" và người ta nên thận trọng khi xử lý các giao dịch có giá trị lớn hơn nhiều so với định mức Tín dụng tài liệu giả mạo luôn được lưu hành và may mắn thay, một nhân viên dịch vụ thương mại có kinh nghiệm có thể phát hiện tín dụng giả thường xuyên hơn không

Nếu hàng hóa được phát hành theo cam kết của nhà nhập khẩu để thanh toán trong tương lai - thường là bằng cách chấp nhận hối phiếu - thì ngân hàng xuất khẩu /tài chính mất quyền kiểm soát đối với hàng hóa và phương thức phát hành này được gọi

là D / A (chứng từ chống chấp nhận) sẽ rủi ro hơn

II.2 Rủi ro vi mô

Rủi ro vi mô gặp phải ở cấp độ khách hàng cá nhân và bị giới hạn bởi rủi ro tài chính (tín dụng) và rủi ro hoạt động liên quan đến hoạt động kinh doanh của họ

II.2.1 Rủi ro không thanh toán (Rủi ro mất vốn)

Rủi ro này xảy ra khi khách hàng hoặc bên thứ ba không thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho ngân hàng

Cụ thể:

- Đối với nghiệp vụ mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu: Rủi ro nhà nhập khẩu không nhận bộ chứng từ và thanh toán cho ngân hàng phát hành sau khi ngân hàng đã thanh toán cho nhà xuất khẩu

- Đối với hoạt động bảo lãnh: Rủi ro sau khi ngân hàng thực hiện thay nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh, bên này không tiến hành hoàn trả cho ngân hàng

- Đối với nghiệp vụ chiết khấu chứng từ: Rủi ro người nhập khẩu hoặc ngân hàng phát hành L/C không đồng ý thanh toán bộ chứng từ

- Đối với nghiệp vụ bao thanh toán: Rủi ro bên thứ ba không đồng ý thanh toán các khoản phải thu hoặc thanh toán các hối phiếu, kỳ phiếu, …

- Đối với nghiệp vụ đồng tài trợ: Rủi ro bên được nhận tài trợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với các ngân hàng tham gia đồng tài trợ

- Đối với nghiệp vụ cho vay tài trợ XNK: Rủi ro bên đi vay không thanh toán

Trang 6

tiền khi đến hạn.

- Đối với nghiệp vụ thuê mua tài chính: Rủi ro bên đi thuê chiếm dụng tài sản và không trả tiền thuê cho ngân hàng

- Đối với hình thức biên lai tín thác: Rủi ro người nhập khẩu không hoàn trả vốn vay và lãi cho ngân hàng khi biên lai tín thác hết hạn

II.2.2 Rủi ro nợ quá hạn

Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ tiêu chuẩn gia hạn nợ Rủi ro nợ quá hạn xảy ra khi khách hàng cố tình trì hoãn thanh toán hoặc tạm thời mất khả năng thanh toán cho ngân hàng khi đến hạn Đây là loại rủi ro phổ biến trong hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tài trợ thương mại quốc tế nói riêng Ví dụ, đối với hình thức cho vay tài trợ xuất khẩu, ngân hàng cho khách hàng vay để mua nguyên liệu, vật tư sản xuất hàng xuất khẩu nhưng sau khi sản xuất xong, bên xuất khẩu không tìm được người mua hoặc người mua từ chối nhận hàng Điều này sẽ khiến cho người xuất khẩu không thể thanh toán tiền vay đúng hạn và làm phát sinh nợ quá hạn đối với ngân hàng Nếu không thể thu hồi được khoản nợ quá hạn này, thì ngân hàng có thể sẽ đứng trước nguy cơ mất vốn

II.2.3 Rủi ro liên quan đến tài sản bảo đảm:

Khi tiếp nhận tài sản bảo đảm, ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ rủi ro giá trị của tài sản cầm cố, thế chấp khi tiến hành phát mại không đủ bù đắp thiệt hại hoặc do biến động của thị trường, những tài sản này bị mất giá so với khi ngân hàng nhận bảo đảm Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, khi ngân

hàng tiến hành phát mại tài sản cầm cố, thế chấp thì gặp rắc rối do thiếu những giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu những tài sản này

II.3 Rủi ro hàng hóa

Rủi ro liên quan đến sản phẩm là những rủi ro mà người bán tự động phải chấp nhận như một phần không thể thiếu trong cam kết của họ, ví dụ, bảo hành hiệu suất được chỉ định, bảo trì theo thỏa thuận hoặc nghĩa vụ dịch vụ Người mua phải xem xét

Trang 7

các yếu tố bên ngoài như sơ suất trong quá trình sản xuất hoặc thời tiết khắc nghiệt trong quá trình vận chuyển có thể ảnh hưởng đến sản phẩm của họ như thế nào

Những vấn đề này cũng có thể dẫn đến tranh chấp giữa các bên, ngay cả sau khi hợp đồng được ký kết Điều quan trọng đối với người bán là hợp đồng được diễn đạt chính xác, sao cho mọi thay đổi có thể ảnh hưởng đến sản phẩm theo mặc định sẽ bao gồm bồi thường hoặc thay đổi tương ứng trong các cam kết của người bán

III Một số kiến nghị, giải pháp.

III.1 Các giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc

tế

III.1.1 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định và phân tích khách hàng

Thẩm định và phân tích khách hàng là khâu quan trọng nhằm đảm bảo hạn chế rủi ro tài trợ thương mại quốc tế ở mức độ cao nhất Quá trình thẩm định cần đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng và thời gian, đảm bảo sự cẩn trọng hợp lý trên cơ sở phân tích tương quan giữa lợi nhuận và rủi ro cũng như đáp ứng những tiêu chuẩn trong việc phục vụ khách hàng Để làm được điều này, cán bộ thẩm định cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thực hiện phân tích và thẩm định chính xác rủi ro tổng thể của khách hàng theo định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm Công việc này sẽ giúp cho ngân hàng có một cái nhìn tổng quát về tình hình kinh doanh, chất lượng kinh doanh và khả năng thực hiện các cam kết với ngân hàng của doanh nghiệp xin tài trợ

Cần chú trọng đến công tác phân tích định lượng, lượng hóa mức độ rủi ro đồng thời kết hợp với phân tích định tính (phân tích ngành kinh doanh của doanh nghiệp, phân tích lịch sử tín dụng của doanh nghiệp…) để nhận ra những rủi ro tiềm tàng và hạn chế những rủi ro đó

Các cán bộ phụ trách thẩm định khách hàng trước khi tiến hành tài trợ thương mại quốc tế cần thực hiện phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu của 3 loại báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ) Tất cả các chỉ tiêu này đều có ý nghĩa quan

Trang 8

trọng trong việc đánh giá khách hàng Ví dụ, hệ số tổng nợ phải trả/vốn chủ sở hữu

của doanh nghiệp quá cao chứng tỏ doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện

có, nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ Ngược lại, nếu hệ số tổng các khoản phải thu/tổng tài sản cao chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn lớn,

doanh nghiệp có ít “vị thế” trên thương trường Như vậy, một khi doanh nghiệp không thu được tiền từ bạn hàng, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ cho Ngân hàng

III.1.2 Xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn và có hiệu quả:

Chiến lược khách hàng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và hợp lý Ngân hàng cần dựa vào mức độ tín nhiệm của từng nhóm khách hàng để đưa ra những chính sách thích hợp nhằm mở rộng hay hạn chế tài trợ đối với từng nhóm khách hàng

đó Đối với hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, công việc xây dựng chiến lược khách hàng là tương đối khó khăn vì ngân hàng khó có thể nắm bắt đầy đủ thông tin từ phía khách hàng là doanh nghiệp nước ngoài Vì vậy, ngân hàng cần thiết lập một mạng lưới thông tin với các ngân hàng nước ngoài, những ngân hàng đã từng có quan hệ tín dụng hay tài trợ với khách hàng và các tổ chức của Việt Nam đặt tại nước ngoài để có được các thông tin chính xác từ đó đưa ra những quyết định tài trợ đúng đắn

Những doanh nghiệp có độ tín nhiệm cao cần phải thỏa mãn những yêu cầu sau:

- Doanh nghiệp có tình hình sản xuất kinh doanh tốt, mặt hàng, sản phẩm kinh doanh được thị trường chấp nhận và có uy tín cao, kinh doanh có lãi

- Doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng thanh toán,

có uy tín trong thanh toán với khách hàng và ngân hàng

- Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật và các thể lệ của Ngân hàng, thường xuyên có quan hệ với ngân hàng về tiền tệ, tài trợ thương mại quốc tế, thanh toán, có lịch sử tín dụng tốt với ngân hàng

- Trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng của mình, ngân hàng phân loại khách hàng của mình, từ đó đưa ra chiến lược thích hợp với từng loại từng loại khách hàng

Trang 9

III.1.3 Tăng cường công tác thông tin phòng ngừa rủi ro:

Thông tin là điều kiện cơ bản nhất khi tiến hành thẩm định, quyết định tài trợ Chính vì vậy, thu thập, lựa chọn và xử lý thông tin, như thông tin về doanh nghiệp, thông tin về thị trường giá cả là rất cần thiết để phòng ngửa rủi ro trong tài trợ thương mại quốc tế

Để giải quyết vấn đề về thông tin, ngân hàng cần phải có kế hoạch cung cấp đầy

đủ kịp thời các thông tin về cơ chế chính sách của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và của các ngân hàng thương mại khác cho từng cán bộ tài trợ thương mại quốc tế

Mỗi cán bộ tài trợ thương mại quốc tế được phân cấp quản lý từng đối tượng khách hàng riêng Sau mỗi kỳ tài trợ, cán bộ tài trợ thương mại quốc tế nên lập “sổ tay kinh nghiệm” nói về những thành công và thất bại của bản thân và khách hàng trong suốt quá trình thẩm định và thực hiện tài trợ thương mại quốc tế Sau đó, ngân hàng có thể tổ chức các buổi hội thảo, các buổi tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các cán

bộ tài trợ thương mại quốc tế đồng thời có thể lập “sổ kinh nghiệm chung” để tiện cho việc tra cứu

Ngân hàng cần tích cực mở rộng mối quan hệ với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, các Hiệp hội Ngân hàng nước ngoài và bản thân các ngân hàng nước ngoài để cập nhật thông tin, học hỏi kinh nghiệm một cách kịp thời và nắm được thông tin về khách hàng nước ngoài

Hiện nay, chất lượng thông tin cũng là một vấn đề khó khăn lớn cho ngân hàng, khi mà nhiều doanh nghiệp cung cấp các báo cáo tài chính có tình hình “lãi giả,

lỗ thật” nhằm xin được giãn nợ, gia hạn nợ vì những nguyên nhân “bất khả kháng" Ngân hàng nên thận trọng xem xét vấn đề này, đặc biệt khi thấy nghi ngờ về các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng có thể thuê các công ty Kiểm toán xác nhận tính chân thực, hợp lý của các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp nộp

Trang 10

III.1.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quá trình khách hàng sử dụng vốn đối

với hình thức cho vay tài trợ xuất nhập khẩu

Sau khi quyết định tài trợ, thực hiện giải ngân vốn vay tài trợ, Ngân hàng cần liên tục kiểm tra và giám sát khách hàng vay để có thể thu hồi vốn vay đúng thời hạn Các biện pháp là:

- Cán bộ tài trợ thương mại quốc tế phải định kỳ đến tận đơn vị vay vốn trong trường hợp đó là doanh nghiệp ở Việt Nam hoặc liên hệ với các chi nhánh của ngân hàng ở nước ngoài nếu doanh nghiệp vay vốn là doanh nghiệp nước ngoài

để kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay xem có đúng cam kết không bằng cách yêu cầu khách hàng trình lên các văn bản, chứng từ chứng nhận đã sử dụng đầy

đủ vốn, đúng tiến độ vào các dự án đã được thẩm định

- Ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp phải nộp báo cáo tài chính định kỳ hàng tháng, cuối quý, cuối năm

- Trong thời hạn tài trợ, ngân hàng phải luôn theo dõi tình hình biến động giá cả thị trường tài sản đảm bảo, khi giá trị này giảm xuống Ngân hàng cần yêu cầu khách hàng tăng tài sản bảo đảm

- Trong trường hợp khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, cán bộ tài trợ thương mại quốc tế có thể là chuyên gia tư vấn miễn phí trong việc giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn trở lại sản xuất kinh doanh

ổn định

III.1.5 Thực hiện phân tán rủi ro và đảm bảo tài trợ thương mại quốc tế:

Ngoài việc thực hiện đúng các qui định về phòng ngừa rủi ro theo qui định của pháp luật, VCB nên thực hiện biện pháp phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hoá các hình thức tài trợ

Ngân hàng nên mở rộng tham gia tài trợ hợp vốn với các ngân hàng thương mại khác, tài trợ thông qua chiết khấu các giấy tờ có giá, môi giới và đầu tư vào thị trường chứng khoán Ngoài ra, trước khi quyết định tài trợ, nếu xét thấy cần thiết Ngân hàng nên yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm cho tài sản bảo đảm, đặc biệt đối với

Ngày đăng: 27/06/2020, 15:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w