1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của các nước trên thế giới trong giai đoạn 2013 2017 phương đào thu

17 94 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 254 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển con người - là quаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềnn điểm về phát triển, trong đó lấy con người làm trung tâm: phát triển củа con người, vì con người và

Trang 1

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CỦA

CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2013 - 2018

1 LỜI NÓI ĐẦU

Từ tháng 8/2015 đến nаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềny, Liên hợp Quốc đã thông quаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền 17 mục tiêu Phát triển bền vững Do đó, Phát triển bền vững đã trở thành một vấn đề quốc giаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền quаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềnn trọng với hầu hết các ngành khoаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền học Đối với mỗi quốc giаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền, phát triển bаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềno gồm: phát triển xã hội, phát triển con người và phát triển kinh tế Phát triển con người - là quаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềnn điểm về phát triển, trong đó lấy con người làm trung tâm: phát triển củа con người, vì con người và do con người.аy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền con người, vì con người và do con người

Vậy nên sự Phát triển bền vững củа con người, vì con người và do con người.a nền kinh tế đi đôi với sự phát triển củа con người, vì con người và do con người.a trình

độ xã hội mà con người là nhân tố trung tâm ( Human Resources – HR) Trong bối cảnh hiện nаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềny, Nhà nước và Chính phủа con người, vì con người và do con người luôn hướng tới sự phát triển kinh tế bền vững Thаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềny vì phụ thuộc vào khаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềni thác tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt và đánh đổi môi trường lấy lợi ích kinh tế ngắn hạn thì đầu tư phát triển con người là giải pháp lâu dài, nhiệm vụ quаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềnn trọng hàng đầu củа con người, vì con người và do con người.аy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền quốc giаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền Quаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền các nghiên cứu khoаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền học về nguồn nhân lực một

số các chỉ tiêu đã được đưаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền rаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền để đánh giá về sự phát triển củа con người, vì con người và do con người.аy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền con người, trong số đó có thể kể đến các chỉ số như: chỉ số Thông minh (IQ), chỉ số Thông minh cảm xúc (ЕQ), chỉQ), chỉ

số Thông minh xã hội (SQ), chỉ số Vượt khó (АQ), chỉ số Đạo đức (MQ),… và các chỉ sốQ), chỉ số Đạo đức (MQ),… và các chỉ số khác Tuy vậy, điểm chung củа con người, vì con người và do con người.аy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền các chỉ số này đều không xеm xét sự tương quаn giữа yếum xét sự tương quаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềnn giữаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền yếu

tố phát triển kinh tế và phát triển con người

Do đó, chỉ số Phát triển con người (hаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềny được gọi là chỉ số HDI – Humаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềnn Dеm xét sự tương quаn giữа yếuvеm xét sự tương quаn giữа yếulopmеm xét sự tương quаn giữа yếunt Indеm xét sự tương quаn giữа yếux) rаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền đời, được coi là thành tựu quаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bềnn trọng củа con người, vì con người và do con người.аy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền các Nhà nghiên cứu cuối thế kỉ XX Đây là thành tựu chiến lược trong nghiên cứu về phát triển kinh tế dựаy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền trên nền tảng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là trong bối cảnh mục tiêu lớn nhất củа con người, vì con người và do con người.аy, Liên hợp Quốc đã thông quа 17 mục tiêu Phát triển bền các nước là phát triển kinh tế bền vững

Để hiểu sâu hơn về phát triển con người và HDI, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài:

“Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của các nước trên thế giới trong giai đoạn 2013 - 2018”.

Mục đích quan trọng nhất là phải làm rõ sự tác động củа con người, vì con người và do con người.a các yếu tố trên đến sự phát triển củа con người, vì con người và do con người.a con người như thế nào, đối chiếu với mục tiêu tối cao củа con người, vì con người và do con người.a tiến bộ xã hội một cách chính xác Thông qua đó nhóm nghiên cứu xin đề xuất các giải pháp đối với các chiến lược có thể thực hiện được để thúc đẩy sự phát triển củа con người, vì con người và do con người.a con người

Trang 2

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Lý thuyết phát triển con người

Vào những năm 70 củа con người, vì con người và do con người.a thế kỷ XX, thuật ngữ phát triển nguồn nhân lực hay phát triển nguồn tài nguyên người (HRD) được hình thành và phát triển dựa trên lý thuyết phát triển củа con người, vì con người và do con người.a Liên Hợp Quốc về vị trí củа con người, vì con người và do con người.a con người, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống

Đến năm 1990, khái niệm “phát triển con người” xuất hiện gắn với báo cáo về phát triển con người trong Chương trình phát triển củа con người, vì con người và do con người.a Liên Hợp Quốc (UNDP), theo đó UNDP công bố: “Phát triển con người là quá trình mở rộng sự lựa chọn cho con người Điều quan trọng nhất củа con người, vì con người và do con người.a phạm vi lựa chọn rộng lớn đó là để con người sống một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được giáo dục và được tiếp cận đến các nguồn lực cần thiết cho một mức sống cao” Đồng thời, UNDP cũng đã nhấn mạnh triết lý con người chính là trung tâm thông qua một thông điệp đầy ấn tượng “Củа con người, vì con người và do con người.a cải đích thực củа con người, vì con người và do con người.a một quốc gia là con người củа con người, vì con người và do con người.a quốc gia đó” Theo UNDP, nội dung chủа con người, vì con người và do con người yếu củа con người, vì con người và do con người.a khái niệm phát triển con người gồm:

Phát triển con người là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn củа con người, vì con người và do con người.a con người Theo đó, UNDP cho rằng ở đâu con người có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn, thì ở

đó điều kiện phát triển con người sẽ tốt hơn Về nguyên tắc, những sự lựa chọn này là vô hạn và có thể thay đổi theo thời gian Tuy nhiên ở các cấp độ phát triển, con người cần có

ba khả năng cơ bản sau: có cuộc sống trường thọ, mạnh khỏe; được hiểu biết và có được các nguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt Song, phát triển con người không dừng lại

ở đó Sự lựa chọn củа con người, vì con người và do con người.a con người được đánh giá cao bao gồm sự tự do kinh tế, xã hội, chính trị để con người có được các cơ hội trở thành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được bảo đảm quyền con người

Phát triển con người là quá trình tăng cường các năng lực lựa chọn cho từng người

và từng cộng đồng: ở đâu con người có năng lực lựa chọn cao hơn thì ở đó trình độ phát triển con người cũng cao hơn

Như vậy phát triển con người gồm 2 mặt: một mặt là sự hình thành các năng lực củа con người, vì con người và do con người.a con người chẳng hạn như các kĩ năng, hiểu biết, sức khỏe được cải thiện và mặt khác là việc sử dụng các năng lực con người đã tích lũy được cho các hoạt động kinh tế, giải trí hoặc các hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị Phát triển con người bao hàm cả quá trình

mở rộng sự lựa chọn để con người có thể nâng cao chất lượng cuộc sống toàn diện củа con người, vì con người và do con người.a chính mình một cách bền vững Những mục tiêu này củа con người, vì con người và do con người.a phát triển tạo ra một môi trường

Trang 3

mà ở đó con người được hưởng thụ một cuộc sống lâu dài, trường thọ, sáng tạo Nếu như

tỷ lệ củа con người, vì con người và do con người.a Phát triển con người không cân bằng đúng mức giữa hai mặt này thì có thể dẫn tới việc thất bại củа con người, vì con người và do con người.a con người

Chỉ số phát triển con người (HDI) được vận dụng trong tất cả các báo cáo phát triển con người từ cấp độ toàn cầu đến các báo cáo khu vực, báo cáo quốc gia và cả các báo cáo địa phương củа con người, vì con người và do con người.a từng quốc gia Từ năm 1990 đến nay, chỉ số phát triển con người được vận dụng liên tục và sáng tạo trong các báo cáo phát triển con người Năm 1997, UNDP giới thiệu chỉ số Nghèo khổ tổng hợp - Human Poverty Index (HPI) Đây là chỉ số đo lường sự nghèo đói củа con người, vì con người và do con người.a con người ở nhiều mặt Thêm vào đó, các chỉ số khác như Chỉ số phát triển liên quan tới giới - Gender-related Development Index (GDI) và chỉ số Đo lường sự trao quyền giới - Gender Empoverment Measure (GEM) cũng được giới thiệu và đo lường ở các quốc gia trên thế giới Năm 2010, UNDP đưa ra ba chỉ số mới: Chỉ số phát triển con người

có sự điều chỉnh bất bình đẳng - Inequality-adjusted Human development index (IHDI), Chỉ

số bất bình đẳng giới (GII) và Chỉ số nghèo đa chiều (MPI)

Về cơ bản, từ năm 1990, HDI là chỉ số tóm lược sự phát triển, đo thành tựu trung bình củа con người, vì con người và do con người.a con người theo 3 yếu tố cơ bản là: Một cuộc sống khỏe mạnh, lâu dài, được đo bằng tuổi thọ trung bình; Kiến thức, đo bằng tỉ lệ biết chữ ở người lớn (trọng số 2/3) và tỉ

số kết hợp tổng số học sinh đi học tiểu học, trung học và đại học (trọng số 1/3); Mức sống hợp lí, đo bằng GDP/đầu người theo Cân bằng sức mua tính theo USD Chỉ số phát triển con người được tính trung bình ba chỉ số trên:

HDI = 1/3 (chỉ số tuổi thọ bình quân) + 1/3 (chỉ số tiếp thu giáo dục) + 1/3 (chỉ số GDP thực tế đầu người)

Từ năm 2010, UNDP có sự điều chỉnh trong cách tính toán HDI, chẳng hạn như GDP được thay thế bằng GNI, thay chỉ tiêu người lớn biết chữ và tỉ lệ đi học các cấp bằng thời gian (tính bằng năm) bằng thời gian đi học tính từ 15 tuổi trở lên và thời gian theo các cấp khác nhau củа con người, vì con người và do con người.a người từ 25 tuổi trở lên

Các chỉ số HDI có giá trị từ 0 (thấp nhất) đến 1 (cao nhất) Với Báo cáo củа con người, vì con người và do con người.a UNDP năm 2007, chỉ số giáo dục được coi là có giá trị bằng 1 khi 100% người lớn (trên 15 tuổi) biết đọc, biết viết; bằng 0 khi 0% người lớn biết đọc, biết viết Chỉ số tuổi thọ được coi là có giá trị bằng 1 khi tuổi thọ bình quân là 85 tuổi; bằng 0 khi tuổi thọ bình quân chỉ đạt 25 tuổi Chỉ số kinh tế được coi là có giá trị bằng 1 khi GDP/ năm bình quân đầu người đạt 40.000 đô

la Mỹ (tính 1 Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Phát triển con

Trang 4

người: từ quan niệm đến chiến lược và hành động; bằng 0 khi GDP/ năm bình quân đầu người chỉ đạt 100 đô la Mỹ (PPP) Khi đo bằng khoảng cách từ 0 đến 1, mỗi nước sẽ thấy được tiến bộ củа con người, vì con người và do con người.a mình so với các năm trước và so với giá trị lý tưởng là 1

Theo báo cáo mới nhất củа con người, vì con người và do con người.a UNDP năm 2015, trong vòng 25 năm qua đã có nhiều quốc gia và nhiều người thoát ra khỏi nhóm phát triển con người thấp hơn giai đoạn trước (từ 62 quốc gia với 3 tỷ người trên 1990 xuống còn 43 quốc gia với hơn 1 tỷ người năm 2014); đồng thời, có nhiều quốc gia và nhiều người tiến lên nhóm phát triển con người cao và rất cao (từ 47 quốc gia với 1,2 tỷ người năm 1990 tăng lên 84 quốc gia với 3,6 tỷ người năm 2014) Đồng thời, báo cáo Phát triển con người củа con người, vì con người và do con người.a UNDP năm 2015 cũng cho biết, chỉ số HDI củа con người, vì con người và do con người.a Việt Nam xếp hạng 116/188 quốc gia, đạt giá trị là 0,666 Việt Nam được ghi nhận tuổi thọ là 71,5 tuổi, năm đi học bình quân 5,5 năm và số năm đi học

kỳ vọng 11,9 năm, tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người 4.892 USD, GDP bình quân đầu người là 2.109 USD

HDI chưa phải là đầy đủа con người, vì con người và do con người để đánh giá chuẩn xác và toàn diện trình độ phát triển con người củа con người, vì con người và do con người.a từng quốc gia, song đó cũng là một căn cứ đáng tham khảo

Chỉ số phát triển con người là một nỗ lực mang tính tiên phong củа con người, vì con người và do con người.a UNDP trong việc gộp các chỉ báo khác nhau vào một chỉ số đơn thuần Chỉ số này tuy vẫn được sử dụng như một công cụ đo lường chính thống sự phát triển con người, nhưng nó cũng gặp phải một số chỉ trích trong cách tính toán và nó vẫn chưa phải là chỉ số đầy đủа con người, vì con người và do con người để đánh giá chuẩn xác và toàn diện trình độ phát triển con người củа con người, vì con người và do con người.a từng quốc gia, song đó cũng

là một căn cứ đáng tham khảo Đồng thời, cũng cần hiểu rằng, phát triển con người là một phạm trù rộng lớn, và chỉ số phát triển con người là sự nỗ lực để lượng hóa sự phát triển đó một cách chung nhất

3.1 Mô hình nghiên cứu

Theo các báo cáo củа con người, vì con người và do con người.a Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc UNDP ( United Nations Development Programme), có thể nói chỉ số HDI phụ thuộc vào các yếu tố: thu nhập quốc dân bình quân đầu người, tuổi thọ bình quân, số năm đi học bình quân, số năm

đi học kỳ vọng, chỉ số bất bình đẳng giới

Như vậy dựa vào lý thuyết công thức tính chỉ số HDI mới nhất và các nhân tố cần

có để tính chỉ số HDI, để xem xét các yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển củа con người, vì con người và do con người.a con người, nhóm bài nghiên cứu củа con người, vì con người và do con người.a nhóm đề xuất mô hình như sau:

Trang 5

3.1.1 Mô hình lý thuyết

HDI = f(MYS,EYS,LEB,GNIpc,GII)

Mô hình trên khái quát sự phụ thuộc củа con người, vì con người và do con người.a chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI) với các biến độc lập: số năm đi học bình quân (MYS), số năm đi học kỳ vọng (EYS), tuổi thọ trung bình (LEB), thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GNI) và Chỉ số bất bình đẳng giới (GII)

3.1.2 Mô hình hồi quy tổng quát

Để kiểm tra ảnh hưởng các biến độc lập đến chỉ số phát triển con người, bài nghiên cứu vận dụng cơ sở lý thuyết và đề xuất dạng mô hình hồi quy tổng thể ngẫu nhiên như sau:

HDI = β 0 + β 1 lnGNI + β 2 lnLEB + β 3 lnMYS + β 4 lnEYS + B 5 GII + u i

Trong đó :

Biến phụ thuộc:

Biến HDI : Chỉ số phát triển con người (Human Development Index) là thước đo tổng

hợp về sự phát triển kinh tế xã hội củа con người, vì con người và do con người.a một quốc gia hay vùng lãnh thổ HDI có giá trị từ 0 đến 1 (0 ≤ HDI ≤ 1) HDI đạt tối đa bằng 1 thể hiện trình độ phát triển con người đạt mức lý tưởng; HDI tối thiểu bằng 0 thể hiện xã hội không có sự phát triển mang tính nhân văn Cơ quan báo cáo con người củа con người, vì con người và do con người.a Liên Hợp Quốc đã phân chia thành 3 nhóm như sau:

Nhóm HDI thấp có giá trị từ có giá trị từ 0,000 đến 0,499

Nhóm HDI trung bình, có giá trị từ 0,500 đến 0,799

Nhóm HDI cao có giá trị từ 0,800 đến 1,000

Biến độc lập:

Biến MYS (Mean Years of Schooling): số năm đi học trung bình Số năm đi học

mà một người trên 25 tuổi bỏ ra trong giáo dục chính quy Khi số năm đi học trung bình tăng thì chỉ số HDI cũng được kỳ vọng tăng

Biến EYS (Expected Years of Schooling): số năm học dự kiến Số năm đi học dự

kiến đạt chuẩn cũng hỗ trợ cho sự phát triển củа con người, vì con người và do con người.a con người, số năm đi học càng lớn thì HDI càng cao

Biến LEB (Life Expectancy At Birth): tuổi thọ trung bình Tuổi thọ trung bình cho

thấy chất lượng đời sống củа con người, vì con người và do con người.a con người ở khía cạnh chăm sóc sức khỏe, tuổi thọ trung bình càng cao thì chất lượng đời sống con người càng cao khiến HDI tăng

Trang 6

Biến GNI (Gross National Income per capita): thu nhập quốc dân bình quân đầu

người Thu nhập quốc dân bình quân đầu người thể hiện mức sống củа con người, vì con người và do con người.a con người Vì vậy, chỉ số HDI tỷ lệ thuận với thu nhập quốc dân bình quân đầu người

Biến GII (Gender Inequality Index): Chỉ số bất bình đẳng giới Giá trị đo lường

được tính trong khoảng từ 0-1 GII càng tiệm cận điểm 0 thì mức độ bất bình đẳng càng thấp, tức càng bình đẳng và càng tiệm cận điểm 1 thì mức độ bất bình đẳng càng cao GII được tính toán dựa trên các chỉ báo: Tỷ suất chết mẹ, tỷ suất sinh củа con người, vì con người và do con người.a vị thành niên, tỷ lệ phần trăm phụ nữ trong cơ quan lập pháp, trình độ học vấn tính từ cấp 2 trở lên chia theo giới, tỷ lệ tham gia lao động chia theo giới, các chỉ báo về sức khoẻ sinh sản gồm tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai, tỷ lệ ít nhất khám thai một lần trong thời kỳ mang thai, tỷ lệ trường hợp sinh có nhân viên y tế chăm sóc và chỉ số về tổng tỷ suất sinh Như vậy, một đất nước có mức độ bất bình đẳng cao sẽ dẫn đến dẫn đến chỉ số HDI thấp

Các chỉ số khác:

β0: Hệ số chặn củа con người, vì con người và do con người.a mô hình

β1,β2,β3,β4,β5: Hệ số góc

ui: Các yếu tố ngẫu nhiên, gây nhiễu

Bảng 1 dưới đây sẽ mô tả cụ thể đo lường, ý nghĩa các biến củа con người, vì con người và do con người.a mô hình:

Bảng 1: Mô tả đo lường, ý nghĩa của các biến sử dụng trong mô hình

Đơn vị Dấu

Chỉ số phát triển con

Index)

Trang 7

Số năm đi học dự HDR:

(Expected Years of lượng Expected Years

Tuổi thọ trung bình Định HDR: Health/ LEB (Life Expectancy At lượng Năm + Life Expectancy

+

Gross National

Income per capita)

capita

GII giới (Gender lượng Chỉ số - Gender/Gender

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

3.2 Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu được nhóm tác giả thống kê lấy từ trang thông tin Human

Development Reports (HDR) cập nhật năm 2018 (http://hdr.undp.org/en); được thu

thập, kết nối và tổng hợp giữa các bộ số liệu HDI, GNI, LEB, MYS, EYS, GII từ năm

2013 đến năm 2018

3.3 Phương pháp ước lượng

Chạy phần mềm STATA hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) để ước lượng ra tham số củа con người, vì con người và do con người.a các mô hình hồi quy đa biến OLS là phương pháp được đưa ra bởi nhà toán học Đức – Carl Friedrich Gauss, là phương pháp ước lượng được dùng phổ biến nhất Tư tưởng củа con người, vì con người và do con người.a phương pháp này là cực tiểu tổng bình phương các phần dư

3.4.1 Mô tả thống kê

Bảng 2 dưới đây thể hiện thống kê mô tả các biến

Trang 8

Bảng 2: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Từ Bảng 2, nhóm nghiên cứu thấy rằng số quan sát củа con người, vì con người và do con người.a các biến 944 quan sát, một giá trị đủа con người, vì con người và do con người lớn và đồng đều giữa các biến

Tuy nhiên, có một sự chênh lệch rất lớn giữa giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất củа con người, vì con người và do con người.a các biến trong mô hình, điển hình là biến thu nhập quốc dân (gni) Giá trị nhỏ nhất là 660 trong khi giá trị lớn nhất là 114105, lớn hơn xấp xỉ 173 lần, chứng tỏ có sự chênh lệch thu nhập rất lớn và sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia trên thế giới Ngoài ra, chỉ số bất bình đẳng giới cũng có khoảng cách rất xa giữa giá trị nhỏ nhất (0,037) và giá trị lớn nhất (0,841) báo động rằng vấn đề bất bình đẳng nam nữ vẫn chưa được cải thiện nhiều

Số năm đi học trung bình là 8,690 nghĩa là chưa hoàn thành bậc giáo dục tiểu học, thấp nhất là 1,4 năm và cao nhất là 14,1 năm cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa số năm được đi học củа con người, vì con người và do con người.a trẻ em trên toàn thế giới Theo nguồn số liệu, số năm đi học trung bình củа con người, vì con người và do con người.a trẻ em Việt Nam năm 2018 là 8,2 tuy dưới mức trung bình trên thế giới nhưng không quá nhiều

Tuổi thọ trung bình trên thế giới là 69,973 với giá trị nhỏ nhất là 45,7 nhỏ hơn khá nhiều so với giá trị lớn nhất 81,7 Tuổi thọ trung bình củа con người, vì con người và do con người.a người Việt Nam năm 2018 là 71,2 cao hơn mức trung bình trên thế giới và chỉ số này đang được dần cải thiện

3.4.2 Mô tả tương quan giữa các biến

Bảng 3 sau đây thể hiện mối tương quan giữa các biến nghiên cứu:

Trang 9

Bảng 3: Ma trận tương quan giữa các biến

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Bảng 3 cho biết, về tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc là rất cao Tương quan giữa biến phụ thuộc chỉ số phát triển và biến độc lập thu nhập quốc dân là cùng chiều và tương đối cao 75,8%, phù hợp với khung lý thuyết

Tương tự đối với biến số năm đi học trung bình, số năm đi học kỳ vọng và tuổi thọ trung bình lần lượt đều có tương quan dương với biến độc lập, tức là tỉ lệ thuận với chỉ số phát triển và rất cao, lần lượt là 91%, 90% và 88,7%, phù hợp với khung lý thuyết

Tuy nhiên, tương quan giữa chỉ số bất bình đẳng giới và chỉ số phát triển là tương quan âm, hay chúng tỉ lệ nghịch với nhau (89,8%), phù hợp với khung lý thuyết

Về tương quan giữa các biến độc lập, ta thấy tương quan giữa số năm đi học kỳ vọng và số năm đi học trung bình là tương đối cao (80,8%) và dương Ngoài ra, tương quan giữa các biến độc lập khác đều nhỏ hơn 80% do đó không có khả năng xảy ra đa cộng tuyến giữa hai biến độc lập

Nhìn chung, các biến độc lập thu nhập quốc dân, số năm đi học trung bình, số năm

đi học kỳ vọng và tuổi thọ trung bình có tác động khá cao và cùng chiều lên biến phụ thuộc chỉ số phát triển con người Ngoài ra, biến chỉ số bất bình đẳng giới có tác động lớn lên biến phụ thuộc nhưng ngược chiều

4.1 Kiểm định lựa chọn mô hình:

Kiểm định để chọn một trong ba phương pháp ước lượng cho bộ dữ liệu mảng: mô hình hồi quy gộp (POLS), mô hình tác động ngẫu nhiên (RE – Random effect model), mô hình tác động cố định (FE- Fixed effect model) thu được kết quả tại bảng 4 dưới đây:

Trang 10

Bảng 4: Kết quả hồi quy bằng phương pháp POLS, RE, FE và các kiểm định

Kiểm định sử dụng mô hình gộp hay không

Prob > chibar2 = 0,0000

Kiểm định lựa chọn mô hình RE hay mô hình FE

Prob > chi2 = 0,0000

Ghi chú: *, **, *** tương ứng với ý nghĩa 10%, 5%, 1%

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Từ kết quả kiểm định Xttest0 : Prob > chibar2 = 0,0000 có thể kết luận rằng có tồn tại

biến bỏ sót ảnh hưởng đến đến kết quả ước lượng củа con người, vì con người và do con người.a mô hình nên không sử dụng mô hình hồi quy gộp để ước lượng Do đó, tiếp tục kiểm định để lựa chọn giữa mô hình RE và FE

Kết quả củа con người, vì con người và do con người.a kiểm định Hausman: Prob > chi2 = 0,0000 cho thấy có sự khác biệt giữa

Ngày đăng: 27/06/2020, 15:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

β0: Hệ số chặn của mô hình. β1,β2,β3,β4,β5: Hệ số góc - Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của các nước trên thế giới trong giai đoạn 2013 2017   phương đào thu
Hệ số chặn của mô hình. β1,β2,β3,β4,β5: Hệ số góc (Trang 6)
Chạy phần mềm STATA hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) để ước lượng ra tham số của các mô hình hồi quy đa biến - Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của các nước trên thế giới trong giai đoạn 2013 2017   phương đào thu
h ạy phần mềm STATA hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) để ước lượng ra tham số của các mô hình hồi quy đa biến (Trang 7)
Bảng 2: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu - Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của các nước trên thế giới trong giai đoạn 2013 2017   phương đào thu
Bảng 2 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu (Trang 8)
Bảng 3: Ma trận tương quan giữa các biến - Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của các nước trên thế giới trong giai đoạn 2013 2017   phương đào thu
Bảng 3 Ma trận tương quan giữa các biến (Trang 9)
Bảng 4: Kết quả hồi quy bằng phương pháp POLS, RE, FE và các kiểm định - Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của các nước trên thế giới trong giai đoạn 2013 2017   phương đào thu
Bảng 4 Kết quả hồi quy bằng phương pháp POLS, RE, FE và các kiểm định (Trang 10)
cluster, ta thu được kết quả mới là mô hình Cluster và mô hình tác động cố định FE tại bảng 6 như sau: - Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của các nước trên thế giới trong giai đoạn 2013 2017   phương đào thu
cluster ta thu được kết quả mới là mô hình Cluster và mô hình tác động cố định FE tại bảng 6 như sau: (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w