- Căn cứ xác lập quyền: Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết địnhcấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định
Trang 1Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu ở Việt Nam
Chương 1: Các quy định của Việt Nam về bảo hộ quyền SHTT đối với nhãn hiệu 1.1 Phân loại nhãn hiệu
1.1.1 Nhãn hiệu thông thường
- Khái niệm:
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá
nhân khác nhau (Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm2009)
- Căn cứ xác lập quyền:
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết địnhcấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy địnhtại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Khoản 3a Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005)
- Điều kiện bảo hộ:
Theo Điều 72 Mục 4 Luật Sở hữu Trí tuệ 2005, nhãn hiệu được bảo hộ nếu đápứng các điều kiện sau đây:
+ Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cảhình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
+ Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá,dịch vụ của chủ thể khác
- Phạm vi bảo hộ:
Cơ chế bảo hộ trong việc bảo hộ hành vi xâm phạm cho hàng hóa, dịch vụ trùnghoặc tương tự mà không được cho sản phẩm khác loại Cụ thể, theo quy định tại Điều 129Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 thì các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép củachủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu thông thường:
+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùngvới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương
tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó,nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
+ Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụtrùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo
Trang 2nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịchvụ;
1.1.2 Nhãn hiệu nổi tiếng
- Khái niệm:
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh
thổ Việt Nam (Khoản 20 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm2009)
- Căn cứ xác lập quyền:
Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụthuộc vào thủ tục đăng ký (Khoản 3a Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005)
- Điều kiện bảo hộ:
Theo Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ 2005:
Các tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:
1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sửdụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
2 Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
3 Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượnghàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
5 Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
7 Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
8 Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãnhiệu
- Phạm vi bảo hộ:
Cơ chế bảo hộ trong việc bảo hộ hành vi xâm phạm cho cả hàng hóa, dịch vụ khácloại Cụ thể, theo quy định tại Điều 129 Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 thì các hành vi sau đâyđược thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạmquyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng:
Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dướidạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hànghoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc
Trang 3nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người
sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng
1.2 Thời hạn bảo hộ
Theo quy định tại Khoản 6 Điều 93, Luật Sở hữu Trí tuệ 2005, đối với nhãn hiệu:
“Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.”
Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 02 năm 2001 của Chính phủ quyđịnh: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ vô thời hạntính từ ngày nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng ghi trong Quyết định công nhận nhãnhiệu nổi tiếng” (Đoạn 3 Khoản 1 Điều 10)
Từ năm 2001, pháp luật sở hữu trí tuệ đã quy định quyền sở hữu công nghiệp đốivới nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ vô thời hạn tính từ ngày nhãn hiệu được công nhận lànổi tiếng (tức là việc bảo hộ cho nhãn hiệu nổi tiếng sẽ liên tục cho tới khi nhãn hiệu đókhông được coi là nổi tiếng nữa) Nhưng hiện nay, pháp luật lại không có bất cứ một quyđịnh nào về thời hạn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
Tuy nhiên, cũng có trường hợp, một nhãn hiệu nổi tiếng không được bảo hộ nữa
Đó là khi tiêu chí làm nhãn hiệu đó nổi tiếng không còn trên thực tế hoặc nhãn hiệu đó đãtrở thành tên gọi chung của một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định thì nhãn hiệu sẽ khôngđược coi là nổi tiếng nữa Trường hợp này còn gọi là sự lu mờ nhãn hiệu Lịch sử đã từng
có những trường hợp như vậy mà điển hình là trường hợp của viên thuốc ASPIRIN
1.3 Phân biệt nhãn hiệu, tên thương mại và thương hiệu
a Phân biệt nhãn hiệu và tên thương mại
Giống nhau:
- Đều là các chỉ dẫn thương mại xuất hiện trên hàng hóa, giúp người tiêu dùng phân
biệt
- Phải là những dấu hiệu nhìn thấy được.
- Có khả năng phân biệt.
Khác nhau:
Khái niệm “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để
phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các
tổ chức, cá nhân khác nhau”
Khoản 16 điều 4 Luật SHTT năm
2005 sửa đổi bổ sung năm 2009
“Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và
Trang 4khu vực kinh doanh”
Khoản 21 điều 4 Luật SHTT năm 2005sửa đổi bổ sung năm 2009
Không cần đăng ký Căn cứ bảo hộdựa trên việc sử dụng hợp pháp, lâudài, ổn định
Vấn đề xảy ra tranh chấp được giảiquyết dựa vào thâm niên hoạt độngcủa công ty, mức độ biết đến rộng rãisản phẩm của công ty,…
Không bảo hộ những cụm từ, dấuhiệu quy định tại khoản 2 điều 74Luật SHTT
Chỉ là dấu hiệu từ ngữ, không bảo hộmàu sắc, hình ảnh
Gồm 2 thành phần:
– Mô tả– Phân biệt
Số lượng Một chủ thể kinh doanh có thể đăng
ký sở hữu nhiều nhãn hiệu
Một chủ thể sản xuất kinh doanh chỉ
có thể có một tên thương mại
Điều kiện Phải đăng ký và được cấp văn bằng
bảo hộ
Chỉ cần sử dụng hợp pháp tên thươngmại
Trang 5Chuyển giao
Nhãn hiệu có thể là đối tượng củahợp đồng chuyển nhượng và hợpđồng chuyển nhượng sử dụng
Chỉ có thể là đối tượng của hợp đồngchuyển nhượng với điều kiện là việcchuyển nhượng tên thương mại kèmtheo việc chuyển nhượng toàn bộ cơ
sở sản xuất kinh doanh
Trang 6b Phân biệt nhãn hiệu và thương hiệu
Theo định nghĩa:
- Thương hiệu (brands) theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là
một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá haymột dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổchức
- Nhãn hiệu (marks) theo định nghĩa tại Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ là dấu hiệu
dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau
Về mặt pháp lý
Ở góc độ pháp lý, sử dụng thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa là đúng như trong quy địnhcủa pháp luật Việt Nam nhưng ở góc độ quản trị doanh nghiệp thì người ta sử dụng thuậtngữ thương hiệu nhiều hơn
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam chưa có định nghĩa về thương hiệu mà chỉ đưa ra địnhnghĩa về nhãn hiệu, do đó chỉ có nhãn hiệu mới là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trítuệ tại Việt Nam
Vì chỉ có nhãn hiệu là đối tượng của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam nên nhãn hiệuđược các cơ quan quản lý Nhà nước công nhận và bảo hộ còn thương hiệu là kết quả phấnđấu lâu dài của doanh nghiệp và người tiêu dùng chính là người công nhận
Về khía cạnh vật chất
Nói đến thương hiệu là nói đến hình tượng về hàng hóa trong tâm trí người tiêu dùng
Ví dụ như khi nói tới điện thoại Nokia, người dùng sẽ hình dung ra một sản phẩm bền,điện thoại Iphone thì “sang chảnh”,…
Còn nhãn hiệu lại có thể là từ ngữ, hình ảnh, biểu tượng…giúp khách hàng nhận diệnbên ngoài của hàng hóa
Về thời gian tồn tại
Thương hiệu tồn tại lâu hơn nhãn hiệu Có những thương hiệu nổi tiếng mãi theo thờigian nhưng nhãn hiệu thì thay đổi theo những yếu tố tác động bên ngoài nhất định như thịhiếu người tiêu dùng… Hơn nữa nhãn hiệu được bảo hộ trong thời gian có hạn, cònthương hiệu được định vị lâu dài trong tâm trí của người tiêu dùng
Trang 7Chương 2: Thực trạng bảo hộ quyền SHTT đối với nhãn hiệu ở Việt Nam
2.1 Số lượng đăng kí nhãn hiệu ở Việt Nam trong những năm gần đây
Bảng 1: Bảng số liệu lượng đơn và bằng đăng kí nhãn hiệu năm 2016
Bảng 2: Bảng số liệu lượng đơn và bằng đăng kí nhãn hiệu năm 2017
Bảng 3: Bảng số liệu lượng đơn và bằng đăng kí nhãn hiệu năm 2018
Bảng 5: Bảng số liệu lượng đơn và bằng đăng kí nhãn hiệu những năm gần đây
Bảng 6: Bảng số liệu lượng đơn và bằng đăng kí nhãn hiệu Quý I những năm gần đây
Trang 8Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 0
5000 10000 15000 20000 25000 30000 35000 40000
Biểu đồ so sánh tỷ lệ đơn và bằng đăng kí nhãn hiệu những năm gần đây
Đơn Bằng
Biểu đồ 1: Số lượng đơn và bằng đăng kí nhãn hiệu trong những năm gần đây
Biểu đồ 2: Số lượng đơn và bằng đăng kí nhãn hiệu trong quý I những năm gần đây
Nguồn tham khảo: Bộ Khoa học và Công nghệ Cục sở hữu trí tuệ
Nhận xét:
- Năm 2016, 2017, 2018:
+ Nhìn chung, số lượng đơn nộp yêu cầu đăng ký nhãn hiệu tăng dần mỗi năm nhưng
tỷ lệ được cấp bằng lại chưa đến 50%
+ Năm 2018 tỷ lệ nộp đơn và cấp bằng thấp hơn so với năm 2016, 2017
Trang 9- Từ biểu đồ so sánh Quý I của năm 2019 với Quý I của 3 năm trước, có thể thấy số lượngnộp đơn yêu cầu đăng kí nhãn hiệu của năm 2019 ít hơn nhưng tỷ lệ được cấp bằng lạicao hơn ( > 50%)
=> Việc đăng ký cấp bằng nhãn hiệu ngày càng đóng vai trò quan trọng, nhất là khi khoahọc – công nghệ, các công ước hiệp định quốc tế được ban hành, hiểu biết của mọi cánhân, tổ chức được nâng cao Chính vì vậy, tỷ lệ được cấp bằng nhãn hiệu ngày càngtăng
2.2 Các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu phổ biến ở Việt Nam
a Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với
hàng hoá,dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó (việc sử dụng có khảnăng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ)
=>>> Hàng giả, nhãn hiệu và mẫu mã sản phẩm y hệt với sản phẩm có nhãn hiệu được bảo hộ
Ảnh 1: Giày Nike thật và fake
Ảnh 2: Burger King fake và thật
Trang 10Ảnh 3: Sản phẩm dưỡng tóc của Dove hàng thật và hàng giả
Hay theo trường hợp của Petrolimex Sài Gòn, hiện Công ty Cổ phần Thương mại
và Dịch vụ Cần Giờ (Cagico) đang có 2 cửa hàng xăng dầu tự ý sử dụng trái phép nhãnhiệu Petrolimex, xâm phạm nhãn hiệu Petrolimex đã được bảo hộ; có thể gây nhầm lẫncho khách hàng và công chúng Đó là trạm xăng dầu Quang Trung CN 2 ở số 44 Ung VănKhiêm, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh với xâm phạm nhãn hiệu
số 262775, sử dụng logo chữ "P - Nhượng quyền Thương mại" trên hộp đèn
Ảnh 4: Cửa hàng xăng dầu xâm phạm nhãn hiệu Petrolimex
Còn cửa hàng xăng dầu Quang Trung ở số 96 Quang Trung, phường 8, quận GòVấp, TP Hồ Chí Minh đã xâm phạm nhãn hiệu số 164856, sử dụng logo chữ "P" decaldán trên trụ bơm
Tương tự như vậy, cửa hàng xăng dầu Yên Thọ của Công ty Cổ phần kỹ thuậtthương mại Đại An, có địa chỉ tại phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
đã xâm phạm nhãn hiệu số 164856, sử dụng logo chữ "P" tại vị trí trên biển tên cửa hàng,bảng giá mặt hàng, cánh cột bơm, biển vẫy tại cửa hàng
Trang 11b Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng,
tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãnhiệu đó
=>> Hàng nhái, cùng chủng loại sản phẩm, nhãn hiệu tương tự gần giống với nhãn hiệu được bảo hộ.
Ảnh 5: Nhãn hiệu Adidas thật và vô vàn các phiên bản fake
Ảnh 6: Nhãn hiệu loa BMB thật và nhái
Ảnh 7: Chú mèo thần tài Maneki Neko thật và fake
Trang 12Ảnh 8: Bia Heineken nhái và thật
c Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới
dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá,dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch
vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng
Ảnh 9: Xe ô tô dân sự tự ý dán nhãn VTV
Ảnh 10: Công ty tự ý sử dụng nhãn hiệu VTV thành tên đơn vị, thậm chí, một số hiệu cầm đồ tại
TP.HCM còn đưa luôn nhãn VTV lên biển hiệu kinh doanh
Trang 132.3 Phân tích một số case điển hình về vi phạm, tranh chấp về quyền SHTT đối với nhãn hiệu ở Việt Nam
2.3.1 Case study 1: Asano - Asanzo
a Tổng quan:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Đông Phương, đơn vị sở
hữu nhãn hiệu Asano
Năm 2008, Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Đông Phương được cấp giấychứng nhận đăng ký nhãn hiệu Asano, hình số 107919 cho các nhóm hàng hóa về máygiặt, máy xay sinh tố, máy ép trái cây, ti vi, đầu lọc đĩa DVD, loa, amply, tủ lanh, điềuhòa, nồi cơm điện…
- Bị đơn: Công ty cổ phần Điện tử Asanzo Việt Nam
Năm 2014, Công ty được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng kí nhãnhiệu Asanzo số 221067
Ảnh 11: Nhãn hiệu gây nhầm lẫn giữa Asano và Asanzo
b Diễn biến:
- Về phía nguyên đơn:
Năm 2015, Công ty phát hiện trên thị trường có Công ty cổ phần Điện tử AsanzoViệt Nam sử dụng nhãn hiệu Asanzo có kiểu dáng, mẫu mã giống với nhãn hiệu Asano
mà công ty đã được đăng ký bảo hộ Công ty Đông Phương đã lập vi bằng về việc Công
ty Asanzo đã bày bán các sản phẩm như tivi led loại 32 inch, 40 inch, 23 inch
Ngày 10/8/2015, Công ty Đông Phương đã gửi hồ sơ cho Viện Khoa học sở hữu trítuệ để giám định
Ngày 18/8/2015, kết luận giám định khẳng định, dấu hiệu Asanzo là yếu tố xâmphạm quyền đối với nhãn hiệu Asano
Trang 14Công ty Đông Phương sau đó gửi văn bản yêu cầu xử phạt hành vi trên tới các cơquan chức năng, nhưng không nhận được phản hồi Trong khi đó, Công ty Asanzo vẫnquảng bá rộng rã nhãn hiệu trên các phương tiện đại chúng.
Vì vậy, Công ty Đông Phương đã gửi khởi kiện vụ việc ra tòa án, yêu cầu Công tyAsanzo phải bồi thường thiệt hại số tiền tạm tính là 500 triệu đồng, xin lỗi cải chính côngkhai và xóa bỏ toàn bộ hàng hóa đang dán nhãn hiệu
- Về phía bị đơn:
Trong khi đó, Công ty Asanzo cũng có đơn phản tố cho rằng, việc khởi kiện đã ảnhhưởng đến uy tín, danh dự, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Công ty Asanzo yêucầu Công ty Đông Phương số tiền bồi thường thiệt hại là 300 triệu đồng
- Phán quyết của tòa án:
Bản án sơ thẩm của TAND TP.HCM năm 2018 đã tuyên buộc Công ty Asanzochấm dứt hành vi xâm phạm, xóa bỏ nhãn hiệu Asanzo, hình đã dán trên các sản phẩm vàbuộc công ty này phải bồi thường số tiền 100 triệu đồng cho Công ty Đông Phương
Sau bản án trên, cả hai bên đều kháng cáo Năm 2019, TAND Cấp cao tạiTP.HCM đã xem xét đơn kháng án
c Kết quả
HĐXX phúc thẩm thấy rằng, tại văn bản số 3374 năm 2016, Cục Sở hữu trí tuệ
(Bộ Khoa học và Công nghệ) xác định: “Tuy có sự khác biệt về màu sắc các chữ cái là phụ âm (thêm chữ Z) và chữ A được trình bày đủ nét, nhưng kết hợp chữ và hình trên vẫn tạo thành tổng thể có khả năng gây nhầm lần với nhãn hiệu được bảo hộ".
Do đó, Cục Sở hữu trí tuệ kết luận hành vi của Công ty Asanzo là xâm phạmquyền nhãn hiệu theo Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ
HĐXX phúc thẩm cho rằng, tòa án sơ thẩm chỉ chấp nhận mức bồi thường là cócăn cứ, phù hợp với Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ, bởi Công ty Đông Phương không đưa
ra được chứng cứ chứng minh về thiệt hại vật chất, không xác định được bị đơn đã thuđược bao nhiêu lợi nhuận từ việc sử dụng nhãn hiệu Lợi nhuận của Công ty Asanzo là kếtquả của nhiều yếu tố cộng hưởng lại
Bên cạnh đó, HĐXX cũng không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và quyết địnhgiữ nguyên bản án sơ thẩm
Ngoài việc bồi thường và xóa nhãn hiệu, Công ty Asanzo phải xin lỗi, cải chínhcông khai trên 3 số liên tiếp trên Báo Thanh Niên