1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý dựa trên đăng ký nhãn hiệu tại mỹ thực trạng bảo hộ tại việt nam và bài học kinh nghiệm

24 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 189,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổchức đó.Nhãn hiệu tập thể thường là của một hiệp hội hoặc một tập thể mà các thành viên của nó có thể sử

Trang 1

“nước mắm Phú Quốc” được bảo hộ tại Liên minh Châu Âu (EU) hay Việt Nam đấutranh giành lại chỉ dẫn địa lý “Cà phê Buôn Mê Thuột” ở Trung Quốc Bảo hộ chỉ dẫnđịa lí là vấn đề liên quan mật thiết đến lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, thị trường xuấtkhẩu, lợi nhuận cho doanh nghiệp và phát triển nền kinh tế Vì thế, trong bài nghiêncứu này, nhóm chúng em sẽ trình bày các vấn đề liên quan đến bảo hộ chỉ dẫn địa lí ởHoa Kỳ, tìm hiểu thực trạng áp dụng ở Việt Nam, liên hệ và rút ra nhận xét, đưa một sốbiện pháp cho hoạt động quản lý chỉ dẫn địa lý ở nước ta.

Trang 2

- Chất lượng, uy tín, danh tiếng của hàng hoá là do nguồn gốc địa lý tạo nên

Ví dụ : "Made in Japan" (điện tử), "Vạn Phúc" (lụa tơ tằm); "Bát Tràng" (gốm, sứ)

- Một dạng chỉ dẫn địa lý đặc biệt là "Tên gọi xuất xứ hàng hoá"

Nếu chỉ dẫn địa lý chỉ là tên gọi (địa danh) và uy tín, danh tiếng của sản phẩmđạt đến mức đặc thù gắn liền với vùng địa lý đó thì chỉ dẫn như vậy được gọi là

"Tên gọi xuất xứ hàng hoá"

Trang 3

Nếu chỉ dẫn địa lý là tên gọi xuất xứ hàng hoá thì việc bảo hộ được thực hiện theoquy định của pháp luật hiện hành về tên gọi xuất xứ hàng hoá.

Các thông tin địa lý đã trở thành tên gọi thông thường của hàng hoá, đã mất khảnăng chỉ dẫn nguồn gốc địa lý thì không được bảo hộ dưới danh nghĩa là chỉ dẫn địalý

- Người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý

Người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là mọi tổ chức, cá nhân tiến hành hoạtđộng sản xuất hàng hoá mang chỉ dẫn đó tại lãnh thổ quốc gia, vùng lãnh thổhoặc địa phương tương ứng, với điều kiện hàng hoá do người đó sản xuất phảibảo đảm uy tín hoặc danh tiếng vốn có của loại hàng hoá đó

I.1.2 Nhãn hiệu chứng nhận

Nhãn hiệu chứng nhận được cấp khi đáp ứng các tiêu chuẩn định sẵn nhưng không giớihạn đối với thành viên Nhãn hiệu có thể được sử dụng bởi bất kỳ người nào có sảnphẩm đáp ứng các tiêu chuẩn định sẵn

Ví dụ: Biểu tượng Woolmark là một nhãn hiệu (chứng nhận) đã đăng ký của công ty

Woolmark Woolmark là một biểt tượng đảm bảo chất lượng xác nhận rằng các sảnphẩm mang biểu tượng đó, được làm từ 100% len mới và tuân thủ các tiêu chuẩn kỹthuật nghiêm ngặt do công ty Woolmark quy định Nhãn hiệu này được đăng ký tại hơn

140 nước và được cấp li-xăng cho các nhà sản xuất có đủ khả năng đáp ứng các tiêuchuẩn kỹ thuật tại 67 nước

I.1.3 Nhãn hiệu tập thể

Nhãn hiệu tập thể theo khoản 17, điều 4, Luật SHTT Việt Nam được hiểu là nhãn hiệudùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn

Trang 4

hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổchức đó.

Nhãn hiệu tập thể thường là của một hiệp hội hoặc một tập thể mà các thành viên của

nó có thể sử dụng nhãn hiệu tập thể để quảng bá sản phẩm của mình Hiệp hội thườngthiết lập một hệ thống các tiêu chuẩn nhất định cho việc sử dụng nhãn hiệu tập thể

(chẳng hạn như các tiêu chuẩn về chất lượng) và cho phép các công ty thành viên sửdụng nhãn hiệu nếu họ đáp ứng được các tiêu chuẩn đó

Nhãn hiệu tập thể có thể là một hình thức hiệu quả để cùng quảng bá sản phẩm của mộtnhóm doanh nghiệp mà, nếu là với từng nhãn hiệu riêng biệt, khó có thể được ngườitiêu dùng nhận biết hoặc được các đại lý lớn chấp nhận phân phối

Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các yêu cầu nhấtđịnh của các thành viên (thường được quy định trong quy chế liên quan đến việc sửdụng nhãn hiệu tập thể) Do đó, chức năng của nhãn hiệu tập thể là chỉ dẫn cho côngchúng về những đặc tính cụ thể nhất định của sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể Hầuhết các nước yêu cầu rằng đơn yêu cầu đăng ký nhãn hiệu tập thể nộp kèm theo bản saoquy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể đó

Nhãn hiệu tập thể thường được sử dụng nhằm khuếch trương các sản phẩm mang đặctrưng của một vùng nhất định Trong các trường hợp như vậy, việc tạo ra một nhãnhiệu tập thể không chỉ hỗ trợ tiếp thị sản phẩm ở thị trường trong nước và có thể trênthị trường quốc tế mà còn cung cấp cơ sở cho việc hợp tác giữa những nhà sản xuấttrong nước Việc tạo nhãn hiệu tập thể, trên thực tế phải đi kèm với sự phát triển cáctiêu chuẩn nhất định cùng với một chiến lược chung Khi đó, nhãn hiệu tập thể mới cóthể trở thành một công cụ hữu hiệu cho phát triển trong nước

Cần xem xét các sản phẩm có những đặc tính nhất định đặc trưng riêng của người sảnxuất ở một vùng nhất định có liên quan đến các điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội của

Trang 5

vùng Một nhãn hiệu tập thể có thể được sử dụng để thể hiện các đặc trưng đó và là cơ

sở để marketing các sản phẩm nói trên, do đó đem lại lợi ích cho tất cả các nhà sảnxuất

Do đó, hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đăng ký nhãn hiệu tập thể nhằmtiếp thị chung các sản phẩm của một nhóm các doanh nghiệp và nhằm nâng cao nhậnbiết về sản phẩm Nhãn hiệu tập thể cũng có thể được sử dụng cùng với các nhãn hiệuriêng của người sản xuất hàng hóa nhất định Điều này cho phép các doanh nghiệpphân biệt hàng hóa của chính doanh nghiệp với hàng hóa của các đối thủ cạnh tranhkhác, trong khi cùng thu được lợi ích từ sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với hànghóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu tập thể

Do đó, nhãn hiệu tập thể có thể là công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏtrong việc hỗ trợ họ vượt qua những thách thức vì quy mô nhỏ và sự phân lập trên thị

trường Các cơ quan sở hữu công nghiệp có thể cung cấp các thông tin về thủ tục đăng

ký, sử dụng nhãn hiệu tập thể.

Ví dụ về nhãn hiệu tập thể:

Hà Đông cho sản phẩm Lụa

Bắc Kạn cho sản phẩm miến dong

Chuối La Ban

I.2 Khác nhau giữa nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý

theo quy định tại Việt Nam

I.2.1 Điểm khác nhau giữa Nhãn hiệu tập thể và Nhãn hiệu chứng nhận

Không phải là hàng hoá nhưng nhãn hiệu lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại Nhãnhiệu là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ Việc phân biệt

Trang 6

Nhãn hiệu tập thể, Nhãn hiệu chứng nhận còn có sự nhầm lẫn dẫn đến hiểu sai nhữngquy định trong luật sở hữu trí tuệ.

Tại nhiều quốc gia, điểm khác biệt chính giữa nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứngnhận đó là nhãn hiệu tập thể chỉ có thể sử dụng bởi một nhóm các doanh nghiệp, nhưthành viên của một hiệp hội trong khi nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng bởibất kỳ ai đáp ứng các tiêu chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu quy định

Một yêu cầu quan trọng đối với nhãn hiệu chứng nhận là chủ thể nộp đơn đăng ký được coi là “có thẩm quyền chứng nhận” các sản phẩm liên quan

Trong luật sở hữu trí tuệ của hầu hết các nước đều có những điều khoản quy định vềviệc bảo hộ nhãn hiệu tập thể Nhãn hiệu tập thể thường được định nghĩa là các dấuhiệu phân biệt nguồn gốc địa lý, nguyên vật liệu, mô hình sản xuất hoặc các đặc tínhchung khác của hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau cùng sử dụngnhãn hiệu tập thể

Chủ sở hữu có thể là hiệp hội mà các doanh nghiệp là thành viên hoặc chủ thể khác làmột tổ chức công hoặc một hợp tác xã Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể có trách nhiệmđảm bảo sự tuân thủ các yêu cầu nhất định của các thành viên (thường được quy địnhtrong quy chế liên quan đến việc sử dụng nhãn hiệu tập thể)

Do đó, chức năng của nhãn hiệu tập thể là chỉ dẫn cho công chúng về những đặc tính

cụ thể nhất định của sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể Hầu hết các nước yêu cầu rằngđơn yêu cầu đăng ký nhãn hiệu tập thể nộp kèm theo bản sao quy chế điều chỉnh việc

sử dụng nhãn hiệu tập thể đó

Đối với Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổchức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứngnhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách

Trang 7

thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác củahàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.

Điểm giống nhau:

Thứ nhất về điểm giống nhau có thể thấy cơ bản đây đều là nhãn hiệu cả, dùng để

phân biệt đây là hàng hóa của A hay hàng hóa của B

Thứ hai là giống nhau về thời hiệu bảo hộ là 10 năm và không giới hạn thời gian giahạn

Trang 8

1.2.2 Sự khác nhau giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu

Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý tuy là đều được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ và đềuphải đăng ký để được bảo hộ tuy nhiên lại có rất nhiều điểm khác biệt, những điểmkhác biêt được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, về khái niệm: nhãn hiệu được quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ “ nhãn hiệu là dấu hiệu dung để phân biệt hang hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác nhau” Còn khái niệm chỉ dẫn địa lý được quy định tại khoản 22 Điều 4, đó là “

là dấu hiệu dung để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”.

Thứ hai, về điều kiện bảo hộ Điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại

Điều 72, 73 và Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ, theo đó điều kiện bảo hộ nhãn hiệu là dấuhiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh… và có khả năng phân biệthàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ khác

Còn điều kiện đê được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý được quy định ở Điều 79, 80 vàĐiều 81 Luật sở hữu trí tuệ

Thứ ba, về chủ sở hữu Chủ sở hữu của nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân Còn chủ sở hữu

của chỉ dẫn địa lý là Nhà nước, Nhà nước trao quyền ủy ban nhân dân tỉnh hoặc chocác hiệp hội

Thứ tư, về thời hạn thời hạn của nhãn hiệu là 10 năm và được gia hạn nhiều lần liên

tiếp mỗi lần 10 năm (khoản 6 Điều 93 Luật sở hữu trí tuệ)

Thời hạn của chỉ dẫn địa lý là không xác định thời hạn, được sử dụng đến khi khôngcòn đáp ứng đưuọc các điều kiện bảo hộ

Trang 9

Thứ năm, về chức năng Nhãn hiệu nhằm mục đích phân biệt những hàng hóa, dịch vụ.

Còn chỉ dẫn địa lý để chỉ ra những nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa

II BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ DỰA TRÊN NHÃN HIỆU THEO QUY ĐỊNH

CỦA HOA KỲ

II.1 Quan điểm của Hoa Kỳ về bảo hộ chỉ dẫn địa lý

 Hoa Kỳ bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua bảo hộ nhãn hiệu Không giống như cácnước châu Âu hay Việt Nam đã thiết lập hệ thống quy định riêng về bảo hộ Chỉdẫn địa lý, Hoa Kỳ để dáp ứng yêu cầu của WTO không thiết lập hệ thống riêng

mà thực hiện bảo hộ CDĐL thông qua hệ thống bảo hộ nhãn hiệu sẵn có củamình

 Theo quan điểm của Hoa Kỳ, CDDL có thể được coi như một dạng của nhãnhiệu vì có cùng chức năng như nhãn hiệu, đó là :

1) dấu hiệu chỉ nguồn gốc;

2) bảo đảm chất lượng

3) phương tiện có giá trị trong kinh doanh

Hoa Kỳ nhận thấy bằng việc bảo hộ CDDL thông qua hệ thống nhãn hiệu- thường

là nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể- có thể đáp ứng được tiêu chuẩnTRIPS+ về bảo hộ CDDL cho sản phẩm xuất xứ trong nước lẫn nước ngoài

II.2 Nguyên nhân lựa chọn hình thức bảo hộ này

 Về mặt lịch sử, Hoa Kỳ là một quốc gia trẻ, không có nhiều các chỉ dẫn địa lýnổi tiếng, đặc thù tới mức khó có thể tìm thấy sản phẩm tương tự ở khu vực địa

lý khác, vì vậy Hoa Kỳ là một trong những nước không quan tâm lắm, thậm chíkhông tán thành mức bảo hộ chỉ dẫn địa lý cao

 Hoa Kỳ cho rằng mức độ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cao có thể tạo ra những rào cảnthương mại, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các nhà sản xuất, cản trởnhập khẩu Chính vì vậy, Hoa Kỳ không tham gia vào Thoả ước Madrid lẫnThoả ước Lisbon Trong khuôn khổ thực thi nghĩa vụ pháp lý quốc tế theo Hiệp

Trang 10

định TRIPs, Hoa Kỳ đã lựa chọn hình bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua hệ thốngpháp luật hiện hành về nhãn hiệu với các sửa đổi và bổ sung cho phù hợp vớicác quy định tối thiểu của Hiệp định này.

II.3 Hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Hoa Kỳ

 Hoa Kỳ và các quốc gia khác xếp nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu chứng nhận

và nhãn hiệu tập thể theo đầu đề chung là Luật thương mại (đặc biệt là luật vềnhãn hiệu và luật cạnh tranh không lành mạnh ở Hoa Kỳ)

 Hoa Kỳ không có đăng ký cho chỉ dẫn địa lý và vì thế chỉ dẫn địa lý được đăng

ký thông qua xem xét mỗi nhãn hiệu đăng ký để xem có đủ điều kiện để đượcxem là chỉ dẫn địa lý không Điều này có thể khó khăn vì một số nhãn hiệu sửdụng tên địa lý nhưng không đủ điều kiện được gọi là chỉ dẫn địa lý

Ví dụ: pho mát kem Philadelphia Brand, nước chấm Tabasco, hoặc rất nhiều sản

phẩm khác sử dụng ‘Kona’

II.3.1 Bảo hộ CDĐL thông qua nhãn hiệu chứng nhận

 Luật nhãn hiệu của Hoa Kỳ quy định các tên gọi hoặc dấu hiệu về địa lý -mộtmặt, sẽ bị coi là mang tính mô tả về vùng địa lý và do đó sẽ không được chấpnhận đăng ký như một nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu tập thể nếu không chứng minhđược khả năng phân biệt của chúng tại Hoa Kỳ- mặt khác, lại có thể đăng kýnhư một nhãn hiệu chứng nhận

 Nhãn hiệu chứng nhận là bất kỳ một từ, tên gọi, biểu tượng hoặc hình ảnh đượcmột bên hoặc nhiều bên không phải là chủ nhãn hiệu sử dụng để chứng nhậnmột khía cạnh nào đó về sản phẩm, dịch vụ của mình

 Có 3 loại nhãn hiệu chứng nhận được sử dụng để chỉ :

1) nguồn gốc của vùng địa lý hay nguồn gốc khác;

2) nguyên liệu, cách thức sản xuất, chất lượng, độ chính xác hoặc các đặc tính kháccủa sản phẩm, dịch vụ;

3) việc thực hiện sản phẩm, dịch vụ được tiến hành bởi một thành viên của một hiệphội hoặc một tổ chức khác

Trang 11

- Cùng một nhãn hiệu có thể được sử dụng để chỉ không chỉ một mà một số tínhchất của hàng hóa, dịch vụ Ví dụ : nhãn hiệu “ROQUEFORT” (đăng ký USN¬o 571.798) được sử dụng để chỉ pho mát được sản xuất từ sữa cừu và giữtrong hầm của Quận Roquefort (Pháp) theo các phương pháp truyền thống.

- Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ phân biệt nhãn hiệu chứng nhận với nhãn hiệu thôngthường bởi hai đặc điểm Thứ nhất, điều rất quan trọng của nhãn hiệu chứngnhận là chủ nhãn hiệu không sử dụng nhãn hiệu đó Thứ hai, một nhãn hiệuchứng nhận không chỉ ra nguồn gốc thương mại cũng như không để phân biệthàng hóa, dịch vụ của một người này với người khác Điều đó có nghĩa là bất kỳchủ thể nào đáp ứng các tiêu chuẩn để chứng nhận đều được quyền sử dụngnhãn hiệu chứng nhận đó Tuy nhiên, nhãn hiệu chứng nhận mang tính phân biệtvới nghĩa là nó dùng để phân biệt bản chất và chất lượng của hàng hóa, dịch vụ

và khẳng định các hàng hóa này đã đáp ứng các tiêu chuẩn tương ứng

- Một nhãn hiệu chứng nhận không được chủ nhãn hiệu sử dụng vì chủ nhãn hiệukhông sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ liên quan đến nhãn hiệu đó.Nhãn hiệu chỉ có thể được sử dụng bởi các chủ thể khác và với sự cho phép củachủ nhãn hiệu Chủ nhãn hiệu kiểm tra việc sử dụng nhãn hiệu của họ trên cácsản phẩm, dịch vụ được chứng nhận Việc kiểm tra này bao gồm việc thực hiệncác bước nhằm bảo đảm là nhãn hiệu được sử dụng chỉ cho hàng hóa, dịch vụđáp ứng các tiêu chuẩn hoặc đặc tính quy định

- Thực tiễn của Hoa Kỳ cho thấy, trong phần lớn trường hợp, người có thẩmquyền kiểm soát việc sử dụng các nhãn hiệu chứng nhận dạng tên địa danh làcác tổ chức thuộc chính phủ hoặc tổ chức hoạt động với sự cho phép của chínhphủ Khi một tên địa danh được sử dụng như nhãn hiệu chứng nhận thì có haiyếu tố phải quan tâm : Một là, phải đảm bảo tự do cho tất cả mọi người trongvùng được sử dụng tên gọi đó, và thứ hai là phải loại trừ được sự lạm dụng hoặc

sử dụng trái phép nhãn hiệu gây thiệt hại cho những người được quyền sử dụngnhãn hiệu Nói chung, một tổ chức riêng lẻ thường không đủ năng lực để thực

Trang 12

hiện các nhiệm vụ trên một cách đầy đủ Chính quyền của một vùng thường là

cơ quan có thẩm quyền phù hợp để giám sát việc sử dụng tên địa danh đó củavùng Chính quyền sẽ trực tiếp hoặc thông qua tổ chức được ủy quyền, thựchiện các biện pháp để đảm bảo quyền chung cho tất cả mọi người và chống lại

sự lạm dụng hoặc việc sử dụng trái phép nhãn hiệu

Tất cả các đơn đăng ký cấp Liên bang cho nhãn hiệu chứng nhận sẽ được thẩmđịnh (cũng như đơn nhãn hiệu thường và nhãn hiệu tập thể) tại Cục Patent vàNhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) Các mẫu và chứng cứ về việc sử dụng gửi kèm hồ

sơ sẽ được xem xét để xác định liệu dấu hiệu địa lý đang được sử dụng như mộtnhãn hiệu chứng nhận để chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ hay không.Nếu hồ sơ hoặc chứng cứ cho thấy một dấu hiệu được xem xét có một nghĩachính là tên chung chỉ một loại sản phẩm hay dịch vụ thì việc đăng ký sẽ bị từchối

Ví dụ : FONTINA mang ý nghĩa là tên chung của một loại pho mát hơn là một nhãn

hiệu chứng nhận để chỉ vùng xuất xứ vì dân ngoài vùng đó cũng dùng tên đó để chỉmột loại pho mát không phải sản xuất từ vùng nói trên

- Nếu việc sử dụng dấu hiệu được giám sát bởi người chủ nhãn hiệu chứng nhận

và giới hạn chỉ cho hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra tương ứngvới vùng xuất xứ, và nếu người tiêu dùng hiểu rằng dấu hiệu chỉ liên quan đếnnhững hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong một vùng cụ thể mà không phải ởnơi bất kỳ nào khác, thì dấu hiệu mới được coi là thực hiện đúng chức năng củamột nhãn hiệu chứng nhận Nếu trước khi đăng ký, USPTO biết được rằngngười nộp đơn không có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra việc sử dụng củanhãn hiệu chứng nhận thì việc đăng ký sẽ bị từ chối một cách đương nhiên

- Để thực hiện việc tuân thủ các tiêu chuẩn đề ra của sản phẩm hoặc dịch vụ, cácchủ cạnh tranh và người tiêu dùng- những người quan tâm nhất đến việc giữ gìncác tiêu chuẩn cao và chính xác- sẽ là nhân tố bảo đảm việc chủ nhãn hiệuchứng nhận phải luôn giữ được chất lượng cần thiết Tất nhiên, Chính phủ Hoa

Ngày đăng: 27/06/2020, 15:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w