Chương 1: TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀITại nhiều quốc gia trên thế giới, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đượcxem là một nguồn vốn quan trọng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tăn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
~~~~~~*~~~~~~
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI
Ảnh hưởng của FDI đối với tăng trưởng kinh
tế Việt Nam giai đoạn 1988-2018
Trang 2Chương 1: TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đượcxem là một nguồn vốn quan trọng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế.Mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đã, đang và sẽ là một trong nhữngvấn đề quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia và Việt Nam cũng không ngoại lệ Vớidấu mốc quan trọng là sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài (1987) cùng với việc ký kếtcác hiệp định thương mại song phương và đa phương đã giúp Việt Nam đạt được nhiềuthành tựu đáng kể Kết quả sau 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài thể hiện chủ trươngđúng, kịp thời của Đảng và Nhà nước, tạo ra bước ngoặt cho phát triển kinh tế Khu vựcvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối vớiphát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thuhút và sử dụng vốn FDI thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như liên kết củakhu vực FDI với khu vực trong nước và hiệu ứng lan tỏa năng suất chưa cao, chuyển giaocông nghệ từ khu vực FDI chưa đạt hiệu quả mong muốn, cơ cấu vốn đầu tư chưa đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế, và một số vấn đề về môi trường… Nhận thức đúng mức vềnhững vấn đề nảy sinh để có phương hướng chỉ
đạo tiếp là cực kỳ quan trọng nếu chúng ta muốn Việt Nam trở thành nơi thu hút ngàycàng nhiều hơn vốn FDI Để có căn cứ xây dựng và điều chỉnh chính sách thì việcnghiên cứu, đánh giá được những tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ởViệt Nam trong thời gian vừa qua là một việc làm hết sức cần thiết Do vậy nhóm em
đã lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của FDI đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai
đoạn 1988-2018” để phân tích các tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế Việt
Nam từ đó tìm ra giải pháp về mặt chính sách nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồnvốn FDI góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng hơn
Chương 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment - FDI) không chỉ lànguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế mà còn là nhân tố có tác động lan tỏa đếnrất nhiều khu vực khác Cũng vì vậy và ở Việt Nam cũng như trên thế giới có nhiềunghiên cứu liên quan đến FDI, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của FDI
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Trang 32.1.1 IMF working paper
“FDI, Global Value Chains, and Local Souring in Developing Countries”
(FDI, Chuỗi giá trị toàn cầu và tìm nguồn cung ứng địa phương ở các nước đang pháttriển)
Được chuẩn bị bởi Vito Amendolagine, Andrea F Presbitero, Roberte Rabellotti,Marco, được ủy quyền phân phối bởi Ali Mansoon (tháng 12, 2017)
Nguồn cung ứng sản phẩm trung gian tại địa phương là một trong những kênhchính cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Bài viết này nghiên cứu xem liệu sự thamgia và định vị trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) của nước sở tại có liên quan đếnnguồn cung ứng địa phương của các nhà đầu tư nước ngoài hay không? Đầu tiên, bằngviệc kết hợp hai bộ dữ liệu cấp độ của 19 quốc gia châu Phi cận Sahara và Việt Namvới các biện pháp tham gia GVC ở cấp quốc gia, tác giả đã chỉ ra rằng sự tham gia củaGVC mạnh mẽ hơn và chuyên môn hóa thượng nguồn có liên quan đến tỷ lệ đầu vàocao hơn của các nhà đầu tư nước ngoài Tiếp theo, phần 2, tác giả đã cung cấp mộtcuộc thảo luận ngắn gọn về các tài liệu ngoại tác lan truyền và GVC Phần 3, trình bàymột số bằng chứng mô tả về sự tham gia của GVC và các đặc điểm của nhà đầu tư.Phần 4 mô tả khung thực nghiệm, phần 5 thảo luận về các kết quả chính, và phần cuốicùng là kết luận
Phần thứ 2 trong bài báo, để đánh giá sự tham gia và vị trí của GVC có liên quanđến số lượng đầu vào được mua bởi các nhà đầu tư nước ngoài hay không, tác giả đã
bổ sung một mô hình được sử dụng rộng rãi để điều tra các yếu tố quyết định củanguồn cung ứng địa phương bằng hai biện pháp liên quan đến GVC:
Yijn = GVC PARTICIPATIONjn + GVC POSITIONjn + ∑Xijn + γj + δx + λn + εij + δx + λn + εix + λn + εin + εii
Trang 4Trong đó, biến phụ thuộc Yijn đo lường cường độ tìm nguồn cung ứng địa phươngnhư là một phần của các yếu tố đầu vào có nguồn gốc từ các nhà đầu tư nước ngoài “i”trong ngành “j” và quốc gia “n” Sau các nghiên cứu khác về các yếu tố quyết định liên kết, tập hợp các biến kiểm soát (Xijn) bao gồm nhà đầu tư và đầu tư nét đặc trưng Các đặcđiểm cụ thể của công ty bao gồm kinh nghiệm địa phương của các công ty nước ngoài,được đo bằng nhật ký năm kể từ lần đầu tư đầu tiên (AGE); cổ phần nước ngoài trongquyền sở hữu của các nhà đầu tư ( ngoại hối ); quy mô của các nhà đầu tư, được đo bằngnhật ký số lượng nhân viên; năng suất lao động, được đo bằng nhật ký bán hàng của nhânviên ( năng suất lao động); tình trạng nhà xuất khẩu, được đo bằng một biến giả xác địnhnhà đầu tư nước ngoài xuất khẩu ( xuất khẩu ) Cuối cùng, tác giả đã kiểm soát chế độ đầuvào và động lực đầu tư bằng cách sử dụng hai biến giả lấy giá trị 1 nếu đó là đầu tư trênđồng xanh và bằng 0 nếu đó mua lại và 1 nếu lý do chính để đầu tư là tìm kiếm thị trường
và không vì bất kỳ lý do nào khác ( tìm kiếm market ) Tính không đồng nhất có thể ảnhhưởng đến cả mức độ tham gia của GVC và xu hướng vững chắc để thực hiện tìm nguồncung ứng tại địa phương Kết quả của tác giả cho thấy mức độ và phương thức tham giaGVC có ý nghĩa đối với việc tìm nguồn cung ứng sản phẩm trung gian tại địa phương củacác nhà đầu tư nước ngoài Ở các quốc gia và lĩnh vực liên quan nhiều đến GVC, các nhàđầu tư nước ngoài có nhiều
Trang 5khả năng tìm nguồn đầu vào của họ tại địa phương Điều này cũng áp dụng cho cácquốc gia chuyên về các giai đoạn thượng nguồn của GVC nơi có nguồn cung ứng địaphương cao hơn.
Sự tham gia ngày càng tăng của các nước đang phát triển trong GVC có thể cótác động tích cực đến các nền kinh tế địa phương bằng cách tăng cường sức lan tỏa củaFDI thông qua việc tăng nhu cầu đầu vào trong nước ( được gọi là hiệu ứng nhu cầu)vàchuyển giao kiến thức từ các nhà đầu tư nước ngoài cho các nhà cung cấp trong nước( hiệu ứng hỗ trợ) Tác giả kiểm tra giả thuyết này bằng cách kết hợp dữ liệu từ haicuộc khảo sát về vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài tại 19 quốc gia SSA và tại ViệtNam, với dữ liệu về bảng I/O có thể so sánh quốc tế và tính toán hai chỉ số về sự thamgia của GVC ở cấp quốc gia Kết quả cho thấy các quốc gia và ngành công nghiệp có
sự tham gia nhiều hơn vào GVC là những quốc gia mà các nhà đầu tư nước ngoàithường báo cáo mức độ cao hơn của nguồn cung ứng địa phương Tác giả đã chỉ rarằng đó là vị trí trong các vấn đề GVC; Các quốc gia chuyên về các giai đoạn sản xuấtngược dòng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng tìm nguồn cung ứng caohơn và sẵn sang hỗ trợ nhiều hơn cho các nhà cung cấp địa phương Những kết quả nàyđặc biệt phù hợp với các quốc gia, bao gồm hầu hết các quốc gia SSA
Nghiên cứu của tác giả đã đóng góp cho các tài liệu đang phát triển nhấn mạnh lợiích của sự tham gia GVC, đặc biệt là đối với các nước thu nhập thấp Qua đó, các tác giảcũng đề xuất một kênh bổ sung thông qua đó lợi ích từ việc tham gia vào GVC có thể lanrộng qua nền kinh tế địa phương: thu hút các nhà đầu tư nước ngoài để thiết lập các liênkết tìm nguồn cung ứng địa phương Sự tham gia nhiều hơn vào GVC có thể cải thiện hệsinh thái kinh doanh trong đó các nhà đầu tư nước ngoài quyết định sản xuất và nâng caonăng lực địa phương, chất lượng sản xuất và kiến thức về nhu cầu nước ngoài Ngoài ra,tác giả cũng đề xuất rằng các chính sách hỗ trợ gia nhập và nâng cấp các quốc gia trongGVC có thể tối đa hóa khả năng lan tỏa từ các nước trong GVC vốn đầu tư nước ngoài.Phát hiện của tác giả có một số hàm ý chính sách thú vị Các tổ chức hoạt động tốt và cáctác nhân địa phương có ta nghề cao hơn làm tăng đáng kể mối quan hệ tích cực giữa sựtham gia của GVC và sự lan tỏa của FDI Tuy nhiên, việc đạt được mức độ tham gia củaGVC cao không đảm bảo nguồn FDI có tiềm năng tìm nguồn cung ứng cao Các quốc gia
và lĩnh vực có sự tham gia của GVC cao vẫn có thể thu hút đầu tư với mức độ liên kết địaphương thấp; nó là cần thiết để có thể cung cấp cho các nhà đầu tứ nước ngoài đầu vào chiphí thấp và các cơ sở khác Một số quốc
Trang 6gia SSA thu hút đầu tư chỉ yêu cầu liên kết địa phương cấp thấp Các chính sách hỗ trợtương tác mạnh mẽ hơn với các nhà cung cấp địa phương, nâng cấp và cải thiện chấtlượng sản xuất là cần thiết.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã làm rõ được nội dung của chuỗi giá trịtoàn cầu và tìm nguồn cung ứng địa phương- một trong những kênh chính cho đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI)
2.1.2 Economic Report of WB “Vietnam: Deepening Reform for Growth.
Foreign capital flows in Vietnam: Trend, Impact, and Policy implications”
(Báo cáo kinh tế của Ngân hàng thế giới “Việt Nam: Cải cách sâu rộng để tăngtrưởng.Dòng vốn nước ngoài tại Việt Nam: xu hướng tác động và chính sách thựchiện”) ,25/11/1997
Nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài này đã được chuẩn bị làm báo cáo nền tảngcho báo cáo năm 1997 của Ngân hàng Thế giới, là tài liệu chính thức của Ngân hàng Thế giớitại Cuộc họp nhóm tư vấn cho Việt Nam tại Tokyo vào tháng 12 năm 1997 Nghiên cứu nàytập trung vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam kể từ khi giới thiệu cảicách đổi mới năm 1986 và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên vào năm 1987
Trước tiên, bài nghiên cứu đã trình bày tổng quan về các đặc điểm, xu hướng,nguồn và hiệu suất chính của dòng vốn lớn ở Việt Nam Sau khi giới thiệu cải cách đổimới vào cuối những năm 1980, Việt Nam đã trải qua một sự gia tăng mạnh mẽ củadòng vốn đầu tư bên ngoài trong những năm 1990, được thúc đẩy chủ yếu bởi dòngvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ Dòng vốn FDI lớn vào Việt Nam đãđược tạo điều kiện thuận lợi nhờ vào tiến bộ ban đầu trong ổn định kinh tế vĩ mô, chế
độ đầu tư được cải thiện và định hướng hướng ngoại Có ba loại hình hoạt động FDI ởVIệt Nam: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (FOE) bao gồm hình thức Xây dựng -Vận hành - Chuyển giao (BOT); liên doanh (JV); và, hợp đồng hợp tác kinh doanh(BCC) Các dự án FDI đã tập trung vào một số lĩnh vực chính, bao gồm: sản xuất (cảcông nghiệp nặng và nhẹ), các dự án liên quan đến xây dựng như khách sạn và du lịch,phát triển văn phòng và căn hộ, cơ sở hạ tầng (bao gồm cả giao thông và viễn thông),
và khí đốt và thăm dò dầu Phân phối vốn FDI của ngành ở Việt Nam tương phản với
Trang 7nhiều nước đang phát triển khác, bị chi phối bởi các ngành công nghiệp thay thế nhậpkhẩu và các ngành không thể giao dịch FDI định hướng xuất khẩu ở Việt Nam, chủyếu trong các ngành công nghiệp nhẹ thâm dụng lao động, do phần lớn dòng vốn FDIvào các ngành công nghiệp nặng thâm dụng vốn như các dự án lắp ráp ô tô đã đượcnhắm mục tiêu thay thế nhập khẩu.
Tiếp theo, nghiên cứu đã phân tích tác động của dòng vốn FDI trong các lĩnhvực khác nhau của nền kinh tế Việt Nam:
Thứ nhất, FDI tạo ra sức lan tỏa công nghệ liên quan đến đầu tư trực tiếp và hoạt
động của các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia tại các nền kinh tế địa phương
Thứ hai, hiệu quả của FDI phần lớn là tích cực đối với nền kinh tế trong nước Việt Nam, mang đến động
lực tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng năng lực sản xuất và nâng cao năng suất. Các hoạt động có vốn đầu tư nước ngoài hiện đóng góp tới gần 10% GDP Việt Nam, hơn 30% tổng vốn hình thành, 8% tổng xuất khẩu.
Thứ ba, FDI đã tạo ra lượng lớn việc làm cho người lao động Mức lương trung
bình cho người lao động tại các dự án FDI cao hơn đáng kể Hầu hết các liên doanhcung cấp các chương trình đào tạo đặc biệt cho nhân viên được lựa chọn tại trụ sở củacác công ty mẹ của họ, cho phép họ tiếp cận trực tiếp với các bí quyết kỹ thuật và quản
lý tiên tiến
Mặt khác, FDI đóng góp tương đối yếu vào việc cải thiện hiệu suất thương mạicủa Việt Nam Nghiên cứu cũng chỉ ra tác động ròng của FDI đối với cán cân thươngmại của Việt Nam là tiêu cực Thâm hụt thương mại dai dẳng đã được ghi nhận là kếtquả của hoạt động trực tiếp của các dự án FDI (chủ yếu do tỷ lệ thấp của các dự án địnhhướng xuất khẩu), với đóng góp của họ để nhập khẩu gấp đôi tỷ lệ xuất khẩu
Duy trì dòng vốn FDI cao và tối đa hóa đóng góp của họ cho tăng trưởng kinh tế
sẽ là một thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách Để phát huy vai trò tíchcực của FDI, nghiên cứu đã đưa ra đánh giá về triển vọng duy trì dòng vốn này ở mứccao và các chính sách cần thiết để duy trì và sử dụng hiệu quả dòng chảy này Một sốgiải pháp nghiên cứu này đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả tác động của FDI tưới sự pháttriển kinh tế - xã hội bao gồm: Tăng cường nền tảng kinh tế vĩ mô bằng cách tăng
Trang 8cường cải cách cơ cấu; Theo đuổi các chế độ thương mại và đầu tư cởi mở hơn để cạnhtranh lớn hơn; Thúc đẩy phát triển ngành tài chính và khả năng phục hồi của hệ thống tàichính; Thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước và phát triển khu vực tư nhân.
Bài nghiên cứu này đã làm rõ được đặc điểm chính của dòng vốn ở Việt Namcùng những tác động tích của dòng vốn FDI đến nền kinh tế Việt Nam và đưa ra nhữngchính sách cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả dòng vốn FDI Tuy nhiên, trong nghiêncứu này, nhiều tác động tiêu cực về môi trường, cạnh tranh…của FDI vẫn chưa được
đề cập đến
2.2 Các nghiên cứu trong nước
2.2.1 Ấn phẩm “ Doanh Nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn
2006-2011” Tổng cục thống kê, NXB Thống kê - Hà Nội, 2014
Trong phần 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giaiđoạn 2006-2011 đã đề cập đến tác động của FDI đến phát triển kinh tế Việt Nam baogồm:
Thứ nhất, Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI vào GDP không ngừng tăng lên,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung chủyếu vào sản xuất công nghiệp FDI tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuấtkhẩu sang các nước châu Âu, đặc biệt là thị trường xuất khẩu sang Mỹ
Thứ hai, doanh nghiệp FDI tăng trưởng nhanh cả về số lượng doanh nghiệp, quy
mô và kết quả sản xuất kinh doanh, tăng trưởng ổn định ở hầu hết các lĩnh vực, đónggóp vào ngân sách Nhà nước của khu vực này năm 2011 là 166 nghìn tỷ đồng, gấp 1,9lần năm 2006, bình quân tăng 14,1%/năm
Thứ ba, FDI được đầu tư vào nhiều các ngành kinh tế và các địa phương Các
ngành công nghiệp then chốt như: công nghiệp khai thác, điện tử, dệt may, công nghiệphóa chất đều được đầu tư và có các bước phát triển mạnh mẽ
Thứ tư, FDI giúp tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần đáng kể vào
giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Trang 9Ngoài ra ấn phẩm cũng chỉ ra những ngành có tốc độ gia tăng nhanh về đầu tưvốn cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI phải kể đến: Điện tử, máy vitính và sản phẩm quang học; và một số ngành kinh tế khác như: Hoạt động tài chính,ngân hàng, bảo hiểm; Hoạt động dịch vụ; Bất động sản; Một số ngành có xu hướngthu hẹp về nguồn vốn gồm: Dịch vụ lưu trú và ăn uống, phân phối điện, khí đốt, Tuynhiên cũng có những ngành thuộc công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng giảm dần
về vốn FDI như: Dệt; sản xuất giường, tủ, bàn ghế; sản xuất các sản phẩm bằng chấtkhoáng phi kim loại Ngược lại với công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành nông nghiệp,lâm nghiệp và thủy sản là ngành vẫn chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài.Mặc dù Việt Nam là quốc gia có lợi thế lớn để phát triển nông nghiệp nhưng việc thuhút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực này lại rất hạn chế
2.2.2 Ấn phẩm “ Tổng điều tra kinh tế 2017 - Kết quả hoạt động của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016” NXB Thống kê, 2018
Trong phần 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giaiđoạn 2011-2016 đã đề cập đến tác động của FDI đến phát triển kinh tế Việt Nam baogồm:
Thứ nhất, khu vực FDI có đóng góp tích cực vào tổng sản phẩm trong nước
(GDP) với mức độ đóng góp tăng dần qua các năm, luôn là khu vực phát triển năngđộng nhất của nền kinh tế
Thứ hai, trong lĩnh vực công nghiệp, khu vực FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lựccủa nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế
Thứ ba, trong lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam, FDI đã tạo ra nhiều dịch vụ có
chất lượng cao, từng bước tạo điều kiện cho thị trường dịch vụ phát triển và tăng khảnăng hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ tư, thông qua FDI, Việt Nam có điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến
của thế giới để phát triển các ngành kinh tế sử dụng công nghệ hiện đại, như: côngnghệ sinh học, bưu chính viễn thông, công nghiệp phần mềm, điện tử Nhiều côngnghệ mới đã được chuyển giao, tạo bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triểnmột số ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, như: dầu khí, viễn thông, lắp ráp,…
Trang 10Thứ năm, khu vực FDI có tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất
khẩu sang các nước châu Âu và đặc biệt là một số thị trường trọng tâm như: Đức, Pháp,Anh, Hà Lan, Italy
Thứ sáu, khu vực FDI tiếp tục góp phần tạo nhiều việc làm, gia tăng thu nhập
cho người lao động ở nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau Việc đào tạo tại chỗ vàđào tạo bên ngoài của khu vực FDI được đặc biệt chú trọng, nhằm nâng cao trình độcủa công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ
Thứ bảy, bảy vùng kinh tế của Việt Nam đều nhận được vốn đầu tư FDI xong về
mật độ phân bố giữ các vùng không đồng đều FDI đã góp phần làm thay đổi cơ bản cơcấu kinh tế của từng tỉnh, thành phố, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế và phát triểnkinh tế - xã hội của các địa phương
Ngoài ra, ấn phẩm chỉ chỉ ra một số thực trạng về việc phân bố FDI ở các ngànhkinh tế trong giai đoạn 2011-2016 Theo đó, FDI đầu tư vào ngành công nghiệp khaikhoáng có xu hướng thu hẹp do định hướng của Nhà nước không khuyến khích thu hútFDI đầu tư vào những ngành khai thác tài nguyên khoáng sản Ngành nông, lâm nghiệp
và thủy sản vẫn chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn
2011-2016 Mặc dù Việt Nam là đất nước có lợi thế lớn để phát triển nông nghiệp nhưng vẫnchưa có sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài
2.2.3 Báo cáo: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Một số vẫn đề về thực trạng và giải pháp” Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Trung tâm thông tin – Tư
liệu, 2017.
Trong phần đầu của báo cáo đã đề cập đến thực trạng của vốn đầu tư nước ngoàitại Việt Nam giai đoạn 1988-2015
Thứ nhất: Vốn FDI đầu tư vào Việt Nam ở mức thấp Các dự án phần lớn có
quy mô không lớn và chỉ có công nghệ đạt mức trung bình
Thứ hai: Các doanh nghiệp FDI kinh doanh có hiệu quả chưa cao Các doanh
nghiệp FDI tận dụng tối đa các yếu tố lao động giá rẻ, tài nguyên, tiêu chuẩn bảo vệmôi trường thấp và những ưu đãi của Việt Nam để gia tăng hiệu quả sản xuất
Trang 11Thứ ba: Chưa thu hút được các công ty đa quốc gia như một số nước khác trong
ASEAN Nhiều tập đoàn đa quốc gia đã chọn Thái Lan, Malaysia để đầu tư vì môitrường đầu tư cạnh tranh nhất ASEAN và có ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, tạođiều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI
Thứ tư: Vấn đề về xử lý ô nhiễm môi trường chưa được các doanh nghiệp FDI
quan tâm và đánh giá đầy đủ
Tiếp theo, báo cáo có chỉ rõ tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất: FDI là nhân tố quan trọng đóng góp rất lớn đến tăng trưởng và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
Thứ hai: FDI làm tăng quy mô đầu tư toàn xã hội.
Thứ ba: Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.
Công nghiệp vẫn thu hút phần lớn nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam Song, nôngnghiệp Việt Nam mặc dù có nhiều lợi thế phát triển nhưng chỉ thu hút được 1,3% tổng
số nguồn vốn FDI trong giai đoạn 1988-2015
Thứ tư: Giải quyết việc làm Tính trong cả giai đoạn từ 1988-2014 thì khu vực
FDI tạo ra hơn 2,3 triệu việc làm trực tiếp và hàng triệu việc làm gián tiếp, trong đó cóhàng vạn kỹ sư, nhà quản lý trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, với thu nhậpngày càng tăng, du nhập phương thức lao động, kinh doanh và quản lý tiên tiến
Thứ năm: Thúc đẩy xuất khẩu và cải thiện cán cân thương mại Khu vực FDI
đóng góp quan trong vào thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam qua khía cạnh tăng trưởngxuất khẩu cao, đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu
Thứ sáu: Đóng góp thu ngân sách Nhà nước Nộp ngân sách nhà nước của các
doanh nghiệp FDI tăng dần theo thời gian
Để giải thích cho chất lượng của nguồn vốn FDI còn thấp, báo cáo đã đưa ra một sốnguyên nhân cơ bản bao gồm: Môi trường đầu tư chưa thông thoáng minh bạch, chưa hấpdẫn được các công ty đa quốc gia; Năng lực các doanh nghiệp trong nước còn yếu khôngđáp ứng được chất lượng để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; Ngành công