Tài liệu thông tin đến các bạn hệ thống câu hỏi ôn tập về các tổ chức kiểm toán; báo cáo kiểm toán; gian lận và sai sót trọng yếu và rủi ro; cơ sở dẫn liệu và bằng chứng kiểm toán; hệ thống kiểm soát nội bộ và quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát; phương pháp kiểm toán; tổ chức và quản lý cuộc kiểm toán.
Trang 1HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ NỘI DUNG ÔN TẬP
KIỂM TOÁN CĂN BẢN
CHƯƠNG 1 Câu 1: Thế nào là kiểm toán? Thế nào là kiểm toán tuân thủ? Kiểm toán báo cáo tài chính? Kiểm toán hoạt động? Thế nào là kiểm toán nội bộ báo cáo tài chính? Kiểm toán độc lập về báo cáo tài chính? Kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán Nhà nước? Hiểu những nội dung cơ bản trong định nghĩa như thế nào?
Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin cần kiểm toán (có thể định lượng) của một đơn vị
cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về sự phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập
Kiểm toán tuân thủ là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên về sự tuân thủ hay chấp hành về luật pháp, chính sách, chế độ và những qui định của một đơn vị cụ thể Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên về tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính trên các khía cạnh trọng yếu
Kiểm toán hoạt động là việc kiểm tra và trình bày ở kiến của Kiểm toán viên về tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động được kiểm toán
Kiểm toán nội bộ báo cáo tài chính là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên nội bộ về báo cáo tài chính được kiểm toán
Kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên độc lập về báo cáo tài chính được kiểm toán
Kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán viên Nhà nước là việc kiểm tra và trình bày
ý kiến của Kiểm toán viên Nhà nước về báo cáo tài chính được kiểm toán
Các nội dung cơ bản trong định nghĩa:
- Các chuyên gia (Kiểm toán viên) phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn theo qui định Phải đáp ứng 06 yêu cầu cơ bản (Chuyên môn hay còn gọi là kỹ năng và khả năng của Kiểm toán viên; Độc lập; Tôn trọng hay tuân thủ pháp luật; Tôn trọng chuẩn mực chuyên môn nghề nghiệp; Bí mật; Đạo đức nghề nghiệp)
- Thu thập và đánh giá các bằng chứng là một qui trình có tính chất chuyên môn chặt chẽ phù hợp với từng đơn vị được kiểm toán cụ thể
- Các thông tin cần kiểm toán là các thông tin kinh tế, phi kinh tế, tài chính, phi tài chính
- Đơn vị kiểm toán cụ thể chính là khách thể kiểm toán
- Chuẩn mực đã được thiết lập là các chuẩn mực dùng để đánh giá thông tin được kiểm toán Mỗi loại kiểm toán khác nhau sẽ có những chuẩn mực dùng để đánh giá thông tin khác nhau
- Báo cáo kết quả là việc trình bày ý kiến của Kiểm toán viên về kết quả kiểm toán tuỳ thuộc từng loại kiểm toán cụ thể
Trang 2Câu 2: Lịch sử ra đời, hình thành và phát triển kiểm toán ở nước ta và trên thế giới
có gì giống và khác nhau? Tại sao?
Trên thế giới, kiểm toán là một công cụ quản lý không thể thiếu được, ở đâu có sự xuất hiện của đồng tiền, đồng thời có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng của tài sản thì
ở đó có kế toán và có kiểm toán Kiểm toán cổ điển ra đời từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại Ở đâu có Nhà nước thì ở đó có kiểm toán Nhà nước, ở đâu có hoạt động của một doanh nghiệp, một tổ chức hiệu quả thì ở đó có kiểm toán nội bộ Ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có kiểm toán độc lập
Ở Việt Nam, trước năm 1986 thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung (hay còn gọi là cơ chế quan liêu bao cấp) nên không có kiểm toán Mãi đến khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường xuất hiện nhiều thành phần kinh tế và đa phương hoá sở hữu, trước sức ép của hội nhập và sự xuất hiện của các nhà đầu tư nước ngoài Việt Nam đã hình thành 02 công
ty kiểm toán đầu tiên (Công ty kiểm toán Việt Nam – VACO và công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán – AASC được thành lập vào ngày 13.5.1991) Mãi đến ngày 11.07.1994 kiểm toán Nhà nước Việt Nam mới được thành lập và trực thuộc Chính phủ Đến năm 1997, kiểm toán nội bộ các doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo qui chế kiểm toán nội bộ số 832 ngày 28.10.1997 của Bộ tài chính Ở Việt Nam kiểm toán được hình thành không theo qui luật của các nước phát triển trên thế giới, do thể chế chính trị và
cơ chế quản lý kinh tế quyết định
Câu 3: Ý nghĩa, vai trò và sự cần thiết khách quan của kiểm toán trong quản lý?
+ Sự cần thiết khách quan của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường:
Kiểm toán ra đời bắt nguồn từ thực tiễn và phục vụ cho quản lý thực tiễn
Xã hội càng phát triển, thông tin kế toán ngày càng nhiều, đa dạng, đa chiều, phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro Đối tượng sử dụng thông tin ngày càng được mở rộng phong phú
và đa dạng, vì:
Thứ nhất: Khoảng cách lớn giữa người sử dụng thông tin và người cung cấp thông tin và
sự điều chỉnh thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin Các thông tin được cung cấp
có nguy cơ ngày càng bị hợp pháp hoá và thành tích hoá có lợi cho người cung cấp thông tin
Thứ hai: Khối lượng thông tin quá nhiều xã hội càng phát triển, thông tin càng phong phú, đa dạng với khối lương càng nhiều, khả năng chứa đựng những thông tin sai lệch trong những thông tin đúng đắn ngày càng tăng
Thứ ba: Tính phức tạp của thông tin và nghiệp vụ kinh tế ngày càng tăng, nguy cơ chứa đựng những thông tin sai lệch là không thể tránh khỏi
Thứ tư: Khả năng thông đồng trong xử lý thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin ngày càng lớn, rủi ro thông tin ngày càng cao
Để làm giảm rủi ro thông tin, có 3 cách chủ yếu:
Cách 1: Người sử dụng thông tin tự kiểm tra các thông tin mà mình sử dụng Cách này không hiệu quả, tốn kém, không phù hợp với xu thế phát triển và chuyên môn hoá của thời đại Mặt khác, có thể có những hạn chế về năng lực của người sử dụng thông tin, đặc biệt đối với những thông tin phức tạp
Trang 3Cách 2: Người cung cấp thông tin bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý hoặc người sử dụng thông tin chia sẻ rủi ro thông tin cùng nhà quản trị doanh nghiệp hay người cung cấp thông tin theo sự thoả thuận giữa hai bên Nhưng cách này lại không thể đáp ứng được mục tiêu đặt ra khi người cung cấp thông tin bị giải thể, phá sản, hậu quả khi đó luôn thuộc về người
sử dụng thông tin
Cách 3: Chỉ sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính khi đã được kiểm toán độc lập xác nhận Cách này rất hiệu lực, gắn chặt giữa trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm vật chất của Kiểm toán viên với những ý kiến nhận xét, kết luận mà họ cung cấp
Từ đó, kiểm toán ra đời phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin, là một sự cần thiết tất yếu khách quan
Sự cần thiết của kiểm toán còn được thể hiện thông qua vai trò và những tác dụng mà kiểm toán mang lại cho nền kinh tế Kiểm toán sinh ra từ yêu cầu quản lý và phục vụ cho quá trình quản lý, cụ thể:
Thứ nhất: Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm
Trong cơ chế thị trường, có nhiều đối tượng quan tâm tới tình hình tài chính của đơn vị
và sự phản ánh của tình hình này trong các tài liệu kế toán và báo cáo tài chính Các đối tượng quan tâm như: Chính phủ để quản lý vĩ mô nên kinh tế và để thu thuế; các nhà đầu tư
để đầu tư vốn; ngân hàng để cho vay; các cổ đông để mua cổ phiếu.v.v
Thứ hai: Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, ổn định củng cố hoạt động tài chính,
kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị được kiểm toán nói chung
Thông qua kiểm toán, khi phát hiện gian lận sai sót, ktv uốn nắn, chỉ dẫn và đề nghị doanh nghiệp sửa chữa, tư vấn giúp doanh nghiệp ổn định và kinh doanh hiệu quả Hoạt động kiểm toán không những củng cố hoạt động tài chính, kế toán cho doanh nghiệp nói riêng mà còn làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính
Thứ ba: Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý
Ngoài chức năng xác nhận thông tin tài chính, kiêm toán còn có chức năng tư vấn cho các doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán thấy được những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, uốn nắn, thấy được những vi phạm, lãng phí nhằm xử lý, ngăn chặn để thực hiện kinh doanh hiệu quả, hạn chế rủi ro Chức năng này được phát huy tác dụng rất lớn ở các đơn vị được kiểm toán thường xuyên
Kiểm toán nội bộ cung cấp thông tin phục vụ việc quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp, giúp chủ doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, thuận lợi trong cạnh tranh, khai thác triệt để và sử dụng hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp
Kiểm toán nhà nước phục vụ việc quản lý vĩ mô của là nước, đảm bảo duy trì kỷ cương, thực hiện nghiêm chính và thống nhất luật pháp, chính sách, chế độ, đồng thời sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn, tài sản và kinh phí của nhà nước
Kiểm toán độc lập bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan và sử dụng thông tin của đơn vị được kiểm toán, như: Chính phủ, cố đông, ngân hàng, nhà đầu tư và cung cấp thông tin rất hữu ích cho chính nhà quản lý của đơn vị được kiểm toán
Trang 4Câu 4: Kiểm toán có những chức năng gì? Sự phát triển của các chức năng này qua các thời kỳ có gì giống và khác nhau không? Tại sao? Hãy liên hệ với Việt Nam?
Kiểm toán có 02 chức năng: Kiểm tra xác nhận (xác minh) và tư vấn (hay trình bày ý kiến)
Chức năng kiểm tra xác nhận hay xác minh là chức năng đầu tiên, chức năng ra đời sớm nhất nhằm xác nhận thông tin đã xảy ra, thông tin hướng về quá khứ Xã hội càng phát triển, chức năng tư vấn hướng đến tương lại được ra đời và phát triển mạnh mẽ vào những năm
80 của thế kỷ XX Ngày nay, chức năng này giữ vị trí rất quan trọng trong kiểm toán và ngày càng phát triển mạnh mẽ Thời kỳ đầu khi kiểm toán mới hình thành, chức năng xác minh hay xác nhận là số 1, chức năng tư vấn hay trình bày ý kiến là số 2 Nhưng ngày này lại ngược lại, chức năng tư vấn là số 1 và chức năng xác minh hay xác nhận là số 2
Việc các chức năng của kiểm toán thay đổi cũng là do yêu cầu thực tiễn và yêu cầu của người sử dụng thông tin thay đổi đi từ nhìn nhận thông tin được kiểm toán hướng về quá khứ sang nhìn nhận thông tin kiểm toán hướng về tương lai
Ở Việt Nam cũng diễn ra tương tự do sự hội nhập kinh tế Quốc tế
Câu 5: Phân biệt giữa: đối tượng và khách thể của kiểm toán? khách hàng và đơn
vị được kiểm toán? Khách hàng có phải là khách thể kiểm toán không? Ngược lại khách thể kiểm toán có phải là khách hàng kiểm toán không? Tại sao?
Đối tượng kiểm toán là cái kiểm toán viên cần quan tâm, cần kiểm toán Còn khách thể kiểm toán là nơi diễn ra hoạt động và có đối tượng mà kiểm toán viên cần kiểm toán
- Đối tượng kiểm toán là những tài liệu, nội dung mà Kiểm toán viên (chủ thể) phải thực hiện kiểm toán Còn khách thể kiểm toán là những nơi xảy ra, diễn ra hoạt động và công việc cần kiểm toán Đơn vị được kiểm toán cũng là khách thể kiểm toán Khách hàng kiểm toán cũng là khách thể kiểm toán, nhưng khách thể kiểm toán chưa hẳn đã là khách hàng kiểm toán Chỉ có kiểm toán độc lập thì khách thể kiểm toán mới trở thành khách hàng kiểm toán Hay khi ta nói khách thể của kiểm toán của kiểm toán độc lập chính là khách hàng, vì kiểm toán độc lập cung cấp dịch vụ kiểm toán và thu phí kiểm toán từ khách hàng Nói đến khách hàng kiểm toán là nói đến khách thể của kiểm toán độc lập
Câu 7: Phân biệt sự giống và khác nhau giữa kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính
+ K/n 3 loại kiểm toán này
+ Giống nhau:
- Đều là kiểm toán
- Đều là công cụ quản lý kinh tế
+ Khác nhau:
Tiêu thức so
sánh
Kiểm toán hoạt động Kiểm toán tuân thủ Kiểm toán BCTC
Khái niệm Là việc kiểm tra và
trình bày ý kiến của kiểm toán viên về tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh
Là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên về sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ và
Là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của KTV về BCTC được kiểm toán
Trang 5tế của hoạt động được kiểm toán những qui định của đơn vị được kiểm toán Mục đích Đánh giá tính hiệu
lực, hiệu quả, và tính kinh tế của hoạt động được kiểm toán
Xác minh và cung cấp thông tin tin cậy về sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ và những qui định của đơn vị được kiểm toán
Xác minh tính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính được kiểm toán trên các khía cạnh trọng yếu Đối tượng
kiểm toán Rất phong phú đa
dạng từ phương án kinh doanh, qui trình sản xuất, dự án đầu tư,
hệ thống kiểm soát nội bộ,…
Hành vi tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ
và những qui định của đơn
vị được kiểm toán
Báo cáo tài chính,
sổ kế toán, chứng từ hóa đơn, tài sản…
Chuẩn mực Có phần chủ quan Tương đối khách quan Tương đối khách quan Kiểm toán
viên
Có trình độ cao, hiểu biết nhiều lĩnh vực…
Chuyên gia nắm vững luật pháp, chính sachs, chế
độ và những quy định…
KTV chuyên nghiệp (chuyên gia) có tiêu chuẩn rõ ràng
Kết quả Độ tin cậy hạn chế Có tính chủ quan Có độ tin cậy cao Chức năng Tư vấn hay trình bày ý
kiến
Xác minh hay xác nhận Cả xác minh và tư
vấn
Câu 8: Trình bày tác dụng và nội dung các giai đoạn của một qui trình kiểm toán?
Qui trình kiểm toán là trình tự các bước công việc được sắp xếp theo một qui định khoa học, chặt chẽ Qui trình kiểm toán có tính chất bắt buộc cho mọi cuộc kiểm toán Qui trình kiểm toán có tác dụng giúp Kiểm toán viên thực hiện kiểm toán theo đúng trình tự, thống nhất, đảm bảo kết quả kiểm toán khoa học, tin cậy, hạn chế rủi ro
Qui trình kiểm toán còn là căn cứ để kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán, chứng minh cuộc kiểm toán khoa học và tin cậy
Qui trình kiểm toán thường có 3 bước hay 3 giai đoạn:
- Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Giai đoạn này bao gồm các công việc lập kế hoạch chiến lược, kế hoạch tổng thể, kế hoạch chi tiết, và chương trình kiểm toán Với mỗi loại kiểm toán hoạt động, kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ hay kiểm toán nội bộ, kiểm toán Nhà nước và kiểm toán độc lập và với tính chất mỗi cuộc kiểm toán khác nhau, phức tạp, giản đơn hay nhiều năm mà những kế hoạch này cũng có sự khác nhau
- Giai đoạn thực hiện kiểm toán: Giai đoạn này kiểm toán viên phải làm 2 công việc thực hiện khảo sát tuân thủ và khảo sát kiểm soát nội bộ
- Giai đoạn kết thúc kiểm toán (hay hoàn thành kiểm toán): Giai đoạn này Kiểm toán viên phải làm các công việc lập báo cáo kiểm toán, hoàn chỉnh hồ sơ kiểm toán và giải quyết các công việc, sự kiện phát sinh sau khi lập bản cáo tài chính và ký báo cáo kiểm toán
Câu 9: Chuẩn mực kiểm toán là gì? Tác dụng của chuẩn mực kiểm toán?
Trang 6Chuẩn mực kiểm toán là những qui định có tính chất nguyên tắc và những hướng dẫn cụ thể để thực hiện nguyên tắc này Chuẩn mực kiểm toán là những qui định cụ thể, hướng dẫn công việc và điều chỉnh hành vi nghề nghiệp của Kiểm toán viên, đồng thời chuẩn mực kiểm toán cũng là căn cứ đánh giá chất lượng và kết quả kiểm toán, để làm căn cứ thanh tra, kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán và xử lý vi phạm trong kiểm toán
Câu 10: Kiểm toán Nhà nước là loại nội kiểm hay ngoại kiểm? Kiểm toán Nhà nước Việt Nam có gì khác biệt với kiểm toán Nhà nước của các nước phát triển? Tại sao?
Kiểm toán Nhà nước là loại nội kiểm toán với 5 lý do sau đây:
- Kiểm toán Nhà nước do các Kiểm toán viên là các viên chức Nhà nước thực hiện kiểm toán Các viên chức này được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
- Kiểm toán Nhà nước được thực hiện theo kế hoạch do cơ quan mà kiểm toán Nhà nước trực thuộc phê duyệt Ngoài ra, kiểm toán Nhà nước còn thực hiện kiểm toán theo yêu cầu, mệnh lệnh, chỉ thị của cơ quan mà nó trực thuộc
- Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán không thu phí kiểm toán từ các đơn vị, tổ chức được kiểm toán
- Quan hệ giữa kiểm toán Nhà nước (chủ thể kiểm toán) và đơn vị, tổ chức được kiểm toán (khách thể kiểm toán) là quan hệ bắt buộc Vì vậy, khi thực hiện kiểm toán không phải
ký hợp đồng kiểm toán
- Kết thúc kiểm toán, kiểm toán Nhà nước có nhiệm vụ theo dõi việc thực hiện các ý kiến
đề xuất của kiểm toán Nhà nước đối với đơn vị, tổ chức được kiểm toán Vì vậy trong qui trình kiểm toán của kiểm toán Nhà nước giống với qui trình kiểm toán nội bộ bao gồm 4 bước (kiểm toán độc lập chỉ có 3 bước)
Kiểm toán Nhà nước là loại kiểm toán được phân chia theo mô hình tổ chức hay chủ thể kiểm toán Kiểm toán Nhà nước là của Nhà nước và theo thông lệ, kiểm toán Nhà nước chỉ thực hiện kiểm toán ở các đơn vị, tổ chức có sử dụng công quỹ, tài sản của Nhà nước Thông
lệ trên thế giới Nhà nước không kinh doanh nên không có doanh nghiệp Nhà nước Ở Việt Nam do đặc thù về thể chế chính trị và cơ chế quản lý nên có doanh nghiệp Nhà nước và kiểm toán Nhà nước có nhiệm vụ kiểm toán ở các doanh nghiệp Nhà nước hay kiểm toán
về vốn sử dụng ở các doanh nghiệp này Khi gia nhập WTO, theo tiến trình cam kết của Việt Nam với WTO đến 2019 Việt Nam sẽ phải cổ phần hoá hết các doanh nghiệp Nhà nước Như vậy các doanh nghiệp có vốn Nhà nước sẽ được tiến hành kiểm toán độc lập chứ không phải kiểm toán Nhà nước Hiện nay ở Việt Nam, các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước muốn thâm nhập và trường WTO đều phải bắt buộc kiểm toán báo cáo tài chính bởi các tổ chức kiểm toán độc lập có uy tín, thương hiệu và đủ điều kiện theo qui định
Câu 11: Trong kiểm toán báo cáo tài chính có những nội dung thuộc về kiểm toán tuân thủ? Hãy chỉ ra một số trường hợp cụ thể thuộc nội dung này?
Trong kiểm toán báo cáo tài chính có những nội dung kiểm toán việc tuân thủ hệ thống báo cáo tài chính, tuân thủ chứng từ kế toán, báo cáo quyết toán thuế, thời gian lập báo cáo tài chính, tuân thủ việc mở sổ kế toán, tuân thủ các nguyên tắc kế toán phù hợp, trọng yếu, thận trọng, khi kiểm toán loại này chính là loại kiểm toán tuân thủ
Câu 12: Điều lệ của tổng công ty cũng là một loại chuẩn mực kiểm toán tuân thủ đúng hay sai? Tại sao?
Trang 7Điều lệ của tổng công ty được xây dựng và qui định bắt buộc trong phạm vi doanh nghiệp Mọi hoạt động của công ty đều phải tuân thủ điều lệ này Vì vậy, khi kiểm toán tuân thủ thì phải so sánh mọi hoạt động của công ty có tuân thủ đúng điều lệ của công ty không? Nên điều lệ của công ty cũng là một loại chuẩn mực kiểm toán tuân thủ
Câu 13: Tính độc lập của kiểm toán viên có nguy cơ bị đe doạ bở lý do nào? Hãy chỉ
ra ít nhất 2 giải pháp để loại bỏ nguy cơ này?
- Tính độc lập của kiểm toán viên có thể bị đe doạ bởi những nguy cơ về vật chất (kinh tế) và về tình cảm (quan hệ ruột thịt)
- Ít nhất hai biện pháp bảo vệ:
+ Không cho kiểm toán viên này thực hiện kiểm toán
+ Từ chối kiểm toán
+ Kiểm toán viên muốn kiểm toán phải bán hết cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ được kiểm toán
kế toán sẽ tạo ra những loại nguy cơ gì? Biện pháp bảo vệ chủ yếu nào có thể được đưa
ra để đảm bảo tính độc lập của Kiểm toán viên?
Công ty vừa làm kế toán vừa kiểm toán sẽ vi phạm nguyên tắc độc lập (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 không cho phép thực hiện)
Nếu kiểm toán viên thực hiện như vậy thì phải tìm | cách loại bỏ, không để cho kiểm toán viên cung cấp dịch vụ kế toán tham gia cuộc kiểm toán hoặc từ chối cung cấp dịch vụ kiểm toán
Câu 15: Tại sao khách thể kiểm toán lại được gọi là đơn vị được kiểm toán mà không gọi là đơn vị bị kiểm toán?
Xuất phát từ chức năng của kiểm toán và vị trí vai trò tác dụng của kiểm toán trong quản
lý
- Đứng ở góc độ chức năng, kiểm toán chỉ có 2 chức năng kiểm tra xác minh hay xác nhận và tư vấn hay trình bày ý kiến Kiểm toán không có chức năng xử lý Vì vậy, sau khi kiểm toán Kiểm toán viên chỉ đưa ra ý kiến xác nhận và tư vấn cho đơn vị, doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn
- Về vị trí vai trò, tác dụng của kiểm toán đối với đơn vị được kiểm toán:
Thứ nhất: Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và ổn định củng cố hoạt động tài chính, kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị được kiểm toán nói chung
Thông qua kiểm toán, khi phát hiện gian lận sai sót, ktv uốn nắn, chỉ dẫn và đề nghị doanh nghiệp sửa chữa, tư vấn giúp doanh nghiệp ổn định và kinh doanh hiệu quả hoạt động kiểm toán không những củng cố hoạt động tài chính, kế toán cho doanh nghiệp nói riêng mà còn
Trang 8làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính
Thứ hai: Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý
Ngoài chức năng xác nhận thông tin tài chính, kiểm toán còn có chức năng tư vấn cho các doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán thấy được những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, uốn nắn, thấy được những vi phạm, lãng phí nhằm xử lý, ngăn chặn để thực hiện kinh doanh hiệu quả, hạn chế rủi ro Chức năng này được phát huy tác dụng rất lớn ở các đơn vị được kiểm toán thường xuyên Chính vì vậy, kiểm toán còn được ví như “Quan tòa công minh của quá khứ, người dẫn dắt cho hiện tại và người cố vấn sáng suốt cho tương lai”
Câu 16: Bình luận về quan điểm cho rằng kiểm toán có tính kinh tế rất lớn trong đời sống kinh tế xã hội?
Kiểm toán là một hoạt động kinh tế Thực tế đã chứng minh dù loại kiểm toán nào, kể cả kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nớc hay kiểm toán nội bộ, những lợi ích mà kiểm toán mang lại lớn hơn rất nhiều những chi phí phải chi ra cho kiểm toán Đặc biệt kiểm toán độc lập, đây là hoạt động kinh doanh, một hoạt động sinh lời, khi kiểm toán, đơn vị, doanh nghiệp được kiểm toán phải trả phí kiểm toán, song dù trả phí kiểm toán bao nhiêu thì những lợi ích do kiểm toán độc lập mang lại cho bản thân đơn vị được kiểm toán và các đơn vị khác bên ngoài lớn hơn rất nhiều những chi phí phải chi ra cho nó Trong bất kỳ một cuộc kiểm toán nào, dù là kiểm toán độc lập, Nhà nước hay kiểm toán nội bộ, mục tiêu mà các KTV theo đuổi là phải đạt đợc mức độ tin tưởng cao nhất trong kiểm toán với chi phí bỏ ra
là ít nhất Mặt khác, các phân tích kinh tế đơn thuần cho thấy các KTV nên tiến hành nhiều hơn các công việc kiểm toán trong một cuộc kiểm toán miễn là những lợi ích phụ thêm thu được có giá trị nhiều hơn những chi phí phụ thêm của cuộc kiểm toán
Câu 17: Tác dụng của kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính đối với đơn vị được kiểm toán?
+ Kết quả kiểm toán tuân thủ giúp cho giám đốc, người đứng đầu đơn vị được kiểm toán:
- Có căn cứ xử lý, ngăn chặn các sai phạm ở mọi lĩnh vực
- Uốn nắm, điều chỉnh hoạt động và những qui định cho phù hợp với đơn vị
- Quản lý, điều hành đơn vị đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh những qui định đã đặt ra + Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính
- Biết được tình hình tài chính, kết quả kinh doanh
- Điều hành, quản lý và điều chỉnh hoạt động kinh doanh của đơn vị hiệu quả
CHƯƠNG 2 CÁC TỔ CHỨC KIỂM TOÁN Câu 1: Trình bày vai trò của tổ chức kiểm toán nội bộ? Tổ chức kiểm toán độc lập
và tổ chức kiểm toán Nhà nước?
- Kiểm toán nội bộ cung cấp thông tin tin cậy phục vụ việc quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp, giúp chủ doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, thuận lợi trong cạnh tranh, khai thác triệt để và sử dụng hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp, đơn vị
Trang 9- Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán và cung cấp thông tin tin cậy phục vụ việc điều hành quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các đơn vị, tổ chức sử dụng tài sản, công quỹ của Nhà nước, đảm bảo duy trì kỷ cương, thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất luật pháp, chính sách, chế độ, đồng thời sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn, tài sản và kinh phí của nhà nước
- Kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán và cung cấp thông tin tin cậy nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan và những đối tượng sử dụng thông tin của đơn vị được kiểm toán, như: chính phủ, cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư Đồng thời, kiểm toán độc lập cũng là người cung cấp thông tin rất hữu ích và tin cậy cho chính nhà quản lý của đơn vị được kiểm toán
Câu 2: Phân biệt sự giống và khác nhau giữa 3 loại kiểm toán nội bộ, Nhà nước và kiểm toán độc lập?
+ Giống nhau: Đều là kiểm toán, đều là công cụ quản lý kinh tế
+ Khác nhau: Trên các tiêu thức: Khái niệm, người thực hiện, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động (phương thức thực hiện kiểm toán theo kế hoạch, thư mời, hợp đồng), tính độc lập, đối tượng kiểm toán chủ yếu, chi phí kiểm toán, độ tin cậy của kết quả kiểm toán, điều kiện tồn tại, báo cáo kết quả,
Tiêu thức Kiểm toán nội bộ Kiểm toán Nhà nước Kiểm toán độc lập
Nội dung Kiểm toán nội bộ là
việc kiểm tra và trình bày ý kiến của KTV nội
bộ về thông tin được kiểm toán
Kiểm toán Nhà nước là việc kiểm tra và trình bày
ý kiến của KTV Nhà nước
về thông tin được kiểm toán
Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của KTV độc lập về thông tin được kiểm toán
Người thực
hiện
KTV nội bộ là những người ông chủ sử dụng
và bổ nhiệm
Là cac KTV nhà nước hay viên chức Nhà nước làm nhiệm vụ theo quy định
Là các chuyên gia hay KTV độc lập chuyên nghiệp
Tuỳ mỗi Quốc gia, kiểm toán Nhà nước có thể trực thuộc Quốc hội, tòa án, viện kiểm soát,
có thể trực thuộc chính phủ hay tổng thống…
Các tập đoàn, hãng kiểm toán chuyên nghiệp tầm cỡ Quốc gia, khu vực
Theo kế hoạch được
cơ quan mà kiểm toán Nhà nước trực thuộc phê duyệt, hoặc theo quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị, yêu cầu của cơ quan mà
nó trực thuộc
Theo hợp đồng hay thư mời kiểm toán
Trang 10Chỉ Nhà nước Mọi đối tượng thuộc thành
phần kinh tế trong và ngoài nước
Chủ yếu thực hiện kiểm toán tuân thủ, ngoài ra kiểm toán Nhà nước vẫn thực hiện kiểm toán hoạt động và kiểm toán BCTC
Chủ yếu thực hiện kiểm toán BCTC, ngoài ra kiểm toán độc lập vẫn thực hiện kiểm toán tuân thủ và kiểm toán nội bộ
Câu 4: Kiểm toán viên Nhà nước là viên chức Nhà nước, hãy giải thích ngắn gọn?
Vì Kiểm toán viên Nhà nước được Nhà nước tuyến dụng để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán do Nhà nước giao nhiệm vụ và được hưởng lương do Nhà nước trả từ Ngân sách Nhà nước tuân theo luật viên chức Nhà nước
Câu 5: Hiệp hội nghề nghiệp của các tổ chức kiểm toán nội bộ, Nhà nước và kiểm toán độc lập được thành lập nhằm mục đích gì? Chúng có vai trò gì?
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ kiểm toán viên nội bộ quốc tế IIA (institute of internal auditors) thành lập từ năm 1941 Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ này là cầu nối giữa các kiểm toán viên nội bộ giữa các quốc gia và thực hiện việc tuyên truyền phổ biến những kinh nghiệm hoạt động nghiệp vụ chuyên môn về kiểm toán nội bộ
Trang 11Ở cộng hoà Pháp hiệp hội kiểm toán viên nội bộ được thành lập đầu tiên vào năm 1965
và đến năm 1973 đã trở thành viện nghiên cứu kiểm toán viên nội bộ
Trên phạm vi quốc tế, hiệp hội nghề nghiệp kiểm toán viên Nhà nước được hình thành từ năm 1963, đó là tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (international organisation
of supereme audit institute – INTOSAI) được thành lập để thúc đẩy việc trao đổi chuyên môn, quan điểm và kinh nghiệm nghề nghiệp Kiểm toán Nhà nước công hoà Pháp được thành lập khá sớm vào năm 1807 gọi là toà thẩm kế nhưng mãi đến năm 1976 cơ quan này mới chính thức thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính và quản lý các xí nghiệp công cộng
Ở Mỹ, văn phòng tổng kế toán (GAO) được thành lập năm 1921 là cơ quan kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán phục vụ cho việc điều hành của Quốc hội Hiện nay trên Thế giới
đã có hơn 170 nước tham gia và đều là thành viên của INTOSAI Ở Việt nam kiểm toán Nhà nước được thành lập theo nghị định 70/CP ngày 11/07/1994 của Chính phủ và trực thuộc Chính phủ Đến năm 1997 kiểm toán Nhà nước Việt nam trở thành thành viên của INTOSAI và năm 1998 trở thành thành viên kiểm toán Nhà nước Châu Á thái bình dương - ASOSAI Khu vực châu á, tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao ASOSAI (asian organisation of supereme audit institute - asosai) thành lập năm 1979, hiện đã có hơn 40 thành viên, trong đó có kiểm toán nhà nước việt nam
Từ khi luật kiểm toán Nhà nước được ban hành năm 2005 có hiệu lực chính thức từ ngày 1.1.2006 đã nâng cao địa vị pháp lý của kiểm toán Nhà nước Việt nam do Quốc hội thành lập và hoạt động độc lập theo luật
Hiệp hội kiểm toán viên độc lập liên đoàn kế toán quốc tế (international federation of accountants- IFAC – thành lập năm 1977) là tổ chức hiệp hội nghề nghiệp chung cho cả hai lĩnh vực kế toán và kiểm toán IFAC có các uỷ ban trực thuộc đảm nhận từng mảng công việc, trong đó có uỷ ban thực hành kiểm toán quốc tế (international auditing stices committee – IAPC) chịu trách nhiệm soạn thảo, ban hành các chuẩn mực kiểm toán (trước đây là các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế - IAG) và hướng dẫn các dịch vụ khác có liên quan; IFAC cùng với uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (international accounting standards committee- IASC - thành lập năm 1973) đã ký tuyên bố chung tháng 1 năm 1983, theo đó, nếu đã là thành viên của IFAC thì cũng có nghĩa là thành viên của IASC
Mục tiêu chính của IFAC nêu trong hiến chương thành lập là “phát triển và tăng cường
sự phối hợp nghiệp vụ kế toán bằng các chuẩn mực hài hoà trên phạm vi toàn thế giới”
Ở việt nam, sau khi chuyển đổi cơ chế quản lý năm 1986, đến cuối năm 1994 hội kế toán thành lập (theo quyết định số 12/TTG ngày 10 tháng 01 năm 1994 của thủ tướng chính phủ) lấy tên là Trung ương hội kế toán Việt nam sau đó đổi tên thành hội kế toán Việt nam Đến tháng 3/ 2004, sau đại hội lần thứ 3, hội kế toán việt nam đổi tên thành hội kế toán và kiểm toán việt nam và đang là hiệp hội nghề nghiệp chung của cả kế toán và kiểm toán Trong hội kế toán và kiểm toán Việt nam có hội kiểm toán viên hành nghề để hướng dẫn, quản lý
và thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực kiểm toán nói riêng
CHƯƠNG 3 BÁO CÁO KIỂM TOÁN Câu 1: Báo cáo kiểm toán là gì? Từ đó suy ra báo nội - cáo kiểm toán về kiểm toán báo cáo tài chính? Báo cáo về kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán viên độc lập, Kiểm toán viên Nhà nước và Kiểm toán viên nội bộ? Báo cáo kiểm toán chấp nhận
Trang 12toàn phần chỉ được kiểm toán viên lập ra đối với Doanh nghiệp có lãi đúng hay sai tại sao?
Báo cáo kiểm toán là văn bản do Kiểm toán viên lập ra thể hiện những ý kiến nhận xét kết luận của Kiểm toán viên về thông tin được kiểm toán
Báo cáo kiểm toán về kiểm toán báo cáo tài chính là văn bản do Kiểm toán viên lập ra thể hiện những ý kiến nhận xét kết luận của Kiểm toán viên về báo cáo tài chính được kiểm toán
Báo cáo kiểm toán về kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán viên độc lập là văn bản
do Kiểm toán viên độc lập lập ra thể hiện những ý kiến nhận xét kết luận của Kiêm toán viên độc lập về báo cáo tài chính được kiểm toán
Báo cáo kiểm toán về kiểm toán báo cáo tài chính của viểm toán viên Nhà nước là văn bản do Kiểm toán viên Nhà nước lập ra thể hiện những ý kiến nhận xét kết luận của Kiểm toán viên Nhà nước về báo cáo tài chính được kiểm toán
Báo cáo kiểm toán về kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán viên nội bộ là văn bản
do Kiểm toán viên nội bộ lập ra thể hiện những ý kiến nhận xét kết luận của Kiểm toán viên nội bộ về báo cáo tài chính được kiểm toán
Báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần chỉ được kiểm toán viên lập ra đối với Doanh nghiệp có lãi nói như vậy là sai tại vì báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần được lập ra khi báo cáo tài chính của doanh nghiệp, đơn vị không có sai phạm trọng yếu Có nghĩa là Kiểm toán viên hoàn toàn chấp nhận báo cáo tài chính của doanh nghiệp, đơn vị khi lập ra, hay ban đầu báo cáo tài chính của doanh nghiệp, đơn vị có sai phạm trọng yếu nhưng đã được sửa đổi theo ý kiến của Kiểm toán viên và được Kiểm toán viên hoàn toàn đồng ý Như vậy doanh nghiệp có lãi hay lỗ những báo cáo tài chính không có sai phạm trọng yếu
sẽ được kiểm toán viên lập ra một báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần
Câu 2: Trình bày ý nghĩa của báo cáo kiểm toán về Kiểm toán báo cáo tài chính? Khi phạm vi kiểm toán bị hạn chế (có thể lớn hoặc nhỏ) mà kiểm toán viên không thể khắc phục được thì kiểm toán viên có thể lập ra những loại báo cáo kiểm toán gì tại sao?
Ý nghĩa của báo cáo kiểm toán:
- Đối với Kiểm toán viên, báo cáo kiểm toán thể hiện những ý kiến nhận xét kết luận của Kiểm toán viên về thông tin đã được kiểm toán Báo cáo kiểm toán là một văn bản pháp lý công bố về kết quả của cuộc kiểm toán, nó có tính chất pháp lý, được pháp luật thừa nhận, đồng thời Kiểm toán viên cũng phải chịu trách nhiệm về những ý kiến nhận xét kết luận mà
họ đã đưa ra trong báo cáo kiểm toán
- Đối với những đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài đơn vị như cơ quan thuế, cơ quan chức năng, các cổ đông, ngân hàng, người mua, người bán, báo cáo kiểm toán là căn cứ giúp họ biết được mức độ trung thực, hợp lý, đáng tin cậy của thông tin đã được kiểm toán
từ đó có thể đưa ra những quyết định phù hợp
- Đối với bản thân đơn vị được kiểm toán, báo cáo kiểm toán giúp cho đơn vị được kiểm toán chứng minh được độ tin cậy, tính hợp lý, đúng đắn của thông tin mà họ cung cấp Qua
đó, những đối tượng sử dụng thông tin sẽ yên lòng và tin tưởng vào những thông tin do đơn
vị được kiểm toán cung cấp Từ đó, các đơn vị được kiểm toán sẽ có nhiều thuận lợi trong
Trang 13việc thực hiện và giải quyết các mối quan hệ kinh tế với các bên liên quan Tuy nhiên, mức
độ thuận lợi còn tuỳ thuộc vào tình hình tài chính tốt hay xấu, lãi hay lỗ của doanh nghiệp được kiểm toán Mặt khác, nếu vi được kiểm toán cung cấp thông tin sai lệch thì báo cáo kiểm toán sẽ chỉ rõ những sai phạm đó cho người sử ng thông tin Do vậy, nó sẽ rất khó khăn, bất lợi thậm chí không thể giải quyết được các mối quan hệ với các đối tác có liên quan Mặt khác, đứng ở góc độ của người sử dụng tin, báo cáo kiểm toán còn cung cấp thông tin tin cậy giúp cho chính các đơn vị được kiểm toán đưa ra các quyết định đúng đắn để quản lý và điều hành đơn vị hiệu quả
Trường hợp phạm vi kiểm toán bị hạn chế mà Kiểm toán viên không thể vượt qua được, thì Kiểm toán viên sẽ lập ra báo cáo kiểm toán chấp nhận từng phần (nếu phạm vị kiểm toán
bị hạn chế ở mức độ nhỏ) hoặc báo cáo kiểm toán dạng từ chối hay từ bỏ (nếu phạm vi kiểm toán bị hạn chế ở mức độ lớn)
Câu 3: Nội dung cơ bản của báo cáo kiểm toán loại Từ chối? Tại sao khi phạm vi kiểm toán bị giới hạn nghiêm trọng mà kiểm toán viên không thể khắc phục được, kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến nhận xét từ chối? Khi từ chối một hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên có lập ra báo cáo kiểm toán từ chối không? Tại sao? Khi đã lập ra báo cáo kiểm toán từ chối kiểm toán viên có thu phí kiểm toán ở Doanh nghiệp được kiểm toán không tại sao?
Báo cáo kiểm toán từ chối là báo cáo kiểm toán mà kiểm toán viên từ chối (không thể) đưa ra ý kiến nhận xétdo phạm vi kiểm toán bị hạn chế ở mức độ lớn mà k toán viên không thể vượt qua hay không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán ở mức độ lớn Khi phạm vi kiểm toán bị hạn chế ở mức độ lớn mà Kiểm toán viên không thể khắc phục được do nguyên nhân khách quan như bị cháy tài liệu, mất mát tài liệu quá nhiều mà Kiểm toán viên không thể phục hồi được Với tình huống này, Kiểm toán viên vẫn phải thực hiện kiểm toán, phải làm bằng mọi cách, với mọi phương pháp kỹ thuật và thủ tục có thể để thực hiện kiểm toán nhưng vẫn không thể phục hồi, khắc phục hay không thể vượt qua được Khi
đó, Kiểm toán viên không có bằng chứng để đưa ra nhận xét kết luận nhưng vẫn phải lập báo cáo kiểm toán và ý kiến nhận xét kết luận trong trường hợp này là từ chối đưa ra ý kiến nhận xét Khi đó Kiểm toán viên vẫn thu phí kiểm toán vì báo cáo kiểm toán trong trường hợp này vẫn được chấp nhận về mặt pháp lý
Khi từ chối một hợp đồng kiểm toán thì Kiểm toán viên không lập ra báo cáo kiểm toán
và Kiểm toán viên không thực hiện kiểm toán thì không có cứ và cơ sở để kết luận Và nếu Kiểm toán viên có thì kết luận cũng không được thừa nhận
Câu 4: Khi không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, kiểm toán viên có đưa ra những loại ý kiến nhận xét gì? Tại sao Kiểm toán viên có sự bất đồng với nhà quản lý doanh nghiệp được kiểm toán về các khoản mục trên báo cáo tài chính, Kiểm toán viên có thể đưa ra những ý kiến nhận xét loại nào trên báo cáo kiểm toán? Giải thích ngắn gọn, lý do?
Trường hợp Kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp thì Kiểm toán viên sẽ lập ra báo cáo kiểm toán chấp nhận từng phần (nếu không thu thập đầy đủ bằng chứng ở mức độ nhỏ) hoặc báo cáo kiểm toán dạng từ chối hay từ bỏ (nếu không thu thập đầy đủ bằng chứng ở mức độ lớn) Tại vì, khi đó chính là phạm vị kiểm toán
Trang 14bị hạn chế ở mức độ nhỏ hay lớn nên ý kiến nhận xét đưa ra phù hợp với phạm vi kiểm toán
bị hạn chế
Kiểm toán viên có sự bất đồng với nhà quản lý doanh nghiệp được kiểm toán về các khoản mục trên báo cáo tài chính Kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến nhật xét chấp nhận từng phần (nếu bất đồng nhỏ) hoặc ý kiến trái ngược (nếu bất đồng lớn) Vì nếu Kiểm toán viên có sự bất đồng với một vài khoản mục ở mức độ nhỏ có nghĩa là đa số các khoản mục khác trên báo cáo tài chính vẫn là trung thực khi đó Kiểm toán viên sẽ đưa ý kiến chấp nhận từng phần Nếu Kiểm toán viên có sự bất đồng lớn với đa số các khoản mục trên báo cáo tài chính khi đó chỉ một vài khoản mục trên báo cáo tài chính là trung thực nhưng đa số các khoản mục là không trung thực nên Kiểm toán viên kết luận báo cáo tài chính là không trung thực hay đưa ra ý kiến nhận xét bất đồng
Câu 5: Khi Kiểm toán viên yêu cầu Doanh nghiệp được kiểm toán sửa chữa sai phạm
đã được phát hi trên báo cáo tài chính khi kiểm toán mà Doanh nghiệp, vẫn không sửa thì kiểm toán viên có thể sẽ lập ra loại báo cáo kiểm toán nào? Tại sao?
Khi đó, Kiểm toán viên sẽ lập ra báo cáo kiểm toán chấp nhận từng phần nếu phần không sửa chữa là nhỏ hoặc lập ra báo cáo kiểm toán trái ngược nếu phần không sửa chữa là lớn
Vì khi đó nếu sai phạm không sửa chữa nhỏ tức là Kiểm toán viên có sự bất đồng nhỏ, nếu sai phạm không sửa chữa lớn tức Kiểm toán viên có bất đồng lớn với nhà quản lý doanh nghiệp được kiểm toán, khi đó báo cáo kiểm toán tương ứng sẽ được lập ra với sai phạm không được sửa chữa này
CHƯƠNG 4 GIAN LẬN VÀ SAI SÓT - TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO
Câu 1 Thế nào là gian lận và sai sót? Những yếu tố ảnh hưởng đến gian lận và sai sót? Vận dụng khái niệm này trong kiểm toán như thế nào?
Gian lận là những hành vi cố ý (có chủ ý) lừa dối, có liên quan đến việc biến thủ, giấu diếm tài sản, xuyên tạc hoặc làm sai lệch thông tin trên báo cáo tài chính nhằm đem lại lợi ích cho bản thân mình (người gây ra) hoặc gây hậu quả cho người khác
Sai sót: là những lỗi hoặc sự nhầm lẫn không cố ý nhưng có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính
Những yếu tố ảnh hưởng đến gian lận và sai sót:
- Những vấn đề liên quan đến tính chính trực, năng lực của ban giám đốc, như:
+ Công tác quản lý bị một người hay một nhóm nhỏ độc quyền nắm giữ, không có ban, hội đồng giám sát độc lập, có hiệu lực
+ Cơ cấu tổ chức của khách hàng phức tạp một cách cố ý và khó hiểu
+ Những yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ và thống kế toán thường bị bỏ qua hoặc
tỏ ra bất lực trong khi thực tiễn những yếu kém này hoàn toàn có thể khắc phục được
Trang 15+ Có sự thay đổi thường xuyên về người làm công tác kế toán hoặc người có trách nhiệm
ở bộ phận tài chính kế toán
+ Thiếu nhiều nhân viên trong phòng kế toán trong một thời gian dài
+ Bố trí người làm kế toán không đúng chuyên môn hoặc người bị pháp luật nghiêm cấm + Có sự thay đổi thường xuyên về chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc kiểm toán viên
- Các sức ép bất thường bên trong hoặc bên ngoài đơn vị tồn tại trong báo cáo tài chính, như:
+ Ngành nghề kinh doanh gặp khó khăn và số đơn vị phá sản ngày càng tăng
+Thiếu vốn kinh doanh do lỗ hoặc do mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp quá nhanh
+ Mức thu nhập bị giảm sút
+ Doanh nghiệp cố ý hạch toán tăng lợi nhuận nhằm khuyếch trương hoạt động
+ Đầu tư quá nhanh vào ngành nghề mới hoặc loại sản phẩm mới làm mất cân đối tài chính
+ Doanh nghiệp bị lệ thuộc quá nhiều vào một số sản phẩm hoặc một số khách hàng + Sức ép về tài chính từ những nhà đầu tư hoặc cấp quản lý đơn vị
+ Sức ép đối với nhân viên kế toán phải hoàn tất báo cáo tài chính trong thời gian quá ngắn
- Các nghiệp vụ và sự kiện không bình thường, như:
+ Các nghiệp vụ đột xuất, đặc biệt xảy ra vào cuối niên độ kế toán có tác động đến doanh thu, chi phí và kết quả
+ Các nghiệp vụ hoặc phương pháp xử kế toán phức tạp:
+ Các nghiệp vụ với các bên hữu quan như mua đặt, bán rẻ hoặc quan hệ với những khách hàng có nhiều tiêu cực, không minh bạch,
+ Các khoản chi phí quá cao so với những dịch vụ được cung cấp
- Những điểm khó khăn liên quan đến thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp:
+ Tài liệu kế toán không đầy đủ hoặc không được cung cấp kịp thời
+ Lưu trữ tài liệu không đầy đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế
+ Có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với các nhận của bên thứ ba mâu thuẫn giữa các bằng chứng kiểm toán, không giải thích được sự thay đổi của các chỉ số hoạt động + Ban giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc trình không thoả mãn yêu cầu của kiểm toán viên
- Những nhân tố từ môi trường tin học liên quan đến các tình huống và sự kiện nêu trên, như:
+ Không lấy được thông tin từ máy vi tính,
+Có thay đổi trong chương trình vi tính nhưng không lưu tài liệu, không được phê duyệt
và không được kiểm tra,
Trang 16+ Thông tin, tài liệu in từ máy vi tính không phù hợp với báo cáo tài chính 1062
+ Các thông tin in ra từ máy vi tính mỗi lần lại khác nhau
Câu 2: Tại sao gian lận khó phát hiện hơn là sai sót? Trình tự xử lý gian lận, sai sót khi kiểm toán viên phát hiện gian lận, sai sót trong quá trình kiểm toán?
Hành vi gian lận luôn là cố ý nên luôn luôn được chuẩn i một cách chặt chẽ, chu đáo, che đậy tinh vi và luôn nảy Ghh khi có cơ hội và kẽ hở, nên gian lận luôn khó phát hiện hơn là sai sót Gian lận tồn tại một cách tiềm ẩn trong hoạt động kinh tế và báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Trình tự xử lý gian lận, sai sót khi kiểm toả phát hiện gian lận sai sót trong quá trình kiểm toán?
+ Khi đã phát hiện ra gian lận sai sót, KTV phải đánh giá sự ảnh hưởng của gian lận, sai sót đơn lẻ hay ảnh hưởng theo nhóm (tổng hợp lại) đến báo cáo tài chính
+ Mọi gian lận sai sót quan trọng khi phát hiện trong quá trình kiểm toán đều phải được trao đổi với giám đốc hoặc người đứng đầu đơn vị được kiểm toán để sửa đổi, điều chỉnh Những gian lận, sai sót quan trọng đã được phát hiện trong quá trình kiểm toán Sau khi tổng hợp mà doanh nghiệp không điều chỉnh, Kiểm toán viên phải đánh giá những gian lận, sai sót đơn lẻ và tổng hợp có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính không để đưa ra ý kiến nhận xét kết luận phù hợp?
+ Khi đã phát hiện gian lận, sai sót trọng yếu công việc tiếp theo của Kiểm toán viên là phải thông báo và yêu cầu doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán sửa đổi, điều chỉnh theo ý kiến của Kiểm toán viên
Câu 3: Gian lận là những sai phạm trọng yếu, còn sai sót thì không phải, nói như vậy đúng hay sai? Tại sao?
Nói gian lận là những sai phạm trọng yếu, còn sai sót thì không là sai Vì mọi sai phạm (gồm cả gian lận và sai sót) nếu về độ lớn (lớn đến mức độ nào đó) hoặc về bản chất, định tính mà làm ảnh hưởng đến sự thay đổi ý kiến của người sử dụng thông tin kiểm toán thì những gian lận và Sai sót đó đều là sai phạm trọng yếu không phân biệt đó là gian lận hay sai sót
Câu 4: Mục đích kiểm toán có phải là đi tìm gian lận sai sót không? Tại sao kiểm toán viên phải nghiên cứu gian lận sai sót trong quá trình kiểm toán?
Mục đích kiểm toán không phải đi tìm kiếm gian lận, sai sót mà là xác minh độ tin cậy hay tính trung thực của thông tin được kiểm toán Nhưng để có được căn cứ kết luận về thông tin được kiểm toán có trung thực, tin cậy hay không thì Kiểm toán viên phải xem thông tin (báo cáo tài chính) được kiểm toán có chứa đựng những sai phạm (gian lận, sai sót trọng yếu hay không, gian lận, sai sót đó có độ lớn đến mức độ nào, về bản chất có ảnh hưởng đến sự thay đổi quyết định của người sử dụng thông tin được kiểm toán hay không Hay nói cách khác, phải thông qua việc tìm kiếm gian lận, sai sót và đánh giá sự ảnh hưởng trọng yếu của những gian lận sai sót này đến báo cáo tài chính mới kết luận được độ tin cậy của thông tin cần kiểm toán
Câu 5: Vận dụng khái niệm gian lận, sai sót trong kiểm toán hay trách nhiệm của Kiểm toán viên đối với gian lận sai sót trong quá trình kiểm toán?
Trang 17Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với gian lận và sai sót
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời gian lận sai sót trong doanh nghiệp
- Xây dựng, thiết kế và thực hiện một cách thường xuyên hiệu lực đối với hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng gian lận, sai sót
-Tiếp thu và giải trình một cách kịp thời, đầy đủ về các hiện tượng gian lận, sai sót do kiểm toán viên phát hiện và yêu cầu sửa chữa trong quá trình kiểm toán,
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận sai sót
- Kiểm toán viên không phải chịu trách nhiệm về những gian lận sai sót trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp trách nhiệm này thuộc về doanh nghiệp được kiểm toán)
- Kiểm toán viên chỉ chịu trách nhiệm tìm kiếm bằng chứng kiểm toán chứng minh báo cáo tài chính không có gian lận sai sót trọng yếu hay có gian lận sai sót trọng yếu nhưng đã được phát hiện hoặc đã phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính hoặc đã được sửa chữa theo
ý kiến của Kiểm toán viên Đồng thời kiểm toán viên phải chỉ ra được sự ảnh hưởng của gian lận, sai sót đó đến báo cáo tài chính
- Khâu: Lập kế hoạch kiểm toán:
+ Kiểm toán viên phải lập kế hoạch, xây dựng các thủ tục kiểm toán phù hợp để đảm bảo rằng mọi gian lận, sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính đều được phát hiện
+ Kiểm toán viên nghi ngờ có gian lận sai sót trọng yếu phải dự kiến các thủ tục kiểm toán để phát hiện các gian lận, sai sót này nhằm chứng minh hay giải toả nghi ngờ
- Khâu thực hiện kiểm toán:
+ Kiểm toán viên nghi ngờ có gian lận sai sót trọng yếu phải thực hiện các thủ tục kiểm toán để chứng minh hoặc giải toả nghi ngờ
+ Khi đã phát hiện ra gian lận sai sót, Kiểm toán viên phải đánh giá sự ảnh hưởng của gian lận, sai sót đơn lẻ hay ảnh hưởng theo nhóm (tổng hợp lại) đến báo cáo tài chính + Mọi gian lận sai sót quan trọng khi phát hiện trong quá trình kiểm toán đều phải được trao đổi với giám đốc hoặc người đứng đầu đơn vị được kiểm toán để sửa đổi, điều chỉnh Những gian lận, sai sót quan trọng đã được phát hiện trong qúa trình kiểm toán Sau khi tổng hợp mà doanh nghiệp không điều chỉnh, Kiểm toán viên phải đánh giá những gian lận, sai sót đơn lẻ và tổng hợp có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính không để đưa ra ý kiến nhận xét kết luận phù hợp
+ Khi đã phát hiện gian lận, sai sót trọng yếu công việc tiếp theo của Kiểm toán viên là phải thông báo và yêu cầu doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán sửa đổi, điều chỉnh theo ý kiến của Kiểm toán viên
- Việc dự kiến hoặc thực hiện những thủ tục kiểm toán thích hợp để chứng minh hoặc giải toả nghi ngờ về gian lận hoặc sai sót trong khâu lập kế hoạch hay thực hiện kiểm toán tuỳ thuộc vào những gian lận sai sót được đánh giá có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính hay không?
Việc xem xét, đánh giá ảnh hưởng của gian lận, sai sót đến báo cáo tài chính có trọng yếu hay không còn phải kết hợp với các bằng chứng khác đã thu được trong quá trình kiểm toán,
Trang 18đặc biệt là độ tin cậy của các bản giải trình mà ban giám đốc, chủ doanh nghiệp kiểm toán
đã cung cấp, hành vi có cố tình che dấu sai phạm, sự giải trình tích cực cầu thị hay lảng tránh, nguỵ biện, cùng với mối quan hệ giữa các sai phạm, cũng như việc sử dụng Nhân viên kiểm soát có năng lực, liêm chính, phù hợp cùng các thủ tục kiểm soát cụ thể đang áp dụng
có hiệu quả, phù hợp hay không?
- Kiểm toán viên phải có trách nhiệm thông báo mọi gian lận sai sót được phát hiện trong quá trình kiểm toán với lãnh đạo trực tiếp ở bộ phận gây ra sai phạm trong thời gian sớm nhất trước khi phát hành báo cáo kiểm toán Nếu sai phạm liên quan đến PGĐ phải báo cáo với GĐ Nếu sai phạm liên quan đến GĐ phải báo cáo với cấp trên Nếu không có cấp trên, với nguyên tắc bảo mật, Kiểm toán viên báo cáo với các cơ quan chức năng về những vấn
đề thuộc Trách nhiệm pháp lý và nghề nghiệp
- Những sai phạm liên quan đến pháp luật, Kiểm toán Viên phải báo cáo với cơ quan pháp luật có liên quan
- Những sai phạm cần sửa chữa, Kiểm toán viên phải tư vấn cho doanh nghiệp được kiểm toán để thực hiện sửa chữa
- Những sai phạm còn lại không được doanh nghiệp sửa chữa Kiểm toán viên thông báo cho người sử thông tin được kiểm toán thông qua việc lập báo kiểm toán và nêu ý kiến nhận xét của mình trong báo cáo kiểm toán
- Kiểm toán viên có quyền rút khỏi hợp đồng khi toán, khi chủ doanh nghiệp được kiểm toán không có tin, thần hợp tác sửa chữa cũng như thừa nhận về những sai phạm được phát hiện hay thông báo về những sai phạm này với những người có trách nhiệm hay cơ quan chức năng trong quá trình kiểm toán Việc rút khỏi hợp đồng kiểm toán Kiểm toán viên cần tham khảo ý kiến chuyên gia pháp luật
Câu 6 Thế nào là tính trọng yếu trong kiểm toán? Trọng yếu có phải là những khoản mục cơ bản, chủ yếu, có số tiền lớn hay không? Đánh giá, xét đoán và vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán như thế nào?
Khái niện trọng yếu: Trọng yếu trong kiểm toán là một khái niệm chỉ độ lớn, tầm cỡ, bản chất của sai phạm (kể cả việc bỏ sót thông tin kinh tế tài chính) hoặc là đơn lẻ hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể, nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc rút ra những kết luận sai lầm Nói cách khác, trọng yếu là độ lớn, bản chất của sai phạm mà có làm thay đổi quyết định của người sử dụng thông tin
Trọng yếu không phải là những khoản mục cơ bản, chủ có số tiền lớn vì nó không ảnh hưởng đến sự thay đổi quyết định của người sử dụng thông tin thì không phải là trọng yếu Xét đoán tính trọng yếu:
Trong thực tế, việc xét đoán tính trọng yếu là một vấn đề nhạy cảm, phụ thuộc rất nhiều vào bản thân mỗi kiểm toán viên về tính chủ quan và khả năng xét đoán nghề nghiệp Tuy nhiên, khi xét đoán tính trọng yếu kiểm toán viên phải hiểu rằng:
- Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là tuyệt đối
Có nghĩa là tuỳ điều kiện cụ thể mà xét đoán sai phạm đó có thể là trọng yếu hay không trọng yếu Không có một công thức nào để kết luận sai phạm bao nhiêu hay ảnh hưởng như thế nào sẽ là trọng yếu
Trang 19- Tính trọng yếu luôn phải được xem xét trên cả 2 mặt định lượng và định tính Định lượng có nghĩa là với mỗi điều kiện cụ thể, độ lớn của sai phạm có thể làm thay đổi ý kiến của người sử dụng thông tin hoặc với làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính thì những sai phạm như vậy sẽ trở thành sai phạm trọng yếu
- Tính trọng yếu luôn phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ giữa các sai phạm
về mặt định lượng với nhau Không thể có một công thức nào đưa ra để xác đị độ lớn trọng yếu của một sai phạm, có khi với một độ lớn nhất định của một sai phạm, ở doanh nghiệp này, trường hợp này là sai phạm không trọng yếu, nhưng ở doanh nghiệp khác hoặc trường hợp khác lại là sai phạm trong yếu hoặc nếu xét đơn lẻ sai phạm đó không là trọng yếu nhưng xét tổng hợp các sai phạm thì nó lại là trọng yếu và ngược lại
+ Về mặt định tính của tính trọng yếu nói lên bản chất của sai phạm Có những sai phạm không phân biệt độ lớn nhưng vẫn coi là quan trọng để xét đoán tính trọng yếu thậm chí được coi là trọng yếu như:
• Các sai phạm liên quan đến luật pháp, chính sách, chế độ và những quy định có tính nguyên tắc
• Sai phạm liên quan đến tính trung thực của nhà quản lý cấp cao
• Sai phạm có tính chất gây hậu quả phản ứng dây chuyền
• Sai phạm về lợi nhuận, thu nhập của doanh nghiệp
• Sai phạm đã được chỉ ra nhưng không được sửa chữa kịp thời
v.v
Việc vận dụng tính trọng vếu trong kiểm toán được thực hiện thông qua 5 bước được sắp xếp theo trình tự sau đây:
Bước 1: Ước lượng sơ bộ ban đầu về tính trọng yếu
Bước 2: Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho từng bộ phận, từng khoản mục Bước 3: Ước tính sai sót trong từng bộ phận
Bước 4: Ước tính sai sót kết hợp của các bộ phận
Bước 5: So sánh sai sót kết hợp ước tính với ước lượng ban đầu (hoặc đã điền chỉnh) về tính trọng yếu để đưa ra kết luận
Câu 7 Thế nào là rủi ro kiểm toán, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện? Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và chiều hướng ảnh hưởng của các yếu tố này đến các loại rủi ro này?
Rủi ro kiểm toán là rủi ro (khả năng) mà kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán vẫn còn có những sai sót trọng yếu
a Rủi ro tiềm tàng: là khả năng trong báo cáo tài chính chứa đựng những sai phạm trọng yếu hoặc những điều không bình thường kể cả có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, cho dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ
Rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào:
Trang 20+ Bản chất kinh doanh của khách hàng, như: công việc sản xuất kinh doanh, các loại sản phẩm và dịch vụ doanh nghiệp tạo ra được cung cấp cho thị trường, các vấn tố tác động của ngành nghề, môi trường kinh tế, địa điểm hoạt động, cơ cấu vốn, tính chất thời vụ, sự biến động của thị trường mua và bán nếu các vấn đề này càng phức tạp thì rủi ro tiềm tàng càng cao và ngược lại
+ Bản chất của các bộ phận, khoản mục được kiểm toán, như: các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính thì khả năng chứa đựng những sai phạm trọng yếu sẽ khác nhau, như khoản mục hàng tồn kho có khả năng chứa đựng những sai phạm trọng yếu nhiều hơn là khoản mục tiền mặt vì hàng tồn kho phải thông qua rất nhiều khâu tính toán, đánh giá, tính nhất quán của phương pháp tính giá xuất kho, phương pháp lập dự phòng giảm giá
Các nghiệp vụ, khoản mục cần phải có sự tư vấn, xác nhận của chuyên gia, hay các khoản mục phản ánh về tài sản dễ mất trộm, phải kiểm kê thường xuyên về hiện vật, về quy trình
và thời gian bảo quản kể cả tính chủ quan của hệ thống kế toán đối với từng loại nghiệp
vụ và từng khoản mục Tính chất này ảnh hưởng rất lớn đến những sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
+ Bản chất hệ thống kế toán và thông tin trong đơn vị như mức độ, tính chất phức tạp, phạm vi hay hiệu quả của hệ thống điện toán hay của các phương tiện, thiết bị thông tin tính toán áp dụng trong doanh nghiệp Hệ thống kế toán càng khoa học, rủi ro tiềm tàng càng thấp và ngược lại Phạm vi điện toán hóa càng cao, các phương tiện tính toán áp dụng càng nhiều rủi ro tiềm tàng càng lớn và ngược lại
Rủi ro tiềm tàng tồn tại khách quan nằm ngay trong doanh nghiệp, nó không phụ thuộc vào công việc kiểm toán
b Rủi ro kiểm soát:
- Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện và ngăn chặn được những gian lận sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính Hay rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời
Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào:
+Tính chất mới mẻ và phức tạp của các loại giao dịch Các giao dịch càng mới và càng phức tạp thì rủi ro kiểm soát càng cao và ngược lại
+ Khối lượng và cường độ của giao dịch Khối lượng giao dịch càng nhiều, cường độ giao dịch càng lớn thì rủi ro kiểm soát càng cao và ngược lại
+ Số lượng và chất lượng của hệ thống nhân lực tham gia kiểm soát trong doanh nghiệp
Số lượng nhân lực càng nhiều, chất lượng nhân lực càng cao thì rủi ro khi càng thấp và ngược lại
+ Tính hiệu lực, hợp lý và hiệu quả của các thủ tu khi soát và trình tự kiểm soát trong doanh nghiệp Nếu có tục và trình tự các thủ tục kiểm soát càng hiệu quả th ro kiểm soát càng thấp và ngược lại
+ Tính khoa học, thích hợp và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ như: việc sắp xếp phân công đúng người đúng việc, việc bố trí sử dụng một cách tối ưu các phương tiện, thiết
Trang 21bị kết hợp với con người trong quá trình kiểm soát càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại
c Rủi ro phát hiện:
- Là khả năng Kiểm toán viên không phát hiện được các gian lận và sai sót trong yếu trong quá trình kiểm toán Hay rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên không phát hiện được
Rủi ro phát hiện phụ thuộc vào:
+ Phạm vi kiểm toán: với tính hiệu quả, khoa học và trình độ kinh nghiệm của kiểm toán viên là cố định, nếu phạm vi kiểm toán càng rộng thì khả năng phát hiện gian lận, sai sót càng tăng lên tức là khả năng không phát hiện ra gian lận sai sót giảm đi có nghĩa là rủi ro phát hiện giảm và ngược lại
+ Phương pháp kiểm toán: Nếu phương pháp kiểm toán càng khoa học, chặt chẽ và hiệu quả thì khả năng phát hiện các gian lận, sai sót tăng lên tức là những gian lận, sai sót không phát hiện được sẽ giảm xuống có nghĩa là rủi ro phát hiện giảm và ngược lại
+ Trình độ, kinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghệp của kiểm toán viên Nếu kiểm toán viên có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghiệp tốt thì những gian lận, sai sót trọng yếu dễ bị phát hiện, khả năng không phát hiện ra gian lận, sai sót sẽ giảm tức rủi ro phát hiện sẽ giảm
Câu 8 Trình bày mối quan hệ giữa các loại rủi ro trong kiểm toán? Nếu rủi ro tiềm tàng và kiểm soát đều cao thì tại sao phải làm nhiều công việc kiểm toán? Có quan điểm cho rằng bất kỳ một doanh nghiệp nào có rủi ro tiềm tàng và kiểm soát đều cao thì chắc chắn rủi ro kiểm toán sẽ cao Nói như vậy có đúng không tại sao?
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát tồn tại độc lập nằm ngay trong hoạt động của đơn vị được kiểm toán Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát không phụ thuộc vào công việc kiểm toán có tiến hành hay không Còn rủi ro phát hiện hoàn toàn phụ thuộc vào công việc kiểm toán Có rủi ro phát hiện là có rủi ro kiểm toán, tuy nhiên, giữa mức độ của rủi ro phát hiện xảy ra và mức độ của rủi ro kiểm toán là hoàn toàn không giống nhau, nó còn phụ thuộc vào rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát theo công thức:
RRKT = RRTT x RRKS x RRPH
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát quyết định đến khối lượng, quy mô, phạm vi chi phí, biên chế và thời gian kiểm toán Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều cao thì kiểm toán viên phải dự kiến rủi ro phát hiện cần phải đạt được là thấp, có nghĩa là trong trường hợp này kiểm toán viên phải làm nhiều công việc kiểm toán với quy mô rộng, khối lượng công việc kiểm toán nhiều, chi phí kiểm toán lớn để phát hiện ra nhiều gian lận sai sót hay những gian lận sai sót không được phát hiện là thấp tức rủi ro phát hiện thấp Mức độ rủi ro phát hiện được kiểm toán viên dự kiến luôn có quan hệ ngược chiều với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Mối quan hệ này được minh họa thông qua ma trận như sau:
RRTT RRKS
Trang 22Cao Thấp nhất Thấp Trung bình
Trung bình Thấp Trung bình Cao
Ma trận minh họa về mối quan hệ giữa các loại rủi ro do kiểm toán viên dự kiến thường được thực hiện ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Tuy nhiên, trong thực tiễn khi thực hành kiểm toán, nếu kiểm toán viên có bằng chứng để điều chỉnh lại rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát thì rủi ro phát hiện cũng được kiểm toán viên điều chỉnh lại
Quan điểm cho rằng bất kỳ một doanh nghiệp nào có rủi ro tiềm tàng và kiểm soát đều cao thì chắc chắn rủi ro kiểm toán sẽ cao Nói như vậy hoàn toàn sai Tại vì: Rủi ro kiểm toán còn phụ thuộc vào rủi ro phát hiện chứ không phải hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều cao mà kiểm toán viên dự kiến và thực hiện kiểm toán với rủi ro phát hiện thấp thì rủi ro kiểm toán không cao
mà luôn nằm trong phạm vi an toàn chấp nhận được
Câu 9 Trình bày mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán? Tại sao những sai phạm trọng yếu có thể chấp nhận được càng tăng lên thì rủi ro kiêm toán càng giảm đi?
Trong một cuộc kiểm toán, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ ngược chiều (tỉ lệ nghịch) tức là nếu mức trọng yếu có thể chấp nhận được càng tăng lên thì rủi ro kiểm toán sẽ càng giảm xuống và ngược lại Bởi vì, khi mức sai sót trọng yếu có thể chấp nhận được càng cao hay nói cách khác những sai phạm
có thể được bỏ qua càng tăng lên khả năng xảy ra rủi ro kiểm toán sẽ giảm xuống Mối quan
hệ này có một ý nghĩa rất quan trọng đối với kiểm toán viên khi lập kế hoạch kiểm toán để nhằm xác định về nội dung, phạm vi, thời gian (lịch trình) của các thủ tục kiểm toán cần áp dụng Chẳng hạn như khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên xác định mức trọng yếu
có thể chấp nhận được là thấp thì rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên, khi đó để giảm rủi ro kiểm toán, trường hợp này kiểm toán viên có thể:
a, Giảm mức độ rủi ro kiểm soát đã được đánh giá bằng cách mở rộng hoặc thực hiện thêm thử nghiệm kiểm soát để chứng minh cho việc giảm rủi ro kiểm soát hoặc
b, Giảm rủi ro phát hiện bằng cách sửa đổi lại nội dung, lịch trình và phạm vi của những thủ tục kiểm tra chi tiết đã dự kiến
Câu 10: Nêu các nhân tố ảnh hưởng và trình bày chiều hướng ảnh hưởng của từng nhân tố đến rủi ro kiểm soát?
- Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện và ngăn chặn được những gian lận sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính Hay rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời
Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào:
- Tính chất mới mẻ và phức tạp của các loại giao dịch Các giao dịch càng mới và càng phức tạp thì rủi ro kiểm soát càng cao và ngược lại
Trang 23- Khối lượng và cường độ của giao dịch Khối lượng giao dịch càng nhiều, cường độ giao dịch càng lớn thì rủi ro kiểm soát càng cao và ngược lại
- Số lượng và chất lượng của hệ thống nhân lực tham gia kiểm soát trong doanh nghiệp
Số lượng nhân lực càng nhiều, chất lượng nhân lực càng cao thì rủi ro kiểm soát càng thấp
và ngược lại
- Tính hiệu lực, hợp lý và hiệu quả của các thủ tụ kiểm soát và trình tự kiểm soát trong doanh nghiệp Nếu các thủ tục và trình tự các thủ tục kiểm soát càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại
+ Tính khoa học, thích hợp và hiệu quả của hệ thông kiểm soát nội bộ như: việc sắp xếp phân công đúng người đúng việc, việc bố trí sử dụng một cách tối ưu các phương tiện, thiết
bị kết hợp với con người trong quá trình kiểm soát càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại
Câu 11: Mức độ rủi ro kiểm soát cao hay thấp ảnh hưởng như thế nào đến khối lượng, phạm vi, thời gian và chi phí của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính?
Mức độ rủi ro kiểm soát cao tức là hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém, khả năng phát hiện, ngăn chặn gian lận, sai sót trong báo cáo tài chính là kém Khi đó, báo cáo tài chính chứa đựng nhiều gian lận, sai sót nên phải thực hiện kiểm toán với khối lượng lớn, thời gian lâu, phạm vi rộng, chi phí nhiều Ngược lại, rủi ro kiểm soát thấp tức hệ thống kiểm soát nội
bộ mạnh, khả năng phát hiện, ngăn chặn gian lận, sai sót trên báo cáo tài chính tốt, báo cáo tài chính chứa đựng ít gian lận, sai sót nên Kiểm toán viên sẽ thực hiện kiểm toán với khối lượng nhỏ, thời gian nhanh, phạm vi hẹp, chi phí ít
Câu 12: Khái niệm trọng yếu và rủi ro kiểm toán? Khi kiểm toán viên nghi ngờ báo cáo tài chính có sai phạm trọng yếu hay khi phát hiện các sai phạm trong yếu công việc tiếp theo mà kiểm toán viên phải làm là gì? Cách thức kiểm toán viên thông báo đến bên thứ 3 như thế nào?
Khái niệm trọng yếu: Trọng yếu trong kiểm toán là một khái niệm chỉ độ lớn, tầm cỡ, bản chất của sai pham (kể cả việc bỏ sót thông tin kinh tế tài chính) hoặc là đơn lẻ hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể, nếu dựa các thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính xác rút ra những kết luận sai lầm Nói cách khác, trọng yếu là độ lớn, bản chất của sại phạm
mà có làm thay đổi quyết định của người sử dụng thông tin
Rủi ro kiểm toán là rủi ro (khả năng) mà kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán vẫn còn có những sai sót trọng yếu Khi kiểm toán viên nghi ngờ báo cáo tài chính có sai phạm trọng yếu xảy ra hai trường hợp:
- Nếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, Kiểm toán viên nghi ngờ báo cáo tài chính
có sai phạm trọng yếu thì Kiểm toán viên phải dự kiến các thủ tục kiểm toán để phát hiện chứng minh hoặc giải toả nghi ngờ này khi bước vào giai đoạn thực hiện kiểm toán
- Nếu trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, Kiểm toán viên nghi ngờ báo cáo tài chính có sai phạm trọng yếu, Kiểm toán viên phải thực hiện ngay các thủ tục kiểm toán để chứng minh hoặc giải toả nghi ngờ
Trang 24Khi phát hiện các sai phạm trọng yếu, công việc tiếp theo của Kiểm toán viên là phải yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi, điều chỉnh theo yêu cầu của Kiểm toán viên (chỉ những sai phạm điều chỉnh được) Những sai phạm liên quan đến pháp luật, với trách nhiệm pháp lý của Kiểm toán viên phải báo cáo với cơ quan pháp luật có liên quan Những sai phạm đã được sửa đổi điều chỉnh theo yêu cầu của Kiêm toán viên sẽ được kiểm toán viên chấp nhận Những sai phạm không được sửa đổi, điều chỉnh sẽ được Kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét phù hợp
- Cách thức kiểm toán viên thông báo kết quả kiểm toán đến bên thứ 3 bằng cách Kiểm toán viên sẽ lập báo cáo kiểm toán thể hiện những ý kiến nhận xét, kết luận của mình để bên thứ 3 và các đối tượng sử dụng thông tin được biết
Câu 13: Thế nào là rủi ro phát hiện? Tại sao trong khâu lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên lại phải dự kiến về mức độ rủi ro phát hiện? Khi nào rủi ro phát hiện chuyển thành rủi ro kiểm toán?
Rủi ro phát hiện là khả năng Kiểm toán viên không phát hiện được các sai phạm (gian lận, sai sót) trọng yếu trong quá trình kiểm toán
Trong khâu lập kế hoạch kiểm toán, Kiểm toán viên phải dự kiến về rủi ro phát hiện vì:
Để xác định độ tin cậy, trung thực của báo cáo tài chính, Kiểm toán viên phải dựa vào mức
độ sai phạm trọng yếu chấp nhận được trong kiểm toán hay rủi ro kiểm toán chấp nhận được Với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là khách quan tồn tại ngay trong doanh nghiệp, trong đơn vị được kiểm toán mà Kiểm toán viên dự kiến, Kiểm toán viên phải dự kiến về mức độ rủi ro phát hiện để thực hiện công việc kiểm toán phí đảm bảo rủi ro trong kiểm toán chấp nhận được với lượng công việc kiểm toán phù hợp, phạm vi kiểm toán vừa phải, chi phí kiểm toán tối ưu Tránh được rủi ro khi toán và sự lãng phí về chi phí, công sức kiểm toán
Rủi ro phát hiện trở thành rủi ro kiểm toán khi:
- Cuộc kiểm toán thực tế xảy ra và
- Kiểm toán viên đưa ra ý kiến không thích hợp về báo cáo tài chính khi báo cáo tài chính còn chứa đựng sai phạm trọng yếu
Rủi ro phát hiện phải được kết hợp với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát của doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán (rủi ro kiểm toán = rủi ro tiềm tàng X rủi ro kiểm soát X rủi
ro phát hiện)
Câu 14: Căn cứ vào đâu để phân biệt được đâu là hành vi gian lận, đâu là hành vi sai sót?
Gian lận và sai sót đều là sai phạm Để phân biệt được Kiểm toán viên phải dựa vào:
- Tính chất của sai phạm: Sai phạm thường xuyên, nhiều lần, cố tình hay ngẫu nhiên Nhiều lần hay một lần Đã được phát hiện và sửa chữa lần nào chưa? Sự tái diễn của sai phạm có hay không?
- Sự thành khẩn và cầu thị của người gây ra: Tích cực tiếp thu, sửa chữa kịp thời hay cố tình bào chữa, nguy biện, bao che, không chịu tiếp thu sửa chữa
Trang 25- Những sai sót thường được người gây ra tiếp thu tích cực, sửa chữa kịp thời với tinh thần cầu thị và không tái diễn Những gian lận thường là sự cố tình, hay tái phạm, cách bào chữa và hoạt động rất tinh vi
Câu 15: Thế nào là rủi ro kiểm soát? Rủi ro kiểm soát có phụ thuộc vào công việc kiểm toán không? Tại sao?
Rủi ro kiểm soát là khả năng hay rủi ro mà hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp được kiểm toán không phát hiện và ngăn chặn được các gian lận, sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính
Rủi ro kiểm soát không phụ thuộc vào công việc kiểm toán Rủi ro kiểm soát luôn tồn tại khách quan ngay trong doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán Dù hệ thống kiểm soát nội bộ
có mạnh, hiệu quả đến đầu những rủi ro kiểm soát là không tránh khỏi do những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Câu 16: Gian lận và sai sót đều có thể là sai phạm trọng yếu đúng hay sai? Tại sao?
Gian lận và sai sót đều có thể là sai phạm trọng yếu là đúng Vì khi gian lận và sai sót xét
cả về định lượng và định tính chúng làm thay đổi quyết định của người sử dụng thông tin được kiểm toán sẽ là trọng yếu
Câu 17: Gian lận thường là những sai phạm trọng yếu còn sai sót thì không Nói như vậy đúng hay sai tại sao?
Nói gian lận thường là những sai phạm trọng yếu còn sai sót thì không là hoàn toàn sai
Vì mọi gian lân và sai sót xét về mặt định lượng (độ lớn) và định tính (bản chất) khi làm thay đổi ý kiến của người sử dụng thông tin sẽ trở thành sai phạm trọng yếu
Câu 18: Nếu trình tự những công việc kiểm toán viên phải làm khi nghi ngờ báo cáo tài chính có gian lận sai sót? Khi Kiểm toán viên phát hiện được gian lận, sai sót trong báo cáo tài chính?
Khi Kiểm toán viên nghi ngờ báo cáo tài chính có gian lận, sai sót:
- Đối với khâu lập kế hoạch kiểm toán: Khi Kiểm toán viên nghi ngờ báo cáo tài chính
có gian lận, sai sót, Kiểm toán viên phải dự kiến các thủ tục kiểm toán cần thiết để phát hiện các gian lận, sai sót này nhằm chứng minh hoặc giải toả nghi ngờ
- Đối với khâu thực hiện kiểm toán: Khi thực hiện kiểm toán, Kiểm toán viên nghi ngờ báo cáo tài chính có gian lận, sai sót, thì phải thực hiện ngay các thủ tục kiểm toán để tìm bằng chứng chứng minh hoặc giải toả nghi ngờ
- Khi Kiểm toán viên đã phát hiện được các gian lận, sai sót trong báo cáo tài chính công việc thứ nhất là Kiểm toán viên phải đánh giá ảnh hưởng của gian lận, sai sót đến báo cáo tài chính Nếu gian lận sai sót trọng yếu Kiểm toán viên phải báo cáo với chủ doanh nghiệp được kiểm toán và yêu cầu sửa đổi điều chỉnh theo ý kiến của Kiểm toán viên Nếu không trọng yếu Kiểm toán viên phải đánh giá sự ảnh hưởng tổng hợp hay tính gộp đối với các gian lận, sai sót khác đã được phát hiện để xem có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính không? Về mặt lý thuyết, Kiểm toán viên chỉ yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi những gian lận, sai sót ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính nhưng về mặt thực tế, mọi gian lận sai sót khi được phát hiện (kể cả ảnh hưởng trọng yếu hay không trọng yếu) Kiểm toán viên vẫn phải yêu cầu chủ doanh nghiệp sửa đổi để luôn đảm bảo mọi gian lận, sai sót được
Trang 26phát hiện xét riêng lẻ hay tổng hợp, tính gộp đều không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính hay rủi ro luôn nằm trong phạm vi cho phép, kết quả kiểm toán luôn đảm bảo độ tin cậy
Câu 19: Khi đơn vị được kiểm toán áp dụng sai nguyên tắc hay phương pháp kế toán nhưng không biết là vô tình hay cố ý, Kiểm toán viên cần làm gì để xác minh hành
vi đó thuộc về gian lận hay sai sót?
Kiểm toán viên phải thực hiện các công việc:
1 Yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi, điều chỉnh lại theo ý kiến của Kiểm toán viên Doanh nghiệp sửa chữa, tiếp thu kịp thời, tích cực sẽ là những căn cứ để Kiểm toán viên đánh giá
là sai sót hơn là gian lận
2 Kiểm tra các sai phạm có tính chất thường xuyên, lặp đi lặp lại hay không? Các sai phạm được chỉ ra và được sửa chữa lần nào chưa? Nếu sai phạm chưa gặp, chưa được sửa chữa lần nào và kết hợp với sự sửa chữa tích cực cầu thị mới có căn cứ kết luận được đó là gian lận hay sai sót
Câu 20: Rủi ro phát hiện là gì? Khi nào rủi ro phát hiện trở thành rủi ro kiểm toán? (Hay mối quan hệ giữa rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán?)
- Rủi ro phát hiện là khả năng mà Kiểm toán viên không phát hiện được các gian lận, sai sót trọng yếu trong quá trình kiểm toán
- Rủi ro phát hiện xảy ra trong quá trình kiểm toán của Kiểm toán viên Còn rủi ro kiểm toán xảy ra sau khi kết thúc cuộc kiểm toán mà Kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét kết luận sai về báo cáo tài chính (nhận xét báo cáo tài chính là trung thực trong khi báo cáo tài chính còn chứa đựng sai phạm trọng yếu)
- Rủi ro phát hiện trở thành rủi ro kiểm toán khi:
+ Thực tế phải có cuộc kiểm toán xảy ra
+ Khi Kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp về báo cáo tài chính + Rủi ro phát hiện phải kết hợp với rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát mới tạo thành rủi ro kiểm toán theo công thức: RRKT = RRTT X RRKS X RRPH
CHƯƠNG 5
CƠ SỞ DẪN LIỆU VÀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN Câu 1: Cơ sở dẫn liệu (CSDL) là gì? Nêu nội dung các yếu tố của CSDL và làm rõ mối quan hệ giữa CSDL và mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC)?
Cơ sở dẫn liệu (của BCTC) là căn cứ của các khoản mục và thông tin trình bày trong BCTC do người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm lập trên cơ sở các chuẩn mực và chế độ
kế toán quy định Các căn cứ này phải được thể hiện rõ ràng hoặc có cơ sở đối với từng chỉ tiêu trong BCTC Cơ sở dẫn liệu là các khẳng định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về về việc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố các thành phần của báo cáo tài
chính và các thuyết minh liên quan trong BCTC
Trang 27Các yếu tố của CSDL bao gồm
1 Có thật:
+ Đối với tài sản phải đảm bảo:
- Sự hiện hữu: Một khoản tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu hay một khoản nợ phải trả được phản ánh trên BCTC của đơn vị tại thời điểm báo cáo là phải thực tế tồn tại tại thời điểm đó Đối với một số khoản mục tài sản, sự hiện hữu bao gồm cả các yêu cầu về chất lượng của các tài sản được phản ánh
- Quyền và nghĩa vụ: Hầu hết các khoản tài sản trên BCTC phải thuộc sở hữu của đơn vị, với một số khoản tài sản nếu không thuộc quyền sở hữu của đơn vị thì chúng chỉ được phản ánh trên báo cáo tài chính khi đơn vị có quyền kiểm soát lâu dài với các tài sản này và phải đáp ứng yêu cầu của các chuẩn mực kế toán có liên quan Đối với các khoản công nợ được phản ánh trên các BCTC thì đơn vị đó thực tế đang tồn tại hợp pháp, hợp lệ và đang có nghĩa
vụ phải thanh toán thực tế đối với các khoản nợ này
+ Đối với nghiệp vụ kinh tế:
- Sự phát sinh: Một sự kiện hay một nghiệp vụ kinh tế đã được ghi chép vào hệ thống sổ
kế toán của đơn vị và được phản ánh vào BCTC thì phải thực sự phát sinh, phải được phê chuẩn và có liên quan đến thời kỳ báo cáo
- Sự phê chuẩn: nghiệp vụ kinh tế phải thực tế phát sinh và phải được phê chuẩn bởi những người có thẩm quyền
Nghiệp vụ thực tế phải thực tế phát sinh và phải được cho phép
2 Sự tính toán, đánh giá (và phân bổ) Bao gồm một số khía cạnh sau:
Phương pháp Tính toán và đánh giá phải được chấp nhận phổ biến và đảm bảo sự nhất quán
Sự tính toán (Tính chính xác): Các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế khi ghi nhận phải được ghi nhận đúng giá trị của nó Các số liệu và phép toán khi thực hiện phải đảm bảo tính toán chính xác về mặt toán học và không có sai sót
Sự đánh giá (và phân bổ): Một khoản tài sản, công nợ, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí phải được đánh giá, ghi chép theo giá trị thích hợp và những nguyên tắc qui định thống nhất Phương pháp phải được thừa nhận, nhất quán trên cơ sở nguyên tắc và phương pháp
kế toán, các chuẩn mực kế toán hiệu lực hoặc được chấp nhận phổ biến Đồng thời những điều chỉnh liên quan đến đánh giá hoặc phân bổ đã được ghi nhận phù hợp
3 Sự phân loại và hạch toán Bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau:
Sự đầy đủ: Toàn bộ tài sản, các khoản nợ, các khoản doanh thu, chi phí, các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra và có liên quan đến kỳ báo cáo phải được ghi chép đầy đủ trong hệ thống
sổ kế toán của đơn vị và phải được báo cáo đầy đủ trong hệ thống BCTC
Tính kịp thời: Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải được ghi chép, thu nhận một cách kịp thời, đảm bảo tính công khai, minh bạch
Tính đúng đắn (Hạch toán đúng đắn): Các khoản mục tài sản, công nợ, nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản chi phí, doanh thu phải được phân loại và hạch toán kế toán một đúng đắn theo yêu cầu của các chuẩn mực và chế độ kế toán Các khoản mục này cũng phải được ghi