TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH – KTNN VI THỊ THU THOẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN CÔNG NGHỆ TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BẮC NINH KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
VI THỊ THU THOẢ
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN CÔNG NGHỆ TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BẮC NINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học Th.s: LƯU THỊ UYÊN
HÀ NỘI – 2010
Trang 2MỤC LỤC Trang Phân 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
1.1Chương trình THPT môn Công nghệ
1.1.1.Tóm tắt chương trình Công nghệ THPT
1.1.2.Thực hiện kế hoạch giáo dục môn Công nghệ
1.1.3.Sử dụng thiết bị giáo dục dạy thực hành
1.1.4.Đổi mới phương pháp dạy học
1.2.Chuẩn trình độ giáo viên Công nghệ THPT
1.2.1Hệ thống các trường, cơ sở đào tạo giáo viên Công nghệ
THPT
1.2.2 Chuẩn trình độ giáo viên môn Công nghệ THPT
1.3 Những nghiên cứu phản ánh thực trạng dạy và học môn
Công nghệ ở trường THPT
Chương 2: Đối tượng - Nội dung – Phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh
3.2 Thực trạng dạy và học môn học
3.2.1 Đội ngũ giáo viên
Trang 33.2.1.1 Trường THPT Yên Phong số 1
Trang 4Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường THPT Yên Phong I, trường THPT Quế Võ I, trường THPT Quế Võ II, trường THPT Lí Nhân Tông, trường THPT Lí Thái Tổ-
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Tôi xin cảm ơn cô giáo Lưu Thị Uyên - người đã trực tiếp hướng dẫn
để tôi hoàn thành khoá luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên, các em học sinh đã
hỗ trợ tôi để có được thành công trong khoá luận này
Hà Nội, ngày tháng năm 2010 Sinh viên
Vi Thị Thu Thỏa
Trang 5Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đề tài “Khảo sát thực trạng dạy và học môn Công nghệ ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh” là kết quả mà tôi đã trực tiếp nghiên cứu tìm hiểu qua hai đợt thực tập Trong quá trình nghiên cứu tôi có tham khảo các bài viết của một số tác giả, tuy nhiên đó chỉ
là cơ sở để tôi rút ra những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình
Đây là kết quả của riêng cá nhân tôi, hoàn toàn không trùng với kết quả của các tác giả khác Những điều tôi vừa nói trên hoàn toàn đúng sự thật
Sinh viên
Vi Thị Thu Thoả
Trang 6Phần 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời đại của công nghệ, hội nhập và phát triển, nhân loại đều hướng đến chân trời tri thức mà hạt nhân là giáo dục Thước đo quan trọng cho năng lực sáng tạo của mỗi người trong nền kinh tế tri thức chính là tốc
độ tư duy, khả năng biến đổi thông tin thành kiến thức, và từ kiến thức tạo ra giá trị “Trong xu thế đó, sản phẩm đào tạo phải là những con người năng động, sáng tạo, có khả năng học thường xuyên, học suốt đời nhằm thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và yêu cầu thị trường lao động.” [ 5 ]
Muốn vậy, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới giáo dục – đào tạo, trong đó đổi mới giáo dục phổ thông và giáo dục ở trung học phổ thông nói riêng theo
xu thế 4 trụ cột của Giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO đề xướng “ Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để khẳng định mình” là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế công nghiêp, kinh tế tri thức
và xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ trong những năm đầu của thế kỉ XXI
Để đạt được mục tiêu đổi mới giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục hướng đến chuẩn tiên tiến chúng ta đã thiết kế các chương trình dạy học các bậc phổ thông theo mô hình giảng dạy phối hợp kiến thức cơ bản và kiến thức ứng dụng như các nước tiên tiến Ở trung học phổ thông, đã có môn Công nghệ - một trong các môn học thuộc khối kiến thức ứng dụng Nội hàm của môn học này rất rộng bao gồm cả Kinh tế, Kỹ thuật Nông nghiệp, Công nghệ và Kỹ thuật Công nghiệp, nhằm giúp học sinh nhận thức được các kiến thức khoa học cơ bản là thực tế và hữu ích cho cuộc sống hàng
Trang 7ngày; Cung cấp cho các em cơ hội thực hành các ngành nghề để tự khám phá khả năng, sở thích và định hướng nghề nghiệp Vai trò quan trọng của môn Công nghệ rõ ràng không thể phủ nhận
Tuy vậy, môn Công nghệ ở trung học phổ thông hiện nay đang được phần lớn học sinh học một cách miễn cưỡng và xem đó là “môn phụ” Giáo viên Công nghệ cũng dần mất đi sự yêu thích trong giảng dạy Và thực tế, nhiều giáo viên Công nghệ cũng dần có khái niệm "lên lớp cho đủ giờ"
Tại Bắc Ninh - vùng đất giàu truyền thống hiếu học, một trong những địa phương đi đầu trong công cuộc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người dạy và học, môn Công nghệ được giảng dạy thế nào? Học sinh học ra sao? Những nhân tố nào chi phối hiệu quả dạy và học môn Công nghệ?
Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên, chúng tôi đã chọn đề tài “ Khảo sát thực trạng dạy và học môn Công nghệ ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh”
1.2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Thực trạng dạy và học môn Công nghệ ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh
- Các nhân tố chi phối đến quá trình dạy và học môn Công nghệ
- Giải pháp để nâng cao hiệu quả việc dạy và học môn Công nghệ
Trang 8Phần 2: NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 1 CHƯƠNG TRÌNH THPT MÔN CÔNG NGHỆ [ 3 ]
Chương trình khung do Bộ GDĐT ban hành là cơ sở pháp lí để thực hiện nhiệm vụ môn học, đồng thời là kim chỉ nam cho hoạt động dạy học Môn Công nghệ cũng như tất cả các môn học khác ở phổ thông đều giữ vai trò và vị trí nhất định Nội dung và thời lượng môn học được xây dựng nhằm đạt mục tiêu cao nhất trong việc nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh
Mục tiêu và chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn Công nghệ THPT đã được Bộ GDĐT hướng dẫn trong tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng” đảm bảo việc dạy học, kiểm tra, đánh giá bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng, phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh; không làm quá tải nội dung dạy học; giúp học sinh thuận lợi trong việc tự học, tự kiểm tra, đánh giá để nắm vững kiến thức, kỹ năng
1.1.1 Tóm tắt chương trình Công nghệ trung học phổ thông
1.1.1.1 Chương trình Công nghệ 10: 37 tuần (52 tiết); gồm 2 phần
Phần 1: Nông, lâm, ngư nghiệp : Gồm 3 chương
Chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương
Chương 2:Chăn nuôi, thuỷ sản đại cương
Chương 3: Bảo quản, chế biến nông, lâm, thuỷ sản
Phần 2: Tạo lập doanh nghiệp : Gồm 2 chương
Chương 4: Doanh nghiệp và lựa chọn lĩnh vực kinh doanh
Chương 5: Tổ chức và quản lí doanh nghiệp
1.1.1.2 Chương trình Công nghệ 11: 37 tuần(52 tiết); gồm 3 phần
Trang 9Phần 1: Vẽ kĩ thuật: gồm 2 chương
Chương 1: Vẽ kĩ thuật cơ sở
Chương 2: Vẽ kĩ thuật ứng dụng
Phần 2: Chế tạo cơ khí: gồm 2 chương
Chương 3: Vật liệu cơ khí và công nghệ chế tạo phôi
Chương 4: Công nghệ cắt gọt kim loại và tự động hoá trong chế tạo cơ khí
Phần 3: Động cơ đốt trong: gồm 3 chương
Chương 5: Đại cương về động cơ đốt trong
Chương 6 : Cấu tạo của động cơ đốt trong
Chương 7 : Ứng dụng của động cơ đốt trong
1.1.1 3 Chương trình Công nghệ 12: 37 tuần( 35 tiết); gồm 2 phần
Phần 1: Kĩ thuật điện tử: gồm 4 chương
Chương 1: Linh kiện điện tử
Chương 2: Một số mạch điện tử cơ bản
Chương 3: Một số mạch điện tử điều khiển
Chương 4: Điện tử dân dụng
Phần 2 : Kĩ thuật điện: gồm 3 chương
Chương 5: Mạch điện xoay chiều ba pha
Chương 6: Máy điện ba pha
Chương 7: Mạng điện sản xuất
1.1.2 Thực hiện kế hoạch giáo dục môn Công nghệ
1.1.2.1 Những vấn đề chung
Bộ GDĐT ban hành Khung phân phối chương trình trong đó quy định thời lượng theo các phần, chương, các tiết thực hành, ôn tập và kiểm tra Môn Công nghệ với nội dung kiến thức và tổng số tiết được phân phối
cụ thể cho lớp 10, 11, 12 và được dạy trong 37 tuần, đồng thời giảm bớt một
Trang 10số bài hoặc nội dung của một số bài, Bộ GDĐT chỉ đạo các Sở GDĐT chủ động điều chỉnh thời lượng của các bài cho phù hợp với nội dung
1.1.2.2 Thực hiện tích hợp nội dung các môn học
Bộ GDĐT chỉ đạo thực hiện dạy tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp vào môn Công nghệ, cụ thể:
- Đối với tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường: Căn cứ vào văn bản hướng dẫn của Bộ GDĐT và tài liệu “Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Công nghệ trung học phổ thông” do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành
để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào các nội dung cụ thể của bài học
- Đối với tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, thực hiện theo hướng dẫn của Bộ GDĐT Căn cứ vào tài liệu của Bộ, GV chủ động lựa chọn các nội dung phù hợp với điều kiện địa phương để đưa vào nội dung bài dạy nhưng phải đảm bảo không quá tải đối với học sinh
- Đối với tích hợp Hoạt động giáo dục hướng nghiệp với môn Công nghệ do giáo viên Công nghệ giảng dạy
1.1.2.3 Thực hiện nội dung giáo dục địa phương
Bộ GDĐT có văn bản số 5977/BGDĐT-GDTrH ngày 07/7/2008 hướng dẫn thực hiện các nội dung giáo dục địa phương đối với một số môn học, trong đó có môn Công nghệ và yêu cầu các sở chỉ đạo các trường thực hiện nghiêm túc hướng dẫn này
1.1.3 Sử dụng thiết bị giáo dục, dạy thực hành
Do đặc thù của môn Công nghệ, có nhiều bài thực hành, giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị được Bộ, Sở GDĐT cung cấp, chủ động khai thác các thiết bị đã có của trường, tự sưu tầm, làm thêm các thiết bị dạy học
để giảng dạy Căn cứ điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của trường
Trang 11giáo viên cần khai thác triệt để các thiết bị đã có để dạy đủ các bài thực hành
Trong quá trình giảng dạy phải đảm bảo hình thành cho học sinh những
kỹ năng cần thiết: hiểu, biết được quy trình công nghệ để vận dụng vào thực
tế sản xuất và đời sống Tuỳ theo nội dung cụ thể từng bài với điều kiện trang thiết bị dạy học của trường, vật liệu thực hành có ở địa phương để vận dụng cho phù hợp
Ở những trường không đủ điều kiện để tổ chức học thực hành, giáo viên cần chủ động tổ chức cho học sinh tham quan theo yêu cầu của chương trình Nếu không có đủ điều kiện dạy thực hành, tổ chức tham quan các trường cần báo cáo với Sở GDĐT để tìm phương án thay thế
1.1.4 Đổi mới phương pháp dạy học
Để đảm bảo chất lượng giảng dạy, dạy phù hợp với cách biên soạn sách giáo khoa mới, giáo viên cần chủ động, tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
Trong quá trình vận dụng các hình thức dạy học cần phải thông qua việc
tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, để học sinh tham gia vào quá trình hoạt động nhận thức, tìm tòi, phát hiện những tri thức mới một cách tự giác, tự lực dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Trong quá trình dạy học cần tăng cường tính tự lực của cá nhân học sinh đồng thời chú trọng sự hợp tác, tương tác giữa các cá nhân trong nhóm, lớp nhằm đạt đựơc mục tiêu của bài học
Giáo viên cần tăng cường sử dụng các trang thiết bị hiện đại, máy tính, máy chiếu kết hợp với các tư liệu và phần mềm liên quan để góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy
1.2 CHUẨN TRÌNH ĐỘ GIÁO VIÊN MÔN CÔNG NGHỆ THPT
Trang 121.2.1 Hệ thống các trường, cơ sở đào tạo giáo viên môn công nghệ
THPT
Bộ GD-ĐT cho biết hầu hết các trường ĐH Sư phạm trong cả nước có đào tạo viên môn công nghệ THPT, ngoài ra còn có các Khoa sư phạm của nhiều trường kĩ thuật cũng tham gia đào tạo giáo viên môn Công nghệ như các trường ĐH Bách khoa, các trường ĐH Nông nghiệp, ĐH Công nghiệp,
ĐH Khoa học tự nhiên …
Có trường đào tạo giáo viên dạy chuyên sâu phần Kĩ thuật Công nghiệp ( ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội 2; ĐH Sư phạm Hưng Yên; ĐH Sư phạm ĐH Vinh v.v.), giáo viên dạy chuyên sâu phần Kĩ thuật Nông nghiệp ( Khoa Sư phạm ĐH Nông nghiệp Hà Nội; ĐH Nông nghiệp –
ĐH Thái Nguyên; ĐH Nông lâm TP Hồ Chí Minh v.v ) nhưng cũng có trường đào tạo giáo viên dạy cả 2 nội dung Kĩ thuật nông nghiệp và Kĩ thuật Công nghiệp ( ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội 2; ĐH Nông lâm
TP Hồ Chí Minh v.v.)
Mục tiêu của các cơ sở giáo dục, đào tạo: đào tạo đội ngũ giáo viên Công nghệ THPT cho cả nước, đào tạo giáo viên cho các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, dạy nghề; đào tạo giáo viên Sư phạm Kỹ thuật cho một số trường đại học, cao đẳng sư phạm, cao đẳng và trung cấp nghề v.v phục vụ cho việc phát triển chương trình cải cách giáo dục theo hướng phối hợp giảng dạy và định hướng nghề nghiệp
Giáo viên giảng dạy môn Công nghề, dạy nghề, hướng nghiệp…đã và đang góp phần không nhỏ vào việc trang bị kiến thức khoa học ứng dụng, thực hành và định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT, làm tiền đề cho giáo dục đại học thực hiện tốt việc “Đào tạo theo nhu cầu xã hội”
1.2.2 Chuẩn trình độ giáo viên môn Công nghệ THPT
Trang 13Một trong những yêu cầu của giáo dục đào tạo hiện nay là “ giáo dục đào tạo phải đáp ứng yêu cầu của xã hội” Nghiên cứu xây dựng chuẩn trình
độ giáo viên môn Công nghệ THPT là cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo giáo viên ở các cơ sở giáo dục đào tạo cũng như việc tuyển dụng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên bộ môn này ở trường phổ thông.[ 3 ]
Chuẩn trình độ đào tạo giáo viên Công nghệ THPT là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, kiến thức, kĩ năng
về công nghệ , kĩ năng sư phạm nhằm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đối với giáo viên bộ môn này ở trường THPT [ 3 ]
Nhìn chung, một giáo viên dạy ở trường THPT nói chung cũng như một giáo viên dạy môn Công nghệ THPT nói riêng phải là:
- Nhà giáo tận tâm với người học và việc học
- Nhà giáo cần nắm vững nội dung và phương pháp của môn học do mình phụ trách
- Nhà giáo chịu trách nhiệm quản lí và giám sát việc học của người học
- Nhà giáo tư duy hệ thống về công việc của mình, học tập qua kinh nghiệm
- Nhà giáo là thành viên của cộng đồng học tập
Tuy vậy, theo tác giả Nguyễn Văn Khôi, người đã tham gia biên soạn sách giáo khoa môn Công nghệ ở phổ thông : Môn Công nghệ mặc dù được đưa vào dạy ở các trường phổ thông từ gần một nửa thế kỷ nay nhưng đội ngũ giáo viên dạy môn Công nghệ ở THPT hiện nay vừa thiếu vừa không đồng bộ về trình độ và đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau theo những chương trình không thống nhất Thực tế đó đã ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục, đào tạo
Trang 141.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU PHẢN ÁNH THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN CÔNG NGHỆ Ở THPT
Các công trình nghiên cứu phản ánh thực trạng dạy và học môn Công nghệ ở phổ thông không nhiều, ngoại trừ một số đề tài nghiên cứu của sinh viên một số trường đại học có đào tạo giáo viên dạy Công nghệ Tuy nhiên, các đề tài cũng mới chỉ khảo sát trong phạm vi hẹp và tập trung vào phần Công nghệ nông nghiệp
Trong Hội thảo khoa học trường ĐH Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000, sinh viên Nguyễn Đăng Khôi đã phản ánh thực trạng dạy
và học môn Kỹ thuật nông nghiệp ở 4 trường THPT khu vực ngoại thành
TP Hồ Chí Minh và rút ra kết luận: phần lớn học sinh không hứng thú với môn học này và không ứng dụng vào thực tiễn sản xuất vì việc học tương tự như “ cưỡi ngựa xem hoa” [ 4 ]
Phạm Thị Hiền: Tìm hiểu nhận thức của học sinh THPT về ứng dụng kiến thức môn Công nghệ 10 vào thực tiễn [ 2 ], cũng cho kết quả không mấy khả quan về khả năng ứng dụng kiến thức Nông, Lâm, Ngư nghiệp của học sinh lớp 10 vào thực tiễn, tỷ lệ học sinh nhận thức được khối kiến thức này cần thiết cho đời sống và sản xuất chỉ có 38%
Khuất Thị Ngọc, Đỗ Thị Hải Vân với đề tài “ Nhận thức của học sinh THPT về môn Kĩ thuật nông nghiệp ” nghiên cứu trên 1250 học sinh THPT
ở khu vực nông thôn miền Bắc đã đạt giải Ba Sinh viên nghiên cứu khoa học, năm 2000 Kết quả cho thấy 76 % học sinh nhận thức được môn Kĩ thuật nông nghiệp đã trang bị kiến thức cơ bản nhất về trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản nông sản, tuy vậy vận dụng được kiến thức này vào thực tiễn thì lại khá thấp, chỉ có 21%.[ 6 ]
Mặc dù không có nhiều công trình đi sâu khảo sát thực trạng dạy và học cũng như nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy và
Trang 15học môn Công nghệ cũng như một số môn học vốn không được dùng thi tốt nghiệp phổ thông, thi đại học nhưng lại có quá nhiều bài viết trên các phương tiện truyền thông phản ánh tình trạng phân biệt “môn chính”, “ môn phụ” trong trường phổ thông; trong đó có nhiều quan điểm trái chiều, tuy vậy trong khuôn khổ của tài liệu này chúng tôi chỉ xin trích dẫn một số quan điểm
* Tác giả Trần Quang Đại, giáo viên trường THPT Trần Phú, Đức Thọ, Hà Tĩnh có bài trên báo Vietnamnet [ 10 ] như sau: Một thực tế không
ai phủ nhận được, trong nhà trường phổ thông hiện nay đang diễn ra tình trạng phân biệt “môn chính” và “môn phụ” rất rõ nét, mặc dù không được thừa nhận một cách chính thức Vậy nguyên nhân của tình trạng này là do đâu? Theo ông Trần Quang Đại, có nhiều cách lí giải khác nhau, tuy nhiên,
từ góc độ của một giáo viên, có thể khẳng định chủ yếu là do mối quan hệ cung - cầu, nhu cầu của học sinh, và nhu cầu đó được quyết định bởi nhu cầu
về nhân lực của nền kinh tế - xã hội
Việc nhiều học sinh không học môn GDCD, Công nghệ…nêu ra các lí
do “chương trình không có tính thực tiễn, không ứng dụng trong đời sống, ít thực hành, kém hấp dẫn…” chỉ là ngụy biện Tác giả lập luận rằng: các phương trình bậc hai, bậc ba, toán xác suất, vật lí hạt nhân,… thì có gì là
“gần gũi”, là “ thiết thực”, phương tiện thực hành cũng nghèo nàn nhưng học sinh vẫn chăm chỉ, miệt mài “cày xới” ngày đêm? Vì nó gắn liền với các đại học danh tiếng mà học sinh đang phấn đấu thi đỗ
Ông Trần Quang Đại đã viết: chúng ta thường nói “Thầy nào trò nấy” nhưng cũng nên nghĩ đến tác động theo chiều ngược lại, cũng mạnh mẽ không kém là “Trò nào thầy nấy” Học sinh không học, dẫn đến các thầy cô không thiết tha với việc dạy Học đối phó sẽ sinh ra dạy đối phó, mọi việc của giáo viên vẫn rất bài bản: dạy đúng giờ, đúng chương trình, giáo án đầy
Trang 16đủ và đẹp, thao giảng, dạy bằng giáo án điện tử, vẫn thi giáo viên giỏi, vẫn
có sáng kiến kinh nghiệm… nhưng hầu hết chỉ là đối phó mà thôi
Tuy vậy, Ông Đại cũng cho rằng cái gọi là “nhu cầu của người học” không phải là bản năng tự nhiên, mà do các quan điểm, chính sách, giải pháp giáo dục của người lớn tạo ra Vì vậy, muốn thay đổi tình trạng phân hoá
“môn chính”, “môn phụ” như hiện nay, đòi hỏi quyết tâm lớn, sự đầu tư bài bản, có tính chiến lược, có chiều sâu, sự nỗ lực lớn của các gia đình và toàn
xã hội cũng như bản thân ngành giáo dục
* Về việc học môn Công nghệ của học sinh, Báo Mực Tím online ( www.muctim.com.vn ) - cơ quan của Đoàn TNCS, TP Hồ Chí Minh , số ngày 05/ 11 / 2009 [ 8 ] đã cho biết:
Học sinh quan niệm "môn Công nghệ chỉ là môn phụ", không thi đại học, không thi tốt nghiệp Áp lực về điểm số, áp lực về ki thi tốt nghiệp, thi đại học đẩy học sinh lao vào học những “môn chính” Mặt khác, học sinh cũng đánh giá nội dung môn công nghệ là khá nhàm chán, vì vậy khó tìm được sự yêu thích trong bài học Từ các nguyên nhân trên đẫn đến nhiều giáo viên công nghệ cũng dần có khái niệm "lên lớp cho đủ giờ" [ 8 ]
Và đưa ra kết quả điều tra tại một lớp 11:
- 97% học sinh trong lớp nghĩ rằng môn Công nghệ là môn nhàm chán nhất
- 94% học sinh không thể hiểu nổi từ trước đến nay mình đã cho được gì vào đầu từ môn Công nghệ
- 90% học sinh không thể nhớ nổi tên đầu bài các tiết công nghệ đã học
- 82% học sinh thú nhận đã từng quay sách khi kiểm tra công nghệ
- Nhưng tỉ lệ học sinh trên 6.5 điểm phẩy môn công nghệ thì đạt đến 80%
* Trên Vietnamnet ngày 31/3/2008 [ ], có bài của tác giả Như Trung Bài viết gửi cho ông Nguyễn Văn Khôi, Chủ biên sách Công nghệ lớp 11 cùng các vị trong Ban biên tập và ông Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ
Trang 17Giáo dục & Đào tạo Ông Trung đã viết rằng học sinh lớp 11cũng như thầy
cô giáo dạy môn Công nghệ 11 phản đối quá nhiều về nội dung chương trình Công nghệ 11 Ông Trung đã phân tích cả 3 lĩnh vực:
- Người dạy ( nhiều giáo viên không dạy được một số nội dung trong sách giáo khoa, việc đào tạo không bắt kịp được yêu cầu mà nguyên nhân lại là biên soạn chương trình sách giáo khoa không phù hợp, quá nặng )
- Cơ sở vật chất để dạy môn Công nghệ lớp 11: quá nghèo nàn
- Học sinh: không có khả năng và không thể vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
Câu hỏi ông Trung đặt ra là:“ Tại sao lại bắt các cháu lớp 11 học môn này?”
* Phản hồi bài viết của tác giả Như trung, ông Nguyễn Kinh Đức - một người làm công tác Tư vấn - Định hướng nghề nghiệp - Giới thiệu việc làm đồng thời tham gia giảng dạy tại Trường Trung cấp Nghề và dạy môn Công nghệ cho một trường THPT lại cho biết ông nhận thấy học sinh THPT học môn Công nghệ (hay môn Kỹ thuật trước kia) là cần thiết và quý báu như nhiều môn học khác Bởi lẽ:
Về sách giáo khoa: Các môn học ở bậc học phổ thông được biên soạn
có những chuẩn mực cụ thể và nó là kiến thức cơ bản, mang tính phổ thông
Và hiện nay, sau nhiều lần chỉnh sửa, sách môn Công nghệ đã đáp ứng được điều đó
Nói về kiến thức: ở bậc học phổ thông tất cả các môn học phối hợp, đan kết với nhau nhằm trang bị cho học sinh các kiến thức phổ thông cơ bản nhất
để tạo lập cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, giúp cho học sinh khả năng nhận biết thế giới xung quanh ở một mức độ hợp lý theo độ tuổi Khi hết THPT học sinh đi học chuyên nghiệp sẽ được học tiếp các kiến thức
Trang 18chuyên ngành ở mức độ nâng cao hơn, chuyên sâu hơn trong các trường Cao đẳng, Đại học
Dưới góc độ người làm công tác Tư vấn - Định hướng nghề nghiệp và Giới thiệu việc làm, ông Đức nhận thấy môn Công nghệ(môn Kỹ thuật nói chung) rất có ý nghĩa Học sinh được học qua các dạng công nghệ tiêu biểu, các ứng dụng điển hình của nó thể hiện ở nhiều ngành nghề khác nhau Sau
đó học sinh tự xem mình có hứng thú với loại ngành nghề nào, đam mê với loại công nghệ nào Đồng thời soi lại bản thân xem mình có năng khiếu hay
sở trường, sở đoản ở lĩnh vực đó không Nếu theo đuổi ngành nghề đó có phù hợp với mình không?
Về giáo viên dạy Công nghệ: Người dạy là yếu tố vô cùng quan trọng Qua người thầy, học trò cảm nhận được thế giới công nghệ, phân biệt được các loại ngành nghề Có nhiều loại sản phẩm mà ở đời sống thường nhật trong gia đình vẫn đang sử dụng, ngày ngày trông thấy nay được thầy
cô chỉ ra cho biết "cội nguồn" của nó Xã hội ta hiện nay đang tồn tại cơ cấu lao động không hợp lý Đào tạo không gắn với sử dụng Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động tốn rất nhiều tiền của, công sức để đào tạo lại do
có nhiều lý do nhưng trong đó có việc người lao động xác định sai năng lực
cá nhân, lựa chọn sai ngành nghề Thực tế hiện nay chỉ ra, cần phải phân luồng đào tạo để sắp xếp cơ cấu lao động hợp lý Đó là một việc lớn nhiều ngành nhiều cấp đang làm nhưng có một đội ngũ giáo viên đang âm thầm tham gia làm công việc đó qua mỗi giờ lên lớp
Hiện nay, ở một số ít trường có thể vẫn còn hiện tượng do thiếu giáo viên Công nghệ nên lãnh đạo trường "bắt" ai đó dạy chưa đủ giờ, có kiến thức họ hàng với Công nghệ thì lên dạy Công nghệ Có thể nói rằng chính chúng ta đã xem nhẹ môn này, mặc nhiên coi nó là môn phụ nên dành sự quan tâm cho môn học chưa đúng mức Giáo viên Công nghệ hiện nay còn
Trang 19thiếu và yếu đó là một thực tế Nhưng không phải là không có những thầy cô dạy tốt
* Cũng trong thời điểm đó thì nhà giáo Văn Như Cương [ 11 ] lại kiến nghị bỏ một số môn học, bởi lẽ theo ông chương trình ở bậc THPT được thiết kế qua nhiều môn học trong cùng một thời gian (hàng tuần đều có 13 môn học) làm cho học sinh rất căng thẳng và mệt mỏi, và vì thế việc nẩy sinh ra môn chính, môn phụ là điều không tránh khỏi
Ông cho rằng cần phải có thái độ thực tế hơn để mạnh dạn cắt bỏ chương trình của từng bộ môn và cắt bỏ cả những môn học không cần thiết như Môn Công nghệ, môn Giáo dục quốc phòng và an ninh, hoạt động giáo dục nghề phổ thông, hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 2.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông
1.3.2 Khách thể nghiên cứu
- Giáo viên và học sinh trong dạy và học môn Công nghệ THPT ở 5 trường THPT được chọn nghiên cứu
- Bộ phiếu điều tra, phỏng vấn giáo viên và học sinh
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu
- Thực trạng dạy môn Công nghệ THPT
- Thực trạng học môn Công nghệ THPT
Trang 20- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học môn Công nghệ THPT
2.2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, giáo dục đào tạo của khu vực nghiên cứu
+ Đội ngũ giáo viên dạy môn Công nghệ THPT
- Quy mô
- Trình độ
- Năng lực và đạo đức nghề nghiệp + Cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học môn Công nghệ THPT + Động cơ học tập và hứng thú học tập của học sinh
+ Kết quả học tập của học sinh ( điểm trung bình môn; khả năng vận dụng vào thực tiễn; định hướng nghề nghiệp )
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tổng hợp tài liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh
Thống kê số liệu về lực lượng giáo viên dạy môn Công nghệ của 5 trường THPT khu vực nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp quan sát
Quan sát giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học môn Công nghệ
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn, điều tra
- Xây dựng các phiếu điều tra thu thập dữ liệu từ giáo viên và học sinh theo các chỉ tiêu nghiên cứu; Phỏng vấn trực tiếp giáo viên về tư tưởng, thái
độ, lòng yêu nghề đối với môn học họ được giao đảm nhiệm
Trang 21- Chọn mẫu để điều tra học sinh và thực hiện việc điều tra đến học sinh
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH
Bắc Ninh là một tỉnh có diện tích nhỏ nhất cả nước – 804 km²; Gồm 1 thành phố và 7 huyện thị Dân số thống kê ngày 01/04/2009 có 1.024.151 người, trong đó khu vực nông thôn chiếm 76,5%; thành thị: 23,5% ; Là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Có nhiều làng nghề thủ công truyền thống Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 (giá thực tế) đạt 16.263,6 tỷ đồng, đứng thứ 6 miền Bắc (sau Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Hưng Yên) Cơ cấu nông, lâm thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng - dịch vụ: 34% - 37% - 29% [ 1 ]
Về giáo dục- đào tạọ ngành GD-ĐT Bắc Ninh luôn giữ vững danh hiệu là một trong những tỉnh, thành phố cả nước dẫn đầu về phát triển giáo dục Năm học 2008-2009, được Bộ GD-ĐT tặng Bằng khen, điển hình trên các mặt: Chất lượng giáo dục đại trà ổn định, chất lượng giáo dục mũi nhọn được nâng cao, thực chất và vững chắc; Cơ sở vật chất tiếp tục được đầu tư, trang bị theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá; Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu ở tất cả các bậc học Chỉ tính riêng bậc THPT, tỷ
lệ giáo viên đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ là 98,5% và tỷ lệ giáo viên trên chuẩn 10% Phấn đấu đến 2015 tỷ lệ giáo viên THPT có trình độ sau đại học đạt khoảng 15% đến 18%
Các kỳ thi trong năm học đều diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế với 94,14% học sinh đỗ tốt nghiệp THPT, xếp thứ 5 toàn quốc; Là 1 trong 10 tỉnh, thành phố có điểm thi ĐH cao nhất năm 2009 [ 1 ]
Trang 22Tuy vậy, giáo dục – đào tạo Bắc Ninh vẫn còn một số hạn chế; Trong
đó đặc biệt phải kể đến vấn đề phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS và THPT
3.2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN CÔNG NGHỆ Ở THPT
Do điều kiện về thời gian, chúng tôi không triển khai đề tài được trên diện rộng, trước mắt chọn 5 trường THPT thuộc một số huyện của tỉnh Bắc Ninh để điều tra, nghiên cứu
- Trường THPT Yên Phong số 1 - huyện Yên Phong
- Trường THPT Quế Võ số 1 - huyện Quế Võ
- Trường THPT Quế Võ số 2 - huyện Quế Võ
- Trường THPT Lí Nhân Tông - thành phố Bắc Ninh
- Trường THPT Lí Thái Tổ - huyện Từ Sơn
3.2.1 Qui mô và trình độ đội ngũ giáo viên môn Công nghệ
3.2.1.1 Trường THPT Yên Phong số 1
Trường THPT Yên Phong số 1 - một trong những cơ sở giáo dục uy tín, chất lượng cao, từng nhiều năm đạt danh hiệu Lá cờ đầu khối THPT công lập toàn tỉnh Bắc Ninh
Quy mô học sinh năm học 2009-2010 của trường 54 lớp với 2871 học sinh
Trường hiện có 120 cán bộ, giáo viên thì 100% đã đạt chuẩn trong đó
có 7 Thạc sĩ, 8 giáo viên đang học Cao học Việc học tập nâng chuẩn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông; phấn đấu đạt danh hiệu giáo viên giỏi các cấp đã và đang trở thành phong trào thi đua sôi nổi trong toàn đội ngũ
Những năm qua trường tiếp tục đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận: số giáo viên, học sinh giỏi các cấp; học sinh tốt nghiệp lớp 12 thi đỗ ĐH,CĐ, số
Trang 23học sinh đỗ điểm cao của trường luôn đứng trong Tốp các đơn vị dẫn đầu khối THPT công lập
Trường THPT Yên Phong số 1 đang phấn đấu nâng tầm vị thế, phấn đấu đến năm 2010 đạt chuẩn Quốc gia với tỷ lệ học sinh tốt nghiệp lớp 12 thi đỗ ĐH, CĐ hằng năm chiếm khoảng 50% Trước mắt để chuẩn bị phương pháp giảng dạy bằng giáo án điện tử, trường đã phổ cập Tin học cho 100% cán bộ, giáo viên; nỗ lực đổi mới hiệu quả hơn nữa phương pháp giảng dạy, tăng cường nâng chuẩn đội ngũ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ mới
Kết quả điều tra về đội ngũ giáo viên dạy môn Công nghệ của trường THPT Yên Phong số 1 được trình bày ở bảng 1
Trang 25Bảng 1: ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THAM GIA DẠY MÔN CÔNG NGHỆ TRƯỜNG THPT YÊN PHONG SỐ 1
STT Họ và tên giáo viên Phân môn dạy Năm
công tác
Trình độ/Hệ đào tạo/ Cơ sở đào tạo Dạy kiêm nhiệm
hay dạy chuyên trách
CN Nông nghiệp
CN Công nghiệp
1 Nguyễn Văn Trợ + 18 Cử nhân Sinh học/ ĐH tổng hợp
(Đại học khoa học tự nhiên)
Dạy chuyên trách
2 Ngô Thị Mỹ Linh + 5 Cử nhân SP Kĩ thuật/ ĐH Nông lâm
Thái Nguyên
Dạy chuyên trách
3 Nghiêm Hồng Nhật + 11 Cử nhân SP Kĩ thuật/ ĐH Sư phạm Hà
Nội
Dạy chuyên trách
4 Nguyễn Văn Quy + 13 Cử nhân SP Vật lí/ ĐH Sư phạm Hà Nội
2
Dạy chuyên trách
5 Đàm Thận Dũng + 6 Cử nhân SP Vật lí/ ĐH Sư phạm Hà Nội Dạy kiêm nhiệm
Trang 26Dạy kiêm nhiệm
7 Nguyễn Văn Nhơn + 8 Cử nhân SP Vật lí/ ĐH Sư phạm Hà Nội
2
Dạy kiêm nhiệm
Trang 273.2.1.2 Trường THPT Quế Võ số 1
Sau 44 năm xây dựng và trưởng thành, trường THPT Quế Võ số 1 đã
có biết bao thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh đã trưởng thành, nhiều người trong số họ đã thành danh trong sự nghiệp như ông Nguyễn Thế Thảo - Uỷ viên TW Đảng, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, ông Trần Văn Thúy - Chủ tịch HĐND, Bí thư Huyện ủy Quế Võ
Trong những năm gần đây, nhà trường luôn là đơn vị lá cờ đầu trong phong trào thi đua dạy và học với tỉ lệ thi đỗ tốt nghiệp và thi vào đại học cao đẳng luôn dẫn đầu toàn huyện Quy mô học sinh của trường năm học 2009-2010 là 45 lớp với 1930 học sinh Hiện nhà trường có hơn 100 cán bộ giáo viên đang công tác giảng dạy tại trường với 100% đạt trình độ chuẩn
Đội ngũ giáo viên dạy Công nghệ của trường đượctrình bày ở bảng 2
Trang 28Bảng 2: ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THAM GIA DẠY MÔN CÔNG NGHỆ TRƯỜNG THPT QUẾ VÕ SỐ 1
STT Họ và tên giáo viên Phân môn dạy Năm
công tác
Trình độ/Hệ đào tạo/ Cơ sở đào tạo Dạy kiêm nhiệm
hay dạy chuyên trách
CN Nông nghiệp
CN Công nghiệp
ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Dạy kiêm nhiệm
Dạy kiêm nhiệm
ĐHSP Thái Nguyên
Dạy kiêm nhiệm
ĐHSP Hà Nội
Dạy kiêm nhiệm
Trang 296 Hoàng Ánh Nguyệt + 10 Cử nhân SP Sinh – KTNN
ĐHSP Hà Nội
Dạy kiêm nhiệm
ĐH Quốc Gia
Dạy kiêm nhiệm
ĐHSP Hà Nội 2
Dạy kiêm nhiệm
9 Đinh Văn Tranh + 12 Cử nhân SP Kĩ thuật/ ĐH Sư phạm Hà
Nội Dạy chuyên trách
trách
Trang 303.2.1.3 Trường THPT Quế Võ số 2
Những năm gần đây, nhà trường rất chú trọng đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường chuẩn đội ngũ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ mới
Trong năm học 2009-2010, qui mô học sinh là 34 lớp với 1700 học sinh cùng 85 cán bộ, giáo viên đang công tác giảng dạy tại trường với 100% đạt trình độ chuẩn
Đội ngũ giáo viên giảng dạy Công nghệ của trường được trình bày ở bảng 3
Trang 31Bảng 3: ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THAM GIA DẠY MÔN CÔNG NGHỆ TRƯỜNG THPT QUẾ VÕ SỐ 2
STT Họ và tên giáo viên Phân môn dạy Năm
công tác
Trình độ/Hệ đào tạo/ Cơ sở đào tạo Dạy kiêm nhiệm hay dạy chuyên
trách
CN Nông nghiệp
CN Công nghiệp
1 Nguyễn Văn Hải + 5 Cử nhân SP Kĩ thuật nông nghiệp/ ĐH
Nông nghiệp Hà Nội
Dạy chuyên trách
ĐHSP Thái Nguyên
Dạy kiêm nhiệm
ĐHSP Hà Nội
Dạy kiêm nhiệm
ĐHSP Thái Nguyên
Dạy kiêm nhiệm
5 Ngô Trọng Giang + 5 Cử nhân SP Kĩ thuật/ ĐH Công nghiệp
Thái Nguyên Dạy chuyên trách