1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Đánh giá thực trạng mô hình nuôi cá thương phẩm trên đất một vụ lúa và những giải pháp nâng cao năng suất cá cho mô hình

42 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 326,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hệ thống ao, hồ, sông, ngòi, kênh, rạch dày đặc nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nô

Trang 1

TRƯờng đại học sư phạm hà nội 2

khoa sinh - ktnn

Nguyễn huy hưng

đánh giá thực trạng mô hình nuôi cá thương phẩm trên đất một vụ lúa và những giải pháp nâng cao

năng suất cá cho mô hình

khoá luận tốt nghiệp cử nhân sinh học

hà nội - 2007

Trang 2

mục lục

Trang Lời cảm ơn

Lời cam đoan

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 ý nghĩa của đề tài 2

chương 1: tổng quan tài liệu 1.1 Tình hình nuôi á ruộng ở Việt Nam trong những năm qua 4

1.2 Sự đa dạng của hệ sinh thái nước ngọt 4

1.3 Quan hệ của đàn cá nuôi với các loài sinh vật trong ao 5

1.4 Quan hệ của các nhân tố vô sinh lên sự phát triển của đàn cá 6

1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan, tính cấp thiết của đề tài 6

chương 2: phương pháp nghiên cứu, thời gian và địa điểm nghiên cứu 2.1 Phương pháp nghiên cứu 8

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 9

chương 3: kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Sơ lược vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - xã hội của vùng nghiên cứu 10

3.2 Đặc điểm ao nuôi của mô hình nghiên cứu 11

3.3 Thực trạng nuôi thả cá trên đất một vụ lúa ở các địa điểm nghiên cứu 12

3.4 Hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao năng suất đàn cá 16

3.4.1 Giải pháp chuẩn bị ao nuôi đúng kỹ thuật 16

3.4.2 Giải pháp thả cá giống 17

Trang 3

3.4.3 Giải pháp chủ động nguồn nước 21

3.4.4 Giải pháp phát triển thức ăn tự nhiên 22

3.4.5.Giải pháp bổ sung thức ăn nhân tạo 24

3.4.6 Giải pháp giảm sinh vật gây bệnh, sinh vật gây hại 26

3.4.7 Giải pháp quản lý ao nuôi 27

3.4.8 Giải pháp chủ động phòng trừ dịch bệnh 28

3.4.9 Giải pháp đánh tỉa thả bù 30

chương 4: kết luận và kiến nghị 4.1 Kết luận 32

4.2 Kiến nghị 33

tài liệu tham khảo

phụ lục

Trang 4

lời cảm ơn Trong quá trình thực hiện đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS.GVC Hoàng Nguyễn Bình, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của mình tới thầy

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường ĐHSPHN2, phòng quản lý khoa học, khoa Sinh - KTNN, tổ Bộ môn Động vật học, Ban thư viện đã tạo điều kiện giúp đỡ em

Em xin chân thành cảm ơn các phòng ban của tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Bình Xuyên, xã Thanh Lãng và các chủ hộ nuôi cá đã giúp đỡ quý báu cho em trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè đã đóng góp ý kiến, nhận xét cho đề tài của em

Cuối cùng con xin được cảm ơn cha mẹ đã dành cho con những gì tốt đẹp nhất, thân thương nhất, đã tiếp thêm cho con nghị lực và sức mạnh để em được như ngày hôm nay

Xin chúc các thầy cô, bố mẹ và các bạn sức khỏe, thành công và hạnh phúc

Hà Nội, tháng 05 năm 2007 Người thực hiện

Sinh viên: Nguyễn Huy Hưng

Trang 5

lêi cam ®oan T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng m×nh C¸c sè liÖu kÕt qu¶ trong kho¸ luËn lµ trung thùc, ch­a tõng ®­îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c

T¸c gi¶

NguyÔn Huy H­ng

Trang 6

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một nước nông nghiệp, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hệ thống ao, hồ, sông, ngòi, kênh, rạch dày đặc nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp; đặc biệt là nghề nuôi cá nước ngọt

Cá là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thịt cá có nhiều Prôtêin, Vitamin, lượng Lipít ít, đặc biệt có nhiều axit amin quan trọng Ăn cá có tác dụng tốt cho não, giảm nguy cơ mắc bệnh về tim mạch, đột quị, kích thích tiêu hoá và tạo cảm giác ngon miệng Vậy nên nhu cầu về nguồn thực phẩm này trong nhân dân là rất lớn

Từ xa xưa, con người đã biết đánh bắt, nuôi thả cá để cung cấp nguồn thực phẩm cho mình Càng ngày, nghề nuôi cá đặc biệt là nghề nuôi cá nước ngọt càng trở thành nghề nuôi trồng thuỷ sản mũi nhọn, đầy tiềm năng bởi hiệu quả kinh tế

mà nó mang lại Nhưng vấn đề đặt ra là: nuôi cá gì, nuôi như thế nào, nhằm phát huy hiệu quả của ngành thuỷ sản đầy tiềm năng này Đó là những câu hỏi lớn mà con người liên tục phải tìm cách trả lời

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc là một trong nhiều vùng trũng của đồng bằng Bắc Bộ Xã có diện tích

ao, hồ và vùng trồng lúa chiêm trũng lớn ở các diện tích trồng lúa chiêm trũng này thường chỉ trồng được một vụ lúa (vụ chiêm xuân) Sau đó, do mưa nhiều nước dâng cao nên vụ mùa ngập úng, đầu tư lớn song sản lượng thu được bấp bênh nên hình thành chủ trương “cấy một vụ chiêm, nuôi một vụ cá” Theo dự án

773 của thủ tướng chính phủ, nhà nước cho phép chuyển những diện tích ruộng trũng cấy lúa hiệu quả thấp sang nuôi thuỷ sản [6] Hưởng ứng chủ trương đó xã tiến hành cho đắp bờ nuôi thả cá tạo nên mô hình một vụ cá, một vụ lúa vừa bổ trợ cho nhau, vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 7

Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực trạng sản xuất ở mô hình này chúng tôi thấy ở

đây hình thức nuôi thả cá còn mang tính chất tự phát, truyền thống, chưa ứng dụng nhiều khoa học kỹ thuật, chưa nắm rõ kỹ thuật chăm sóc phòng bệnh cho cá nói riêng và chưa nắm vững kĩ thuật nuôi cá nói chung Nên năng suất cá và hiệu quả kinh tế còn thấp và không ổn định, chưa xứng đáng với tiềm năng kinh tế của mô hình

Từ những lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng mô hình nuôi cá trên đất một vụ lúa và những giải pháp nhằm nâng cao năng suất cá cho mô hình”

2 Mục đích của đề tài

Đề tài của tôi nghiên cứu nhằm giải quyết các mục tiêu sau:

1 Tìm hiểu vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội của vùng nghiên cứu để đánh giá tiềm năng nghề nuôi cá trên đất một vụ lúa của vùng

2 Tìm hiểu thực trạng của nghề nuôi cá trên đất một vụ lúa, qua đó đánh giá những tồn tại và hạn chế của thực trạng nuôi thả hiện nay

3 Đề xuất hệ thống các giải pháp để nâng cao năng suất cá cho mô hình,

đồng thời tận dụng và giải quyết việc làm cho nguồn lao động nhàn rỗi của địa phương Từ đó tận dụng tối đa nguồn lợi tự nhiên, tận dụng tiềm năng kinh tế của vùng để phát triển và tăng thu nhập cho các hộ nuôi cá trên đất một vụ lúa

3 ý nghĩa của đề tài

Sự thành công của đề tài mở ra một hướng mới trong nghề nuôi cá trên đất một vụ lúa ở địa điểm nghiên cứu Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo để các

hộ nuôi cá ứng dụng, nhằm chuyển đổi hình thức nuôi thả từ chỗ còn nhiều tồn tại, hạn chế sang hình thức nuôi thả ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất

là ứng dụng các kiến thức sinh học và sinh thái học, qua đó tận dụng nguồn lợi tự nhiên, giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho người nuôi cá

Trang 8

Ngoài ra các kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể được sử dụng làm tài liệu sinh học thực tiễn khi giảng dạy bộ môn sinh học, tìm hiểu tự nhiên cho các cấp học phổ thông, cũng như ở các trường Cao đẳng hoặc Đại học có ngành thuỷ sản

Phạm vi ứng dụng của đề tài áp dụng cho các hộ nuôi cá trên đất ruộng ở Bình Xuyên nói riêng và cho cả nước nói chung Đồng thời còn có thể ứng dụng, tham khảo cho các mô hình nuôi cá ao, hồ, lồng, bè

Trang 9

Chương 1 TổNG QUAN TàI LIệU 1.1 Tình hình nuôi cá ruộng ở việt nam trong những năm qua

Xuất phát từ điều kiện thiên nhiên thuận lợi của nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa, giờ nắng hằng năm lớn Diện tích ruộng cấy lúa nhiều, trong

đó có tới 500.000ha ruộng có thể sử dụng nuôi cá kết hợp Vậy nên cùng với các loại hình nuôi cá nước ngọt, nuôi cá ruộng ở Việt Nam phát triển khá sớm, từ những năm 1960 đã phát triển và tạo thành phong trào trên nhiều địa phương ở các tỉnh phía Bắc Qua đó cũng tạo ra sản lượng cá đáng kể, góp phần nâng cao sản lương của ngành nuôi trồng thuỷ sản của nước ta [6]

Tuy nhiên, từ năm 1986 trở lại đây do chịu tác động của một số cơ chế, chính sách phát triển kinh tế mới nói chung và trong nông nghiệp nói riêng, cùng với những tồn tại của ngành thuỷ sản trong lĩnh vực này như: chưa xác định được mô hình nuôi cá ruộng ở từng vùng địa lí thích hợp, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa thuỷ nông, trồng lúa và nuôi cá…làm cho phong trào nuôi cá ruộng ở nước ta giảm sút, chậm phát triển [6]

1.2 sự đa dạng của hệ sinh thái nước ngọt

Ao, hồ, đầm, ruộng là một hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh và bền vững Các loài sinh vật trong hệ sinh thái này rất đa dạng và phong phú, chúng có quan

hệ gắn bó và thống nhất trong quá trình chuyển hoá vật chất và năng lượng của hệ sinh thái

Các loài như tảo, thực vật phù du, thực vật thuỷ sinh và một số vi khuẩn tự dưỡng là nhóm sinh vật sản xuất Chúng sẽ sử dụng CO2 , H2O, ánh sáng và một

số chất khoáng để tổng hợp nên hợp chất hữu cơ, giải phóng O2 cung cấp cho các sinh vật khác trong hệ sinh thái Vì vậy, có thể nói nhóm sinh vật này đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sinh khối của hệ sinh thái trong ao

Bên cạnh đó là các loài sinh vật tiêu thụ gồm nhiều bậc khác nhau như: động vật phù du, nhuyễn thể, giáp xác, ấu trùng chân khớp, các loài cá… Chúng sẽ sử dụng các chất hữu cơ và O2 do sinh vật sản xuất tạo ra, hoặc sử dụng các chất hữu

Trang 10

cơ lắng đọng trong ao, bằng cách ăn trực tiếp các sinh vật sản xuất hoặc ăn gián tiếp qua các sinh vật tiêu thụ bậc thấp

Cuối cùng là nhóm sinh vật phân giải gồm nhiều loại vi sinh vật, chủ yếu là

vi khuẩn Chúng phân huỷ các chất hữu cơ trong ao, hồ và các sinh vật khác bị chết đi thành những chất vô cơ, để khép kín chu trình chuyển hoá vật chất và năng lượng

Các nhóm sinh vật này có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau trong quá trình chuyển hoá vật chất và năng lượng, tạo thành các chuỗi và lưới thức ăn trong

hệ sinh thái [5]

1.3 Quan hệ của đàn cá nuôi với các loài sinh vật trong ao

Cá nuôi là loài sinh vật tiêu thụ sống trong hệ sinh thái nước ngọt nên có quan hệ mật thiết với các sinh vật sống trong ao, đặc biệt là các sinh vật trong chuỗi và lưới thức ăn mà cá sử dụng Nên sự sinh trưởng và phát triển của đàn cá phụ thuộc rất lớn vào các loài sinh vật sống trong ao

Các loài sinh vật như tảo, thực vật phù du, thực vật thuỷ sinh, động vật phù du, giáp xác, nhuyễn thể là thức ăn ưa thích của nhiều loài cá Các loài sinh vật này

được gọi là sinh vật thức ăn của cá Sự phát triển phong phú của các loài sinh vật thức ăn sẽ đảm bảo cho quần thể cá có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng

và phát triển Trái lại, nếu các loài sinh vật thức ăn nghèo nàn thì cá sẽ không đảm bảo nguồn thức ăn, từ đó sẽ giảm năng suất và sản lượng cá nuôi

Bên cạnh các sinh vật thức ăn, trong hệ sinh thái còn có nhiều loài vi sinh vật gây bệnh cho cá, trong đó chủ yếu là vi khuẩn Chúng gây các bệnh như thối mang, xuất huyết, mỏ neo, viêm ruột Ngoài ra còn có các sinh vật gây hại khác như cá tạp (cá rô, cá diếc, cá mương, cá miễn ) và cá dữ (cá quả, cá chim trắng, cá nheo ) Các loài cá tạp sẽ cạnh tranh với cá nuôi chủ yếu về thức ăn và nơi phân bố, các loài cá dữ là kẻ thù trực tiếp tiêu diệt cá con Do đó trong nuôi thả cá cần chú ý tiêu diệt và làm giảm các sinh vật gây hại, gây bệnh để cá sinh trưởng

và phát triển bình thường

Trang 11

Mặt khác, bản thân trong đàn cá nuôi bao gồm nhiều loài, mỗi loài có những tập tính sinh thái và đặc điểm riêng về loại thức ăn, tầng phân bố được gọi là ổ sinh thái khác nhau Các loài cá có cùng ổ sinh thái thì cạnh tranh mạnh với nhau, ngược lại thì cạnh tranh ít hoặc không cạnh tranh; mặt khác có thể bổ trợ cho nhau Do đó, khi nuôi cá ta cũng cần chú ý đến việc chọn đối tượng thả, thả ghép nhiều loài cá, tỉ lệ thả ghép hợp lí để tận dụng tối đa nguồn thức ăn trong ao, các tầng nước, giảp sự cạnh tranh , tăng tính bổ trợ mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu [5]

1.4 Quan hệ của các nhân tố vô sinh lên sự phát triển của đàn cá

Cá sống trong môi trường nước nên mọi yếu tố của môi trường nước và sự biến động của các yếu tố này đều ảnh hưởng đến lượng sinh vật thức ăn, sức khỏe

và sự sinh trưởng, phát triển của đàn cá Các yếu tố vô sinh ảnh hưởng đến đàn cá gồm: ánh sáng, nhiệt độ, pH, hàm lượng O2 hoà tan (BOD), màu, độ đục, mùi, mức độ ô nhiễm của nguồn nước, trữ lượng nước trong ao Vì vậy, người chăn thả cá phải hết sức chú ý điều chỉnh các yếu tố này để tạo ra môi trường sinh thái phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của đàn cá [5]

1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan, tính cấp thiết của đề tài Trong các giáo trình, sách của các trường thuỷ sản, Viện thuỷ sản đã đề cập

đến kỹ thuật nuôi cá ao, hồ, lồng, bè, sông, suối trong đó có cả kỹ thuật nuôi cá ruộng Ngoài ra, ở các Sở thuỷ sản, Trung tâm khuyến nông tỉnh, thành phố hàng năm cũng có những đề cập và phổ biến các kỹ thuật nuôi cá này Tuy nhiên, những đề cập và phổ biến này chỉ mang tính chất định hướng, chưa đi sâu nghiên cứu triển khai theo một mô hình cụ thể nào, chưa đề ra được các giải pháp tối ưu cho từng mô hình

Trong cả nước và trên thế giới cũng có một số đề tài đã nghiên cứu về mô hình cá ruộng Nhưng những nghiên cứu này vẫn chưa cụ thể, chưa sát thực tế, chưa ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật và chưa đưa được các giải pháp cụ thể cho tình hình thực tế của mô hình, nên tôi thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa, nhằm mang lại hiệu quả thiết thực cho các hộ nuôi cá theo mô hình này ở xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 12

ở địa phương tôi nghiên cứu thì chưa có đề tài nào nghiên cứu về kỹ thuật nuôi cá ruộng, nên các hộ nuôi cá ở đây còn chưa được trang bị kiến thức, kỹ thuật và những giải pháp để nâng cao năng suất đàn cá Do đó, hình thức nuôi thả vẫn còn nhiều hạn chế, năng suất và hiệu quả kinh tế còn thấp và chưa ổn định, không xứng đáng với tiềm năng của vùng Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần nâng cao năng suất đàn cá, tăng thu nhập cho các hộ nuôi cá của địa phương

Trang 13

chương 2 phương pháp nghiên cứu, thời gian

và địa điểm nghiên cứu 2.1 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

* Điều tra, ghi chép: theo phương pháp của Nguyễn Thanh Bình [1]

Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu dựa vào kết quả thống kê của xã, huyện, tỉnh qua đó đánh giá được khó khăn, thuận lợi và tiềm năng của vùng

Điều tra tình hình quản lí chăm sóc của các hộ nuôi cá trên đất một vụ lúa, qua đó tìm hiểu những hạn chế và hiệu quả kinh tế đã đạt được từ đó đề ra những giải pháp để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên

Ghi chép các kết quả điều tra, khảo sát, phỏng vấn, kết quả thí nghiệm

* Khảo sát thực địa: theo phương pháp của Trần Thị Hà [2]

Thu thập, khảo sát đánh bắt thử để theo dõi tình hình dịch bệnh của đàn cá Kiểm tra cá mắc bệnh bằng mắt thường nhờ quan sát trên da, trên mang; mổ cá quan sát nồi tạng, ngoài ra quan sát hiện tượng cá bơi lội ngứa ngáy, lờ đờ

Xác định hàm lượng O2 hoà tan trong ao qua hiện tượng cá nổi đầu vào sáng sớm và buổi tối mùa xuân hè

Khảo sát các địa điểm nghiên cứu để đánh giá thực trạng nuôi thả cá như: thực trạng chăm sóc, quản lí ao nuôi và những hạn chế của các hộ nuôi cá như việc dùng phân chuồng tươi ,vệ sinh ao nuôi

*Phương pháp thu mẫu: theo phương pháp của Nguyễn Thanh Bình[1] Mẫu cần thu ở cả 4 góc và ở một điểm giữa ao, thu ở cả 3 tầng nước và cần thu mẫu vào 2 thời điểm trong ngày: vào sáng sớm trước khi mặt trời mọc và vào khoảng 14 - 16 giờ cùng ngày, mới đánh giá được chính xác

* Trong phòng làm việc và phòng thí nghiệm

Tiến hành phân tích mẫu để xác định các yếu tố thuỷ hoá như: xác định pH của ao nuôi bằng giấy quỳ, quan sát, so sánh, ngửi để đánh giá màu nước, mùi nước mức độ ô nhiễm của nước

Trang 14

Thu thập các thông tin về kỹ thuật nuôi cá như sách, báo, giáo trình, internet

Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê trên phần mềm Excel

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Trang 15

chương 3 kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Sơ lược vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - xã hội của vùng nghiên cứu

* Sơ lược điều kiện tự nhiên

Xã nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, mang đậm nét khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều, kiểu thời tiết bốn mùa Địa hình của xã tương đối bằng phẳng, không có đồi núi, có diện tích vùng trồng lúa chiêm trũng lớn và nhiều ao, hồ nên có điều kiện phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt Lượng mưa hàng năm khá cao, xấp xỉ 1670 mm và tập trung chủ yếu từ tháng V

đến tháng X Nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao, xấp xỉ 23.6 0C, là điều kiện thích hợp cho sự phát triển của cá Tuy nhiên sự giao động nhiệt độ giữa hai mùa khá rõ rệt, mùa đông nhiệt độ thấp nhất là 10- 15 0C, số ngày dưới 10 0C ít , mùa

hè nhiệt độ cao nhất trong năm tới 35 - 38 0C, các ngày trên 38 0C tương đối hiếm Khí hậu đặc trưng kiểu khí hậu miền Bắc gồm bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Gió thổi theo hai mùa rõ rệt gió Đông Nam thổi từ tháng IV đến tháng IX, gió

Đông Bắc thổi từ tháng X đến tháng III năm sau [11]

Bảng 1 Bảng nhiệt độ và lượng mưa theo trung tâm thuỷ văn Vĩnh Phúc

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB/Tháng Nhiệt

6 46 10 13.4

Trang 16

* Điều kiện dân cư - xã hội

Toàn bộ xã có dân số khoảng 13502 người (năm 2006), diện tích toàn xã là 948,21 ha, diện tích vùng trồng lúa chiêm trũng 280 ha, trong đó diện tích đất luân canh 1 vụ cá 1 vụ lúa là 180 ha, diện tích chuyên nuôi trồng thuỷ sản là 30

ha Tỷ lệ lao động làm nông nghiệp khoảng 70%, còn lại là làm các nghề khác như nghề mộc, dịch vụ, công nghiệp [12]

Kết luận nhìn chung vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư xã hội khá thuận lợi để phát triển nghề nông nghiệp, đặc biệt nghề nuôi cá trên đất một vụ lúa vùng chiêm trũng Có thể nói tiềm năng phát triển nghề nuôi cá ở xã là rất lớn

3.2 Đặc điểm ao nuôi của mô hình nghiên cứu

Phần lớn các ao này đều có diện tích khá lớn từ hàng nghìn đến hàng vạn m2 Trước đây các diện tích này chỉ trồng một vụ lúa (vụ chiêm xuân) Sau đó, mưa nhiều nước dâng cao không trồng lúa được nên bị bỏ hoang, khoảng 20 năm trở lại đây xã tiến hành đắp bờ cho bà con đấu thầu nuôi thả cá tạo nên mô hình một

vụ lúa, một vụ cá, thời gian xã cho thầu 1 chu kỳ là từ 3 đến 5 năm

Các ao nuôi này thường có đặc điểm chung là đều gồm hai phần:

- Một phần gọi là lõm (thùng đấu) được hình thành do việc lấy đất đóng gạch ngói, làm công trình xây dựng hay tự đào để nuôi cá Phần lõm này thường chỉ chiếm diện tích nhỏ từ 1/10 - 1/5 diện tích ao nuôi và ngập nước quanh năm, dùng

để thả và nuôi cá trong thời gian cấy lúa

- Phần còn lại chiếm diện tích lớn được dùng để trồng một vụ lúa chiêm xuân Sau khi thu hoạch lúa thì tháo nước tràn vào để thả cá, hình thành ao nuôi hoàn chỉnh Do đó trong ao có một lượng lớn gốc lúa là chất mùn hữu cơ quan trọng làm giàu nguồn hữu cơ và nguồn thức ăn cho cá

Độ sâu và chế độ nước trong ao phụ thuộc nhiều vào lượng mưa và lượng nước của các con sông Ao thường không có hệ thống dẫn nước chủ động đưa vào nên khó khăn trong việc chủ động nguồn nước Nền đáy ao chủ yếu là bùn sét, độ

pH giao động từ 6,5 - 7,5 (tương đối trung tính, axít hoặc kiềm nhẹ)

Trang 17

Các ao này rất thích hợp cho việc trồng lúa một vụ và nuôi cá một vụ, đem lại hiệu quả kinh tế cao Thời gian đấu thầu ngắn nên các hộ thầu ao thường ngại cải tạo, đầu tư vốn, để tu sửa ao và chưa chủ động được nguồn nước nên chất lượng ao nuôi còn chưa cao

3.3 Thực trạng nuôi thả cá thương phẩm trên đất một vụ lúa ở địa điểm nghiên cứu

Qua khảo sát, điều tra, phỏng vấn các địa điểm nuôi cá của xã, chúng tôi thu

được kết quả thực trạng nuôi thả cá ở các địa điểm nghiên cứu như sau

* Các loài cá được nuôi chủ yếu

Các hộ nuôi cá ở đây tập trung nuôi chủ yếu các loại cá như trắm cỏ, trắm

đen, mè hoa, mè trắng, trôi ấn Độ, trôi Mrigal, cá chép Việt Ngoài ra, các năm gần đây còn nuôi một số giống cá mới như trê phi, chim trắng, chép lai, cá quả Tổng số đàn cá nuôi có khoảng trên dưới 20 loài, trong đó có hơn 10 loài có giá trị kinh tế cao [6]

Ctenopharygodon idellus Mynopharyngodon piccus Labeo rohita

Cirrhinus mrigalla Tilapia mossambica Clossoma brachiponum Clarias lazera

Trang 18

* Ao nuôi chưa được chuẩn bị đúng kĩ thuật

Ao nuôi trước khi thả cá không được xử lí kĩ thuật như sau:

- Chưa rắc vôi khử chua, diệt trừ mầm bệnh và sinh vật hại, do đó chưa ổn

định được pH, ao nuôi còn nhiều sinh vât gây bệnh cho cá, nhiều sinh vật cạnh tranh nguồn sống với cá nuôi, thậm chí vẫn còn các loài cá dữ ăn hại cá nuôi

- Ao không được bón lót phân chuồng, phân xanh để cung cấp chất dinh dưỡng và chất hữu cơ cho ao, nên ao khá nghèo nàn nguồn thức ăn cho cá (trừ các gốc rạ cũ)

- Ao không đươc tu sửa bờ và cống cẩn thận, lấp các hang hốc rò rỉ, phát quang bụi rậm

- Một số hộ còn không làm bờ ngăn vùng lõn thả cá với ruộng cấy lúa hoặc chưa cắm đăng, giăng lưới ngăn cá lúa, nên cá vào ruộng lúa quá sớm, ăn lúa làm gây hại và ảnh hưởng đến năng suất lúa, ảnh hưởng lớn đến tổng thu nhập

* Thực trạng về cá giống thả

Cá giống thả được mua ở nhiều ao giống quanh khu vực, nên không đảm bảo về kích thước, chất lượng cá thả Ngoài ra mật độ, tỉ lệ cá thả chưa hợp lý, cụ thể như sau:

- Mật độ thả: mật độ cá thả không đảm bảo, không tính toán chỉ ước lượng

áng chừng, nên có hộ thì thả quá dày, dẫn đến không đủ về thức ăn, oxy và các

điều kiện sinh thái khác, vì thế, cá sinh trưởng và phát triển chậm Có hộ lại thả quá thưa nên không tận dụng hết tiềm năng của ao nuôi

- Kích thước: cá giống thả không được đảm bảo về độ đồng đều, có loại quá

to, có loại quá nhỏ dẫn đến khó khăn trong việc chăm sóc, thu hoạch và theo dõi tình hình sinh trưởng của cá Nếu thả kích thước quá lớn thì chi phí giống cao, thả kích thước quá nhỏ thì ảnh hưởng đến chất lượng cá khi thu hoạch Cá thả không

được đảm bảo chất lượng như: cá quá gầy, không cân đối về chiều dài và chiều rộng Ngoài ra còn dễ mang mầm bệnh, không đảm bảo sức khỏe

- Về tỷ lệ thả: cá thả không theo tỷ lệ hay công thức nhất định, thả áng chừng, dẫn đến một mặt không tận dụng hết không gian sống và nguồn dinh dưỡng trong ao, mặt khác có thể gây quá dày cho một loại cá nên tăng sự cạnh

Trang 19

tranh về thức ăn, nơi ở, dẫn đến ảnh hưởng tới sự sinh trưởng phát triển của cá (giữa các loài có ổ sinh thái khác nhau)

- Thời gian thả: không hợp lý, không cố định mùa vụ, có vụ thì thả sớm có

vụ lai thả muộn, nên cũng có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cá

* Thực trạng về dinh dưỡng và thức ăn cho cá

Do chưa đánh giá được tầm quan trọng và ý nghĩa của thức ăn đối với sự phát triển của cá, nên chưa chú trọng đến việc phát triển thức ăn tự nhiên và bổ sung thức ăn nhân tạo cho cá, mà chủ yếu tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao nuôi Hầu hết người nuôi cá chưa chủ động bón phân chuồng, phân xanh, phân vô cơ, nên không thúc đẩy được sự phát triển của sinh vật thức ăn như: tảo,

động vật phù du, thực vật phù du, thực vật thuỷ sinh, giáp xác, nhuyễn thể Bên cạnh đó việc đầu tư thức ăn nhân tạo cũng không được chú ý do sự tốn kém hoặc

do không am hiểu quá trình sinh trưởng phát triển của cá, hệ sinh thái ao Do đó vào những tháng ít mưa, ánh sáng yếu sinh vật thức ăn giảm sút, họ không có biện pháp bổ sung thức ăn nhân tạo kịp thời, nên cá sinh trưởng và phát triển chậm Một số hộ cũng có đã chú trọng bón phân, bổ sung thức ăn nhân tạo (chủ yếu là thức ăn xanh) nhưng cũng không đảm bảo và không khoa học

* Thực trạng nguồn nước trong ao

Nhìn chung các hộ nuôi cá ở đây chưa có biện pháp chủ động nguồn nước Nên độ sâu và lượng nước trong ao còn chưa đảm bảo, chưa tạo ra nguồn nước dồi dào cho cá và các sinh vật trong ao phát triển Lượng nước lấy vào ao phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa và mực nước của các con sông, nên tình trạng nuôi thả cá phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên

* Thực trạng về dịch bệnh

Do không am hiểu kỹ thuật, không có quá trình nuôi cụ thể, không có biện pháp phòng trừ dịch bệnh, nên cá ở đây dễ bị mắc bệnh chết hàng loạt Cá chết chủ yếu là các loại: trắm cỏ, mè trắng, trôi ấn độ, trôi ấn độ, trôi Mrigal, mè hoa Các bệnh phổ biến như: xuất huyết, trùng mỏ neo, thối mang, viêm ruột Theo điều tra của chúng tôi thì cá chết chủ yếu do các nguyên nhân sau:

Trang 20

- Ao không được xử lý rắc vôi diệt trừ mầm bệnh

- Phân chuồng tươi từ các chuồng trại không được ủ đổ thẳng xuống ao nên mang theo nhiều mầm bệnh

- Bến ăn, ao nuôi không được phát quang, vệ sinh hợp lý

- Cá giống thả không đảm bảo, dễ mang sẵn mầm bệnh, không được khử trùng

- Ngoài ra các chế độ chăm sóc, quản lý ao nuôi khác kém, nên khả năng miễn dịch của cá kém, tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh phát triển

* Thực trạng chăm sóc và quản lý ao nuôi

Các hộ nuôi cá ở đây còn hạn chế nhiều trong việc chăm sóc và quản lý ao nuôi cụ thể còn tồn tại khá phổ biến tình trạng sau:

- Thức ăn cho cá còn thiếu và không đảm bảo do không chú ý phát triển thức

ăn tự nhiên và chưa hoặc ít bổ sung thức ăn nhân tạo

- Ao không được rắc vôi để khử chua, trừ mầm bệnh, ổn định pH chưa bón phân thuờng xuyên làm phong phú nguồn thức ăn cho cá

- Chưa có biện pháp ổn định các yếu tố sinh thái như: ánh sáng, nhiệt độ, pH,

độ đục, màu sắc, mùi của nước Nên chưa tạo điều kiện thuận lợi cho cá sinh trưởng phát triển

- Cá không được theo dõi tình hình sinh trưởng thường xuyên nên không có những điều chỉnh kịp thời khi cá sinh trưởng và phát triển kém

Kết luận: Theo điều tra của chúng tôi thì kỹ thuật nuôi thả cá ở đây còn khá nhiều hạn chế, dẫn đến chưa tận dụng hết được nguồn lợi tự nhiên, nguồn lao

động nhàn rỗi của địa phương, do đó không tận dụng hết tiềm năng của ao nuôi Nên năng suất còn thấp và không ổn định, thậm chí đôi khi còn gây thiệt hại kinh

tế nghiêm trọng do một phần diện tích lúa bị cá ăn hoặc cá bị chết cho dịch bệnh Tình hình này rất cần có những giải pháp để khắc phục những hạn chế trên, nhằm

đem lại hiệu quả kinh tế cao cho mô hình

Trang 21

3.4 Hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao năng suất đàn cá

3.4.1 Giải pháp chuẩn bị ao nuôi đúng kỹ thuật

Công tác chuẩn bị ao nuôi được tiến hành trong thời gian chuyển giao giữa hai chu kỳ nuôi, vào khoảng tháng XII đến tháng I năm sau và thường được tiến hành sau khi tát cạn vùng lõm để thu hoạch tổng thể, công tác chuẩn bị ao nuôi

đắp bờ sau đó bơm nước vào lõm sẽ đảm bảo độ sâu của lõm và tăng thể tích lõm

để nuôi cá Khi có bờ ngăn ta có thể chủ động cho cá ra vào mặt ruộng, để đảm bảo vừa tận dụng được không gian sống, nguồn thức ăn; đồng thời tránh được cá

ăn lúa, ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thưc vật tới cá, cụ thể như sau:

+ Khi lúa còn non thì chỉ nuôi cá ở vùng lõm, tránh cá phá hoại lúa, không gây mâu thuẫn giữa cấy lúa và nuôi cá

+ Khi lúa đã lớn và cứng cây, cá không phá hoại được, thì có thể mở bờ cho cá vào ruộng lúa Cá sử dụng cây cỏ, sâu bệnh làm thức ăn; cá sục bùn làm tăng khả năng hoà tan muối dinh dưỡng vào nước… Thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, không những không hại lúa mà còn tốt cho cả lúa

+ Khi phun thuốc hoá học cho lúa thì tháo nước đi để rút cá về lõm, tránh

được sự ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thưc vật tới cá

- Vùng cấy lúa làm đất cấy lúa không cần xử lý, còn vùng lõm nuôi cá cần

xử lý theo kỹ thuật sau:

+ Tẩy trùng lõm bằng vôi bột với lượng 5kg - 7kg/100m2 với các lõm chua

có thể từ 7kg - 10kg/100m2 Việc bón vôi sẽ có tác dụng khử chua, khử trùng, diệt trừ cá tạp, cá dữ và các sinh vật hại khác

Ngày đăng: 27/06/2020, 11:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2002), Thuỷ hoá, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuỷ hoá
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
2. Trần Thị Hà (2000), Bệnh ở động vật thuỷ sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở động vật thuỷ sản
Tác giả: Trần Thị Hà
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
7. Nguyễn Văn Việt (2002), Kỹ thuật sản xuất cá giống, Nxb Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất cá giống
Tác giả: Nguyễn Văn Việt
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2002
11. Trung tâm khi tượng thuỷ văn Vĩnh Phúc (2006), Báo cáo tình hình thời tiết năm 2006, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thời tiết năm 2006
Tác giả: Trung tâm khi tượng thuỷ văn Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2006
12. Uỷ ban nhân dân xã Thanh lãng (2006), Báo cáo thống kê tình hình dân cư -xã hội 2006, Bình Xuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê tình hình dân cư -xã hội 2006
Tác giả: Uỷ ban nhân dân xã Thanh lãng
Nhà XB: Bình Xuyên
Năm: 2006
3. Lê Văn Thắng (2000), Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
4. Lê Văn Thắng (2000), Kỹ thuật nuôi đặc sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
5. Lê Văn Thắng (2001), Dinh dưỡng và thức ăn cho cá tôm, Nxb Nông nghiệp Khác
6. Lê Văn Thắng (2002), Kỹ thuật nuôi cá thịt, Nxb Giao thông vận tải Khác
10. Địa chính xã Thanh Lãng – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc (2006), Báo cáo kiểm kê tình hình đất đai 2006, Bình Xuyên Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm