Toán là môn học cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản ban đầu về các phép tính, số học và các hình học cơ bản. Trong chương trình học môn toán giữ vai trò quan trọng trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của bậc học, bước đầu phát triển tư duy, khả năng suy luận logic đồng thời phát triển ở các em khả năng giải quyết vấn đề, chủ động sáng tạo. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền giáo dục nước nhà, chương trình giáo dục THCS đã tiến hành đổi mới toàn diện. Nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổi mới của môn Toán , người giáo viên phải thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học sao cho học sinh là người chủ động nắm kiến thức của môn học một cách tích cực, sáng tạo, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, tự phát hiện, tự giải quyết trong các tình huống có vấn đề đặt ra trong bài học. Từ đó học sinh chiếm lĩnh nội dung bài học, môn học. Xuất phát từ thực tiễn, cũng như lòng ham muốn học hỏi, nghiên cứu tôi đã quyết định chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học một số chủ đề toán ở THCS” để nhằm giải quyết thực tiễn trên.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn tận tình củagiáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã cómột quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài.Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của riêng em mà còn do có cả sự giúp đỡcủa quý thầy, cô và bạn bè
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất với các thầy giáo, cô giáotrong khoa Giáo dục THCS - trường Cao đẳng Sư phạm luôn tạo điều kiện để
em thực hiện đề tài này
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn trân thành tới Th.s Nguyễn ThịHồng Nhung – giảng viên khoa Giáo dục THCS của trường Cao đẳng Sưphạm , thầy đã hướng dẫn và luôn động viên em trong suốt quá trình nghiêncứu đề tài
Do thời gian nghiên cứu đề tài chưa nhiều, kinh nghiệm cũng như trình độhiểu biết có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Vì thế, em kínhmong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạnsinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
, ngày 17 tháng 4 năm 2020
Sinh viên
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.Lý do chon đề tài.
Đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn nhân lực trí tuệ cao, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xuthế toàn cầu hóa đang là một thách thức với nước ta, đòi hỏi nhà nước vàngành giáo dục phải có một chiến lược phát triển nhân tài Trong hệ thống giáodục, giáo dục THCS có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo nhânlực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Toán là môn học cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản ban đầu về cácphép tính, số học và các hình học cơ bản Trong chương trình học môn toán giữvai trò quan trọng trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của bậc học,bước đầu phát triển tư duy, khả năng suy luận logic đồng thời phát triển ở các
em khả năng giải quyết vấn đề, chủ động sáng tạo
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền giáo dục nước nhà, chương trình giáo dục THCS đã tiến hành đổi mới toàn diện Nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổimới của môn Toán , người giáo viên phải thực hiện đổi mới các phương phápdạy học sao cho học sinh là người chủ động nắm kiến thức của môn học mộtcách tích cực, sáng tạo, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, tựphát hiện, tự giải quyết trong các tình huống có vấn đề đặt ra trong bài học Từ
đó học sinh chiếm lĩnh nội dung bài học, môn học
Xuất phát từ thực tiễn, cũng như lòng ham muốn học hỏi, nghiên cứu tôi đãquyết định chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyếtvấn đề trong dạy học một số chủ đề toán ở THCS” để nhằm giải quyết thực tiễntrên
Trang 3Nghiên cứu việc vận dụng phương pháp dạy học phát hiệnvà giải quyết vấn đềtrong dạy học một số chủ đề dạy học Toán ở THCS
4 Đối tượng nghiên cứu
Những bài học trong nội dung chương trình Toán THCS
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong chương trình Toán ở THCS
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Thực trạng dạy học môn toán hiện nay
- Chương 3: Vận dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy họcmột số chủ đề dạy học Toán ở THCS
PHẦN III:: KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học
Khái niệm “phương pháp dạy học ”: Phương pháp dạy học là những cách thức
làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiếnthức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành được thế giới quan và năng lực
Đặc điểm của phương pháp dạy học:
Là sự thống nhất của PP dạy và PP học
Thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục
Là sự thống nhất của logic nội dung dạy học và logic tâm lý nhận thức
Có mặt bên ngoài và bên trong
Có mặt khách quan và chủ quan
Là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học(PTDH)
Chịu sự chi phối của nội dung dạy học và mục đích dạy học
Hiệu quả phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên
Ngày càng hoàn thiện và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa quá trình dạy học
1.2 Nhu cầu định hướng đổi mới phương pháp dạy học toán ở THCS
Điều 24 Luật Giáo dục viết: “phương pháo phổ thông phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớptừng môn học”
Mặc khác, xã hội ngày nay đòi hỏi con người có học vấn hiện đại không chỉ ởkhả năng lấy ra từ trí nhớ những cơ sợ tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ởnhà trường, mà cả năng lực chiếm lĩnh, suy xét, sử dụng các tri thức một cáchhợp lí, những kĩ năng đánh giá tri thức một cách độc lập, sáng suốt, thông minh
Vì vậy, việc đổi mới PPDH, chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyềnthụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng,
Trang 5mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọngnhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹnăng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tíchhợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và pháttriển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thôngtin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tưduy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phươngpháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phươngpháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thànhnhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học.Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hìnhthức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoàilớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảoyêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nângcao hứng thú cho người học
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiệnqua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự
khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thứcđược sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành cáchoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biếtvào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn
Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài
liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi vàphát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích,tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hìnhthành và phát triển tiềm năng sáng tạo
Trang 6Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành
môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinhnghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tậpchung
Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến
trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọngphát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hìnhthức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để
có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
1.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
1.3.1 Bản chất
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tìnhhuống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực,chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rènluyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản củadạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duychỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho HS
những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua,nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trìnhtích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnhkiến thức sẵn có
1.3.2 Quy trình thực hiện
Bước 1 Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề
Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề
Giải thích và chính xác hóa tình huống (khi cần thiết) để hiểu đúng vấn
đề được đặt ra
Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó
Bước 2: Tìm giải pháp
Trang 7Tìm cách giải quyết vấn đề thường được thực hiện theo các bước sau:
Phân tích vấn đề: làm rõ mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm (dựa
vào những tri thức toán học đã học, liên tưởng tới những định nghĩa, định líthích hợp)
Hướng dẫn HS tìm chiến lược GQVĐ thông qua đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề Cần thu nhập, tổ chức dữ liệu, huy động tri thức;
sử dụng những phương pháp , kỹ năng nhận thức, tìm đoán suy luận nhưhướng đích, qui là về quen, đặc biệt hoá, chuyển qua những trường hợp suybiến, tương tự hoá, khái quát hoá, xem xét những mối liên hệ và phụ thuộc,suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lùi, … Phương hướng đề xuất có thểđược điều chỉnh khi cần thiết kết quả của việc đề xuất và thực hiện hướnggiải quyết vấn đề là hình thành được một giải pháp
Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp: nếu giải pháp đúng thì kết thúc
ngay, nếu không đúng thì lặp lại từ khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìmđược giải pháp đúng Sau khi đã tìm ra một giải pháp, có thể tiếp tục tìmthêm những giải pháp khác, so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp
lí nhất
Bước 3 Trình bày giải pháp
HS trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề tới giải pháp.Nếu vấn đề làmột đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề
Bước 4 Nghiên cứu sâu giải pháp
Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả
Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa,lật ngược vấn đề, và giải quyết nếu có thể
Ví dụ minh hoạ: Dạy định lý về tổng các góc trong của một tứ giác:
Bước 1: Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề: Một tam giác bất kì đều có tổng cácgóc trong bằng 1800 Bây giờ cho một tứ giác bất kì, chẳng hạn ABCD, liệu ta
có thể nói gì về tổng các góc trong của nó ?Liệu các góc trong của nó có thể làmột hằng số tương tự như trường hợp tam giác hay không?
Trang 8( Ở đây đã sử dụng cách: “Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thứcmới” để tạo tình huống có vấn đề.
Bước 2: Tìm giải pháp : GV gới ý cho HS “quy lạ về quen”, đưa việc xét tứ giác
về việc xét tam giác bằng cách tạo ra những tam giác trên hình vẽ tương ứng với
đề bài Từ đó dẫn đến việc kẻ đường chéo AC của tứ giác ABCD, từ đó HS tìm
ra cách giải quyết vấn đề đặt ra
Bước 3: Trình bày giải pháp: HS trình bày lại quá trình giải quyết bài toán từviệc vẽ hình, ghi GT, KL đến việc chứng minh
Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp: Nghiên cứu trường hợp đặc biệt tứ giác có 4góc bằng nhau thì mỗi góc đều là góc vuông
1.3.3 Ưu điểm
Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán,
tư duy sáng tạo cho HS Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm
đã có HS sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết
Đây là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiềugóc độ khác nhau Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, HS sẽ huy độngđược tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận vớibạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất
Thông qua việc giải quyết vấn đề, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng vàphương pháp nhận thức ("giải quyết vấn đề" không còn chỉ thuộc phạm trùphương pháp mà đã trở thành một mục đích dạy học, được cụ thể hóa thànhmột mục tiêu là phát triển năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực có vị tríhàng đầu để con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội)
1.3.4 Hạn chế
Phương pháp này đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức,phải có năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huốnggợi vấn đề và hướng dẫn tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề
Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp pháthiện và giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với các
Trang 9phương pháp thông thường Hơn nữa, theo Lecne: "Chỉ có một số tri thức vàphương pháp hoạt động nhất định, được lựa chọn khéo léo và có cơ sở mớitrở thành đối tượng của dạy học nêu vấn đề".
1.3.5 Một số lưu ý
Lecne khẳng định rằng: "Số tri thức và kĩ năng được HS thu lượm trong quátrình dạy học nêu vấn đề sẽ giúp hình thành những cấu trúc đặc biệt của tư duy.Nhờ những tri thức đó, tất cả những tri thức khác mà HS đã lĩnh hội không phảitrực tiếp bằng những PPDH nêu vấn đề, sẽ được chủ thể chỉnh đốn lại, cấu trúclại" Do đó, không nên yêu cầu HS tự khám phá tất cả các tri thức quy địnhtrong chương trình
Cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề đối với một bộ phận nội dung họctập, có thể có sự giúp đỡ của GV với mức độ nhiều ít khác nhau HS đượchọc không chỉ ở kết quả mà điều quan trọng hơn là cả quá trình phát hiện vàgiải quyết vấn đề
HS chỉnh đốn lại, cấu trúc lại cách nhìn đối với bộ phận tri thức còn lại
mà họ đã lĩnh hội không phải bằng con đường phát hiện và giải quyết vấn
đề, thậm chí có thể cũng không phải nghe GV thuyết trình phát hiện và giảiquyết vấn đề Tỉ trọng các vấn đề người học phát hiện và giải quyết vấn đề
so với chương trình tùy thuộc vào đặc điểm của môn học, vào đối tượng HS
và hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên, phương hướng chung là: Tỉ trọng phần nộidung được dạy theo cách để phát hiện và giải quyết vấn đề không choán hếttoàn bộ môn học những cũng phải đủ để người học biết cách thức, có kĩnăng giải quyết vấn đề và có khả năng cấu trúc lại tri thức, biết nhìn toàn bộnội dung còn lại dưới dạng đang trong quá trình hình thành và phát triểntheo cách phát hiện và giải quyết vấn đề
Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầusau:
Phù hợp với chủ đề bài học
Phù hợp với trình độ nhận thức của HS
Trang 10 Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS
Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình,hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vaicủa HS
Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải
Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giảiquyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề
Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:
Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích củahoạt động
HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giảiquyết vấn đề
Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kêcác cách giải quyết có thể có
Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thểgiống hoặc khác nhau
GV cần tìm hiểu đúng cách tạo tình huống gợi vấn đề và tận dụng các cơ hội đểtạo ra tình huống đó, đồng thời tạo điều kiện để HS tự lực giải quyết vấn đề.Sauđây là một số cách thông dụng để tạo ra tình huống có vấn đề
Cách 1: Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, nhờ thực hành hoặc hoạt động thực
tiễn
HS quan sát (có thể hoạt động đo góc, đo cạnh, gấp hình, …) một số tam giác
có kích thước, hình dạng khác nhau và tìm ra đặc điểm chung của chúng
Trang 11Câu trả lời HS có thể là: có ba cạnh, có ba góc, … Cho HS tự do thảo luận, cùngvới sự dẫn dắt của GV đi đến dự đoán : các tam giác trên có tổng ba góc bằng
Cách 3: Xem xét tương tự.
Xét những phép tương tự theo nghĩa là chuyển từ một trường hợp riêng nàysang một trường hợp riêng khác của cùng một cái tổng quát/
Ví dụ “Cho a + b, chứng minh a2 + b2 2
Sau khi chứng minh được, HS có thể nêu lên các bài toán tương tự như:
“ Cho a + b = 2, tìm giá trị nhỏ nhất của a2 + b2”
hoặc: “ Cho a + b + c =3, chứng minh a2 + b2 +c2
Cách 5: Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới
Ví dụ: Giải bài tập sau đây bằng phương pháp giả thiết tạm:
Trang 12Sau khi HS giải xong, GV đặt vấn đề” phiên dịch” bài tập từ ngôn ngữ thôngthường sang ngôn ngữ đại số, từ dó dẫn đến kiến thức mới” giải bài tập bằngcách lập phương trình”.
Trong dạy học môn Toán, các cơ hội như vậy rất nhiều, do đó PPDH PH &GQVĐ có khả năng gược áp dụng rộng rái trong dạy học nhằm phát huy tínhchủ động, sáng tạo của HS
3.1.6 Mức độ PH và GQVĐ
Mức độ 1: (Đối tượng hs Yếu) GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề HSthực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của gv GV đánh giá kết quảlàm việc của HS
Mức độ 2: (Đối tượng học sinh TB) GV đặt vấn đề, gợi ý để HS tìm cách giảiquyết vấn đề HS thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khicần thiết.GV và HS cùng đánh giá
Mức độ 3: (Đối tượng học sinh Khá) GV cung cấp thông tin, tạo tình huống gợivấn đề HS phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết
và lựa chọn giải pháp.HS thực hiện cách giải quyết vấn đề.GV và HS cùng đánhgiá
Mức độ 4: (đối tượng học sinh giỏi) HS tự lực phát hiện vấn đề này sinh tronghoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết HSgiải quyết vấn đề tự đánh giái chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GVkhi cần thiết
Phần đông GV chúng ta mới vận dụng dạy học đặt - giải quyết vấn đề ở mức 1
và 2.Phải phấn đấu để trong nhiều trường hợp có thể đạt tới mức 3 và 4, từ đólàm cho dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trở thành phổ biến
Trang 13+ Phát hiện vấn đề: Tính độ dài của sợi dây bằng phép cộng 3,2 + 4,3.
+ Tìm giải pháp: Dựa vào hướng dẫn của GV, đưa các số đo về dạng số tự nhiên
và cộng, sau đó đưa kết quả về dạng số thập phân
+ Giải quyết vấn đề: Dưới sự giúp đỡ của GV, đổi các số đo: 3,2dm = 32cm; 4,3dm = 43cm; thực hiện: 32 + 43 = 75; đổi: 75cm = 7,5dm
+ Kiểm tra kết quả: Dưới sự hướng dẫn của GV, HS kiểm tra lại việc thực hiện
và kết luận về kết quả
Ở mức độ 2: (Đối tượng HS TB)
+ Phát hiện vấn đề: Tính độ dài của sợi dây bằng phép cộng 3,2 + 4,3
+ Tìm giải pháp: Dựa vào gợi ý của GV, đưa các số đo về dạng số tự nhiên vàcộng, đổi kết quả về dạng số thập phân
+ Giải quyết vấn đề: HS thực hiện đổi đơn vị đo, cộng hai số tự nhiên và đổi kếtquả về dạng số thập phân dưới sự quan sát của GV (GV sửa cho hs nếu pháthiện thấy HS làm sai)
+ Kiểm tra kết quả: HS kiểm tra lại kết quả từ đó đưa ra kết luận
Ở mức độ 3: (Đối tượng HS Khá)
+ Phát hiện vấn đề: Tính độ dài của sợi dây bằng phép cộng 3,2 + 4,3
+ Tìm giải pháp: Thảo luận, đưa ra cách giải quyết vấn đề, GV nhận xét, gợi ý
HS (nếu cần)
+ Giải quyết vấn đề: HS tự thực hiện cách làm và đưa ra kết quả
+ Kiểm tra kết quả: HS tự kiểm tra kết quả và đưa ra kết luận
Ở mức độ 4: (Đối tượng HS Giỏi)
+ Phát hiện vấn đề: Tính độ dài của sợi dây bằng phép cộng 3,2 + 4,3
+ Tìm giải pháp: HS tự tìm các giải pháp (có thể đưa số đo về dạng số tự nhiênnhư trên hoặc đưa về phân số thập phân rồi cộng và sau đó đổi kết quả về dạng
số thập phân.)
+ Giải quyết vấn đề: HS tự thực hiện và đưa ra kết quả
+ Kiểm tra kết quả: HS tự kiểm tra và đưa ra kết luận
Trang 14CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TOÁN HIỆN NAY
Để xác định phương hướng và những biện pháp đổi mới PPDH thì trước hết cầnnhận biết và đánh giá những vấn đề chung có liên quan cũng như những vấn đề
về PPDH và những cản trở trong việc đổi mới PPDH
Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam, tài liệu chiến lược phát triển giáo dục2001-2010 (2002, tr.14) đã khẳng định: “Chương trình, giáo trình, phương phápgiáo dục chậm đổi mới Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm, kinhviện, nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành vàhướng nghiệp; chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội cũngnhư nhu cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học-công nghệ và triển khai ứng dụng.”
Từ đó có thể nêu ra hai vấn đề lớn thuộc về văn hoá học tập trong giáo dục ởViệt Nam nói chung và giáo dục trung học nói riêng là:
• Nền giáo dục mang tính “hàn lâm, kinh viện”: khái niệm tính “hàn lâm, kinhviện” chỉ một nền giáo dục định hướng vào việc truyền thụ một hệ thống trithức được quy định sẵn dựa trên cơ sở các môn khoa học chuyên ngành, nhưng
ít chú ý đến việc rèn luyện tính tích cực nhận thức, tính độc lập, sáng tạo cũngnhư khả năng vận dụng những tri thức đó trong thực tiễn Trong nền giáo dụcmang tính ”hàn lâm, kinh viện” thì phương pháp dạy học chủ yếu dựa trên quanđiểm GV là trung tâm, trong đó người thầy đóng vai trò chính trong việc truyềnthụ tri thức cho HS PPDH chủ yếu là các phương pháp thông báo tri thức, HStiếp thu tri thức một cách thụ động Các PPDH phát huy tính tích cực nhận thứccủa HS cũng như việc rèn luyện phương pháp tự học ít được chú trọng
• Nền giáo dục “ứng thí”: việc học tập của HS mang nặng tính chất đối phó vớicác kỳ thi, chạy theo bằng cấp mà ít chú ý đến việc phát triển nhân cách toàndiện cũng như năng lực vận dụng kiến thức đã học trong thực tiễn Đối với cấpTHCS, vấn đề này càng nặng nề, vì tâm lý chung của HS là muốn học lên đạihọc, trong khi đó chỉ tiêu vào học hàng năm chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số
HS tốt nghiệp THCS Từ đó dẫn tới xu hướng học lệch, học tủ nhằm mục đích
Trang 15đối phó với các kỳ thi Trong khi đó các kỳ thi tuyển sinh hiện nay chỉ giới hạn
ở một số môn học, cũng như không thể kiểm tra toàn diện tri thức và có nhiềuhạn chế trong việc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức một cách sáng tạo trongcác tình huống gắn với thực tiễn
Các vấn đề về phương pháp dạy học Các nghiên cứu thực tiễn dạy học ở trườngTHCS cũng chỉ ra một số vấn đề cụ thể sau đây về mặt PPDH:
• Phương pháp thuyết trình, thông báo tri thức của GV vẫn là phương pháp dạyhọc được sử dụng quá nhiều, dẫn đến tình trạng hạn chế hoạt động tích cực củaHS;
• Việc sử dụng phối hợp các PPDH cũng như sử dụng các PPDH phát huy tínhtích cực, tự lực và sáng tạo còn ở mức độ hạn chế;
• Việc gắn nội dung dạy học với các tình huống thực tiễn chưa được chú trọng;
• Dạy học thí nghiệm, thực hành, dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn ítđược thực hiện;
• Việc sử dụng phương tiện dạy học mới, công nghệ thông tin chỉ bước đầuthực hiện ở một số trường;
• Việc rèn luyện khả năng vận dụng tri thức liên môn để giải quyết các chủ đềphức hợp gắn với thực tiễn chưa được chú ý đúng mức;
Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ được đào tạo trong trường phổthông mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụngtri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống Điều đó cónghĩa là giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra là “giúp HS phát triểntoàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, pháttriển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo…”.(Luật giáo dục, điều 27).Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên đây, việc cải cách toàn diện giáo dụcTHCS và đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dụcphổ thông.Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy ở một số trường THCS trongmột số năm gần đây đã đạt được những tiến bộ trong việc đổi mới PPDH Ởnhững trường đã bồi dưỡng cho đội ngũ GV về đổi mới PPDH và trang bị
Trang 16PTDH mới thì tình hình sử dụng các PPDH đã được cải thiện Mặc dù thuyếttrình vẫn còn là PPDH được sử dụng thường xuyên nhất, nhưng đã có sự kếthợp với các PPDH khác, tăng cường thí nghiệm, thực hành, làm việc nhóm, sửdụng các PPDH tích cực.
Từ đó cho thấy nếu được bồi dưỡng về PPDH mới, cũng như được trang bị vềcác thiết bị dạy học mới thì việc đổi mới PPDH ở THPT có chuyển biến khátốt.Tuy nhiên, việc đổi mới PPDH ở những trường này vần còn những vấn đềcần tiếp tục giải quyết, đặc biệt là việc gắn nội dung dạy học với thực tiễn cũngnhư dạy học qua hoạt động thực tiễn của HS Việc tích cực hóa hoạt động nhậnthức của HS đã được cải thiện, nhưng mới thể hiện rõ ở mặt ”bên ngoài” thôngqua việc tăng cường làm việc nhóm, nhưng việc tích cực hoá ”bên trong” thôngqua việc giải quyết các vấn đề, đặc biệt là các vấn đề gắn với những tình huốngthực tiễn còn chưa được chú trọng
Sau đây là kết quả điều tra sơ bộ của dự án phát triển giáo dục THCS ở nămtrường THCS tham gia thí điểm phân ban thuộc hai tỉnh và Lâm Đồng về tìnhhình sử dụng một số PPDH do GV tự đánh giá:
Tình hình sử dụng các PPDH ở cáctrường THCS thí điểm phân ban
Thứ
tự
Thườngxuyên(%)
Kháthườngxuyên(%)
Thỉnhthoảng(%)
Khôngbaogiờ(%)
Trang 17trong đó mức độ 5 là mức độ đồng ý cao nhất và giảm dần, mức 1 coi nhưkhông đồng ý:
Theo kết quả điều tra của dự án phát triển giáo dục THCS 2005
Những cản trở đối với việc đổi mới PPDH ở trường THCS
6 Tâm lý đối phó thi cử của HS 50 25 18 9 1
7 Thi cử, đánh giá chưa khuyến khích
Theo kết quả điều tra của dự án phát triển giáo dục THCS 2005
Từ điều tra trên cho thấy những yếu tố cản trở việc đổi mới PPDH được GVnhận định ở mức độ cao là mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức và thời giandạy học, hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, tâm lý học đốiphó với thi cử, việc đánh giá và thi cử chưa khuyến khích đổi mới PPDH.Những khó khăn về đời sống, những vấn đề về quản lý cũng là những cản trởquan trọng đối với việc đổi mới PPDH của GV
Tóm tắt Thực trạng dạy học ở THCS có những vấn đề thuộc văn hoá học tậpnói chung, và những vấn đề về PPDH: Nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinhviện, chú trọng việc truyền thụ những tri thức khoa học chuyên môn, ít gắn với
Trang 18những ứng dụng thực tiễn, tâm lý học tập đối phó với thi cử còn nặng nề.Phương pháp dạy học chiếm ưu thế là các PP thông báo-tiếp nhận, GV là trungtâm của quá trình dạy học, là người truyền thụ tri thức mang tính áp đặt, hoạtđộng học tập của HS mang tính thụ động Việc dạy học ít gắn với cuộc sống vàhoạt động thực tiễn, vì thế hạn chế việc phát triển toàn diện, tích tích cực, sángtạo và năng động của HS Các vấn đề nêu trên đây là những vấn đề lớn cần khắcphục của giáo dục trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế Cần xây dựngmột văn hoá học tập mới, khắc phục nền văn hoá học tập nặng tính hàn lâmkinh viện, xa rời thực tiễn.
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀO MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC TOÁN Ở THCS 3.1 Dạy học phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học khái niệm
Ví dụ 1: Làm quen với số nguyên âm
Bước 1: Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề
GV: đưa ra 3 phép tính và yêu cầu HS thực hiện
Trang 194 – 6 = không có kết quả trong N
GV: Để phép trừ các số tự nhiên bao giờ cũng thực hiện được, người ta phải đưavào một loại số mới: số nguyên âm Các số nguyên âm cùng với các số tự nhiêntạo thành tập hợp các số nguyên
GV giới thiệu sơ lược về chương “ Số nguyên”
Bước 3: Trình bày giải pháp