1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thực trạng và giải pháp thúc đẩy các mối quan hệ thương mại

102 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 921,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự chấm dứt chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế, phá tan xu hướng khép kín của mỗi quốc gia trên hành tinh đồng thời tăng cường sự tuỳ thuộc về lợi ích kinh tế giữa các quốc gia. Trong bối cảnh đó, thương mại quốc tế là một lĩnh vực hoạt động đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới, phát huy những lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng tiềm năng về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý tiên tiến từ bên ngoài, duy trì và phát triển văn hoá dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự chấm dứt chiến tranh lạnh,toàn cầu hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan

hệ kinh tế quốc tế, phá tan xu hướng khép kín của mỗi quốc gia trên hành tinhđồng thời tăng cường sự tuỳ thuộc về lợi ích kinh tế giữa các quốc gia Trongbối cảnh đó, thương mại quốc tế là một lĩnh vực hoạt động đóng vai trò mũinhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới, pháthuy những lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng tiềm năng về vốn, côngnghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý tiên tiến từ bên ngoài, duy trì vàphát triển văn hoá dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại

Lào đang nổi lên ở khu vực và trên thế giới Là nền kinh tế lớn thứ bachâu Á, Lào đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của khu vực.Đặc biệt trong những năm gần đây, Lào luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế vàoloại cao nhất thế giới Mở rộng quan hệ với Lào sẽ giúp Việt Nam trở thànhmột quốc gia quan trọng trong khu vực

Với phạm vi địa lý rộng lớn, dân số đông thứ 2 thế giới, tầng lớp thunhập cao ngày càng đông, Lào được coi là thị trường khổng lồ với sức muangày càng gia tăng và nhu cầu sẽ ngày càng đa dạng Hơn nữa, thị trường Làođược dự đoán sẽ mở cửa hơn trong thời gian tới với mặt bằng thuế quan nhìnchung giảm dần So với thị trường Mỹ và EU, thị trường Lào được đánh giá làtương đối dễ tính, có yêu cầu về chủng loại và chất lượng hàng hóa nhập khẩutương đối phù hợp với trình độ sản xuất của Việt Nam

Việt Nam - Lào đã có quan hệ hữu nghị truyền thống từ lâu đời, khởinguồn từ những mối liên hệ và giao lưu lịch sử sâu xa về văn hóa, tôn giáo.Trong thời kỳ hiện đại, mối quan hệ giữa hai dân tộc đã được hai vị lãnh đạo

1

Trang 2

tiền bối kiệt xuất của hai nước là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng J.Nehru tạo dựng nền móng, các thế hệ lãnh đạo kế tiếp và nhân dân hai nướcdày công vun đắp.

Lào là một trong 10 bên đối thoại quan trọng của ASEAN Là thànhviên của ASEAN, đồng thời là nước có quan hệ hữu nghị truyền thống và hợptác toàn diện tốt đẹp với Lào, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước vànhân dân Việt Nam là không ngừng tăng cường quan hệ hợp tác với Lào trong

cả khuôn khổ song phương và đa phương

Mặc dù quan hệ thương mại giữa hai nước đã tăng lên rõ rệt từ mứckhởi điểm khoảng 50 triệu USD vào giữa thập kỷ 1980 lên 1,5 tỷ USD năm

2007 Triển vọng tăng cường quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam vàLào vẫn hết sức phong phú và to lớn, phù hợp với mong muốn, nguyện vọngchung và với sự nỗ lực của cả hai bên

Từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Lào” làm khóa luận tốt nghiệp.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu tổng quát thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam Lào trong thời gian qua cùng với những thành tựu và hạn chế còn tồn tại cảntrở đến sự phát triển thương mại giữa hai nước, để từ đó đưa ra giải pháp cụthể, đối với nhà nước và các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mạigiữa hai nước ngày càng tốt đẹp hơn

-3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: quan hệ thương mại Việt Nam - Lào.Phạm vi nghiên cứu của đề tài: tập trung vào xem xét, đánh giá hoạtđộng xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam - Lào từ năm 2001 đến nay baogồm: quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất nhậpkhẩu chủ yếu giữa hai nước

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Khoá luận sử dụng phương pháp lý luận kết hợp với nghiên cứu thựctiễn, phân tích định tính kết hợp với phân tích định lượng

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục cácbảng biểu, phụ lục, khóa luận được chia thành ba chương trong đó bao gồm:

Chương 1: Lý luận chung về thương mại quốc tế và tổng quan về đất nước Lào

Chương 2: Đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam Lào từ năm 2001 đến nay

-Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Lào

Trang 4

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TỔNG

QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC LÀO

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.1.1 Khái niệm

Không thể có một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập, phát triển

có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác, đặc biệttrong lĩnh vực kinh tế Quan hệ kinh tế quốc tế là bộ phận cốt lõi tạo nên tínhhữu cơ của nền kinh tế thế giới, nhờ đó mà các nền kinh tế quốc gia có thểliên kết với nhau như một thể thống nhất

Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoạixét trên phạm vi toàn thế giới Quan hệ kinh tế đối ngoại là toàn bộ các mốiquan hệ về kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ của một quốc gia với bênngoài ( “bên ngoài” ở đây bao gồm các quốc gia, vùng lãnh thổ khác; các tổchức kinh tế, tài chính, thương mại mang tính khu vực hoặc toàn cầu; cáccông ty, tập đoàn)

Những hình thức chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm: quan hệ

về di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ, quan hệ về di chuyển quốc tế vốnđầu tư, quan hệ về di chuyển quốc tế sức lao động, quan hệ kinh tế quốc tếtrong lĩnh vực khoa học công nghệ, quan hệ về di chuyển quốc tế các phươngtiện tiền tệ

Quan hệ về di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ là một hình thứcquan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu Trong thực tế, các quan hệ di chuyển quốc tếhàng hoá và dịch vụ được gọi là thương mại quốc tế Thương mại quốc tế cómầm mống từ hàng ngàn năm nay, nó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữa vịtrí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 5

Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia, thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên [1, trang 59]

Thương mại quốc tế giữa quốc gia này với quốc gia khác được gọi làquan hệ thương mại song phương (ví dụ như quan hệ thương mại Việt Nam –Lào)

1.1.2 Nội dung của thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế được chia ra làm hai nhóm:

- Thương mại hàng hoá hữu hình: là hình thức thương mại trong đódiễn ra việc buôn bán, trao đổi các sản phẩm, hàng hoá thể hiện dưới dạng vậtchất, hữu hình Thương mại hàng hoá hữu hình ra đời sớm nhất và cho đếnnay vẫn là hình thức quan trọng nhất trong thương mại quốc tế

- Thương mại hàng hoá vô hình (hay thương mại dịch vụ): là hình thứcthương mại trong đó diễn ra việc mua bán, trao đổi các sản phẩm vô hình, phivật chất được thực hiện thông qua các hoạt động của con người Các hìnhthức thương mại dịch vụ chủ yếu: dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ thông tin,dịch vụ tài chính, dịch vụ vận tải, dịch vụ du lịch

Thương mại quốc tế thường được nghiên cứu dưới ba góc độ Góc độthứ nhất nhìn nhận hoạt động thương mại trên quan điểm toàn cầu, tìm ranhững quy luật, xu hướng, vấn đề mang tính chất chung nhất trên thế giới,không phụ thuộc vào lợi ích của từng quốc gia Góc độ thứ hai đứng trên lợiích và quan điểm của từng quốc gia để xem xét hoạt động buôn bán chủ yếucủa quốc gia đó với các quốc gia khác trên thế giới Góc độ thứ ba gắn vớihoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty nhằm mục đích thu lợi cao nhấtcho công ty

Trên góc độ một quốc gia thương mại quốc tế chính là hoạt động xuấtnhập khẩu (ngoại thương) Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho

5

Trang 6

nước ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài.Xuất nhập khẩu là những hoạt động cụ thể trong mua bán hàng hóa, dịch vụcủa các chủ thể kinh tế trong nước với các đối tác nước ngoài Cùng với sựtăng trưởng kinh tế, các quan hệ thương mại giữa các quốc gia, các khu vựcđược mở rộng hơn, do đó các quan hệ thị trường, đặc biệt là xuất nhập khẩugiữa các nước tăng trưởng ngày càng mạnh mẽ và phát triển cao cả về chiềurộng lẫn chiều sâu.

Nội dung của khoá luận này sẽ chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ thươngmại hàng hoá hữu hình giữa Việt Nam và Lào

1.1.3 Những đặc điểm phát triển chủ yếu của thương mại quốc tế

- Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng nhanh, caohơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất, điều đó đưa đến tỷ trọng kimngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngàycàng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc gia ra thịtrường thế giới

- Tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hoá vô hình nhanh hơn tốc

độ tăng trưởng của thương mại hàng hoá hữu hình thể hiện sự biến đổi sâu sắctrong cơ cấu kinh tế, cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia Điềunày đã kéo theo nhiều quốc gia đang có sự đầu tư phát triển nhiều lĩnh vựcdịch vụ

- Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc với những xu hướng chính sau:

+ Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng nguyên vật liệu, tăng nhanh tỷtrọng của dầu mỏ và khí đốt

+ Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế tạo, nhất là máy móc, thiết bị và những mặt hàng tinh chế

+ Giảm tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng nhiều lao động giản đơn, tăng nhanh những mặt hàng kết tinh lao động phức tạp

Trang 7

- Tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao tăng nhanh.

- Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi

và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau, không những về mặtchất lượng, giá cả mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, các dịch vụsau bán hàng… và các tiêu chuẩn khác gắn với trách nhiệm xã hội và quyềnlợi người tiêu dùng

Đi đôi với các quan hệ thương mại, sự phân công lao động quốc tế, hợptác đầu tư, hợp tác khoa học và kỹ thuật, chuyển giao công nghệ… ngày càng

đa dạng và phong phú, bổ sung cho nhau và thúc đẩy nhau phát triển

- Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việcđổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hoá diễn ra liêntục, đòi hỏi phải năng động, nhạy bén khi gia nhập thị trường thế giới Cácsản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao có sức cạnh tranh mạnh

mẽ trong khi các sản phẩm, nguyên liệu thô ngày càng mất giá, kém sức cạnhtranh

- Sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hoáthương mại, song mặt khác, giữa các liên kết kinh tế quốc tế cũng hình thànhcác hàng rào mới, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn

- Vai trò của WTO ngày càng quan trọng trong điều chỉnh thương mạiquốc tế Có thể coi WTO là một tổ chức quốc tế có uy lực nhất trong điềuchỉnh hoạt động thương mại quốc tế Các thể chế điều chỉnh của WTO ngàycàng có hiệu lực đối với nhiều nước, mức độ điều chỉnh và tính chất điềuchỉnh cũng ngày càng sâu sắc và hiệu quả hơn

- Thương mại điện tử đang trở thành cách thức giao dịch phổ biến và quan trọng trong thương mại quốc tế

7

Trang 8

1.1.4 Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân

Làn sóng toàn cầu hoá kinh tế đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực, cácngành kinh tế trên thế giới, trong đó có thương mại quốc tế Trong điều kiệnhiện nay, thương mại quốc tế có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triểnkinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Đối với Việt Nam, hội nhập kinh

tế quốc tế, đặc biệt là mở rộng thị trường để thúc đẩy xuất khẩu những mặthàng, ngành hàng mà chúng ta có lợi thế góp phần tăng trưởng, phát triển kinh

tế, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vìvậy, xác định rõ vai trò của thương mại quốc tế cho phép tác động đúnghướng và tạo được những điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển

1.1.4.1 Thương mại quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất và góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế

Thương mại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế Doxuất khẩu và nhập khẩu là hai hành động ngược chiều nhau nên khi phân tíchvai trò của xuất nhập khẩu cần xem xét nó trong mối quan hệ biện chứng vớinhau: xuất khẩu là tạo điều kiện để nhập khẩu, mặt khác nhập khẩu trongnhiều trường hợp (nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu ) lại là yếu

tố thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu phát triển Xuất khẩu vừa thể hiện năng lựccạnh tranh của một quốc gia vừa tạo nguồn lực ngoại tệ để nhập khẩu Kimngạch xuất khẩu càng cao và nhập khẩu nguyên nhiên liệu, thiết bị – máy móccàng tốt thì càng tạo điều kiện để nền kinh tế trong nước có thể sản xuất vớiquy mô lớn hơn và đạt hiệu quả cao trên cơ sở chuyên môn hoá và hợp tácquốc tế, tạo thêm công ăn việc làm, tạo giá trị gia tăng và mở rộng thị trườngtiêu thụ ra nước ngoài, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạovốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước, kích thích sự pháttriển của lực lượng sản xuất, làm bật dậy các nhu cầu tiềm tàng của người tiêudùng

Trang 9

1.1.4.2 Thương mại quốc tế phát triển tác động mạnh tới sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại

Đối với nền kinh tế có quy mô nhỏ, lạc hậu, đang phát triển như Việt Namnếu không mở cửa hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới thì không thể pháttriển nhanh được và sẽ tụt hậu xa hơn nữa Vì vậy sự mở rộng thương mại quốc

tế, đặc biệt là đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng mà chúng ta có nhiều lợi thế

là một trong những tiền đề, động lực trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hộinhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực Không chỉ như vậy mà mở rộng hoạtđộng thương mại quốc tế cũng sẽ góp phần khắc phục những tàn dư của cơ chếtập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển nhanh nền kinh tế nước ta sang cơ chế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là về các mặt như hình thức tổchức sản xuất, cách thức kinh doanh, cán bộ, văn hóa doanh nghiệp…

Cơ cấu kinh tế nước ta vẫn đang rất lạc hậu, do đó phát triển thươngmại quốc tế sẽ trực tiếp góp phần thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hoá Chính việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu thiết bị,nguyên liệu có tác động lớn đến thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu tiêu dùng,thay đổi công nghệ, thay đổi phong cách làm việc và tạo ra sự cạnh tranh từ

đó dẫn đến nâng cao hiệu quả nền kinh tế quốc dân

1.1.4.3 Thương mại quốc tế phát triển góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

Thương mại quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu, tăng trưởng sẽ thúc đẩy mởrộng quy mô, năng lực khai thác các nguồn lực của đất nước và sử dụng cóhiệu quả hơn các nguồn lực góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.Đồng thời nó còn thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, hình thành và

cơ cấu lại các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá, thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển

9

Trang 10

Mở rộng sự tham gia thương mại quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnhtranh quốc tế trên thị trường trong và ngoài nước và điều đó sẽ tạo môi trườngliên tục gây áp lực buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng cải tiếncông tác quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, tiết kiệm các nguồn lực qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp.

1.1.4.4 Thương mại quốc tế có tác động trực tiếp đến quan hệ đối ngoại

Thương mại quốc tế góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại,từng bước đưa thị trường Việt Nam hội nhập với thị trường thế giới, biến ViệtNam thành bộ phận của phân công lao động quốc tế Đó cũng là con đường đểgiúp nền kinh tế có bước phát triển nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của ViệtNam trên trường quốc tế

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC LÀO

1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Lào

1.2.1.1 Địa lý

Lào (tiếng Hindi: Bharat), tên chính thức Cộng hòa Lào, là một quốcgia thuộc vùng Nam Á, lãnh thổ chiếm một phần lớn tiểu lục địa Lào PhíaBắc giáp với Afghanistan, Trung Quốc, Nepal và Bhutan; phía Đông giápBangladesh, Myanmar và vịnh Bengal; phía Nam giáp eo biển Palk, vịnhMannr và Lào Dương; phía Tây giáp biển Ả Rập và Pakistan Lào có diện tích3.287.590 km2 (lớn thứ 7 trên thế giới), với khoảng hơn 15.200 km đườngbiên giới đất liền và 5.700 km bờ biển

Có thể chia địa hình Lào thành ba vùng chính: vùng núi Himalaya,vùng đồng bằng sông Gange (sông Hằng) và bán đảo Lào Các bang phía Bắc

và Đông Bắc Lào nằm một phần trên dãy Himalaya Nằm ở phía Nam và songsong với vùng núi Himalaya là đồng bằng sông Hằng, một vành đai đất thấprộng hình thành bởi con sông Hằng và các phụ lưu của nó Vùng này

Trang 11

bao gồm một số khu vực có mức sản xuất nông nghiệp cao nhất Lào Sa mạcThar - một vùng đất khô cằn và rộng lớn, nằm ở tận cùng phía Tây Nam củađồng bằng sông Hằng và trải dài đến tận Pakistan Bán đảo Lào được bao bọcbởi hầu hết là những vùng duyên hải phì nhiêu Những con đường mậu dịchxưa đã biến các thành phố và thị trấn của vùng này thành những trung tâmthương mại về vải vóc và đồ gia vị.

Thủ đô của Lào là New Delhi, có diện tích 1.483 km2 và dân số là

16 triệu người New Delhi không những là trung tâm thương mại lớn nhấtmiền Bắc Lào, mà còn là trung tâm công nghiệp lớn nhất cũng như là trungtâm văn hóa, chính trị và kinh tế trọng yếu của đất nước

1.2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất của Lào là đất và nước.Khoảng 50% diện tích đất đai là những vùng có thể canh tác được, nguồnnước ngầm dưới lòng đất rất lớn Đồng bằng sông Hằng là một trong nhữngvùng đất phì nhiêu nhất của Lào Ở đây nước ngầm rất dồi dào và gần mặt đấtnên thuận lợi cho việc canh tác Mỗi năm vùng này có thể trồng trọt từ hai đến

ba vụ mùa, hầu hết lúa gạo và lúa mỳ của Lào đều được

11

Trang 12

canh tác tại đây Rừng bao phủ 22% diện tích đất đai và cung cấp một nguồntài nguyên khác cho Lào, đó là nhiều loại cây gỗ có giá trị thương mại caonhư: tếch, sến, lim, táu, hồng mộc… Lào có nguồn khoáng sản phong phú và

đa dạng gồm: than đá (trữ lượng đứng thứ 4 thế giới), quặng sắt, mangan,bauxit, mỏ titanium, crôm, đồng, khí đốt thiên nhiên, kim cương, dầu mỏ, đávôi…

1.2.2 Đặc điểm dân cư và đặc trưng văn hóa Lào

1.2.2.1 Đặc điểm về dân cư

Lào là nước đông dân thứ hai trên thế giới với 1,134 tỷ người (2007), tỷ

lệ tăng dân số là 1,4%, với 29,2% dân số sống tại các vùng thành thị Cơ cấudân số trẻ với khoảng 53% dân số dưới 25 tuổi, điều này hứa hẹn cung cấpcho thị trường lao động Lào một nguồn nhân lực dồi dào Theo dự đoán củaADB (Asian Development Bank), đến năm 2020, 47% dân số Lào sẽ trong độtuổi 15-59 (hiện nay là 35%) Trong lúc dân số trong độ tuổi lao động của Mỹ,Tây Âu, kể cả Trung Quốc, theo dự báo sẽ không ngừng sụt giảm Khi đó,Lào sẽ trở thành nơi có lực lượng lao động và tiêu dùng đông đảo nhất

Hiến pháp Lào quy định tự do tín ngưỡng, không có quốc giáo Mặc dù80% dân số theo đạo Hindu, Lào cũng là đất nước có số lượng tín đồ Hồi giáođứng thứ ba thế giới với 14% dân số theo đạo Hồi Các nhóm tôn giáo chínhkhác gồm: Thiên chúa giáo, đạo Sikh, đạo Jain, đạo Phật

Số lượng ngôn ngữ mẹ đẻ tại Lào được ước lượng lên tới 1.652 Đa sốnhững ngôn ngữ đó xuất phát từ hai nhóm ngôn ngữ chính: Aryan (được sử dụngbởi 74% dân số) và Dravidian (được 24% dân số sử dụng) Hiến pháp Lào côngnhận 19 ngôn ngữ chính Tiếng Hindi là ngôn ngữ dân tộc có gần 50% dân số sửdụng Tiếng Anh được dùng làm ngôn ngữ chính thức của chính phủ, công sở vàtrong giáo dục và được sử dụng rộng rãi trong mọi quan hệ giao dịch

Trang 13

Sự khác biệt về chủng tộc, tôn giáo ở Lào dần dần tạo nên thành kiến

và phân biệt trong dân chúng: người ta không kết hôn với người khác tôngiáo; người miền Bắc (người Aryan) khó lấy người miền Nam (ngườiDravidian); người da nâu khó lấy người da trắng… Ngày nay, sự phân biệt cógiảm bớt phần nào do tác động của thời đại, tuy vậy sự thành kiến giữa cácvùng, giữa các tôn giáo, đẳng cấp và chủng tộc vẫn ngấm ngầm tồn tại

1.2.2.2 Những nét văn hoá nổi bật của Lào

Lào có một di sản văn hóa phong phú và đặc trưng duy nhất, và luôntìm cách giữ gìn những truyền thống của mình trong suốt lịch sử đồng thờivẫn hấp thu các phong tục, truyền thống và tư tưởng từ phía cả những kẻ xâmlược và những người dân nhập cư Nhiều hoạt động văn hoá, ngôn ngữ, phongtục và các công trình kiến trúc là những ví dụ cho sự đan xen văn hóa quahàng thế kỷ Lào có 22 di sản văn hóa thế giới và 5 di sản tự nhiên thế giới,trong số đó, nổi tiếng nhất là đền Taj Mahal ở Agra Là quê hương của mộttrong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới và là sự tiếp nối các triều đạithống trị suốt dọc chiều dài và chiều rộng đất nước, Lào có rất nhiều ví dụ tiêubiểu về các kiến trúc cung điện Các cung điện của Rajasthan và miền TrungLào là những công trình nổi tiếng nhất Tôn giáo là một phần trung tâm trongcuộc sống hàng ngày của người dân Lào Các thành phố thiêng - các điểmdừng trong cuộc hành hương xuyên đất nước của đạo Hindu, các tu viện phậtgiáo, các nhà thờ nổi tiếng, các ngôi đền Gurudwara và các nhà thờ Hồi giáotôn nghiêm thể hiện rõ đặc trưng của kiến trúc tôn giáo

Không chỉ nổi tiếng bởi âm nhạc cùng những triết lý và tôn giáo cổ đại,đất nước rộng lớn này còn có vô số các hội chợ, lễ hội với những bài thánh ca

và các màn biểu diễn ghi dấu đậm nét cuộc sống hàng ngày phát triển quanhiều thế kỷ, và giờ đây lại được pha trộn với những ảnh hưởng từ bên ngoài.Chính nền văn hóa đậm đà, lịch sử lâu dài, những phong tục độc

13

Trang 14

đáo đã tạo nên sự đa dạng của Lào, làm cho đất nước này thực sự trở thànhmột trong những điểm đến tuyệt vời nhất trên thế giới đối với bất kỳ khách dulịch nào.

1.2.3 Đặc điểm chế độ chính trị

1.2.3.1 Tổ chức nhà nước và chính phủ

Ngày 26 tháng 1 năm 1950, Lào tuyên bố thành lập nước Cộng hoà.Nhà nước Lào được tổ chức theo hình thức liên bang và theo chế độ dân chủđại nghị Cộng hoà Lào có 28 bang và 7 vùng lãnh thổ trực thuộc trung ương.Mặc dù mỗi bang đều có cơ cấu lập pháp riêng, nhưng các luật quốc gia vẫn

có quyền lực cao hơn các luật pháp bang Hiến pháp Lào đã được chính thứcthông qua năm 1950, dựa theo nền tảng Comman law từ Anh được tu chỉnhnhiều lần Chính phủ Lào có ba cơ quan đứng đầu: Lập pháp, Hành pháp và

Tư pháp Lãnh đạo hiện nay: Tổng thống Pratibha Patil (nữ Tổng thống đầutiên của Lào) nhiệm kỳ bắt đầu từ tháng 7-2007; Thủ tướng Manmohan Singhnhiệm kỳ từ tháng 5-2004; Chủ tịch Quốc hội S Chatterjee nhiệm kỳ từ tháng6-2004

a) Cơ quan lập pháp : Quốc hội liên bang gồm hai nghị viện: Thượng

nghị viện (Hội đồng Nhà nước) và Hạ nghị viện (Hội đồng Nhân dân)

b) Cơ quan hành pháp: Chính phủ Liên bang gồm có: Tổng thống, Phó

tổng thống và Hội đồng Bộ trưởng, đứng đầu là Thủ tướng

Tổng thống là người bảo vệ Hiến pháp và Tư lệnh tối cao của các lực

lượng vũ trang Lào Tổng thống do cử tri đoàn bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm TheoĐiều 74(1) của Hiến pháp Lào quy định rõ Tổng thống chỉ thực hiện quyềncủa mình theo lời khuyên và cố vấn của Thủ tướng Vì vậy Thủ tướng mới làngười nắm thực quyền

Trang 15

Phó tổng thống cũng do cử tri đoàn bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm Phó

tổng thống đồng thời giữ chức Chủ tịch Thượng nghị viện và thay thế Tổngthống khi Tổng thống vắng mặt

Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm Tổng thống

cũng bổ nhiệm các Bộ trưởng theo đề nghị của Thủ tướng Thủ tướng và Hộiđồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm tập thể trước Hạ nghị viện và cố vấn choTổng thống khi điều hành công việc

c) Cơ quan tư pháp

Ngành tư pháp độc lập của Lào gồm Tòa án Tối cao, do Tổng chưởng

lý lãnh đạo Tòa án tối cao có quyền tài phán phúc thẩm đối với các Tòa áncấp cao Có 18 Tòa án cấp cao sơ thẩm, mỗi tòa có quyền tài phán đối với mộtbang hay một nhóm bang nhỏ Mỗi bang có một hệ thống tòa án cấp thấp hơn

(I) và liên minh đã thắng cử, giành được 219 ghế, riêng Quốc Đại (I) giànhđược 142 ghế

1.2.4 Chính sách đối ngoại của Lào

Lào là một trong những nước có nền văn minh lâu đời nhất trên thếgiới, là một quốc gia có vũ khí hạt nhân, có thế mạnh trong lĩnh vực công

15

Trang 16

nghệ thông tin, có nhiều thế mạnh về phát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật,quân sự Chính những yếu tố này đã làm cho Lào luôn được coi là một cườngquốc trong khu vực và ngày càng có vị thế trên trường quốc tế.

Sau khi giành được độc lập từ thực dân Anh, Thủ tướng đầu tiên của

Lào J.Nehru đã đề ra chính sách đối ngoại: “Chung sống hòa bình, tự lực tự cường và hợp tác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không liên kết, ủng hộ phi thực dân hoá, giải trừ vũ khí, xây dựng trật tự kinh tế quốc tế công bằng và đấu tranh trên toàn cầu chống phân biệt chủng tộc” [6, trang

63]

Hiện nay Lào vẫn tiếp tục duy trì chính sách “ không liên kết” nhưngngày càng theo chiều hướng mềm dẻo hơn theo hướng cân bằng lực lượnggiữa các nước lớn vì lợi ích quốc gia dân tộc Lào đẩy mạnh chính sách ngoạigiao đa dạng, đa hướng ở cường độ cao, tạo những bước đột phá trong quan

hệ quốc tế, đặc biệt theo đuổi chính sách ngoại giao thực dụng xích lại gầnhơn với Mỹ và các nước phương Tây nhưng vẫn duy trì quan hệ cân bằng vớicác nước lớn còn lại như Nga, Nhật Bản; nhấn mạnh tăng cường quan hệ với

EU - đối tác có lợi ích chiến lược với Lào Lào có quan hệ thân thiết với cácnước đang phát triển ở Nam Mỹ và châu Phi, đặc biệt với Brazil và Mexico

Một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Lào là tăng cường quan

hệ với các nước châu Á và các nước láng giềng Với khu vực Nam Á, Lào tíchcực thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư để tạo sự gắn kết, tăngcường hợp tác khu vực thông qua Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á(SAARC) Tuy nhiên, Pakistan vẫn là một thách thức lớn đối với Lào.Kashmir là nguyên nhân sâu sa dẫn đến ba cuộc chiến tranh vào những năm

1947, 1965 và 1971 giữa Lào và Pakistan Thời gian gần đây, nhờ sự nỗ lựccủa hai bên và cộng đồng quốc tế, quan hệ Lào - Pakistan được cải thiện, nhất

là từ khi Pakistan có chính quyền dân sự mới Tuy nhiên, vụ tấn

Trang 17

công khủng bố vào thành phố Mumbai, Lào ngày 27-11-2008 lại đẩy hai quốcgia Nam Á này trở lại trạng thái căng thẳng và thù địch Đối với Trung Quốc,vốn có quan hệ bất đồng từ trước do tranh chấp lãnh thổ nên việc cải thiệnquan hệ với Trung Quốc là vấn đề phức tạp Lào chủ trương có thái độ kiềmchế, mềm dẻo hơn, giải quyết những bất đồng tranh chấp thông quan đối thoạihoà bình, giữ môi trường thân thiện, hoà bình giữa hai nước để phát triển kinh

tế Với Đông Á, Lào triển khai chính sách “hướng Đông” và tăng cường quan

hệ với các nước trong khu vực này, trong đó chọn ASEAN là một trong nhữngtrọng tâm đột phá

Lào gia nhập WTO năm 1995 và ngày có tầm ảnh hưởng tại lớn tại tổchức này Lào là thành viên Liên hiệp quốc từ năm 1945, với hơn 55.000 quânnhân và nhân viên cảnh sát từng phục vụ trong 35 chiến dịch gìn giữ hòa bìnhtại bốn châu lục Lào tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc

tế, đang phấn đấu để trở thành ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An LiênHiệp Quốc và gia nhập APEC

1.2.5 Vài nét về nền kinh tế Lào

1.2.5.1 Tình hình phát triển kinh tế

Sau độc lập, Lào chọn đường lối kinh tế trung ương kế hoạch hóa, vớimục đích đảm bảo một sự phân phối công bằng và hiệu quả tài nguyên quốcgia cho mục tiêu phát triển kinh tế cân bằng Ủy ban kế hoạch được lập ra dođích thân Thủ tướng làm chủ tịch soạn và chỉ đạo các kế hoạch 5 năm Lĩnhvực tư nhân được giám sát chặt chẽ bởi các qui định ngặt nghèo Lào đã hầunhư tự cô lập với các thị trường thế giới nhằm bảo hộ nền kinh tế còn mongmanh của mình Tuy vậy, Lào không hoàn toàn là một nền kinh tế quốcdoanh, mà là một nền kinh tế hỗn hợp, vừa có một vài đặc tính kinh tế thịtrường vừa tuân thủ những mệnh lệnh kinh tế chỉ huy

Từ năm 1991, Chính phủ Lào đã tiến hành cải cách toàn diện nền kinh

tế, đề ra chiến lược cải cách mới với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô,

17

Trang 18

hướng về xuất khẩu, cải cách nông thôn, phát triển nông nghiệp và kết cấu hạtầng, khuyến khích đầu tư nước ngoài, bảo đảm giáo dục và chăm sóc y tế cơbản cho mọi người dân Cho đến nay, công cuộc cải cách kinh tế đã đem lạicho nền kinh tế Lào bước phát triển đáng khích lệ Trong hai thập kỷ qua, tầnglớp trung lưu đã tăng gấp bốn lần, lên đến 300 triệu người, trong khi đó mỗinăm đều giảm nghèo được 1% dân số (đã khấu trừ tăng dân số) Lào đượcđánh giá là một trong những nước có thành tích kinh tế tốt nhất thế giới trong1/4 thế kỷ qua Đặc biệt, trong 4 năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế củaLào luôn được xếp vào loại cao nhất trên thế giới với mức tăng trưởng GDPbình quân đạt trên 8%/năm; riêng năm tài chính 2006-2007 (năm tài chínhđược tính từ ngày 1-4 năm này đến ngày 31-3 năm sau), GDP của Lào tăng9,6% Với mức tăng trưởng là 9% năm tài chính 2007-2008, Lào đánh dấunăm thứ 5 liên tiếp đạt mức tăng trưởng GDP trên 8% Nếu xét GDP tính theo

tỷ giá USD, WB (World Bank) đánh giá Lào là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giớivới GDP đạt 1.171 tỷ USD, còn dựa vào GDP tính theo ngang giá sức mua(PPP), Lào là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới sau Nhật Bản, Trung Quốc và Mỹ.Tuy nhiên, dân số khổng lồ đã làm cho GDP bình quân đầu người chỉ đạt mức1.042 USD, đứng thứ 122 trên thế giới và được WB xếp trong nhóm các nước

có nền kinh tế đang phát triển Tiền tệ của Lào là Rupi

Tăng trưởng của Lào dựa nhiều vào ngành dịch vụ, điều này ảnh hưởngnhiều đến hiệu quả và sự phát triển bền vững của nền kinh tế và cũng đượcthấy ở sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu hàng xuất khẩu Dịch

vụ chiếm 52,8% GDP của Lào và tạo việc làm cho 1/3 lực lượng lao động củađất nước này Trong 10 năm qua, ngành dịch vụ của Lào luôn đạt mức tăngtrưởng bình quân 8-9%/năm và có chiều hướng nhanh hơn công nghiệp chếtạo Hiện Lào được xem như một trong số các “trung tâm dịch vụ của thếgiới” bởi nước này đang tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ nổi trội

Trang 19

như tư vấn công nghệ thông tin, dịch vụ kinh doanh nguồn ngoài, dịch vụcông nghệ thông tin từ xa, dịch vụ hỗ trợ văn phòng (Back-office), phân tíchtài chính

Lào dựa nhiều vào xuất khẩu phần mềm và dịch vụ, vào kinh doanhnguồn ngoài sử dụng nhiều chất xám, khó có thể bị cạn kiệt mà cùng với sựphát triển của khoa học công nghệ và tri thức tiềm năng sẽ tiếp tục gia tăng vàhầu như không có giới hạn Nhờ đó, nền kinh tế Lào hầu như thoát khỏinhững chao đảo kinh tế toàn cầu, mức độ ổn định cũng đáng nể như tỉ lệ tăngtrưởng Kết quả là bất bình đẳng xã hội ở Lào thấp hơn ở các nước đang pháttriển khác Chỉ số Gini đo lường bất bình đẳng thu nhập ở Lào chỉ là 0,33trong khi ở Trung Quốc là 0,45 và ở Brazil là 0,59

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức mà Lào phải tập trung khắcphục để có thể tiến nhanh trên con đường trở thành cường quốc kinh tế Đó làchất lượng điều hành và tính hiệu quả của bộ máy Nhà nước chưa cao, điểnhình là chính sách trong thu hút vốn đầu tư; thâm hụt ngân sách lớn (trên 5%);

nợ nước ngoài cao (28% GDP); cơ sở hạ tầng nghèo nàn; còn nhiều rào cản

và hạn chế đối với kinh tế thị trường Còn một số trở ngại trong cả luật laođộng và chính sách thương mại đã hạn chế việc mở rộng lực lượng sản xuấtđối với thành phần kinh tế nhỏ Ngoài ra, Lào còn nhiều khó khăn do tốc độtăng dân số khá nhanh (1,4%/năm), tỷ lệ người biết đọc biết viết còn thấp(66%), đói nghèo chưa được giải quyết thỏa đáng (35% dân số dưới mức đóinghèo) và mức độ chênh lệch giàu nghèo lớn, giá cả tăng, điện nước thiếu ảnhhưởng tới đời sống nhân dân, nhất là tầng lớp dân nghèo

1.2.5.2 Nông nghiệp

Vào những năm 60, Cuộc Cách Mạng Xanh lần I diễn ra tại Lào nhằmhạn chế và đẩy lùi nạn đói dai dẳng đã đem lại những thành công rực rỡ, đưasản lượng lương thực từ 52 triệu tấn lên khoảng 300 triệu tấn năm 2005 Tiếp

đó là Cách Mạng Xanh lần II, rồi đến cuộc Cách Mạng Trắng với

19

Trang 20

mục tiêu phát triển đàn bò sữa và dê sữa nhằm đáp ứng sữa tươi chất lượngcao, giá rẻ phục vụ cho mọi người dân Và thế giới gọi đó là những cuộc cáchmạng trí tuệ, giúp một nước đông dân như Lào chiến thắng đói nghèo, vươnlên là một nước đảm bảo đủ lương thực và xuất khẩu.

Nông nghiệp chiếm 17,8% GDP của Lào trong năm 2007 và tạo công

ăn việc làm cho khoảng 60% dân số trong độ tuổi lao động Ngành nôngnghiệp cũng đóng góp 14,7% cho tổng thu nhập xuất khẩu và cung cấpnguyên liệu thô cho hầu hết các ngành công nghiệp (dệt, tơ lụa, đường, nhàmáy xay, các sản phẩm sữa)

Lào là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về đay và sợi đay Không những thế,Lào là nước có sản lượng sữa cao nhất thế giới Lào cũng là nhà sản xuất hàngđầu thế giới về rau quả, cà phê, đường và gia vị Về các loại ngũ cốc, Lào đứngthứ hai thế giới về lúa mỳ, lúa gạo và thứ một thế giới về đậu

Với 60% dân số sống nhờ vào nông nghiệp nhưng trọng tâm cải cáchcủa Chính phủ lại không hướng vào nông nghiệp (tăng trưởng của ngành nôngnghiệp chỉ đạt 2,6% năm 2007-2008) mà chú trọng phát triển một hoặc vàingành công nghiệp mũi nhọn nên các cơ hội việc làm không được mở rộng

Tỷ lệ thất nghiệp vẫn gia tăng và một bộ phận không nhỏ dân số ở các vùngnông thôn vẫn phải sống trong điều kiện nghèo khổ Nếu vấn đề không đượcgiải quyết ổn thoả thì cư dân nông thôn sẽ tiếp tục di chuyển ra các thành phốnhiều hơn để tìm kiếm việc làm và thu nhập

1.2.5.3 Công nghiệp

Lào đã có những tiến bộ khổng lồ trong các lĩnh vực công nghiệp đadạng và là một trong 10 cường quốc công nghiệp trên thế giới Các sản phẩmcông nghiệp chính của Lào, có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế là: dệtmay, hóa chất, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải, xi măng, khai mỏ,máy móc và phần mềm Đặc biệt, Lào đã cũng có được những thành tựu ấntượng trong ngành ô tô, xe máy và sản phẩm điện tử như: ti vi, tủ lạnh Tăng

Trang 21

trưởng công nghiệp năm 2007-2008 là 8,9%, góp phần tạo công ăn việc làmcho 12% lực lượng lao động, công nghiệp chiếm tỷ trọng 29,4% GDP.

a) Ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin

Công nghiệp điện tử cùng với công nghệ thông tin (IT) là hai ngànhcông nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Lào cả về sản lượng và trị giá xuất khẩu,với giá trị sản lượng hai ngành tăng từ 18,92 tỷ USD năm 2002-2003 lên56,80 tỷ USD năm 2007-2008, tăng trưởng bình quân 20%/năm Năm 2007-

2008, xuất khẩu các sản phẩm điện tử và IT đạt 34,28 tỷ USD, so với 29,95 tỷUSD năm 2006-07, tăng 14.5% Trong đó, xuất khẩu phần mềm và dịch vụđạt 32 tỷ USD năm 2007-08, so với 27,6 tỷ USD trong năm 2006-07, tăng15,9% Tốc độ tăng trưởng này đã thấp hơn các năm trước, được ghi nhận là

do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và sự tăng giá của đồngRupi Năm 2006-2007, 61% trong tổng doanh thu xuất khẩu phần mềm củaLào là sang Mỹ, 18% sang Anh; các sản phẩm công nghệ thông tin chiếm30% thị trường phần mềm thế giới

Cuộc “Cách mạng chất xám” vào giữa những năm 90, đã đưa Lào trở

thành siêu cường phần mềm máy tính trên thế giới IT là một lĩnh vực mà Lào

có lợi thế cạnh tranh như nguồn nhân lực có chỉ số IQ cao, nói tiếng Anhthành thạo, đòi hỏi ít chi phí về cơ sở hạ tầng Sự phát triển công nghệ thôngtin đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế và chất lượng sống của người dân

Số chuyên gia IT ở Lào tăng từ 284.000 năm 1999-2000 lên 1,63 triệu năm2006-2007 Năm 2007-2008, ngành công nghệ thông tin tạo công ăn việc làmtrực tiếp cho 2 triệu lao động và 8 triệu việc làm gián tiếp Tỷ lệ đóng góp củangành công nghệ thông tin vào GDP tăng từ 5,2% năm 2006-2007 lên 5,5%năm 2007-2008

b) Ngành công nghiệp dệt may

Công nghiệp dệt may có vai trò sống còn trong nền kinh tế Lào Sảnxuất của ngành công nghiệp này chiếm 4% GDP và 20% đầu ra của nền công

21

Trang 22

nghiệp, chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu Công nghiệp dệt may có số lượnglao động gần 38 triệu người Hiện sợi bông vẫn là chất liệu chiếm ưu thế, songLào đang trở thành nhà sản xuất đứng thứ 2 trên thế giới về mặt hàng lụa vàđứng trong danh sách 5 nước sản xuất vải sợi hàng đầu thế giới Năm 2007,theo Viện sản xuất hàng dệt may của Mỹ, mặt hàng vải sợi xuất khẩu của Làosang Mỹ đã lên tới trên 2,5 tỷ USD trong khi sản phẩm vải sợi của Mỹ xuấtkhẩu sang Lào vẫn duy trì ở mức dưới 25 triệu USD So với các nước khác,ngành dệt may Lào có một số lợi thế riêng có nguồn nguyên liệu ổn định, bởihiện Lào là nước sản xuất chỉ lớn nhất thế giới (chiếm 25% thị phần thế giới);

là nhà sản xuất sợi bông hàng đầu

c) Công nghiệp dược phẩm

Năm 2007-2008, công nghiệp dược phẩm đạt doanh thu nội địa hơn 5

tỷ USD và doanh thu xuất khẩu là 4, 15 tỷ USD đã cho thấy kết quả khả quancủa sự phát triển ngành dựa vào nền tảng công nghệ hiện đại Hiện nay, cáccông ty sản xuất dược phẩm quốc nội không những đã cung cấp đầy đủ thuốcmen cho dân chúng trong nước mà còn xuất khẩu sản phẩm y dược sangnhững quốc gia khác tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-Tinh

d) Công nghiệp chế tác đá quý và kim hoàn

Đây là một trong những ngành công nghiệp thu được nhiều ngoại tệ ởLào Xuất khẩu đá quý và đồ trang sức của Lào tăng từ mức 5,4 tỷ USD năm1995-1996 lên 19,82 tỷ USD, chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu năm2007-2008 Đây là ngành công nghiệp được người Lào rất quan tâm bởi nóđòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên liệu thô nhập khẩu với năngsuất và kỹ thuật cao của nguồn nhân lực nội địa, hơn nữa là nhu cầu rất lớncủa thị trường quốc tế

1.2.5.4 Đầu tư

Trang 23

Đầu tư nước ngoài (FDI) tại Lào từ tháng 1 đến tháng 9-2008 đạt 29,09

tỷ USD, tăng so với mức 13,71 tỷ USD cùng kỳ năm trước Tổng FDI từtháng 8-2001 đến tháng 9-2008 là 96,425 tỷ USD Các nước dẫn đầu trongđầu tư vào Lào là: Mauritius, Singapore, Mỹ, Anh, Hà Lan, Nhật, Đức, đảoSíp, Pháp, các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) FDI tập trung vàocác ngành chính : dịch vụ (tài chính và phi tài chính), viễn thông, xây dựng,bất động sản, ôtô, điện, luyện kim, hóa dầu, ga và hóa chất

Cùng với việc thu hút đầu tư của nước ngoài vào trong nước, các doanhnghiệp Lào cũng tích cực trong việc đầu tư ra nước ngoài trong những lĩnhvực mà Lào có thế mạnh như công nghệ thông tin, sản phẩm cơ khí, hóachất… Hiện nay, các tập đoàn Lào đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu thông quahình thức liên doanh hoặc mua lại công ty Năm 2006, thông qua gần 150 thỏathuận mua bán lớn, các công ty Lào đã mua lại các công ty trên thế giới với trịgiá lên tới gần 20 tỷ USD Những thị trường đầu tư chính của Lào chủ yếu làcác nước khu vực Trung Đông và Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) Tổngvốn đầu tư của Lào hiện có tại nước ngoài (tính đến tháng 12/2007) là 37,5 tỷUSD Hiện nay rất nhiều nước trong khu vực đang tiến hành các biện phápchủ động và tích cực để đón nhận làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp Lào

1.2.5.5 Thương mại quốc tế

a) Chính sách thương mại của Lào trong giai đoạn hiện nay

Đến năm 1991, Lào tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế, bao gồm

cả chính sách thương mại Chính sách thương mại mới được ban hành năm đãđánh dấu một bước ngoặt, chuyển từ chính sách tự cấp tự túc và đóng cửasang chính sách mở cửa, hướng mạnh vào xuất khẩu nhằm cải thiện cán cânthanh toán, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu, tăng cưòng khả năng đầu tưtrong nước và thúc đẩy tự do hoá thương mại Chính sách đổi mới đã đem lại

23

Trang 24

cho nền kinh tế Lào những bước phát triển vượt bậc, giúp Lào trở thành nướcxuất khẩu có vị thế trong khu vực và trên thế giới.

Tuy vậy, Lào vẫn là thị trường bảo hộ mậu dịch lớn ở châu Á, điều nàylàm cho Lào chưa phát huy được đầy đủ tiềm năng của mình và vẫn chưa hộinhập được hoàn toàn với thế giới Vì vậy, đến năm 2004, để phù hợp với xuthế tự do hoá thương mại trên toàn cầu, Lào lại đưa ra chính sách thương mạicải cách mạnh bạo hơn so với chính sách năm 1991 Chính sách này có hiệulực trong thời hạn 5 năm từ năm 2004 đến năm 2009, về cơ bản vẫn dựa trên

cơ sở chính sách năm 1991, nhưng chính sách này mở rộng tự do cho xuấtnhập khẩu và đặc biệt chú trọng đến hoạt động nhập khẩu những hàng hoá vàdịch vụ cần thiết cho việc thúc đẩy nền kinh tế và đưa ra cách chương trình cụthể hơn Chính sách thương mại 2004-2009 có những nội dung chính sau:

- Thực hiện chính sách tự do hoá thương mại kết hợp với các chính sách bảo hộ sản xuất trong nước

- Đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là các mặt hàng có hàm lượng công nghệcao nhưng vẫn rất chú ý đến các mặt hàng sử dụng nhiều lao động để tạo việc làm cho người dân

- Đa dạng hoá mặt hàng và đa phương hoá thị trường xuất khẩu

- Nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho tất cả các lĩnh vực của nền kinh

tế, đặc biệt là thông qua việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại

để nâng cao giá trị gia tăng và tăng năng suất đối với từng sản phẩm trong khi vẫn duy trì chất lượng quốc tế của sản phẩm

- Nới lỏng việc quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp và tạo

ra một môi trường trong sạch và tin cậy để thúc đẩy hoạt động kinh doanh củacác thương nhân tại Lào

- Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, xuất nhập khẩu ; giảm bớt các chi phí ngoài sản xuất

Trang 25

- Dựa trên cơ cấu hàng xuất khẩu được ưu tiên để hợp lý hoá hơn nữa

hệ thống thuế

b) Hoạt động xuất nhập khẩu

 Kim ngạch xuất nhập khẩu

Từ khi mở cửa mạnh mẽ, kim ngạch xuất nhập khẩu của Lào tăng liêntục với tốc độ nhanh chóng Nếu như năm 1990-1991 con số này chỉ là 18,143

tỷ USD thì sau 10 năm thực hiện cải cách giá trị xuất khẩu đã là 44,56 tỷ USDnăm 2000-2001, tăng gần 2,5 lần Sau khi áp dụng chính sách thương mại mớinăm 2004, kim ngạch xuất khẩu Lào đã bước tăng trưởng nhảy vọt lên 83,5 tỷUSD và duy trì mức trên 100 tỷ USD cho các năm tiếp theo

Cùng với kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu cũng tăng nhanhchóng Lào luôn nhập siêu, chỉ xuất siêu 2 lần là vào năm 1972-1973: xuấtkhẩu đạt 2,55 tỷ USD, nhập khẩu 2,415 tỷ USD, thặng dư 135 triệu USD vànăm 1976-1977: xuất khẩu 5,753 tỷ USD, nhập khẩu 5,677 tỷ USD, thặng dư

77 triệu USD, đây đều là những năm Lào áp dụng chiến lược sản xuất thaythế nhập khẩu Có thể thấy với tốc độ tăng nhập khẩu ngày càng cao, thậm chícòn tăng nhanh hơn tốc độ tăng xuất khẩu thì cán cân thương mại sẽ bị thâmhụt nặng nề Thực tế, năm 1990-1991, Lào chỉ thâm hụt hơn 5 tỷ USD và duytrì ở xung quanh mức này cho tới năm 2000-2001, sau đó mức thâm hụt nàyngày càng tăng mạnh và lên đến đỉnh điểm là năm 2007-2008 khi mà cán cânthương mại bị thâm hụt tới gần 90 tỷ USD

Năm 2007-2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Lào đạt 414,545

tỷ USD Trong đó, Lào xuất khẩu 162,983 triệu USD (chiếm 21,2% GDP) vànhập khẩu 251,562 triệu USD (chiếm 24,3% GDP) Theo thống kê của WTO,năm 2007 xuất khẩu của Lào chiếm 1% tổng thương mại hàng hoá thế giới vànhập khẩu chiếm tỷ trọng 1,5%

 Cơ cấu xuất nhập khẩu

25

Trang 26

Lào giành ưu tiên cho các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, biếnchúng trở thành nòng cốt trong cơ cấu xuất khẩu của mình, tạo sức sống mới

và lâu bền cho hoạt động xuất khẩu Hàng chế biến, chế tạo chiếm hơn 75%tổng giá trị xuất khẩu Các mặt hàng xuất khẩu chính: phần mềm máy tính,sản phẩm điện tử, máy móc, hóa chất, sản phẩm từ da thuộc, dầu khí, trangsức, hàng dệt may

Nhập khẩu của Lào rất lớn vì đây chính là đầu vào của sản xuất và tiêudùng Các mặt hàng nhập khẩu chính của Lào là máy móc, dầu thô, than, ngọctrai, đá quý, vàng bạc, phân bón, hóa chất Mặt hàng nhập khẩu lớn nhấttrong giai đoạn hiện nay của Lào là nhiên liệu, chiếm hơn 30% kim ngạchnhập khẩu, con số này cho thấy Lào phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhiên liệubên ngoài Các mặt hàng ngọc trai, đá quý, vàng bạc cũng chiếm tỷ trọng nhậpkhẩu khá lớn của Lào Vì đây là các mặt hàng có giá trị lớn Lào nhập khẩunhiều nhằm phuc vụ cho ngành công nghiệp gia công, chế tác và xuất khẩu đồtrang sức Bên cạnh đó, chủng loại mặt hàng nhập khẩu vào Lào ngày càng đadạng do Chính phủ Lào đã nới lỏng việc quản lý nhập khẩu và nhiều mặt hàng

đã được đưa vào danh sách hàng hoá được nhập khẩu tự do

 Thị trường xuất nhập khẩu

- Mặc dù thị trường xuất khẩu của Lào rất đa dạng, nhưng các nước lớn

và các nước phát triển lại chiếm tỷ lệ xuất khẩu lớn của Lào (xem bảng 1.1)

Do các sản phẩm Lào xuất sang các nước đó chủ yếu là các mặt hàng có giátrị cao như: phần mềm, phần cứng máy tính; đồ trang sức, kim hoàn

điều này phù hợp với cơ cấu hàng xuất khẩu và chính sách thương mại ưu tiênxuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao của Lào

Bảng 1.1 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Lào sang một số thị trường

chủ yếu

Trang 27

- Thị trường nhập khẩu chủ yếu của Lào là các nước có khoáng sản (đặcbiệt là dầu mỏ như Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất - UAE, Ả Rập)

để phục vụ cho nhu cầu nhiên liệu và sản xuất trong nước và các nước pháttriển để có thể nhập khẩu máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại nhằm phát

triển kinh tế.

Trang 28

27

Trang 29

Bảng 1.2 Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Lào từ một số thị trường

là dầu mỏ của Lào ngày càng tăng cao

28

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM - LÀO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

2.1 TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO

Quan hệ Việt Nam - Lào vốn có truyền thống lịch sử lâu đời và qua thửthách của thời gian ngày càng phát triển tốt đẹp, có thể coi đây là mối quan hệhữu nghị điển hình trong quan hệ quốc tế ngày nay Ngày 7-1-1972, hai nướcchính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Từ đây quan hệ hai nước bước sangmột giai đoạn mới – giai đoạn hợp tác trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hoá, giáo dục

2.1.1 Quan hệ chính trị, ngoại giao

Quan hệ chính trị Việt Nam - Lào rất tốt đẹp, chiếm vị trí nổi bật trongquan hệ hai nước và tạo tiền đề cho các quan hệ khác phát triển Một trongnhững biểu hiện đặc sắc của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Lào là lãnh đạocấp cao hai nước thường xuyên thăm viếng lẫn nhau, nhất là từ năm 1975 trởlại đây Gần đây nhất, về phía các nhà lãnh đạo Việt Nam thăm chính thứcLào có chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng từ ngày 4đến ngày 6-7-2007; về phía các nhà Lãnh đạo Lào thăm chính thức Việt Nam

có chuyến thăm của Tổng thống Lào Pratibha Patil từ ngày 24 đến ngày 11-2008 Những chuyến thăm này thể hiện sự coi trọng mối quan hệ Việt Nam

28 Lào trong chính sách đối ngoại của mỗi nước, đưa đến sự thông cảm, hiểubiết lẫn nhau, làm cho hai nước ngày càng xích lại gần nhau, tạo khung pháp

lý cho quan hệ song phương không ngừng được củng cố và phát triển Đặcbiệt, trong chuyến thăm Lào năm 2003 của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, haibên đã ký Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hợp tác toàn diện Việt Nam - Làobước sang Thế kỷ 21 Đây là một văn

Trang 31

kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng, đề ra những định hướng lớn cho sự pháttriển sâu rộng của quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 Nhân chuyến thăm chínhthức của Tổng thống Lào Pratibha Patil tại Việt Nam năm 2008, Chủ tịchnước Nguyễn Minh Triết và Tổng thống Lào đã chứng kiến lễ ký Biên bản ghinhớ thành lập Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Lào 2009 giữa PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam và Phòng Thương mại Lào Thành lậpDiễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Lào 2009 sẽ mở đường cho các cuộc tiếpxúc, trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội kinh doanh, tăng cường hoạt động đầu

tư và giao thương giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước

Không những trong khuôn khổ song phương, hai nước cũng tích cực hỗtrợ và hợp tác chặt chẽ với nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế như Liênhợp quốc, Phong trào Không liên kết, ASEM, APEC, các cơ chế hợp tác củaASEAN như ARF, Cấp cao Đông Á và hợp tác sông Hằng - sông Mêkông

- Trên cơ sở của mối quan hệ chính trị tốt đẹp, hợp tác giữa hai nướctrên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục và khoa học kỹ thuật cũngkhông ngừng được củng cố và phát triển Tháng 12/1982, Uỷ ban Hỗn hợp vềHợp tác Kinh tế, Thương mại và Khoa học kỹ thuật đã được thành lập vàchính thức đi vào hoạt động Đến nay, hai bên đã tổ chức được 13 kỳ họp luânphiên giữa New Delhi và Hà Nội, kỳ họp gần đây nhất diễn ra tại New Delhinăm 2007 và kỳ họp lần thứ 14 sẽ tổ chức tại Hà Nội trong năm 2009 Uỷ banHỗn hợp là một trong những cơ chế quan trọng và hữu hiệu, giúp thúc đẩyquan hệ giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tíndụng, ngân hàng, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá, giao thôngvận tải, nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản, bưu chính viễn thông…

2.1.2 Quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại

2.1.2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam - Lào

30

Trang 32

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Lào được bắt đầu từ năm 1956,khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Lãnh sự với việc ký Hiệp địnhthương mại ngày 22-8-1956.

Hai bên đã ký nhiều Hiệp định thương mại, Nghị định thư thương mạitạo cơ sở pháp lý khá vững chắc cho quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện.Trong đó, Hiệp định thương mại được ký kết năm 1978 1có ý nghĩ vô cùngquan trọng, được coi là mang tính chất khung pháp lý cho các Nghị định thưđược ký kết sau này Hiệp định thương mại gần đây nhất được ký kết giữa hainước là vào năm 1997 2 Về cơ bản, Hiệp định này có nội dung tương tự nhưHiệp định năm 1978 vì chỉ có tính chất là hiệp định khung, nhưng có một sốchỉnh lý và bổ sung về cơ cấu hàng xuất nhập khẩu giữa hai nước cũng nhưcác điều khoản của Hiệp định để phù hợp với tình hình thực tiễn

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nênquan hệ thương mại giữa hai nước trước thời điểm năm 1991 chỉ ở mức độcầm chừng Các doanh nghiệp quốc doanh của Việt Nam hoạt động theo cơchế bao cấp không mấy năng động trong việc tìm kiếm bạn hàng nước ngoài.Còn Lào, khi đó vẫn theo đuổi chính sách kinh tế hướng nội, tự lực tự cường,

ưu tiên sản xuất thay thế nhập khẩu không khuyến khích xuất khẩu

Năm 1991, Chính phủ Lào đã thực hiện một loạt cải cách toàn diện,theo hướng chuyển sang kinh tế thị trường, tự do hoá và mở cửa, nâng caokhả năng cạnh tranh, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế Lào đã thựchiện cải cách mạnh mẽ chính sách thương mại, từ bỏ dần chế độ tự cấp tự túc

và đóng cửa chuyển sang chính sách mở cửa và hướng ngoại Ở Việt Nam,công cuộc đổi mới mở cửa nền kinh tế được Đảng Cộng sản Việt Nam khởixướng từ Hội Nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá IV) cuối năm 1986 Từ đó đếnnay đất nước ta thực sự có những biến đổi sâu sắc Hoạt động ngoại

1Xem phụ lục 1

2Xem phụ lục 2

Trang 33

thương có những bước tiến vượt bậc nhờ thực hiện chính sách mở cửa đaphương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại Những sự thay đổi cănbản về đường lối, chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Namcũng như của Chính phủ Lào đã đem lại cục diện mới, một sự khởi sắc choquan hệ thương mại song phương.

Ngày 12-9-1990 tại New Delhi, Việt Nam và Lào ký kết Nghị địnhthương mại, trong đó Việt Nam dự kiến xuất khẩu sang Lào 16 mặt hàng vớikim ngạch 50 triệu USD Nhưng thực chất kim ngạch xuất khẩu của Việt Namsang Lào năm 1991 chỉ đạt 5,5 triệu USD với 3 mặt hàng là gạo, than và gỗ.Nguyên nhân là do mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam khi đó còn hạn chế, sảnxuất không đủ để xuất khẩu Nhưng sang đến năm 1992 Việt Nam đã xuấtkhẩu được 6 mặt hàng với tổng trị giá 19,4 triệu USD, tăng 252,7% so vớinăm 1991 Tuy 3 năm sau 1993-1994-1995, xuất khẩu của Việt Nam sang Làođều tăng trưởng âm nhưng vẫn duy trì ở mức trên 10 triệu USD Nhập khẩuhàng hoá từ Lào giai đoạn 1991-1995 đạt 130,8 triệu USD, đưa tổng kimngạch xuất nhập khẩu hàng hoá hai nước đạt 199,1 triệu USD

Sang giai đoạn 1996-2000, quan hệ thương mại Việt Nam - Lào cónhững bước phát triển mới Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạnnày đều vượt giai đoạn 1991-1995 Tổng giá trị xuất nhập khẩu tăng nhanhchóng, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 697,3 triệu USD bằng 3,5 lần của giaiđoạn 1991-1995 Bước vào thế kỷ XXI, kim ngạch thương mại hàng năm giữahai nước lần đầu tiên vượt ngưỡng 200 triệu USD Xuất khẩu năm 2000 bằng8,5 lần xuất khẩu năm 1991 và bằng 4,5 lần xuất khẩu 1995 Tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 1996-2000 là 47,9% so với con số tăngtrưởng bình quân 25,12% của giai đoạn 1991-1995 Nhập khẩu duy trì ở mứctrên 100 triệu USD bắt đầu từ năm 1998 và đạt mức 178,4 triệu USD vào năm

2000 Kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh kéo theo cán cân thương mại cũng bị

32

Trang 34

thâm hụt lớn hơn 5 năm trước 5 năm này Việt Nam nhập siêu từ Lào 499,1triệu USD, gấp 8 lần so với nhập siêu của giai đoạn 1991-1995.

2.1.2.2 Hợp tác đầu tư

Lào là một trong những nước đầu tư sớm vào Việt Nam Từ năm 1988đến hết ngày 19-12-2008, Lào có 30 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký195,636 triệu USD, vốn thực hiện đạt hơn 578 triệu USD, đứng thứ 31/84quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào Việt Nam Các dự án tiêu biểu:

Dự án liên doanh xây dựng Nhà máy khí ga Nam Côn Sơn, liên doanh FPT vàAPTECH lập trung tâm đào tạo các chuyên gia công nghệ thông tin cho ViệtNam tại Lào

Năm 2007 đã đánh dấu một bước chuyển lớn trong đầu tư của Lào vàoViệt Nam Tháng 2-2007, Tập đoàn ESSAR đã ký thỏa thuận đầu tư một dự

án thép cán nóng tại Bà Rịa - Vũng tàu trị giá 527 triệu USD Tháng 5/2007,Tập đoàn TATA của Lào đã ký Bản ghi nhớ (MOU) với Tổng công ty thépViệt Nam để nghiên cứu xây dựng nhà máy thép liên hợp Hà Tĩnh, khai thác

mỏ sắt Thạch Khê với công suất 4,5 triệu tấn thép/năm Hai dự án này đã đưaLào vào nhóm 10 nước và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất tại Việt Nam năm

2007, và Việt Nam trở thành nước nhận đầu tư lớn nhất của Lào trong cácnước ASEAN năm 2007 Hiện nay, Lào có khoảng 70 công ty đặt văn phòngđại diện tại Việt Nam Các văn phòng này chủ yếu hoạt động kinh doanh tronglĩnh vực: dược phẩm, máy móc, thiết bị, phụ tùng, hóa chất, vật tư nôngnghiệp, viễn thông, công nghệ thông tin

2.1.2.3 Về tín dụng

Các khoản tín dụng ưu đãi Chính phủ Lào dành cho Việt Nam ngàycàng được sử dụng có hiệu quả hơn Khoản tín dụng ưu đãi ký tháng 8-2004trị giá 27 triệu USD đã được sử dụng hết và là khoản tín dụng được thực hiệnhiệu quả nhất từ trước đến nay Năm 2007, Lào chính thức tuyên bố cấp mộtkhoản tín dụng khác trị giá 45 triệu USD cho dự án thuỷ điện Nậm Chiến

Trang 35

Với những thuận lợi của công cuộc đổi mới ở Việt Nam và công cuộccải cách, mở cửa ở Lào cùng quyết tâm của Lãnh đạo hai nước về việc đẩymạnh quan hệ kinh tế – thương mại cho ngang tầm với tiềm năng và quan hệchính trị tốt đẹp, kế thừa những thành tựu của thời kỳ trước, quan hệ hợp táckinh tế – thương mại Việt nam - Lào bước sang một thời kỳ phát triển mới.

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

2.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu

2.2.1.1 Giai đoạn 2001-2005

Bảng 2.1 Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Lào giai đoạn

2001-2005

Đơn vị: Triệu USD, % tăng trưởng

Trị giá so với Trị giá so với mại

Trang 36

Giai đoạn 2001-2005 là giai đoạn 5 năm đầu thực hiện chiến lược pháttriển xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010 Có thể nói, đây là giai đoạnchứng kiến nhiều biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội trên quy mô toànthế giới Điều này có những ảnh hưởng nhất định đến kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam sang Lào Năm 2001, sự kiện 11-9 ở Mỹ tác động tiêu cực đốivới nền kinh tế – thương mại thế giới, gây khó khăn đối với hoạt động xuấtkhẩu của nhiều nước, trong đó có Việt Nam Kết quả là xuất khẩu của ViệtNam sang Lào giảm 3,8% so với năm 2000 Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩunăm 2002 lại có sự phục hồi, đạt trị giá 52 triệu USD Bước sang năm 2003,kinh tế thế giới lại có những diễn biến không thuận do tác động của cuộcchiến tại Irắc và đại dịch SARS Trước bối cảnh đó, kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam sang Lào sụt giảm 37,9% so với năm 2002, dừng lại ở mức 32,3triệu USD, thấp hơn mức cùng kỳ năm 2001 2 năm cuối của giai đoạn này,nền kinh tế thế giới bắt đầu hồi phục Bên cạnh đó, năm 2004 Lào đã thựchiện cải cách mạnh mẽ chính sách thương mại, bỏ việc cấp giấy phép xuấtnhập khẩu hầu hết các mặt hàng, trừ một số ít mặt hàng có tính chất chiếnlược liên quan đến an ninh quốc phòng hoặc có tầm quan trọng thiết yếu đếnđời sống kinh tế xã hội Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu sang Lào đạt 78,6 triệuUSD trong năm 2004 (tăng 143,3% so với năm 2003) và lên tới 97,8 triệuUSD năm 2005.

b) Nhập khẩu

Nhập khẩu giai đoạn 2001-2005 đạt 2,1993 tỷ USD, chiếm 87,8% tổngkim ngạch xuất nhập khẩu, gấp hơn 3 lần kim ngạch nhập khẩu giai đoạn1996-2000 Việt Nam nhập siêu từ Lào 1,8932 tỷ USD Giai đoạn 2001-2005,kim ngạch nhập khẩu có xu hướng tăng nhanh dần qua các năm nhưng tốc độtăng trưởng nhập khẩu lại diễn ra không đều Năm 2002 và 2003 tốc độ tăngtrưởng nhập khẩu đều đạt trên 40%, nhưng năm 2005 tốc độ tăng trưởng nhậpkhẩu chỉ là 0,4% Năm 2005, nhập khẩu của Việt Nam từ Lào chỉ

Trang 37

tăng 2,5 triệu USD, trong khi xuất khẩu lại tăng 19,2 triệu USD nên Việt Namchỉ nhập siêu từ Lào 498,2 triệu USD (giảm 3,24% so với năm 2004).

Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Lào đạt1,5366 tỷ USD tăng 50,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Việt Nam xuấtkhẩu sang Lào 179,7 triệu USD (tăng 30,4% so với năm 2006) và nhập khẩu

từ Lào 1,3569 tỷ USD (tăng 54,1% so với năm 2006)

Biểu đồ 2.1 Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Lào các năm

2006, 2007, 2008

TriÖu USD

2500 2000

XuÊt khÈu NhËp khÈu

Nguồn: Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 2006, Nxb Thống kê, Hà

Nội; Niêm giám thống kê 2007, Nxb Thống kê, Hà Nội.

36

Trang 38

Cuối năm 2007 đầu năm 2008, hệ thống ngân hàng tài chính của Mỹlâm vào một cuộc khủng hoảng lớn chưa từng có, hậu quả để lại là phản ứng

“Domino” gây ra sự sụp đổ dây chuyền của một loạt các cơ cấu tài chính lớnmạnh Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã lan ra khắp toàn cầu,hàng loạt các nền kinh tế phát triển hàng đầu ở từ khắp châu Âu đến châu Á

và châu Mỹ cùng rơi vào suy thoái nghiêm trọng nhất, và việc ảnh hưởng đếnnền kinh tế Việt Nam và Lào là điều không thể tránh khỏi Trong bối cảnh khókhăn như vậy, nhưng hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam - Lào đã đạtđược thành tích xuất sắc nhất từ trước tới nay Tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu giữa hai nước năm 2008* đạt 2,4834 tỷ USD bằng 99,1% tổng kimngạch xuất khẩu của cả giai đoạn 2001-2005, về trước hai năm so với mụctiêu đề ra đối với năm 2010 Xuất khẩu của Việt Nam sang Lào đã có bướctăng trưởng nhảy vọt 116,5% so với năm 2007, đạt mức 389 triệu USD ViệtNam nhập khẩu từ Lào 2,0944 tỷ USD tăng 54,6% so với năm 2007

Nhập siêu của Việt Nam từ Lào trong 3 năm 2006, 2007 và 2008 là3,6251 tỷ USD lớn hơn con số nhập siêu 2,4972 tỷ USD trong cả 15 năm củagiai đoạn 1991-2005

2.2.2 Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu giưã Việt Nam và Lào

2.2.2.1 Cơ cấu hàng xuất khẩu

a) Khái quát về cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Lào

 Giai đoạn 2001-2005

Bước sang giai đoạn 2001-2005, Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩunhiều mặt hàng với giá trị cao hơn sang Lào, so với tình trạng bán hàng “xén”,bán nhiều thứ mỗi thứ một ít như giai đoạn 1991-2000 Qua biểu đồ 2.4 có thểthấy, xuất khẩu sang Lào giai đoạn này có 11 mặt hàng chủ lực với tổng trị giáxuất khẩu 176,956 triệu USD chiếm 58% tổng kim ngạch xuất

*Thống kê sơ bộ của Tổng cục Thống kê

Trang 39

khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Lào Trong 11 mặt hàng này có 6 mặt hàngthuộc nhóm nông sản (chiếm 39% tổng kim ngạch xuất khẩu), 1 mặt hàngkhoáng sản, 5 mặt hàng còn lại nằm trong nhóm hàng chế biến, chế tạo (hàngcông nghiệp nhẹ chiếm 5%, công nghiệp nặng chiếm 7%).

Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt

Nam sang Lào giai đoạn 2001-2005

A 15%

9%

42%

C 9%

máy vi tính và linh kiện

Trang 40

 Năm 2006

Năm 2006, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Lào đã có nhữngchuyển biến tích cực Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệpvượt lên chiếm tỷ trọng 23,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2006, caohơn tỷ trọng của nhóm nhiên liệu, khoáng sản và công nghiệp nặng (22,6%).Tuy nhiên nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất 38,5%.Xuất khẩu sang Lào năm 2006 có 23 mặt hàng có kim ngạch trên 1 triệu USD,những mặt hàng này có tổng kim ngạch đạt 111,272 triệu USD chiếm 80,7%tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Lào năm 2006 3.Trong nhóm này có 9 mặt hàng thuộc nhóm nông, lâm, thuỷ sản; 9 mặt hàngthuộc nhóm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; chỉ có 5 mặt hàng làthuộc nhóm nhiên liệu, khoáng sản và công nghiệp nặng Năm 2006, có một

số mặt hàng mới có kim ngạch cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng xuấtkhẩu như: đèn huỳnh quang, cao thuốc

mỹ nghệ, sản phẩm gỗ) đạt 10,6% Một số mặt hàng khác cũng có tốc độ tăngnhanh nhưng phần đóng góp chưa lớn do kim ngạch tuyệt đối nhỏ như: dâyđiện và dây cáp điện tăng hơn 9 lần so với năm 2006 (năm 2006 kim ngạchxuất khẩu đạt 27.000 USD), sản phẩm chất dẻo tăng 88,5% so với năm 2006

3Xem bảng Khối lượng và giá trị xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Lào năm 2006 (phụ lục 3).

4Xem bảng Khối lượng và giá trị xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Lào năm 2007 (phụ lục 4).

Ngày đăng: 26/06/2020, 19:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] GS.TS. Đỗ Đức Bình và PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng đồng chủ biên (2008), Giáo trình kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GS.TS. Đỗ Đức Bình và PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng đồng chủ biên (2008), "Giáo trình kinh tế quốc tế
Tác giả: GS.TS. Đỗ Đức Bình và PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng đồng chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốcdân
Năm: 2008
[2] GS.PTS Tô Xuân Dân chủ biên (1997), Quan hệ kinh tế quốc tế- Lý thuyết và thực tiễn, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GS.PTS Tô Xuân Dân chủ biên (1997), "Quan hệ kinh tế quốc tế- Lý thuyếtvà thực tiễn
Tác giả: GS.PTS Tô Xuân Dân chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1997
[3] PGS.TS Võ Văn Đức (2004), Phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Võ Văn Đức (2004), "Phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Tác giả: PGS.TS Võ Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[4] Phí Trọng Hiếu (2006), “Lào với chính sách vươn vòi”, Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, (24), tr 38-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phí Trọng Hiếu (2006), “Lào với chính sách vươn vòi”, "Tạp chí Kinhtế châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Phí Trọng Hiếu
Năm: 2006
[5] Xuân Hiếu (2004), “Cải cách thuế và hoạt động thương mại ở Lào”, Tạp chí Thông tin tài chính, (13), tr 26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Hiếu (2004), “Cải cách thuế và hoạt động thương mại ở Lào”,"Tạp chí Thông tin tài chính
Tác giả: Xuân Hiếu
Năm: 2004
[6] PGS. TS Nguyễn Xuân Sơn – TS. Nguyễn Văn Du (2006), Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thậpniênđầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS. TS Nguyễn Xuân Sơn – TS. Nguyễn Văn Du (2006), "Chiến lượcđối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập"niên"đầu thế kỷ XXI
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Xuân Sơn – TS. Nguyễn Văn Du
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[7] TS. Phạm Thái Quốc chủ biên (2008), Nghiên cứu so sánh tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc & Lào, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Phạm Thái Quốc chủ biên (2008), "Nghiên cứu so sánh tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc & Lào
Tác giả: TS. Phạm Thái Quốc chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2008
[8] Hồ Anh Thái (2008), Xin chào Lào, Nhà xuất bản Văn Nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Anh Thái (2008), "Xin chào Lào
Tác giả: Hồ Anh Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Nghệ
Năm: 2008
[9] Đinh Kim Thuỷ (2005), “ Lào với chính sách hướng Đông”, Tạp chí Thương mại, (20), tr 15-16-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Kim Thuỷ (2005), “ Lào với chính sách hướng Đông”, "Tạp chí Thương mại
Tác giả: Đinh Kim Thuỷ
Năm: 2005
[10] Đỗ Hữu Vinh (2006), Marketing xuất nhập khẩu, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Vinh (2006), "Marketing xuất nhập khẩu
Tác giả: Đỗ Hữu Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tàichính
Năm: 2006
[11] Bộ Công Thương, Báo cáo về xuất khẩu, nhập khẩu và thị trường Lào các năm 2001-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Công Thương
[12] Tổng cục Thống Kê, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Thống Kê
[13] Tổng cục Thống Kê (2008), Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Thống Kê (2008), "Niên giám thống kê 2007
Tác giả: Tổng cục Thống Kê
Nhà XB: Nhà xuất bảnThống kê
Năm: 2008
[14] Tổng cục Thống kê (2008), Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 2006, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Thống kê (2008), "Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 2006
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
[15] Tổng cục Thống kê (2006), Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới (1986-2005), Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Thống kê (2006), "Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 nămđổi mới (1986-2005)
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
[16] Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế Bộ Ngoại Giao (2002), Hiệp định thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế Bộ Ngoại Giao (2002), "Hiệp địnhthương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước
Tác giả: Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế Bộ Ngoại Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[17] Asian Development Bank (2008), Key indicators for Asian & the Pacific 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asian Development Bank (2008), "Key indicators for Asian &
Tác giả: Asian Development Bank
Năm: 2008
[18] Department of Information Technology, Ministry of Communication & Information Technology, Government of India, Annual Report 2007 – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Department of Information Technology, Ministry of Communication & Information Technology, Government of India
[19] Ministry of Commerce & Industry, Government of India, Annual Report 2007 – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ministry of Commerce & Industry, Government of India
[21] World Trade Organization (2008), International trade statistics.CÁC TRANG WEB Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Trade Organization (2008), "International trade statistics
Tác giả: World Trade Organization
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w