1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà ri lai nuôi thịt tại trại gà của ông nguyễn thành luân, thị trấn quân chu, đại từ, thái nguyên

55 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của thị trấn Quân Chu - Thực trạng phát triển kinh tế - Tăng trưởng kinh tế: + Thực hiện Nghị quyết của đại hội Đảng bộ và Nghị quyết của Hội đồng nhân

Trang 1

ĐOÀN VĂN QUỲNH

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 2

ĐOÀN VĂN QUỲNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Trương Hữu Dũng

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực tập tại trại là một thời gian để em trau dồi kiến thức chuyên môn, những kỹ năng sống và đặc biệt là thực hành những lý thuyết đã được học vào thực tế Từ đó giúp em có thêm hành trang để vững bước vào cuộc sống và hoàn thành tốt khóa luận để tốt nghiệp ra trường Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết, em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô khoa Chăn nuôi thú y - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em được có cơ hội để học tập và rèn luyện trong thời gian qua

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS Trương Hữu Dũng đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành tốt bản khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên trại gà thịt Nguyễn Thành Luân thị trấn Quân Chu - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tại cơ sở

Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ anh chị em, cùng bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ và động viên em để em hoàn thành tốt khóa học này

Do trình độ bản thân còn hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô, các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Thái nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Đoàn Văn Quỳnh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của thị trấn Quân Chu 5

2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất của trại 6

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại 7

2.1.5 Thuận lợi, khó khăn 7

2.2 Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước 8

2.2.1 Cơ sở khoa học 8

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 28

3.1 Đối tượng và phạm vi thực hiện 28

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 28

3.3 Nội dung thực hiện 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4.1 Công tác chăm sóc 28

3.4.2 Công tác vệ sinh phòng bệnh 31

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 33

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh và phòng bệnh cho gà 34

Trang 5

4.1.1 Công tác vệ sinh sát trùng tại trại 34

4.1.2 Thực hiện làm văc-xin tại trại 35

4.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các tuần tuổi 37

4.3 Kết quả điều trị gà mắc các bệnh thông thường 38

4.4 Kết quả thực hiện công tác khác tại cơ sở 40

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Kiến nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHO ĐỀ TÀI

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Khẩu phần ăn cho gà 30

Bảng 3.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn 30

Bảng 3.3 Lịch phòng bệnh của gà 32

Bảng 3.4 khối lượng trung bình của gà qua từng tuần tuổi 33

Bảng 4.1 Kết quả vệ sinh sát trùng 35

Bảng 4.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn gà bằng văc-xin (n=4000) 36

Bảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà tại trại 37

Bảng 4.4 Kết quả điều trị bệnh gà mắc các bệnh thông thường 39

Trang 8

Theo số liệu điều tra vào tháng 1/4/2018 của Tổng cục Thống kê, đàn gia cầm cả nước đã đạt khoảng 386,1 triệu con, tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm 2017, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 103 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 16,2% so với cùng thời điểm năm 2017 Một số tỉnh có sản lượng trứng gia cầm lớn tăng cao là: Thái Nguyên tăng 33,04%, Bắc Giang tăng 15,2%, Phú Thọ tăng 41,58%, Thanh Hóa tăng 14,86%, Hà Tĩnh tăng 19,48%, Bình Định 27,81%, Lâm Đồng tăng 18,23%, Long An tăng 26,97%, Tiền Giang tăng 20,47% và Sóc Trăng tăng 38,99%

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm

như: H5N1, Newcastle, CRD,… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số

Trang 9

lượng và chất lượng đàn gà Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và

sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp

Bên cạnh đó xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về thực phẩm như thịt, trứng ngày càng cao vì vậy các nhà chăn nuôi gia cầm phải không ngừng áp dụng những tiến bộ vào quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gia cầm góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà ri lai nuôi thịt tại trại gà của ông Nguyễn Thành Luân, thị trấn Quân Chu, Đại Từ, Thái Nguyên”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

- Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt

- Biết được lịch phòng bệnh trên gà thịt

- Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trang trại của ông Nguyễn Thành Luân, thị trấn Quân Chu, Đại Từ, Thái Nguyên

- Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Biết được các đặc điểm về sinh lý, dinh dưỡng ở gà thịt

- Thực hành các thao tác trong quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt

- Biết cách phòng bệnh, cách chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thị trấn Quân Chu nằm trên tuyến tỉnh lộ 261 cách xa trung tâm kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội vùng phía đông nam huyện Đại Từ, cách trung tâm huyện Đại Từ về phía đông nam, với tổng diện tích tự nhiên là 1254,82

ha, địa giới hành chính tiếp giáp với các xã có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp với xã Cát Nê, huyện Đại Từ

- Phía Đông giáp với xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên

- Phía Tây giáp với xã Quân Chu, huyện Đại Từ

- Phía Nam giáp với xã Quân Chu, huyện Đại Từ

So với các xã trong huyện, thị trấn Quân Chu có một vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt, là đầu mối giao lưu và trao đổi hàng hoá với các xã vùng nam huyện Phổ Yên Nơi đây có cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, có đường tỉnh lộ ĐT 261 chạy qua thị trấn với chiều dài khoảng 6 km

• Địa hình

Địa hình của thị trấn Quân Chu rất đa dạng, trên địa hình có địa hình núi cao, đồi bát úp và có cả địa hình bằng phẳng, độ cao trung bình khoảng 70m so với mặt nước biển Phía tây bắc của thị trấn là những dãy núi xen lẫn đồi gò có độ cao khoảng từ 50 - 150 m so với mặt nước biển, phía nam và tây nam là các đồi gò có độ cao trung bình nằm xen giữa các khu dân cư và những cánh đồng có diện tích nhỏ Địa hình của thị trấn nghiêng dần từ phía đông sang phía tây nam

Trang 11

Vùng trung tâm của thị trấn nằm trên trục đường tỉnh lộ 261, là vùng đất tương đối bằng phẳng, là nơi tập trung các cơ quan đầu não, là trung tâm kinh tế chính trị của thị trấn

• Khí hậu

Thị trấn Quân Chu có khí hậu mang tính chất đặc thù của vùng nhiệt đới gió mùa Theo trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Thái Nguyên, thị trấn Quân Chu mang đặc điểm của khí hậu vùng miền núi phía bắc, hàng năm chia ra làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ trung bình trong năm từ 20-22oC, tổng tích ôn giao động từ

8000 đến 83670oC (nhiệt độ tối cao 37,50oC, nhiệt độ tối thấp 8,10oC)

- Lượng mưa trung bình trong năm từ 1700 đến 1750 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 8 là 2210 mm và thấp nhất vào tháng 1 là 1212 mm

- Nguồn tài nguyên

* Tài nguyên đất: Bao quanh xã là toàn bộ đồi thấp nền đất cấu tạo là đồi đất đỏ, một phần có xen lẫn đá Mangan

* Tài nguyên nước: Hệ thống suối phân bổ khá dày trên địa bàn thị trấn Nguồn nước đã góp phần quan trọng vào phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân

Trang 12

* Tài nguyên khoáng sản: Cho đến nay nguồn tài nguyên khoáng sản

của xã chưa được thăm dò khai thác

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của thị trấn Quân Chu

- Thực trạng phát triển kinh tế

- Tăng trưởng kinh tế:

+ Thực hiện Nghị quyết của đại hội Đảng bộ và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, UBND thị trấn Quân Chu trong những năm qua, cán bộ và nhân dân đã đoàn kết, phấn đấu thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội với những khó khăn của một thị trấn thuần nông của huyện Đại Từ, ngành nghề chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi Dịch vụ, thương mại, phát triển chậm, năng suất lao động còn thấp

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

+ Chương trình lương thực được quan tâm, bằng nhiều biện pháp kỹ thuật để áp dụng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đưa giống mới có năng suất cao vào sản xuất

+ Các loại hình dịch vụ sửa chữa cơ khí, điện tử, xây sát, xây dựng, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ tổng hợp đã xuất hiện, nâng cao thu nhập của người nông dân

+ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều tích cực, đúng hướng, tỷ trọng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ bản đã có sự tăng dần, nhưng vẫn còn thấp khoảng 10-20%, cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao 80-90%

+ Về sản xuất chè: Phát huy tiềm năng, điều kiện của địa phương, xác định sản xuất chè nhằm tạo bước phát triển mạnh về kinh tế Do chỉ đạo, đầu

tư đúng hướng, năng suất, sản lượng chè hàng năm tăng nhanh Đến năm 2014, diện tích chè toàn thị trấn là 334,06 ha, trong đó diện tích chè

Trang 13

giống mới trồng thay thế là 58,8 ha, chiếm 17,6%, diện tích chè kinh doanh

297 ha Sản lượng Chè búp tươi ước tính đạt hơn 3.500 tấn

Trên địa bàn thị trấn hiện nay có nhà máy chè Quân Chu và nhiều hộ cá thể kinh doanh, chế biến, và tiêu thụ sản phẩm Đây là một trong những thế mạnh để thúc đẩy ngành chè phát triển

- Cơ sở kết cấu hạ tầng:

Được sự đầu tư của tỉnh và huyện nên các chương trình, dự án được triển khai trên địa bàn xã, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã được nâng cấp, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, phục vụ đời sống nhân dân

- Thực trạng phát triển dân số, lao động và việc làm

* Dân số của thị trấn Quân Chu có 1127 hộ và 3862 khẩu, được phân thành 13 xóm, phân bố không đều, xóm đông dân nhất là xóm Nhà Máy có

683 khẩu, 162 hộ xóm thưa dân nhất là xóm 10 có 84 khẩu, 21 hộ

* Dân tộc: Toàn xã có 7 dân tộc bao gồm: Kinh, Tày, Nùng, Sán chí, Mường, Dao, Cao Lan đang sinh sống trong 13 xóm

- Tập quán sinh sống: Các hộ gia đình sống tập trung tại 13 xóm, phân

bố đều trên toàn diện tích của thị trấn Đối với các hộ ở thôn xóm kinh tế chủ yếu là làm nông nghiệp hộ gia đình

2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất của trại

Trang trại được xây dựng từ năm 2018 Là trại mới được xây dựng nên

cơ sở vật chất, đường xá đang dần được cải thiện - Diện tích chuồng trại là

- Gồm 2 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 3.000 - 4.000 con

- Mỗi chuồng có chiều dài 50m, chiều rộng 20m, chiều cao 2,7m

- Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh và lắp 2 camera theo dõi quanh khu vực trại

- Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh

- Trang trại gồm 2 chuồng cách nhau 30m, mỗi chuồng có 1 tầng

Trang 14

- Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng thủ công, toàn bộ là sử dụng sức lao động của con người Trại sử dụng máng uống nước tự động, chuồng gồm 5 dãy máng ăn và 4 đường nước uống Nền trại là bê tông, mái được lợp bằng tấm lợp fibro xi măng có một lớp chấu dày 5 – 7cm để cách nhiệt

- Có 1 kho cám, 1 máy phát điện, mỗi chuồng có 6 cái quạt

- Chuồng chưa lắp đặt nhiệt kế theo dõi nhiệt độ chuồng

- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan công nghiệp

- Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại tổ chức như sau :

- Đội ngũ cán bộ, quản lý, kỹ thuật, công nhân gồm:

- Trại được xây dựng xa khu dân cư, giao thông thuận tiện

- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc

- Trong đợt thực tập tại cơ sở sinh viên đã được học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi và phòng trị một số bệnh trên thường thấy trên đàn gà thịt

- Sinh viên tại trại được bố trí chỗ ở và sinh hoạt theo gia đình

2.1.5.2 Khó khăn

một nghề chuyên nghiệp với quy mô, số lượng ngày một lớn cũng là lúc các loại dịch bệnh ngày càng phức tạp, khó lường hơn

Trang 15

- Do thân nhiệt của cao, đang chăn thả gặp phải trời mưa lạnh, nhiệt độ thay đổi đột ngột nên dễ bị bệnh

- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao, gây ảnh hưởng không nhỏ tới chăn nuôi của trang trại và các hộ chăn nuôi thuộc hợp tác xã

2.2 Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Một số đặc điểm của gà Ri Lai

Giống gà được lai tạo từ bố là gà Ri và mẹ là Lương Phượng

+ Gà có thân hình vững chắc, hướng thân thịt, chân, da vàng, lườn ức dày, thịt săn thơm ngon như gà ta nguyên thủy, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

+ Độ đồng đều và sức đề kháng cao Thích nghi khí hậu mọi vùng miền

* Chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật:

lượng bình quân: 1,8 - 2,8 kg/con Tiêu tốn thức ăn từ 2,8 - 2,9 kg cho 1kg tăng trọng

2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật

có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, (2001) [5])

Trang 16

* Tiêu hóa ở miệng

Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ

Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt

là dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác

dụng tiêu hóa

Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt

* Tiêu hóa ở diều

Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kỹ với một phần tinh bột được thủy phân

* Tiêu hóa ở dạ dày

- Tiêu hóa ở dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch Màng nhầy rất phát triển, ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 - 4,5

Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzim và musin Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric Các

tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu mushin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên

Trang 17

- Tiêu hóa ở dạ dày cơ

Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan

Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua) Thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (thực quản và diều) Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)

Dưới ảnh hưởng của men amilaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình vi sinh vật phân giải ở diều Thời gian thức ăn ở diều phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút còn khối lượng lớn thì vài giờ

Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở đây), tại đây có phản ứng axit và dịch vị của dạ dày tuyến tiết ra khoảng 30 phút: gà 11,3 ml còn ở ngỗng là 24ml ở giờ thứ nhất sau khi ăn dịch vị tiết nhiều hơn

* Tiêu hóa ở ruột

Ruột non là cơ quan chính nơi tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Các men tiêu hoá quan trọng nhất là dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột

Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với

tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza

Trang 18

Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3 )

Dịch tụy của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, amilaza, mantaza, cacbosipeptidaza, invertaza và lipaza

Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác

động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein

phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này

Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các monosacarit như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipid thành glyxerin và axit béo

Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá

ở màng) Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu

Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế Cũng như ở động vật có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào

để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như đà điểu, ngan, ngỗng thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn

Trang 19

2.2.1.3 Đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ quan hô hấp của gà

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [11] cho biết: hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi, 9 túi khí

- Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ Ở gà, phía ngoài hai lỗ mũi có “van mũi hoá sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước

- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: phần xương và phần sụn Xoang mũi nằm ở

mỏ trên Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở

gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh

- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hoá xương Số vòng khí quản ở gà là 110 - 120 và hầu hết là sụn, còn ở thuỷ cầm hầu hết đã hoá xương Thành khí quản được cấu tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài

- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm Một ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài

- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi không màu dạng phế quản Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi

Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể

Trang 20

trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí

- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí là sự mở rộng và tiếp dài của phế quản Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [11] tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định, gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ, ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống

30 - 40 % Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút Tần số hô hấp ở gà trưởng thành là 25

- 45 lần/phút Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút

Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với

sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính

Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên lượng oxy cung cấp vẫn đảm bảo

Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50% Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100%

Trang 21

Hoạt động của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: Khí lưu thông, khí hít vào thêm, khí thở ra thêm Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng

hô hấp lớn nhất của gia cầm

Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi

là khí cặn Hoạt động phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3

bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo Oxy - hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu Lượng O2 tối đa kết hợp với hemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12 - 21 cm3

(Trần Thanh Vân và cs (2015) [11])

2.2.1.4 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt

Theo Scott và cs (1976) [16] cho biết trong khoảng 260C – 320C tiêu thụ thức ăn sẽ giảm 1,5g/10C/gà và trong khoảng 320C – 360C tiêu thụ thức ăn giảm 4,2g/10C/gà

Năng lượng: Gà có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbonhydrate đơn giản, một vài carbonhydrate phức tạp như dầu và mỡ, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử dụng được Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần một lượng cellulose nhất định để làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng Tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần không được vượt quá 4% Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích trao đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quá trình sản xuất Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao hơn gà đẻ

Protein: Đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm Người ta cho rằng 20 -25 % sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein

Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng

Trang 22

nhanh Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 - 55 lần trong

6 tuần sau khi nở Một phần lớn của việc tăng trọng này là tăng trưởng các mô

có nhiều protein

Nước: Chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ thể sống nào kể cả gia cầm Nước không những là chất dẫn giúp vật hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần một lượng nước khoảng 50ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày Khi thời tiết

ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng nước gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường

Khoáng chất: Là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khoáng chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm

+ Khoáng đa lượng: Ca, P trong cơ thể Ca chiếm 1,3 - 1,8% khối lượng

cơ thể, P chiếm 0,8 - 1% khối lượng cơ thể

+ Khoáng vi lượng: Các khoáng vi lượng gồm có đồng, kẽm, sắt, iodine và selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm

Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mô thịt…, một số chất khoáng có vai trò trong quá trình tạo các kênh ion như Na, K… một số khác lại có tác dụng trong việc kích thích sự hoạt động của các enzyme, khoáng chất còn có tác dụng trong việc tham gia hệ thống đệm trong

cơ thể …

2.2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của gà thịt

- Ảnh hưởng của dòng giống

Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng sinh trưởng khác nhau

Trang 23

Theo tài liệu của Champers J R (1990) [13] cho biết, thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ

- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể gà do yếu

tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái

Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm

có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống

Champers J R.(1990) [13] cho biết, tương quan giữa khối lượng của gà

và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 - 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm

- Ảnh hưởng của môi trường

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi

Trang 24

thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm

Nhiệt độ cao làm cho gà ăn ít, sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết Nhiệt

độ thấp gà ăn nhiều nhưng chậm lớn vì tiêu tốn 1 phần năng lượng để tỏa nhiệt giữ ấm cơ thể, dễ mắc nhiều bệnh về hô hấp, tăng tỷ lệ chết gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ

ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm Tác giả Lewis và cs (1992) [15] cho biết: các giống khác nhau thì bị tác động của thời gian chiếu sáng cũng khác nhau, đặc biệt vào các tuần tuổi 9, 12, 15 Từ 9 tuần tuổi nếu tăng thời gian chiếu sáng sẽ làm phát dục sớm

Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn

2.2.1.6 Một số bệnh thường gặp trên gà thịt

Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:

 Bệnh bạch lỵ

- Nguyên nhân:

Do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum

gây ra Bệnh thường gặp phổ biến nhất ở gà con, gà mới nở Mầm bệnh này

Trang 25

có thể tồn tại trong đất trong khoảng thời gian khá dài, lên đến 1 năm

Bệnh có 2 con đường lây lan là theo phương thức truyền dọc và truyền ngang Truyền dọc là cách truyền từ mẹ sang trứng truyền ngang là cách thức trực tiếp từ gà khỏe sang gà ốm hoặc qua các vật trung gian như máng ăn, máng uống, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi…

+ Ở gà lớn: gà thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính) Gà biểu hiện gầy yếu, ủ rũ, xù lông, niêm mạc, mào, yếm nhợt nhạt…

- Bệnh tích: ở gà con mổ khám thấy gan, lách bị viêm sưng có màu đỏ, tím ở lách, tim, phổi có các hoại tử

- Phòng bệnh:

+ Nhập giống từ cơ sở gà bố mẹ đảm bảo nguồn gốc

+ Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để tăng sức đề kháng cho gà

+ Thức ăn trên máng phải thường xuyên sàng qua để loại bỏ những phân gà dính bám vào thức ăn có mang mầm bệnh

+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại để làm giảm nguy cơ lây lan bệnh

+ Dùng dung dịch formol 2 - 5% để sát trùng toàn bộ khu chuồng nuôi

và khu vực xung quanh

Trang 26

 Bệnh CRD

- Nguyên nhân:

Do Mycoplasma gallisepticum gây ra

Gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác, thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao

- Triệu chứng:

+ Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày

+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn duy trì ở mức độ thấp

+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với

các loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli) Vì vậy trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E coli-CRD (C - CRD) với các triệu

chứng: âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc

- Phòng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho uống thuốc để phòng bệnh

- Điều trị:

+ Tilmicosin: liều 0,3ml/lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày

+ Doxy (50%): liều 25 mg/kg thể trọng, uống liên tục: 3 - 5 ngày

+ Mổ khám thấy nhiều dịch nhầy trong đường hô hấp bổ sung cho uống brom hexine

 Bệnh viêm ruột hoại tử

- Nguyên nhân:

Bệnh do vi khuẩn Clostridium perfringens type A và type C gây nên

Bệnh có thể lây qua đường tiêu hóa do thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi

bị nhiễm vi khuẩn này Ngoài ra, vi khuẩn này cũng có sẵn trong đường ruột của gà Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu xảy ra ở gà trên 3 tuần tuổi

Trang 27

- Điều trị:

+ Dùng Enrofloxacin 50 %: liều 1g/50 kg thể trọng cho uống 3 - 5 ngày,

bổ sung thêm vitamin C với liều 1g/ lít nước cho uống 2 - 3 giờ liên tục 3 - 5 ngày

+ Hoặc dùng Amoxilis với liều 25mg/ kg thể trọng cho uống 3 - 5 ngày

 Bệnh do E.coli (Colibacillosis)

- Nguyên nhân:

Do vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) và độc tố của chúng gây ra

Em thấy gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đặc biệt là giai đoạn gà con 3 - 15 ngày tuổi, tỷ lệ chết 20 - 60 %, gà lớn bệnh ở thể nhẹ và ít chết Truyền bệnh trực tiếp qua trứng bệnh, lây bệnh nhanh chóng trong lò ấp, ngoài ra có thể lây bệnh gián tiếp qua thức ăn, nước uống và qua vết hở của rốn

Ngày đăng: 26/06/2020, 15:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w