DƯƠNG THỊ XOAN Tên chuyên đề: ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN BÙI THANH PHONG, HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, TP HÀ NỘI
Trang 1DƯƠNG THỊ XOAN
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN BÙI
THANH PHONG, HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, TP HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2DƯƠNG THỊ XOAN
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN BÙI
THANH PHONG, HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, TP HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2015- 2019 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Huê Viên
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập tại trường và 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp đại học Qua đây, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt
em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn đến thầy giáo PGS.TS: Trần Huê Viên người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên và giúp đỡ em trong quá trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Trong quá trình thực tập, từ chỗ còn bỡ ngỡ cho đến sự thiếu kinh nghiệm, em đã gặp phải rất nhiều khó khăn nhưng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô chú quản lý, kỹ thuật và công nhân trong trang trại đã giúp em có được những kinh nghiệm để hoàn thành tốt kì thực tập
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè
đã luôn động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của quý thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2019
Sinh viên Dương Thị Xoan
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.Lịch phun sát trùng chuồng trại của trại Bùi Thanh Phong 38
Bảng 3.2.Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái và lợn con tại trại 39
Bảng 3.3 Khẩu phần ăn cho đàn lợn nái tại trại 41
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2017 – 05/ 2019 45
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc 46
nuôi dưỡng trong 6 tháng thực tập tại trại 46
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại 47
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái tại trại 49
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 50
Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc-xin cho lợn con 51
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn nái tại trại 52
Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn con tại trại 53
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản nuôi tại trại 54
Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con nuôi tại trại 55
Bảng 4.11 Kết quả thực hiện công việc khác 56
Trang 5TT: Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2.Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2.Điều kiện khí hậu 3
2.1.3.Cơ cấu tổ chức của trại 5
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 5
2.1.5.Tình hình sản xuất của trại Bùi Thanh Phong 7
2.1.6 Thuận lợi và khó khăn của trại 8
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến đề tài thực hiện 9
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 9
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 13
2.2.3 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 17
2.2.4 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 20
2.2.5 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con 24 2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 32
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 32
Trang 72.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 33
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 35
3.3 Nội dung thực hiện 35
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 35
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 35
3.4.2 Phương pháp thực hiện 36
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Bùi Thanh Phong, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội trong 3 năm (2017 – 2019) 45
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 46
4.2.1 Số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 46
4.2.2 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại 47
4.2.3 Một số chỉ tiêu chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn nái tại trại qua 6 tháng theo dõi 49
4.3.Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại cơ sở 50
4.3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh 50
4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trại bằng thuốc và vắc xin 51
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái và đàn lợn con tại trại 52
4.4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn nái tại trại 52
4.4.2 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con tại trại 53
4.4.3 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 54
4.4.4 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con tại trại 55
4.5 Kết quả thực hiện các công việc khác tại cơ sở 56
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
Trang 85.1 Kết luận 58 5.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp, nước ta cũng đã và đang áp dụng một số kĩ thuật chăn nuôi tiên tiến của nước ngoài, sử dụng các trang thiết bị hiện đại giúp cho việc chăn nuôi ngày càng trở nên dễ thực hiện
và đạt năng suất cao hơn Chăn nuôi lợn đã và đang chuyển dịch theo hướng rất tích cực, từ nuôi lợn theo quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình sang quy mô trang trại tập trung Tuy nhiên, chăn nuôi lợn quy mô lớn cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý đàn, đặc biệt là công tác phòng chống dịch bệnh và điều trị những bệnh phát sinh trong quá trình chăn nuôi Do đặc điểm về địa lý cũng như khí hậu nóng ẩm của nước ta mà tình hình dịch bệnh diễn ra ngày càng phức tạp Lợn thường mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, bệnh sản khoa, bệnh nội khoa ảnh hưởng rất nhiều đến cơ cấu và hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y và thầy giáo hướng dẫn, chúng em đã tiến hành thực
hiện chuyên đề đề: ‘‘Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng, điều trị
bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Bùi Thanh Phong, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội’’
Trang 101.2.Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
- Đánh giá quy trình sản xuất của trại Bùi Thanh Phong
- Nắm bắt, được quy trình vệ sinh phòng bệnh và điều trị một số bệnh của lợn nái thường gặp trong chăn nuôi của cơ sở
- Nắm bắt được các loại thức ăn dành cho lợn, khẩu phần ăn và cách cho lợn ăn qua từng giai đoạn
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trại Bùi Thanh Phong
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại
- Thực hiện tốt quy trình vệ sinh, phòng và trị bệnh cho lợn tại trại
- Học hỏi được những kinh nghiệm và kỹ thuật để chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn
- Làm việc đầy đủ trong thời gian thực tập tại trang trại
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
* Vị trí địa lý
Trại Bùi Thanh Phong nằm ở đập tràn Đan Phượng thuộc địa bàn xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông
Huyện Đan Phượng nằm ở phía Tây Bắc trung tâm thành phố Hà Nội, tại khoảng giữa của trục đường quốc lộ 32 từ trung tâm Hà Nội đi Sơn Tây Phía Bắc giáp Sông Hồng (sang bờ bên kia là huyện Đông Anh và huyện Mê Linh)
Phía Đông giáp quận Từ Liêm, huyện Hoài Đức
Phía Tây giáp huyện Phúc Thọ
Phía Nam giáp huyện Hoài Đức
2.1.2.Điều kiện khí hậu
Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, lạnh, khô, ít mưa Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nóng, ẩm, mưa nhiều Từ tháng 1 đến tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng vì là tiết xuân nên có mưa nhẹ (mưa xuân) đủ độ ẩm cho sinh vật phát triển Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng có mưa to và bão Tháng
8, 9, 10 là ngày thu, khí hậu mát mẻ
Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá lạnh, không mưa to Những ngày cuối thu se se lạnh và chóng hoà nhập vào mùa đông Nhiệt độ trung bình mùa đông: 17,2ºC (lúc thấp xuống tới 2,7ºC)
Trang 12Trung bình mùa hạ: 29,2ºC (lúc cao nhất lên tới 39ºC) Nhiệt độ trung bình cả năm: 23,2ºC; lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800mm
* Giao thông, thủy lợi
Huyện Đan Phượng có Quốc lộ 32 chạy qua khoảng 4 km, nếu đi từ phía Hà Nội lên Sơn Tây đến km 16 + 500 là ngã Tư Trôi (thuộc huyện Hoài Đức) rẽ phải khoảng 300m sẽ đến xã Tân Lập - huyện Đan Phượng
So với các Quận Huyện của thủ đô Hà Nội, Đan Phượng có số khu vực hành chính và diện tích tự nhiên thuộc loại nhỏ nhất (chỉ ngang bằng 1 xã của Huyện Ba Vì, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Chương Mĩ )
Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn huyện (dự kiến) là các tuyến
số 3 (Trôi - Nhổn - Yên Sở), tuyến số 4 (Liên Hà - Bắc Thăng Long)
Huyện Đan Phượng là huyện có hệ thống sông Hồng, Sông Đáy chảy qua Xưa kia là ngã ba sông (Sông Hồng, Sông Nhuệ, Sông Đáy) nên địa hình của huyện là tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa Chiều cao trung bình là 6 - 8 m so với mực nước biển
* Dân cư, kinh tế - xã hội
Xét về mảng văn hóa giáo dục Đan Phượng thuộc hạng đầu của thành phố Hà Nội hiện nay (tất cả các trường Tiểu học trong huyện đã đạt chuẩn Quốc gia, có những xã có số dân khoảng 17.000 người như ở Tân Hội, 14.800 người như ở Tân Lập, hơn 10.000 người như ở Thị Trấn Phùng, Hồng Hà, Phương Đình )
Hiện nay, trên địa bàn huyện đã hình thành khu đô thị Tân Tây Đô, khu nhà ở Tân Lập cũng như khu đô thị sinh thái cao cấp Phoenix Garden
Trang 132.1.3.Cơ cấu tổ chức của trại
2.1.3.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại
Trang trại sản xuất lợn giống của ông Bùi Thanh Phong nằm trên địa phận
xã Đồng Tháp - huyện Đan Phượng – TP Hà Nội Trại được thành lập năm 2003,
có diện tích là 7200 m² Là trại lợn tư nhân do ông Nguyễn Xuân Tiến thành lập
Giai đoạn năm 2003- 2015 trại cho công ty CP thuê làm trại gia công,
từ năm 2015 đến nay trại chuyển lại thành trại tư nhân do ông Nguyễn Xuân Tiến, ông Bùi Thanh Phong và ông Vũ Thanh Biện cùng làm chủ và ông Nguyễn Xuân Tiến quản lý
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại
* Khu nhà ở của công nhân viên
Trại được xây dựng trên đất 5% của xã Đồng Tháp với thời gian thuê là
50 năm Trại chia làm 2 khu riêng biệt là khu trại chăn nuôi và khu nhà ở, được ngăn cách với nhau bởi 2 ao cá Trại được bao bọc bởi hệ thống cây xanh phân tầng, đảm bảo vừa mát mẻ, vừa thanh lọc không khí, giảm mùi, tránh ô nhiễm môi trường
Khu nhà ở của công nhân viên được xây dựng phù hợp với yêu cầu thực tế của trại 300 nái Gồm: 1 phòng kĩ sư, 2 phòng công nhân, 1 phòng trực đêm Hệ thống nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh cũng được xây dựng phù hợp, có hệ thống nóng lạnh đầy đủ
* Khu trại chăn nuôi
Khu trại chăn nuôi được xây dựng theo đúng tiêu chuẩn Gồm: chuồng cách li, chuồng cai sữa, chuồng bầu, chuồng đẻ, phòng khai thác tinh, khu để phân, bể ngâm rửa dụng cụ, sân phơi, nhà vệ sinh và hệ thống xử lí chất thải Mỗi chuồng được xây dựng hợp lí, trong đó: Khu chuồng bầu có 2 ô lớn dành cho lợn đực hoạt động và phối, 6 ô cho lợn đực, 304 ô chuồng dành cho lợn nái Khu lợn nái chia ra 4 khu vực riêng: khu lợn bầu, khu lợn cai sữa,
Trang 14khu lợn cách ly, khu phối Khu lợn bầu cũng được sắp xếp riêng theo từng giai đoạn mang thai của lợn Khu lợn cai sữa, khu cách ly và khu phối được xếp sát nhau để tiện cho việc theo dõi Chuồng bầu mỗi ô nái có kích thước 2,4m × 0,65m/ô; hai ô chuồng đực giống có kích thước 5m × 6m Lợn nằm trên sàn bê tông cao 0,5m có khe thoát nước Ngoài ra, chuồng bầu trang bị 5 bóng đèn hồng ngoại ở mỗi đầu dãy chuồng để sưởi ấm
Chuồng đẻ được chia ra: 50 ô chuồng chờ đẻ, 72 ô chuồng đẻ Hai khu chuồng này đều xây dựng hệ thống sàn bê tông cao khoảng 1m, có khe thoát nước và chia từng ô riêng biệt: chuồng đẻ mỗi ô có kích thước 2,4m × 1,6m/ô
và trang bị hệ thống lồng úm
Các chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 8 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ và chuồng bầu, 2 quạt thông gió đối với các chuồng cách ly và cai sữa Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m2; cách nền 1,2m; khoảng cách giữa các cửa là 2,5m Trên trần được lắp hệ thống chống nóng tôn lạnh Ngoài ra, mỗi chuồng đều có hệ thống ống nước, máy bơm để đáp ứng nhu cầu uống nước và vệ sinh chuồng trại Máng ăn được xây dựng hiện đại, có kệ
để thuốc, dụng cụ cần thiết và đảm bảo an toàn vệ sinh
Phòng khai thác tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
*Cơ cấu tổ chức trang trại
Trang 15Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như: tổ chuồng đẻ và chuồng cai sữa, tổ chuồng bầu và chuồng cách ly Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại
2.1.5.Tình hình sản xuất của trại Bùi Thanh Phong
Trang trại Bùi Thanh Phong chuyên sản xuất con giống với các giống lợn được nhập ngoại như: Landrace (Pháp), Yorkshire (Anh) Hiện ở trại có 06 lợn đực giống, các lợn đực giống được đặt nuôi ở đầu chuồng gần giàn mát, nhằm mục đích tiện cho phối giống, kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác đều có chất lượng tốt, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Trại sản xuất lợn giống theo hình thức phối gom 5 tuần phối 1 lần và 4 tuần đẻ 1 lần Mỗi nái được phối 2 - 3 liều tinh (nái hậu bị và nái kiểm định phối 3 liều tinh, nái cơ bản phối 2 liều tinh)
Trung bình, lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,50 lứa/năm Số con
sơ sinh là 12,29 con/đàn, số con cai sữa là 12,01 con/đàn Lợn con theo mẹ được nuôi 17 - 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng cai sữa Lợn con nuôi trong chuồng cai sữa từ 07 - 15 ngày thì xuất bán
Trang 16- Công tác phòng bệnh: Theo lịch của trại, lợn trong trại sẽ được tiêm phòng vắc-xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn Từ đó tăng sức đề kháng cho lợn mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng các loại vắc xin theo ngày tuổi
- Công tác trị bệnh: Lợn luôn được theo dõi dám sát của 1kỹ sư và 2 tổ trưởng, mọi lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng các ly theo dõi, và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời
2.1.6 Thuận lợi và khó khăn của trại
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý
nước thải của trại còn nhiều khó khăn
Trang 172.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến đề tài thực hiện
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác động của thần kinh, nội tiết con vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng trứng chín và có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ
Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [8], sự thành thục về tính dục ngoài sự phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: Chế độ dinh dưỡng, sự tiếp xúc giữa con đực
và con cái
- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992) [33], chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục
về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt
khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong
máu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
Trang 18- Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn nái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con nái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo McIntosh G B (1996) [36]nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn nái (ngoài 90 kg) động dục lúc
165 ngày tuổi.Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực nên
có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
- Tuổi thành thục về tính của gia súc: Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên.Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế
hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh và cs, (2003) [4] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
Sự thành thục về thể vóc:
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs, (2003) [12] tuổi thành thục về thể vóc
là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong
Trang 19giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg thì mới nên cho phối giống
2.2.1.2 Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp
* Chu kỳ động dục
Lợn nái sau khi thành thục về tính thì cứ mỗi khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi đặc biệt kèm theo sự rụng trứng và động dục Hiện tượng này lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ gọi là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính
Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs, (1995) [23], chu kỳ động dục của lợn nái bình quân là 21 ngày, thời gian động dục tùy thuộc vào các giống lợn Lợn nái nuôi con sau đẻ 3 - 4 ngày thường có hiện tượng động dục trở lại nhưng không cho phối vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi và trứng rụng chưa đều
Sau cai sữa 3 - 5 ngày lợn nái động dục trở lại, cho phối lúc này lợn
sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2006) [10]
* Thời điểm phối giống thích hợp
Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống đúng thời điểm vì thời gian trứng rụng và có hiệu quả thụ thai rất ngắn Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [31], trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn nái 30 - 48 giờ Như vậy,
Trang 20phải cho lợn nái phối giống 10 - 12 giờ trước lúc rụng trứng tức là 20 - 30 giờ sau khi bắt đầu chịu đực
Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn
* Cơ chế động dục
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], chu kỳ động dục của lợn nái được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh và thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực tác động và kích thích vùng dưới
đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích
thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone) và LH (Lutei Stimulin Hormone) FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng Khi noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 - 112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Đồng thời dưới tác động của Oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi: cổ tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ ra Thể vàng tiết
Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung
đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm
cho bao noãn trong buồng trứng của lợn nái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục
Trang 212.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.2.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
* Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt
Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa
Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
Trang 22* Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp
xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy
đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 -5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chuyển nhẹ nhàng lợn nái từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với môi trường mới
Theo Lê Hồng Mận (2006) [16], trực trở sản cho lợn là công việc rất cần thiết để hỗ trợ lợn đẻ an toàn
- Chuẩn bị dụng cụ: Vải xô, vải mềm sạch, cồn Iode 3%, kìm bấm răng nanh, kéo cắt rốn, chỉ buộc, Oxytoxin, ô úm, đèn sưởi ấm …
- Công việc trợ sản: Lợn nái thường đẻ dễ do thai nhỏ, xương chậu rộng hay đẻ vào ban đêm yên tĩnh Lợn đẻ trong 1 giờ là tốt nhất, nếu để kéo dài thì phải tác động cho đẻ nhanh hơn bằng Oxytocin Khoảng cách đẻ giữa đẻ con trước đến con sau thưởng 15 - 20 phút hoặc có thể hơn Không được dùng oxytocin trong trường hợp lợn nái rặn nhiều và co một chân lên vì rất có thể lợn con nằm ngang bịt kín đường sinh dục Trường hợp này người trực sản
Trang 23phải can thiệp thò tay vào trong xoay lợn con về đúng tư thế rồi nhẹ nhàng lôi lợn con ra ngoài để cho lợn mẹ tiếp tục đẻ được
Nhau thai thường ra sau khi lợn mẹ đẻ con cuối cùng 12 - 20 phút Người trực trợ sản phải tuyệt đối không để lợn mẹ ăn nhau, nếu để lợn mẹ ăn nhau sẽ lên men và gây sốt sữa, làm rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sữa mẹ làm lợn con sinh trưởng chậm
Khi có lợn con chết trong bụng người trợ sản cho tay vào lôi ra kịp thời Lợn đẻ xong, người trợ sản tiến hành thụt rửa tử cung bằng thuốc tím 0,1% hoặc rivanol 0,1% để phòng nhiễm trùng đường sinh dục Theo dõi liên tục nhiệt độ lợn nái trong 3 ngày để phát hiện sát nhau, sốt sữa, nhiễm trùng
vú mà chữa trị kịp thời
Theo Lê Hồng Mận (2006) [16], lợn đẻ xong, dùng nước ấm rửa sạch
âm hộ và vú Chú ý bảo đảm ô úm cho lợn con, che chắn chuồng ấm áp tránh gió lùa Sau đẻ lợn mẹ khát nước do mất máu phải bổ sung kịp thời nước sạch
có pha thêm muối Chưa cho lợn nái ăn ngay, cho nhịn 6 - 12 giờ hoặc cho ăn
ít để đề phòng viêm vú Sau đẻ 3 ngày cho lợn mẹ ăn theo mức khẩu phần nái nuôi con để đủ sữa cho lợn con bú, cần theo dõi các hiện tượng viêm vú, viêm
tử cung nếu bị viêm phải can thiệp điều trị ngay
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt,
mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa Đông Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong
ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m
Trang 242.2.2.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
* Quy trình nuôi dưỡng
Theo Lê Hồng Mận (2006) [16], khẩu phần thức ăn nái nuôi con phải đảm bảo đầy đủ thành phần và tỷ lệ chất dinh dưỡng để tiết sữa cho con bú,
có độ hao mòn lợn mẹ vừa phải tạo thuận lợi cho lấy giống lứa đẻ tiếp
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức
ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng
Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng qui định như năng lượng trao đổi 3100 kcal/kg, protein 15%, canxi từ 0,9 - 1,0%, phốt pho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1- 2- 3kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg +(số con x 0,35kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng và chiều)
Trang 25+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu
có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 – 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
* Quy trình chăm sóc
Theo Lê Hồng Mận (2006) [16], luôn giữ chuồng khô ráo, có đệm lót rơm để giữ ấm cho lợn mẹ và lợn con có đèn sưởi ấm, tránh để lợn con nằm trên nền xi măng lạnh dễ bị bệnh phân trắng Sau khi đẻ, tháng đầu không được tắm cho lợn mẹ nhưng hàng ngày phải chải khô toàn thân, dùng nước ấm lau sạch vú cho lợn con bú Trong chuồng không để đọng nước tránh lợn con uống bị nhiếm khuẩn đường ruột
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], chuồng lợn nái nuôi con phải
có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 20ºC, độ ẩm 70 - 75%
2.2.3 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.3.1 Đặc điểm về sinh trưởng
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn Tốc độ sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu, sau đó giảm Điều này xảy ra do
Trang 26nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin giảm Thời gian giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con
Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh
2.2.3.2 Đặc điểm phát triển về cơ quan tiêu hóa
Cùng với sự tăng lên về khối lượng, sự phát triển của các cơ quan trong
cơ thể cũng đồng thời xảy ra Ở lợn con, cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển thể hiện ở sự tăng nhanh dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa, chưa hoàn thiện thể hiện ở số lượng cũng như hoạt lực của một số men trong đường tiêu hóa lợn con bị hạn chế
Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc
sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh 0,11 lít)
Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] cho biết: Dung tích ruột già lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)
Dịch tiêu hóa tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm 69% cho nên lợn con bú nhiều vào ban đêm Đến ngày sắp cai sữa dịch vị tiết ra cân bằng, ban ngày 49% và ban đêm 51% Hai tuần đầu trong dịch vị dạ dày lợn con chưa có HCl nên tính kháng khuẩn chưa cao vì vậy lợn con hay bị hội chứng tiêu chảy
2.2.3.3 Đặc điểm của bộ máy tiêu hóa lợn con
Ở lợn con mới sinh bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, thể hiện qua sự phân tiết không đủ lượng acid chlohydric và các men tiêu hóa các chất dinh dưỡng Trên lợn con sơ sinh, khả năng tiết acid chlohydric rất ít, chỉ đủ để
Trang 27hoạt hóa men pepsinogen thành pepsin (men tiêu hóa chất đạm), lượng acid chlohydric tự do quá ít, không đủ để làm tăng độ toan của dạ dày, do vậy độ toan thấp, vi khuẩn bất lợi theo đường miệng có điều kiện sống sót ở dạ dày, vào ruột non vi khuẩn phát triển mạnh gây nên tiêu chảy Sự phân tiết các men tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ sức tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như sữa
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức
ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất
2.2.3.4 Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt
Lợn con sơ sinh tỷ lệ nước trong cơ thể cao đến 82%, chỉ 30 giây sau
đẻ, lượng nước đã giảm đến 1,5 - 2% kèm theo nhiệt độ cơ thể giảm dần đến 5
- 10ºC Sau 3 tuần tuổi thân nhiệt của lợn con tương đối ổn định và lên đến 39
- 39,5ºC Lợn con mới đẻ cần được sưởi ấm những ngày đầu bằng úm, có đèn sưởi hoặc bếp than, củi nhất là những đêm trời lạnh.Chế độ nhiệt như sau: ngày mới sinh 35ºC sau đó cứ mỗi ngày giảm đi 20ºC đến ngày thứ 8 là 21ºC Nhiệt độ này được duy trì đến lúc lợn con cai sữa
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], đã giải thích nguyên nhân của hiện tượng mất nhiệt của lợn con như sau:
- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể còn thấp, trên thân lợn lông còn thưa nên khả năng cung cấp nhiệt để chống rét bị hạn chế và khả năng giữ nhiệt kém
Trang 28- Hệ thống điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh, trung khu điều tiết thân nhiệt nằm ở vỏ não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả hai giai đoạn trong thai và ngoài thai
- Diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con bị mất nhiệt nhiều khi trời lạnh
2.2.3.5 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi
bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ đặc biệt là 7 ngày đầu sau khi sinh
Trong sữa đầu lợn mẹ có tỷ lệ protein rất cao, những giờ đầu sau khi đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein, trong đó γ - globulin chiếm tỷ lệ rất cao (34
- 45%) và có vai trò miễn dịch Trong sữa đầu không chỉ có hàm lượng kháng thể lớn mà còn có các loại kháng thể khác nhau như IgA, IgG IgM giúp cho lợn con có khả năng chống chịu được với bệnh tật xâm nhập từ bên ngoài vào Tuy nhiên, khả năng hấp thu kháng thể của lợn con thay đổi rất lớn theo thời gian.Bên cạnh sự hấp thu kháng thể từ sữa mẹ thì bản thân lợn con trong thời
kỳ này cũng có quá trình tổng hợp kháng thể
2.2.4 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.4.1 Phòng bệnh
Trong chăn nuôi ngoài giống và thức ăn thì công tác thú y luôn được chú trọng Đây là điều kiện không thể thiếu để công tác chăn nuôi luôn bền vững và hiệu quả Công tác thú y gồm phòng bệnh và trị bệnh cho vật nuôi, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạṇ chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu
Trang 29tố môi trường, mầm bệnh, vâṭ chủ Do vâỵ, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hơp ̣ nhiều biêṇ pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng 2006[22], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh
và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa Hè, ấm áp mùa Đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất
15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Cần phun sát trùng 1-2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc-xin
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11],vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học
Trang 30phân tử (vắc xin thế hệ mới – vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễm dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Khi đưa vắc-xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
2.2.4.2.Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11], nguyên tắc để điều trị bệnh là: Toàn diện nghĩa là phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ
lý, dinh dưỡng, dùng thuốc.Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để
dễ lành bệnh và hạn chế lây lan.Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng.Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
- Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
- Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng
Trang 31kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
- Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh.Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian
để phát huy tác dụng của kháng sinh
+ Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tích tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
+ Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
Trang 322.2.5 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con
Theo Nguyễn Văn Thanh (2010) [26], có nhiều nguyên nhân gây viêm
tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản
lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn có trong các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng
Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5], nguyên nhân gây
ra bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus
aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng doi (Trichomonoy)
và do nấm Candda albicans
Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm hoặc kế phát từ các bệnh khác như bệnh: viêm âm đạo, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây ra các bệnh viêm tử cung
* Triệu chứng:
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [27], khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu
Trang 33lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39ºC- 39,50C, chiều 40 - 410C
Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn
Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mảnh tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm 2 thể là thể cấp tính và thể mãn tính
* Hậu quả của viêm tử cung:
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [6]; Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2αgây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi
đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử
cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
- Theo Trần Thị Dân (2004)[3], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ
Trang 34sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất sữa), từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
* Phòng bệnh
Theo Nguyễn Tài Năng và cs, (2016) [18], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục
và bầu vú
Theo Lê Văn Năm (2009) [19], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng
kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc Cho lợn nái chửa vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ Kiểm tra nghiêm ngặt đảm bảo dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để nhiễm khuẩn Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh
Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng
vắcxin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai
- Điều trị
Có nhiều phương pháp để điều trị bệnh viêm tử cung Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [7], đối với lợn nái bị viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracylin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxi 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Thuốc oxytetracylin được bào chế ở dạng viêm
có kết quả điều trị khỏi cao
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh - thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục
bộ và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm, 1999) [20] Điều trị cục bộ bằng cách thụt rửa tử cung bằng các dung dịch muối 0,9%, rivanol 0,1%; sau đó thụt
Trang 35bằng một trong các loại kháng sinh sau: penicillin, streptomycin, tetramycin, Điều trị toàn thân có thể dùng một trong các loại kháng sinh tổng hợp như sau: ampisep, aenorfcoli, gentamycin, ampicillin kết hợp với thuốc trợ lực như: vitamin C, B.complex
2.2.5.2 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú
+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm
cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus sppvà
Arcanobacterium pyogenes (Christensen và cs, 2007) [34]
Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium
pyogenes (Christensen và cs, 2007) [34]
Do lợn mẹ bị tổn thương bộ phận sinh dục như âm hộ, âm đạo, tử cung,
vú và bầu vú tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây viêm nhiễm tại chỗ và vào máu gây nhiễm trùng huyết và viêm vú Lợn mẹ tiết nhiều sữa (do ăn quá nhiều chất đạm) nhưng lợn con không bú hết làm cho sữa bị ứ đọng tạo ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, lợn mẹ
đẻ ít con nên có nhiều vú bị thừa hoặc lợn mẹ chỉ cho con bú một bên Những vú không được lợn con bú sẽ bị căng sữa dẫn đến viêm vú Ngoài những nguyên nhân trên thì (Trương Lăng và Xuân Giao, 2002) [14] còn cho biết, có thể do lợn con mới đẻ có răng nanh không bấm nên bú làm sây sát vú
mẹ, tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập Chuồng lạnh quá, nóng quá, thức ăn khó tiêu hóa cũng làm ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
* Triệu chứng
Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [29], viêm vú thường xuất hiện ở một vài
vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42ºC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn
Trang 36con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [17] Vắt sữa ở những
vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu
* Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết.Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu
vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15]: Bệnh viêm
tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
Tiêm quanh vùng bầu vú bị viêm bằng Nor 100: 1ml/10kg TT
Tiêm kháng sinh Vetrimoxin: 1ml/10kg TT/1 lần/1 ngày
Tiêm thuốc giảm đau hạ sốt Analgin: 1ml/10kg TT/1 lần/1 ngày
2.2.5.3 Bệnh sát nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra
* Nguyên nhân
Trang 37Trịnh Đình Thâu và cs, (2010) [30], sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động phù hợp Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung
bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức.Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặc nhau chưa ra hết thì người
đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau
ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sát nhau hay không
* Hậu quả
- Khi gia súc bị bệnh sát nhau nếu không xử lý kịp thời và triệt để sẽ kế phát sang nhiều bệnh nguy hiểm khác: viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, ảnh hưởng nhiều đến quá trình thụ tinh và khả năng sinh đẻ lần sau Có trường hợp gây viêm tử cung tích mủ mãn tính, dẫn đến tình trạng lợn nái mất khả năng sinh sản
- Ngoài ra bệnh thường kế phát gây nên chướng hơi, liệt dạ cỏ, sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, ngay sau khi khỏi bệnh vẫn hoàn toàn mất sữa Sát nhau là bệnh gây nhiều tổn thất kinh tế, vì vậy việc đề phòng và điều trị bệnh kịp thời, tránh hiện tượng kế phát
* Điều trị
Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn