1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay

121 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 804 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn: Chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp, luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay.

Trang 1

ĐINH VĂN NĂM

Chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ

ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay

Chuyên ngành : Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số : 60 31 23

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS TRẦN KHẮC VIỆT

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đinh Văn Năm

Trang 3

Chương 2: CHẤT LƯỢNG VÀ HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG CÁC BAN TỔ CHỨC HUYỆN, THỊ, THÀNH ỦY Ở TỈNH ĐỒNG THÁP - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC BAN TỔ CHỨC HUYỆN,

3.1 Dự báo những nhân tố tác động và phương hướng nâng cao chất

lượng các Ban Tổ chức huyện, thị, thành ủy ở tỉnh Đồng Tháp 583.2 Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng các Ban Tổ chức

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ban tổ chức cấp ủy là cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy đảng trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ cấp uỷ - về các công tác tổ chứccán bộ, đảng viên, chính sách cán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ Cùng với các

-cơ quan tham mưu, giúp việc khác, ban bổ chức có vai trò đặc biệt quan trọngtrong công tác xây dựng Đảng vững mạnh về tổ chức và cán bộ Vì vậy, chấtlượng của ban tổ chức cấp uỷ có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng cáccông tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, chính sách cán bộ và bảo vệ chính trị nội

bộ của đảng bộ và của cấp uỷ đảng Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá VIII thông qua yêu cầu các tổ chức đảng phải “chútrọng đổi mới, chỉnh đốn các tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ” [17, tr.14].Kết luận của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá Xcoi việc xây dựng tổ chức và con người làm công tác tổ chức, cán bộ là mộttrong những nhiệm vụ và giải pháp lớn để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiếnlược cán bộ đến năm 2020 và yêu cầu: "Tăng cường giáo dục nâng cao ý thứctrách nhiệm, năng lực và phẩm chất, đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác

tổ chức, cán bộ; phòng, chống tiêu cực trong công tác cán bộ" [23, tr.277].Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu nhiệm vụ:

"Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làmcông tác tham mưu, nhất là cấp chiến lược” [24, tr.258-259]

Mới đây, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ươngkhoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” (ngày 16-01-2012) đã đưa ra bốn nhóm giải pháp để thực hiện trong thời gian tới.Kết luận của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá

XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trungương đến cơ sở đã đề ra nhiều chủ trương mới liên quan đến hệ thống tổchức và công tác tổ chức Nội dung của các chủ trương, giải pháp trung

Trang 5

ương đề ra đặt ra trách nhiệm nặng nề cho các cấp uỷ, tổ chức đảng, cácngành, các cấp, các ban tham mưu, giúp việc cấp uỷ, trong đó có ban tổchức cấp uỷ các cấp Để có thể làm tốt vai trò tham mưu, giúp việc đắc lựccho cấp uỷ để triển khai thực hiện tốt các nghị quyết Trung ương khoá XI,góp phần tích cực vào nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, các ban tổ chứcphải được kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và đổi mớiphương thức hoạt động của mình

Đồng Tháp là một tỉnh nông nghiệp thuộc khu vực đồng bằng sôngCửu Long Đồng Tháp hiện gồm thành phố Cao Lãnh, 02 thị xã (Sa Đéc,Hồng Ngự) và 09 huyện (Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, CaoLãnh, Tháp Mười, Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò) Trong 12 huyện, thị,thành phố của tỉnh có 768 tổ chức cơ sở đảng, trong đó 260 đảng bộ cơ sở,với tổng số 40.687 đảng viên, chiếm 2,44% so với dân số Đến cuối năm

2011, toàn tỉnh có 776 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 261 đảng bộ cơ sở, vớitổng số 44.486 đảng viên, chiếm 2,66% so với dân số

Trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp luôn quan tâm lãnhđạo kiện toàn, củng cố, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy các ban tổ chứccấp uỷ từ tỉnh đến cơ sở Nhờ vậy, chất lượng hoạt động của các ban tổ chứccác cấp đã từng bước được nâng lên, giúp các cấp uỷ, tổ chức đảng nâng caonăng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; côngtác xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ ngày càng được tăng cường; xâydựng Đảng bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh, góp phần hoàn thành cơ bảncác nhiệm vụ chính trị của địa phương: kinh tế tiếp tục phát triển khá, thunhập bình quân đầu người không ngừng được tăng lên; chính quyền, Mặt trận

Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được củng cố và ngày càng phát huytốt vai trò của mình; quốc phòng, an ninh được giữ vững; bộ mặt nông thônkhông ngừng đổi mới; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bướcđược nâng lên

Trang 6

Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra trong tình hình hiện nay, chất lượng củaban tổ chức cấp uỷ các cấp ở tỉnh Đồng Tháp, nhất là các ban tổ chức huyện, thị,thành uỷ, vẫn còn nhiều bất cập Năng lực tham mưu của các ban tổ chức huyện,thị, thành uỷ còn nhiều hạn chế, yếu kém Trên các công việc lớn, các ban tổchức huyện, thị, thành uỷ chưa chủ động đề xuất được các chủ trương lớn chocấp uỷ cùng cấp, hầu như chỉ là cơ quan thừa hành, giúp việc cấp uỷ thực hiệncác chủ trương công tác do cấp uỷ đề ra Việc thực hiện những nhiệm vụ cấp uỷgiao còn nhiều mặt chưa đạt yêu cầu về chất lượng và tính hiệu quả Trình độcủa một bộ phận cán bộ chuyên trách làm công tác tổ chức ở các ban tổ chứchuyện, thị, thành uỷ chưa được chuẩn hoá; một số đồng chí chưa nắm chắcchuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều Các ban tổ chức huyện, thị,thành uỷ chưa làm tốt việc hướng dẫn nghiệp vụ cho các ban tổ chức của cấp uỷtrực thuộc huyện, thị, thành uỷ Cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị, phươngtiện làm việc của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ còn hạn chế; công nghệthông tin chưa được áp dụng một cách phổ biến Tình hình đó đã hạn chế rất lớnđến sự lãnh đạo của các cấp uỷ đối với công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán

bộ, đảng viên, chính sách cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ nói riêng và cả hệ thốngchính trị ở các huyện, thị, thành phố trong tỉnh nói chung

Xuất phát từ chủ trương của Đảng và tình hình thực tế nêu trên, việc

nghiên cứu đề tài “Chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh

Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay” vừa mang tính cơ bản về lý luận, vừa

mang tính cấp thiết và là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm củaĐảng bộ tỉnh Đồng Tháp hiện nay cũng như trong những năm sắp tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề tổ chức, cán bộ nói chung và việc nâng cao chất lượng hoạtđộng của ban tổ chức nói riêng thường xuyên được Đảng và các cán bộ khoahọc quan tâm Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu chuyênsâu của các nhà khoa học và hoạt động thực tiễn về công tác tổ chức, cán bộ.Sau đây là một số tài liệu, công trình tiêu biểu

Trang 7

- Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm (2003): “Luận cứ khoa học cho

việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

- Trần Đình Hoan (2002): “Tiếp tục đổi mới, tạo sự chuyển biến mạnh

mẽ về công tác tổ chức và cán bộ góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9.

- Lê Đức Bình (2002): "Tổ chức và cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng,

số 10

- Phan Diễn (2002): “Công tác tổ chức và cán bộ luôn là vấn đề quan

trọng hàng đầu”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 11.

- Phan Diễn (2002): “Một số vấn đề quan trọng về công tác tổ chức và

cán bộ của Đảng hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 31.

- Võ Minh Hoàng (2008): “Chất lượng các ban tổ chức huyện uỷ ở tỉnh

An Giang trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Xây

dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội

- Nguyễn Thị Hoàn Xuân (2010): "Chất lượng đội ngũ cán bộ các ban

tổ chức huyện, thị, thành uỷ tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay", luận văn thạc

sĩ, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội

- Nguyễn Văn Danh (2001): “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

chuyên trách làm công tác tổ chức của Đảng ở Đảng bộ Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn tốt nghiệp đại học chính trị, Hà Nội.

Các công trình, bài báo, luận văn nêu trên được thực hiện ở nhiều góc

độ, không gian và thời gian khác nhau, do vậy các kết quả nghiên cứu cónhững nét đặc trưng riêng Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa họcnào đi sâu vào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vấn đề chất lượng ban tổchức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng ban tổ chứchuyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp, luận văn đề xuất phương hướng, giải

Trang 8

pháp nâng cao chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh ĐồngTháp trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ởtỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát tổ chức và hoạt động các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ởtỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến nay và định hướng xây dựng, nâng cao chấtlượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đồng thời khai thác các quan điểm của Đảng trên lĩnhvực xây dựng Đảng về tổ chức; kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học liên quan đã công bố

5.2 Cơ sở thực tiễn

Quá trình xây dựng và hoạt động của các ban tổ chức huyện, thị, thành

uỷ ở tỉnh Đồng Tháp; các báo cáo về vấn đề có liên quan trong thời gian qua

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủnghĩa Mác - Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:tổng kết thực tiễn, kết hợp lôgíc và lịch sử, khảo sát thực tế, phân tích và tổnghợp, phương pháp chuyên gia…

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ quan niệm, các tiêu chí đánh giá chất lượngcác ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp

- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng và hoạt động nâng cao chấtlượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp, chỉ ra nguyênnhân và những kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu tiếp tục nâng cao chấtlượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp phù hợp với yêucầu của Đảng và tình hình, nhiệm vụ của địa phương

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các huyện, thị, thành uỷ củatỉnh trong công tác củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng các ban tổ chứchuyện, thị, thành uỷ ở Đồng Tháp và tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, họctập môn Xây dựng Đảng ở Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 10

Chương 1 CHẤT LƯỢNG CÁC BAN TỔ CHỨC HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ

Ở TỈNH ĐỒNG THÁP - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 CÁC HUYỆN, THỊ, THÀNH PHỐ; CÁC HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ VÀ BAN TỔ CHỨC HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ Ở TỈNH ĐỒNG THÁP

1.1.1 Các huyện, thị xã, thành phố và các đảng bộ huyện, thị xã, thành phố ở tỉnh Đồng Tháp

1.1.1.1 Khái quát tình hình, đặc điểm của các huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh Đồng Tháp

Khái quát tình hình, đặc điểm ở tỉnh Đồng Tháp

Tỉnh Đồng Tháp được thành lập theo Quyết định số 19-QĐ/TW ngày20- 12-1975 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao độngViệt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh SaĐéc và Long Châu Tiền Diện tích tự nhiên của tỉnh hiện nay là 3.374 km2,bằng 8,17% diện tích khu vực đồng bằng sông Cửu Long và bằng 0,99% diệntích của cả nước

Đồng Tháp nằm ở hạ lưu sông Mêkông, phía Bắc đồng bằng sông CửuLong, ở hai bên bờ sông Tiền Phía Bắc tỉnh giáp Campuchia và tỉnh LongAn; phía Đông tỉnh giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang; phía Nam tỉnh giáptỉnh Vĩnh Long và Cần Thơ; phía Tây tỉnh giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh

An Giang

Về tổ chức hành chính, tỉnh Đồng Tháp gồm 09 huyện, 02 thị xã, 01thành phố và 144 xã, phường, thị trấn Tính đến cuối năm 2010, toàn tỉnh có

số dân 1.667.706 người, trong đó có 3.612 người dân tộc thiểu số, chủ yếu làngười Hoa Tỉnh Đồng Tháp có 05 tôn giáo chính: Thiên Chúa giáo, TinLành, Phật giáo, Phật giáo Hoà Hảo, Cao Đài và một số tôn giáo khác, vớitổng số tín đồ là 338.000 người, trong đó Phật giáo Hoà Hảo có số tín đồ đôngnhất, với 173.000 người (kể cả chức sắc, chức việc)

Trang 11

Hiện nay, toàn tỉnh có 188,5 km đường quốc lộ, 372 km đường tỉnh lộ,

805 km đường hương lộ, 1.285 km đường xã, có gần 1.700 cầu các loại, vớitổng chiều dài hơn 36.582 m

Đồng Tháp có đoạn biên giới giáp với tỉnh Prâyveng của Vương quốcCampuchia dài 48,7 km, từ đầu kinh Cả Bát, tiếp giáp tỉnh Long An đến giữasông Tiền, tiếp giáp tỉnh An Giang; trong đó, biên giới đường thuỷ dài 38,1

km, đường bộ dài 10,6 km thuộc địa giới hành chính 08 xã biên giới của 02huyện Tân Hồng và Hồng Ngự Tỉnh Đồng Tháp có 02 cửa khẩu quốc tế làThường Phước và Dinh Bà, ngoài ra còn có 05 cửa khẩu phụ cho phép đượclàm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá gồm các cửa khẩu Sở Thượng,Thông Bình, Mộc Rá, Á Đôn và Bình Phú

Trong những năm chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dânĐồng Tháp (bao gồm tỉnh Sa Đéc, Long Châu Sa, Long Châu Tiền, KiếnPhong) đã chịu nhiều mất mát, hy sinh, chiến đấu ngoan cường với nhữngtrận đánh vang dội như chiến thắng Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung, trận

37 tàu trên sông Nguyễn Văn Tiếp B , đóng góp to lớn vào chiến thắng vĩđại của dân tộc Toàn tỉnh có 64.252 người tham gia cách mạng, trong đó

có 21.115 người là bộ đội; có 17.591 liệt sĩ; 7.295 người là thương binh;

593 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (trong đó 01 Mẹ có 06 con là liệt sĩ, 01 Mẹ

có chồng và 5 con là liệt sĩ); 3.558 gia đình có công với cách mạng, đượchưởng trợ cấp Qua quá trình chiến đấu, tỉnh được phong tặng, khen thưởngnhiều danh hiệu cao quý: Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhândân, 01 Huân chương Sao vàng, 01 Huân chương Hồ Chí Minh, 01 Huânchương Quân công hạng Nhất, 01 Huân chương Độc lập hạng Ba, 01 Cờthêu 8 chữ vàng của Trung ương Cục miền Nam năm 1974 "KIÊNCƯỜNG, BÁM TRỤ, GIỮ ĐẤT, GIÀNH DÂN" Ngoài ra, 07 huyện, thị;

46 xã, ấp; 12 đơn vị lực lượng vũ trang; 01 ngành và 42 cá nhân đượcphong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều danhhiệu cao quý khác

Trang 12

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, dưới

sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự giúp đỡ của Chính phủ và các

bộ, ngành Trung ương; sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của Tỉnh uỷ,Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, sự nỗ lực phấn đấu của cácngành, các cấp nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển khá, thu nhập bình quânđầu người không ngừng được tăng lên; công tác xây dựng Đảng, chính quyền,Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng được củng cố

và ngày càng phát huy tốt vai trò của mình; quốc phòng, an ninh được giữvững; bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới; đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân từng bước được nâng lên

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2011 đạt 13,55%, vượt kế hoạch0,55%, trong đó, khu vực nông nghiệp tăng 5,53%, khu công nghiệp - xâydựng tăng 22,25%, khu vực thương mại - dịch vụ tăng 16,48% Thu nhậpGDP bình quân đầu người (theo giá năm 1994) đạt 9,74 triệu đồng, tươngđương 882 USD, tăng 13,22% so với năm 2010 (giá thực tế 21,5 triệu đồng,tương đương 1.027 USD)

Cơ cấu kinh tế (theo giá năm 1994): khu vực nông nghiệp chiếm37,87%, khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 28,55%, khu vực thương mại

- dịch vụ chiếm 33,58% trong tổng GDP (giá thực tế đạt theo thứ tự: 50,24%;23,10%; 26,66%)

Thành tựu nổi bật về kinh tế là tổ chức thực hiện thành công chươngtrình xúc tiến thương mại, đa dạng hoá thị trường; triển khai có hiệu quảchương trình khuyến công; phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ Đặcbiệt, trong năm 2010 chỉ số cạnh tranh (PCI) đứng hàng thứ nhất trong khuvực đồng bằng sông Cửu Long và đứng hàng thứ ba của cả nước Tỉnh tiếptục lãnh đạo phát triển lĩnh vực nông nghiệp theo chiều sâu Lúa, gạo, cá tra,

cá basa trở thành mặt hàng chủ lực của tỉnh, có giá trị và sản lượng đứng tópđầu của cả nước; nhiều mô hình sản xuất hiệu quả được nhân rộng; xã hội hoácông tác nhân giống; khai thác lợi thế mùa nước nổi Việc ứng dụng khoa học

Trang 13

- kỹ thuật, cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp ngày càng mạnh mẽ Giá trịtrên đơn vị diện tích tăng liên tục, trình độ sản xuất của nông dân ngày càngtiến bộ Kết cấu hạ tầng ở nông thôn được đầu tư nâng cấp, bộ mặt nông thônkhông ngừng đổi mới, tiến bộ.

So với năm 2007, tuy có những khó khăn về huy động nguồn vốn,nhưng với tinh thần phấn đấu, quyết tâm cao, tỉnh đã thực hiện vốn đầu tưphát triển đạt 2.411 tỷ đồng; trong đó, vốn địa phương quản lý 2.265 tỷ đồng,bằng 94,8% kế hoạch Nhiều công trình, dự án đầu tư đã hoàn thành đưa vào sửdụng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Kinh tế pháttriển nên thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khá, bảo đảm nhu cầu chi theo

dự toán Tổng thu ngân sách trong tỉnh năm 2011 đạt 3.340 tỷ đồng, bằng 105%

dự toán, chi ngân sách địa phương đạt 5.390 tỷ đồng, bằng 109% dự toán

Hệ thống ngân hàng đã thực hiện kịp thời chính sách cho vay hỗ trợ sảnxuất theo quy định, ưu tiên vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, xuấtkhẩu, an sinh xã hội Vốn huy động trên địa bàn đạt 13.180 tỷ đồng, tăng30%; dư nợ cho vay 22.540 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2010

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hoàn chỉnh Hệ thống đô thị

và chợ được xây dựng, nâng cấp, mở rộng Hệ thống kênh mương, đê baochống và thoát lũ ngày càng phát huy hiệu quả tốt, hạn chế những thiệt hại vàkhai thác có hiệu quả lợi thế mùa nước nổi

Các thành phần kinh tế phát triển mạnh, nhất là kinh tế tư nhân Trongđiều kiện khó khăn chung của nền kinh tế cả nước, năm 2011 có 390 doanhnghiệp đăng ký mới, tổng vốn đăng ký là 1.915 tỷ đồng và khoảng 4.960 hộkinh doanh cá thể, vốn đăng ký 695 tỷ đồng, nâng tổng số lên 2.720 doanhnghiệp, tổng vốn 16.565 tỷ đồng và 48.200 hộ kinh doanh cá thể, với tổngvốn 3.550 tỷ đồng Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, kiện toàn theo chủtrương đổi mới, các công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả Kinh tế hợp tácđược củng cố, kinh tế trang trại phát triển, nhất là trên lĩnh vực chăn nuôi, kể

cả nuôi trồng thuỷ sản

Trang 14

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có chuyển biến tích cực Toàn tỉnh có 683trường mầm non, phổ thông (trong đó 63 trường đạt chuẩn quốc gia), với333.074 học sinh Đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo được tăng cường đàotạo, bồi dưỡng theo chuẩn quy định Số lượng học sinh yếu kém và học sinh

bỏ học các cấp học năm sau đều giảm so năm học trước Học sinh thi đỗ tốtnghiệp trung học phổ thông đạt 94,65% (tăng 13,83%) và hệ thống giáo dụcthường xuyên đạt 81,97% (tăng 50,03%) Đã xây dựng 1.113/1.612 phònghọc theo dự án kiên cố hoá trường, lớp học, đạt 69,04% kế hoạch (do thựchiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, vốn đối ứng của tỉnh chưa đủcân đối, lũ lụt nên phải tạm ngưng thi công) Trường Đại học Đồng Tháptuyển mới 4.800 chỉ tiêu, trường Cao đẳng cộng đồng tuyển mới 525 chỉ tiêu,trường Cao đẳng Y tế tuyển mới 700 chỉ tiêu Các cơ sở dạy nghề đã đào tạocho 20.000 người, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm nghề và kỹ năng dạy họccho 100 giáo viên dạy nghề Thực hiện Chương trình Mêkông 1.000, đến nay

đã xét tuyển đưa đi đào tạo 56 ứng viên (54 thạc sĩ, 02 tiến sĩ), trong đó đã tốtnghiệp thạc sĩ về nước 10 người, đang theo học ở nước ngoài 12 người, đangxúc tiến hồ sơ 24 người, đang học ngoại ngữ 10 người

Hoạt động khoa học - công nghệ được đổi mới theo hướng tập trungcho nghiên cứu ứng dụng Một số đề tài, dự án nghiên cứu khoa học về pháttriển các cây giống, con giống phục vụ sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả.Xuất hiện nhiều điển hình, sáng kiến hay, cách làm tốt Tỉnh có chính sách hỗtrợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đăng ký xuất xứ nhãn hiệu hàng hoá

và kiểu dáng công nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập, như: xoài cátchu huyện Cao Lãnh; quýt hồng huyện Lai Vung; ớt trái huyện Thanh Bình;

cá tra giống huyện Hồng Ngự; khô cá lóc Tràm Chim huyện Tam Nông Ngoài ra, tỉnh còn hỗ trợ 12 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chấtlượng tiên tiến; phát động phong trào vệ sinh môi trường ở các chợ, khu đôngdân cư; các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước ở các khu chăn nuôi,nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở sản xuất, kinh doanh

Trang 15

Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, xuất khẩu laođộng có bước tiến đáng kể Trong năm 2011, đã tổ chức 05 phiên giao dịchviệc làm, thu hút 2.201 người đăng ký tìm việc và 291 người đăng ký họcnghề, góp phần giải quyết việc làm cho 30.000 lao động, đạt 100% kế hoạch.

Hỗ trợ cho 3.259 hộ nghèo vay 24 tỷ đồng để sản xuất; hỗ trợ tiền điện 7,812

tỷ đồng và trợ cấp khó khăn 15,275 tỷ đồng cho 65.104 hộ nghèo, góp phầngiảm tỷ lệ hộ nghèo còn 13,73% (theo tiêu chí mới) đạt chỉ tiêu nghị quyết đề

ra Bên cạnh đó, thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 1.958 lao động,tăng gấp 02 lần so với năm 2010; xây dựng 100 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa

34 căn nhà gia đình chính sách, tổ chức đưa 1.136 đối tượng người có công điđiều dưỡng ngoài tỉnh, tổ chức lễ cải táng 40 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyệnViệt Nam Trợ cấp xã hội cho 40.269 đối tượng, tăng 20.000 người so vớinăm 2010; tặng quà cây mùa xuân cho 15.586 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Công tác phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ

bà mẹ trẻ em đạt kết quả tốt Y học cổ truyền phát triển, cơ sở vật chất đượcđầu tư nâng cấp, từng bước thực hiện tốt việc chữa bệnh kết hợp giữa đông vàtây y Công tác xã hội hoá trên lĩnh vực y tế ngày càng được mở rộng, một sốbệnh viện tư nhân được xây dựng khang trang và đưa vào hoạt động với chấtlượng phục vụ cao Các cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, giường bệnh, nhânlực được quan tâm đầu tư, nâng dần khả năng khám, chữa bệnh cho nhân dân,nhất là tuyến cơ sở; 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn được xây dựng mới,nâng cấp đạt chuẩn quốc gia

Lĩnh vực văn hoá, văn nghệ ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu.Hoạt động báo chí, phát thanh và truyền hình Đồng Tháp có nhiều tiến bộ,kịp thời phản ánh tình hình của địa phương và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhucầu cuộc sống của nhân dân Phong trào thể dục thể thao phát triển mạnh,nhiều môn thể dục thể thao được phát huy Ý thức rèn luyện sức khoẻ củanhân dân ngày càng được nâng cao Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựngđời sống văn hoá ở khu dân cư” đạt nhiều kết quả, từng bước củng cố mối

Trang 16

quan hệ cố kết cộng đồng, phát huy dân chủ, tình làng, nghĩa xóm được thắtchặt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổnđịnh Công tác trực sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ địa bàn, mục tiêu trọng yếuđược duy trì nghiêm Thực hiện tốt công tác nắm tình hình, quản lý chặt cácđối tượng nổi, triển khai đồng bộ các biện pháp tấn công, trấn áp các loại tộiphạm và các tệ nạn xã hội Công tác tuyển chọn thanh niên lên đường nhập ngũđạt yêu cầu về số lượng và chất lượng Quan hệ đối ngoại tiếp tục được mở rộng,tình hữu nghị giữa 02 tỉnh Đồng Tháp và Prâyveng (Vương quốc Campuchia)tiếp tục được duy trì Thực hiện tốt công tác phân giới cấm mốc biên giới

Bên cạnh những thuận lợi, Đồng Tháp vẫn còn không ít khó khăn,thách thức: Kinh tế tăng trưởng khá, nhưng về cơ bản vẫn là một tỉnh thuầnnông Tăng trưởng thiếu tính bền vững Cơ cấu kinh tế chuyển dịch cònchậm Tỷ lệ học sinh bỏ học ở các xã vùng sâu còn cao Lĩnh vực y tế, dịch

vụ chăm sóc sức khoẻ người dân tuy có đầu tư xây dựng, trang bị, nhưngmột số trang thiết bị ở tuyến huyện và cơ sở có phần đã xuống cấp Đờisống văn hoá tinh thần của nhân dân có bước tiến bộ, nhưng vẫn còn đơnđiệu…Thực tế đó đang đặt ra cho cấp uỷ và chính quyền tỉnh Đồng Thápnhững vấn đề phải quan tâm giải quyết trước mắt cũng như những nămtiếp theo

Những đặc điểm chủ yếu của các huyện, thị xã và thành phố của tỉnh Đồng Tháp

Sáu (06) huyện, 01 thị xã và 01 thành phố phía Bắc tỉnh (thị xã HồngNgự, thành phố Cao Lãnh, các huyện Hồng Ngự, Tân Hồng, Tam Nông,Thanh Bình, Tháp Mười và Cao Lãnh) là vùng kinh tế có nhiều tiềm năngphát triển, đặc biệt là nông, lâm, thuỷ sản và du lịch Ba (03) huyện và 01 thị

xã phía Nam tỉnh (thị xã Sa Đéc, các huyện Lấp Vò, Lai Vung, và ChâuThành) nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có tiềm năng phát triển côngnghiệp, thương mại - dịch vụ

Trang 17

Thành phố Cao Lãnh có 15 xã, phường Diện tích tự nhiên là 107 km2,với số dân là 162.482 người Phía Đông thành phố giáp xã An Bình, huyệnCao Lãnh; phía Tây giáp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; phía Nam giáp sôngTiền; phía Bắc giáp xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh Thành phố Cao Lãnh làtrung tâm hành chính hiện nay của tỉnh Đồng Tháp, có vị trí quan trọng vềchính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh; nơi có khu di tích lịch sử cấp quốcgia - mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh;Bảo tàng Đồng Tháp ghi lại các giá trị lịch sử, văn hoá trong cuộc sống, cácchiến tích lịch sử cách mạng qua hai thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc củanhân dân Đồng Tháp; có bến phà Cao Lãnh - nơi giao thương hàng hoá đi cácnơi trong và ngoài tỉnh.

Thị xã Sa Đéc có 09 xã, phường Diện tích tự nhiên 60 km2, với sốdân là 103.667 người Phía Đông thị xã giáp huyện Cao Lãnh; phía Tâygiáp huyện Lấp Vò, huyện Lai Vung; phía Nam giáp huyện Châu Thành;phía Bắc giáp sông Tiền Sa Đéc là trung tâm hành chính của tỉnh ĐồngTháp trước đây, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hộicủa tỉnh Thị xã Sa Đéc có bến cảng, các khu công nghiệp lớn, các làngnghề tiểu, thủ công nghiệp, nơi giao thương hàng hoá đi các nơi trong vàngoài tỉnh Thị xã có nhà cổ Huỳnh Thuỷ Lê được xây dựng năm 1895 vàđược trùng tu năm 1917; chùa Kiến An Cung được khởi công năm Giáp Tý(1924), khánh thành năm Đinh Mẹo (1927); làng Hoa kiểng Sa Đéc đượchình thành từ những năm 1930 nổi tiếng khu vực đồng bằng sông CửuLong và cả nước

Thị xã Hồng Ngự có 07 xã, phường Diện tích tự nhiên là 122 km2, vớidân số là 78.089 người Phía Đông thị xã giáp xã Tân Công Chí, huyện TânHồng; phía Tây giáp xã Thường Lạc, huyện Hồng Ngự; phía Nam giáp xã AnHoà, huyện Tam Nông; phía Bắc giáp Campuchia Thị xã Hồng Ngự là mộtđịa phương cận biên, nơi giao thương hàng hoá nhộn nhịp, với nhiều mặthàng phong phú; là địa phương nuôi cá tra, cá basa lớn trong tỉnh; có khu du

Trang 18

lịch Mêkông với diện tích 8.700m2 rộng rãi, thoáng mát, nằm bên bờ sôngTiền rất lý tưởng.

Huyện Tân Hồng có 09 xã, thị trấn Diện tích tự nhiên là 311 km2, với

số dân là 91.835 người Phía Đông huyện giáp xã Hưng Điền, huyện VĩnhHưng, tỉnh Long An; phía Tây giáp xã An Bình B, xã Bình Thạnh, thị xãHồng Ngự; phía Nam giáp xã Phú Hiệp, huyện Tam Nông; phía Bắc giápCampuchia Tân Hồng là một huyện đầu nguồn, chuyên sản xuất nôngnghiệp Huyện nằm ở vùng biên giáp nước bạn Campuchia, có cửa khẩu quốc

tế Dinh Bà, giao lưu hàng hoá giữa hai tỉnh Đồng Tháp với tỉnh Prâyveng(Vương quốc Campuchia); có làng nghề truyền thống "Bánh Tráng TânHồng", có nhà hàng khu du lịch Bàu Dong, với tổng diện tích 18 ha, thích hợploại hình du lịch nghỉ dưỡng

Huyện Hồng Ngự có 11 xã Diện tích tự nhiên là 210 km2, với dân số là144.769 người Phía Đông huyện giáp phường An Lạc, thị xã Hồng Ngự; phíaTây giáp Campuchia; phía Nam giáp thị xã Tân Châu (An Giang); phía Bắcgiáp Campuchia Hồng Ngự là một huyện đầu nguồn, chuyên sản xuất nôngnghiệp huyện nằm ở vùng biên giáp nước bạn Campuchia, có cửa khẩu quốc

tế Thường Phước, giao lưu hàng hoá giữa hai tỉnh Đồng Tháp với Prâyveng(Vương quốc Campuchia) và tỉnh An Giang Hồng Ngự là địa phương nuôi cátra, cá basa lớn trong tỉnh

Huyện Tam Nông có 12 xã, thị trấn Diện tích tự nhiên là 474 km2, với

số dân là 105.277 người Phía Đông huyện giáp xã Tân Quới, huyện ThanhBình và xã Phú Thuận B, huyện Hồng Ngự; phía Tây giáp xã Gáo Giồng,huyện Cao Lãnh, xã Hưng Thạnh, huyện Tháp Mười, xã Vĩnh Châu A, xãVĩnh Châu B, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An; phía Nam giáp xã Phú Lợi, xã

An Phong, xã Tân Mỹ, huyện Thanh Bình; phía Bắc giáp xã An Bình A, xã

An Bình B, thị xã Hồng Ngự, xã An Phước, xã Tân Phước, huyện Tân Hồng.Tam Nông là huyện sản xuất nông nghiệp, nơi có diện tích nuôi tôm càngxanh lớn nhất tỉnh; nơi có Vườn Quốc gia Tràm Chim - khu Ramsar thứ tư

Trang 19

của Việt Nam, thứ 2.000 của thế giới, với diện tích 7.588 ha, được xem làĐồng Tháp Mười thu nhỏ với đầy đủ hệ sinh thái của vùng đất ngập nước, đặcbiệt là địa chỉ về thường xuyên hàng năm của loài Sếu đầu đỏ được xếp trongsách đỏ thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp, vì đang có nguy cơ tuyệt chủng.Huyện mang dấu ấn lịch sử với trận đánh Giồng Thị Đam - Gò Quản Cungcủa Tiểu đoàn 502 anh hùng.

Huyện Tháp Mười có 13 xã, thị trấn Diện tích tự nhiên là 528 km2, với sốdân là 139.141 người Phía Đông huyện giáp các xã Mỹ Lợi A, Mỹ Lợi B, huyệnCái Bè, tỉnh Tiền Giang; phía Tây giáp xã Phú Cường, huyện Tam Nông; phíaNam giáp xã Ba Sao, huyện Cao Lãnh; phía Bắc giáp xã Tân Thành, huyện TânThạnh, tỉnh Long An Tháp Mười là huyện vùng sâu của Đồng Tháp, chuyên sảnxuất nông nghiệp Tuy nhiên, những năm gần đây, thị trấn Mỹ An, huyện ThápMười đã phát triển lên đô thị loại 4; có khu công nghiệp tại thị trấn và khu côngnghiệp ở xã Trường Xuân Nơi có Khu di tích lịch sử - văn hoá Gò Tháp - di tíchquốc gia hạn đặc biệt còn lưu giữ được dấu tích thành luỹ của Vương quốc PhùNam, các di chỉ của nền văn hoá Óc Eo, Mộ và Đền thờ cụ Thiên Hộ Võ DuyDương và Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều Nơi đây đã diễn ra trận đánh 37 tàu Mỹtrên sông Nguyễn Văn Tiếp B và trận đánh Tháp Mười tầng

Huyện Cao Lãnh có 18 xã, thị trấn Diện tích tự nhiên là 491 km2, với

số dân là 201.642 người Phía Đông huyện giáp các xã Mỹ Quý, Láng Biển,Thanh Mỹ, huyện Tháp Mười, xã Tân Thanh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang;phía Tây giáp phường Mỹ Phú, xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh; phía Namgiáp sông Tiền, xã Tân Khánh Đông, thị xã Sa Đéc; phía Bắc giáp xã PhúCường, huyện Tam Nông, xã Bình Thành, huyện Thanh Bình Cao Lãnh làhuyện cửa ngõ có Quốc lộ 30 đi qua, chủ yếu sản xuất nông nghiệp, ngoài câylúa, có nhiều loại trái cây khác, đặc biệt là thương hiệu "xoài cát Cao Lãnh"

có tiếng trong cả nước Huyện có chợ đầu mối trái cây đi khắp nơi trong nước

và nước ngoài; có căn cứ địa cách mạng của Tỉnh uỷ được mệnh danh là "XẻoQuít - căn cứ lòng dân"

Trang 20

Huyện Thanh Bình có 13 xã, thị trấn Diện tích tự nhiên là 341 km2, với

số dân là 135.088 người Phía Đông huyện giáp xã Phong Mỹ, huyện CaoLãnh; phía Tây giáp huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; phía Nam giáp huyệnChợ Mới, tỉnh An Giang; phía Bắc giáp xã Phú Thuận B, huyện Hồng Ngự.Thanh Bình là huyện sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản; có thươnghiệu "ớt trái Thanh Bình", khu công nghiệp Bình Thành; có Dinh Ông ĐốcVàng - Anh hùng dân tộc - di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia

Huyện Lấp Vò có 13 xã, thị trấn Diện tích tự nhiên là 264 km2, với số dân

là 118.000 người Phía Đông huyện giáp xã Tân Khánh Đông, thị xã Sa Đéc, xãTân Dương, xã Long Hậu, thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung; phía Tây giáp xã

An Hoà, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; phía Nam giáp huyện Thốt Nốt, tỉnhCần Thơ; phía Bắc giáp sông Tiền Lấp Vò có Quốc lộ 80 đi qua, có phà VàmCống Lấp Vò là huyện sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản; có khu côngnghiệp Vàm Cống, Kinh Xáng; là nơi giao thương đường thuỷ, đường bộ rấtthuận lợi; có dấu ấn của địa danh "Long Hưng A nước xoáy"

Huyện Lai Vung có 12 xã, thị trấn Diện tích tự nhiên là 238 km2, với sốdân là 160.013 người Phía Đông huyện giáp thị xã Sa Đéc, huyện ChâuThành; phía Tây giáp sông Hậu và thành phố Cần Thơ; phía Nam giáp huyệnBình Minh, tỉnh Vĩnh Long; phía Bắc giáp xã Long Hưng A, xã Long Hưng

B, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò Lai Vung là huyện có các quốc lộ 80 và 54

đi qua; chuyên sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, có diện tích trồngcây ăn trái, với thương hiệu "Quýt hồng Lai Vung", "Nem Lai Vung", làngnghề truyền thống "Chiếu Định Yên"; nơi có chiến tích oai hùng của nhân dândưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tại địa phương trong việc kéo tàu Pháp, đượcxây dựng "Phù điêu kéo tàu Pháp trên sông" tại xã Tân Dương

Huyện Châu Thành có 12 xã, thị trấn Diện tích tự nhiên là 246 km2, với

số dân là 151.908 người Phía Đông huyện giáp xã Tân Hội, thành phố VĩnhLong; phía Tây giáp xã Tân Phú Đông, thị xã Sa Đéc, xã Phong Hoà, huyệnLai Vung; phía Nam giáp xã Thạnh Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long;

Trang 21

phía Bắc giáp phường 4, thị xã Sa Đéc, xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh.Châu Thành là huyện cửa ngõ của Quốc lộ 80; là huyện chuyên sản xuất nôngnghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, nhất là có diện tích nuôi cá tra, cá basa lớn trongtỉnh; nơi có nhiều loại cây ăn trái, đặc biệt là cây nhãn

1.1.1.2 Khái quát về các đảng bộ huyện, thị xã, thành phố ở tỉnh Đồng Tháp

43, trong đó có 06 nữ Tổng số đảng viên toàn đảng bộ là 1.827, chiếm 2,34%

Trang 22

45, trong đó có 09 nữ Tổng số đảng viên toàn đảng bộ là 3.540, chiếm 2,19%

so với dân số

Đảng bộ huyện Cao Lãnh có 47 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 24 đảng

bộ cơ sở và 23 chi bộ cơ sở Số uỷ viên ban chấp hành đảng bộ huyện 41,trong đó có 06 nữ Tổng số đảng viên toàn đảng bộ là 3.897, chiếm 1,94% sovới dân số

Đảng bộ huyện Tháp Mười có 55 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 15đảng bộ cơ sở và 40 chi bộ cơ sở Số uỷ viên ban chấp hành đảng bộ huyện là

43, trong đó có 07 nữ Tổng số đảng viên toàn đảng bộ là 3.143, chiếm 2,30%

so với dân số

Đảng bộ huyện Lấp Vò có 58 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 19 đảng

bộ cơ sở và 39 chi bộ cơ sở Số uỷ viên Ban chấp hành đảng bộ huyện là 43,trong đó có 05 nữ Tổng số đảng viên toàn đảng bộ là 3.738, chiếm 2,07% sovới dân số

Đảng bộ huyện Lai Vung có 55 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 17 đảng

bộ cơ sở và 38 chi bộ cơ sở Số uỷ viên ban chấp hành đảng bộ huyện là 44,trong đó có 07 nữ Tổng số đảng viên toàn đảng bộ là 2.864, chiếm 1,79% sovới dân số

Đảng bộ thị xã Sa Đéc có 59 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 15 đảng bộ

cơ sở và 44 chi bộ cơ sở Số uỷ viên ban chấp hành đảng bộ huyện là 42,trong đó có 07 nữ Tổng số đảng viên toàn đảng bộ là 2.809, chiếm 2,71% sovới dân số

Đảng bộ huyện Châu Thành có 56 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 15đảng bộ cơ sở và 41 chi bộ cơ sở Số uỷ viên ban chấp hành đảng bộ huyện là

45, trong đó có 08 nữ Tổng số đảng viên toàn đảng bộ là 3.150, chiếm 2,08%

Trang 23

năng, nhiệm vụ: là cơ quan lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụchính trị theo nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ huyện, thị, thành phố đề

ra và các nhiệm vụ do cấp uỷ cấp trên giao; tập trung lãnh đạo, tổ chứcthực hiện thắng lợi các mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội; quốcphòng, an ninh, xây dựng Đảng; đối ngoại… Để thực hiện chức năng,nhiệm vụ trên, các huyện, thị, thành uỷ có trách nhiệm thực hiện tốt cáccông việc chủ yếu sau:

- Quyết định chương trình hoạt động toàn khoá của ban chấp hành đảngbộ; quy chế làm việc của ban chấp hành, ban thường vụ và thường trực huyện,thị, thành uỷ; quy chế làm việc của uỷ ban kiểm tra huyện, thị, thành uỷ

- Quyết định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội hằng năm; cho ý kiến một số vấn đề cụ thể quan trọng về an ninh,quốc phòng, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể… do ban thường vụ huyện,thị, thành uỷ, các cơ quan, đơn vị hoặc uỷ viên ban chấp hành đảng bộ huyện,thị, thành đề nghị

- Tại các hội nghị thường kỳ, ban chấp hành đảng bộ huyện, thị, thànhxem xét báo cáo của ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ về việc lãnh đạo thựchiện nghị quyết đại hội, nghị quyết của ban chấp hành đảng bộ; những quyếtđịnh quan trọng của ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ giữa hai kỳ hội nghịban chấp hành đảng bộ; xem xét các báo cáo định kỳ hàng năm và bất thườngcủa uỷ ban kiểm tra huyện, thị, thành uỷ

- Quyết định về tổ chức hệ thống chính trị; về chủ trương thành lập, sápnhập, chia tách, đổi tên, giải thể các cơ quan, đơn vị của huyện, thị, thành phốtheo chủ trương của Trung ương Đảng, Chính phủ; cho ý kiến về điều chỉnhđịa giới hành chính xã, thị trấn

- Quyết định giới thiệu nhân sự ứng cử, đề cử hoặc rút khỏi các chứcdanh chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân huyện

- Quyết định việc xin rút khỏi ban chấp hành đảng bộ huyện, thị, thànhphố và các chức danh do ban chấp hành đảng bộ huyện, thị, thành phố bầu ra

Trang 24

- Quyết định kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng theo quy địnhcủa Điều lệ Đảng.

- Kết luận một số vấn đề có ý nghĩa chính trị quan trọng về lịch sử đảng

bộ huyện, thị, thành phố

- Chuẩn bị và triệu tập đại hội đảng bộ; thảo luận và thông qua cácvăn kiện trình đại hội; giới thiệu với đại hội nhân sự ứng cử, đề cử bầu cửvào ban chấp hành đảng bộ khoá mới và đoàn đại biểu dự đại hội đảng bộtỉnh; xác định phương hướng chỉ đạo đại hội các tổ chức cơ sở đảng trựcthuộc đảng bộ huyện, thị, thành

- Xem xét công tác tài chính của đảng bộ

Tình hình các ban chấp hành huyện, thị, thành phố

Đảng bộ Đồng Tháp có 12 đảng bộ huyện, thị, thành phố tương ứng với

12 huyện, thị, thành phố Tổng số uỷ viên ban chấp hành đảng bộ huyện, thị,thành uỷ nhiệm kỳ 2010-2015 là 522 đồng chí, trong đó nam 445 (chiếm85,25%), nữ 77 (chiếm 14,75%)

Về cơ cấu theo các khối:

- Khối đảng, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể: 192 đồng chí (chiếm 36,78 %);

- Khối các cơ quan nhà nước: 272 đồng chí (chiếm 52,10%);

- Khối các lực lượng vũ trang: 48 đồng chí (chiếm 9,20%);

- Khối huyện, thị, thành phố: 378 đồng chí (chiếm 72,41%);

- Khối xã, phường, thị trấn: 144 đồng chí (chiếm 27,59%)

Về độ tuổi: từ 36 đến 45 tuổi là 216 đồng chí (chiếm 41,38%); từ 46 đến

55 tuổi là 299 đồng chí (chiếm 57,28%); từ 56 tuổi trở lên là 07 đồng chí(chiếm 1,34%)

Về trình độ học vấn: 100% tốt nghiệp phổ thông trung học và tương đương

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: 100% có trình độ từ trung cấp trởlên; trong đó, trung cấp 56 đồng chí (chiếm 10,73%); cao đẳng, đại học 442đồng chí (chiếm 84,67%); thạc sĩ, tiến sĩ 24 đồng chí (chiếm 4,60%)

Trang 25

Về trình độ lý luận chính trị: 100% có trình độ từ trung cấp trở lên;trong đó, trung cấp 71 đồng chí (chiếm 0,19%); cao cấp, cử nhân 451 đồngchí (chiếm 86,40%).

Các số liệu thống kê cho thấy, các uỷ viên ban chấp hành huyện, thị,thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp có một số đặc điểm đáng chú ý

Một là, cơ cấu theo từng khối tương đối hợp lý: khối các cơ quan nhà

nước có số lượng cấp uỷ viên nhiều hơn, kế đến là các cơ quan đảng, Mặttrận, đoàn thể và lực lượng vũ trang Số cấp uỷ viên công tác ở các cơ quan,ban, ngành cấp huyện cũng nhiều hơn cấp xã

Hai là, số lượng còn thiếu so với chỉ tiêu của đại hội Theo quy định và

hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh uỷ Đồng Tháp, mỗi đảng bộ huyện, thị

xã, thành phố được bầu từ 43 đến 45 uỷ viên, ban thường vụ từ 11 đến 13 uỷviên Như vậy, tính chung ở 12 đảng bộ huyện, thị, thành còn thiếu 18 uỷ viênban chấp hành Sự thiếu hụt cấp uỷ viên ở các huyện, thị, thành do nhiềunguyên nhân: Đại hội bầu không đủ số lượng; một số cấp uỷ viên được luânchuyển công tác về các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh,

Ba là, số lượng cấp uỷ viên nữ chỉ là 77 người (chiếm tỷ lệ 14,75%).

Tỷ lệ cấp uỷ viên nữ nhìn chung chưa đạt theo yêu cầu cơ cấu (15%) Mặtkhác, số cấp uỷ viên nữ phân bổ không đồng đều ở các huyện, thị, thành uỷ

Bốn là, có đủ ba độ tuổi (36-45, 46-55 và từ 56 trở lên), nhưng cơ cấu

tỷ lệ chưa cân đối Số lượng uỷ viên trẻ chiếm tỷ lệ thấp, số lượng uỷ viên lớntuổi chiếm tỷ lệ cao

Năm là, trình độ của cấp uỷ viên nhìn chung đáp ứng yêu cầu trong tình

hình hiện nay Đa số các uỷ viên trưởng thành và tham gia công tác sau ngàythống nhất đất nước 30-4-1975, nên có điều kiện học tập để chuẩn hoá về họcvấn, chuyên môn và lý luận chính trị Tuy nhiên, vẫn còn một số ít huyện, thị,thành có uỷ viên lớn tuổi không có điều kiện chuẩn hoá, nên chưa đáp ứngtiêu chuẩn, yêu cầu về chuyên môn, lý luận chính trị

Trang 26

1.1.2 Các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở Đồng Tháp

1.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ

Chức năng:

Ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở Đồng Tháp có các chức năng chủ yếu:

Một là, là cơ quan tham mưu cho huyện, thị, thành uỷ về công tác tổ chức

xây dựng Đảng Ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ có vị trí, vai trò quan trọngtrong việc tham mưu, đề xuất, giúp cấp uỷ trong việc định ra chủ trương, kếhoạch và giải pháp tổ chức thực hiện công tác tổ chức xây dựng Đảng Do đó,chức năng chủ yếu của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ tham mưu choban chấp hành, mà trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ và thường trựchuyện, thị, thành uỷ về công tác tổ chức xây dựng Đảng, bao gồm các lĩnhvực: tổ chức, cán bộ, tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, chính sách cán bộ và bảo

vệ chính trị nội bộ của hệ thống chính trị trong huyện, thị, thành phố

Hai là, là cơ quan chuyên môn nghiệp vụ về công tác tổ chức xây dựng

Đảng Ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ vừa trực tiếp tiến hành các hoạt động

chuyên môn nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, tổ chức cơ sởđảng, chính sách cán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ của huyện, thị, thành phố,vừa là cơ quan hướng dẫn cho cơ quan, tổ chức thực hiện công tác nghiệp vụ

tổ chức xây dựng Đảng

Nhiệm vụ:

Nhiệm vụ của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ gồm:

- Chủ trì hoặc phối hợp nghiên cứu cụ thể hoá chủ trương, đường lối,chính sách và các giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, chính sáchcán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ; chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các nghịquyết, quyết định về các lĩnh vực nêu trên của cấp uỷ

Trang 27

- Thẩm định đề án về tổ chức, bộ máy, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chínhtrị nội bộ mà cấp uỷ phân cấp cho cấp uỷ, các ngành, các cơ quan trực thuộctrước khi trình cấp uỷ quyết định.

- Hướng dẫn, kiểm tra các ban đảng của huyện, thị, thành uỷ, các tổchức cơ sở đảng trực thuộc về việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định,quyết định…của cấp trên và của cấp mình về công tác tổ chức, cán bộ, đảngviên, bảo vệ chính trị nội bộ và việc thi hành Điều lệ Đảng trong toàn đảng bộ

- Hướng dẫn nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chínhtrị nội bộ đối với các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc huyện, thị, thành uỷ

- Phối hợp với cơ quan có liên quan hướng dẫn với các cơ quan nhà nướccủa huyện, thị, thành phố trong việc thể chế hoá nghị quyết, quyết định của Đảng

về lĩnh vực tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, bảo vệ chính trị nội bộ

- Tham mưu cho cấp uỷ về quản lý cán bộ, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại,miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng và kỷ luật cán bộ, thực hiện chế độchính sách đối với cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý

- Quản lý tổ chức bộ máy và biên chế các cơ quan đảng, Mặt trận vàcác tổ chức chính trị - xã hội trong huyện, thị, thành phố

- Hướng dẫn việc thực hiện phân công, phân cấp quản lý và quy trìnhcông tác cán bộ theo quy định của cấp uỷ

- Quản lý hồ sơ cán bộ thuộc diện huyện, thị, thành uỷ, ban thường vụhuyện, thị, thành uỷ quản lý Hướng dẫn cấp uỷ trực thuộc quản lý nhập lưu,khai thác hồ sơ đảng viên, giới thiệu sinh hoạt đảng

- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong huyện, thị, thànhphố; tổ chức làm công tác thống kê cơ bản của Đảng

- Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo quy định củaTrung ương

1.1.2.2 Tổ chức bộ máy, biên chế của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ

Trang 28

Sau khi thực hiện việc rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức bộmáy, tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 lầnthứ khoá VIII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khoá X, tổ chức

bộ máy các ban tham mưu giúp việc của các huyện, thị, thành uỷ ở ĐồngTháp gồm: ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban dân vận, cơ quan uỷ ban kiểmtra, văn phòng và một đơn vị sự nghiệp là trung tâm bồi dưỡng chính trị Nhưvậy, ban tổ chức là một trong năm cơ quan tham mưu cho huyện, thị, thành

uỷ, chuyên trách công tác tổ chức xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ và chínhsách cán bộ; tổ chức cơ sở đảng, đảng viện; bảo vệ chính trị nội bộ

Cơ quan ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp về cơ bản

có cơ cấu tổ chức, bộ máy giống nhau, gồm lãnh đạo ban và các cán bộchuyên môn trực tiếp làm công tác nghiệp vụ, không có các tổ chức trựcthuộc ban, nhưng có chia thành các bộ phận nghiệp vụ, như: tổ chức, cán bộ

và chính sách cán bộ; tổ chức cơ sở đảng, đảng viện; bảo vệ chính trị nội bộ;hành chính, văn phòng

Lãnh đạo ban gồm: Trưởng ban và 02 phó trưởng ban Trưởng ban phụtrách chung và công tác tổ chức cán bộ, chính sách cán bộ Một phó trưởngban phụ trách tổ chức cơ sở đảng - đảng viên; hành chính văn phòng Một phótrưởng ban phụ trách công tác bảo vệ chính trị nội bộ Ở các huyện, thị, thànhphố thống nhất phân công 01 uỷ viên ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ làmtrưởng ban, có 01 phó trưởng ban là cấp uỷ viên Lãnh đạo ban làm việc theochế độ thủ trưởng, kết hợp với cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.Lãnh đạo ban trực tiếp chỉ đạo cán bộ của ban làm việc theo sự phân côngtrong ban lãnh đạo Đội ngũ cán bộ làm việc theo chế độ chuyên viên phụtrách mảng công việc được giao

Tổng số biên chế ở 12 ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh ĐồngTháp là 81 người, bình quân 6,75 người/ban Song, trên thực tế, số lượng cán

bộ, công chức ở các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ là không đồng đều, cónơi cao, nơi thấp Cụ thể: Ban Tổ chức Thị uỷ Hồng Ngự có 06 người; Ban

Trang 29

Tổ chức Huyện uỷ Hồng Ngự có 07 người; 07 Ban Tổ chức các huyện uỷ TânHồng, Tam Nông, Thanh Bình, Cao Lãnh, Châu Thành, Thành uỷ Cao Lãnh

và Thị uỷ Sa Đéc có 08 người; 03 Ban Tổ chức các huyện uỷ Tháp Mười, Lấp

Vò, Lai Vung có 09 người

Biên chế các cơ quan ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ được giao từnguồn biên chế Trung ương phân bổ Căn cứ tổng chỉ tiêu biên chế khối đảng,Mặt trận, đoàn thể do Ban Tổ chức Trung ương phân bổ cho tỉnh, Ban Tổchức Tỉnh uỷ Đồng Tháp nghiên cứu, xem xét đặc điểm của từng địa phương

để giao lại biên chế chung khối đảng, Mặt trận, đoàn thể cho các đảng bộ, sau

đó ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ chủ động phân bổ lại cho từng cơ quanthuộc khối đảng, Mặt trận, đoàn thể cấp mình Do nhu cầu và sự phân bổ củaban thường vụ huyện, thị, thành uỷ khác nhau, nên biên chế ở các cơ quan ban

tổ chức huyện, thị, thành uỷ cũng khác nhau

1.1.2.3 Vị trí, vai trò của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ

Vai trò của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ được thể hiện ở nhữngvấn đề chính sau:

Một là, ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ là cơ quan tham mưu giúp cấp

uỷ đề ra chủ trương về công tác tổ chức xây dựng Đảng của đảng bộ huyện,thị, thành Căn cứ các nghị quyết, chỉ thị về công tác tổ chức xây dựng Đảngcủa Trung ương Đảng, của Tỉnh uỷ, nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ ở cấpmình và tình hình thực tế ở địa phương, ban chấp hành, ban thường vụ huyện,thị, thành uỷ xem xét, thảo luận và quyết định những chủ trương, kế hoạch,giải pháp về tổ chức, cán bộ cho cả nhiệm kỳ hay một giai đoạn nhất định Để

có được các chủ trương, kế hoạch, giải pháp đúng đắn và phát huy tác dụngtrong hệ thống chính trị không thể không phát huy vai trò tham mưu chủ yếucủa ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ và các ban, ngành có liên quan Chínhban tổ chức huyện, thị, thành uỷ nghiên cứu tham mưu, đề xuất để cấp uỷ đề

ra các nghị quyết, chủ trương, kế hoạch và giải pháp về công tác tổ chức xâydựng Đảng trên lĩnh vực tổ chức, cán bộ Các nội dung tham mưu của ban tổ

Trang 30

chức huyện, thị, thành uỷ được cụ thể hoá bằng các nghị quyết, đề án, chươngtrình hành động, kế hoạch công tác và được quán triệt, triển khai đến tổ chứcđảng và cán bộ, đảng viên trong toàn đảng bộ Trong quá trình tổ chức thựchiện các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án, ban tổ chức huyện, thị,thành uỷ cũng là cơ quan tham mưu có trách nhiệm giúp cấp uỷ giải quyết cácvấn đề phát sinh, tiến hành hoạt động sơ kết, tổng kết để kiểm điểm, đánh giátình hình, tìm ra nguyên nhân, đúc rút kinh nghiệm và tiếp tục điều chỉnh, bổsung các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện để các chủ trương, chính sách côngtác tổ chức xây dựng Đảng thật sự đi vào thực tiễn, phát huy tác dụng, hiệuquả tích cực đối với công tác tổ chức xây dựng Đảng của đảng bộ Như vậy,

có thể nói, vai trò tham mưu của ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ có tác độngtrực tiếp đến sự hình thành và thực thi các chủ trương của huyện, thị, thành uỷ

về công tác tổ chức xây dựng Đảng trong lĩnh vực tổ chức, cán bộ, đảng viên,chính sách cán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ ở từng đảng bộ

Hai là, ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ là cơ quan thực hiện các nhiệm

vụ cấp uỷ giao, chủ yếu là công tác tổ chức, cán bộ Ban chấp hành, banThường vụ huyện, thị, thành uỷ thống nhất lãnh đạo và tổ chức thực hiện cácnhiệm vụ tổ chức, cán bộ Song, việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cụ thể

về công tác tổ chức, cán bộ của ban chấp hành, ban thường vụ huyện, thị,thành uỷ không phải lúc nào cũng có điều kiện, cơ chế phù hợp để phát huytính hiệu quả, hiệu lực Ban chấp hành, ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ đề

ra phương hướng, chủ trương, biện pháp, còn việc tổ chức thực hiện nó cầnmột cơ quan với tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức có chuyênmôn nghiệp vụ đảm trách Ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ chính là cơ quan

có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ được phân công, phân cấp hoặc uỷquyền về công tác tổ chức, cán bộ Mặt khác, cũng cần phân biệt rõ, khôngphải nhiệm vụ nào ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ cũng có trách nhiệm thựchiện, mà tuỳ theo tính chất, phạm vi áp dụng, đối tượng tác động…mà banchấp hành, ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ sẽ phân công, phân cấp hoặc

Trang 31

uỷ quyền cho ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ thực hiện một số công việc,như: công tác thẩm định các đề án về tổ chức, cán bộ do các cơ quan có tráchnhiệm đệ trình; quản lý cán bộ, đảng viên không thuộc diện quản lý trực tiếpcủa ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ quản lý; quản lý, phân bổ biên chế các

cơ quan khối đảng, Mặt trận, đoàn thể; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngcán bộ; quản lý việc cấp phát thẻ đảng viên; thực hiện các chế độ, chính sáchcho cán bộ; v.v

Việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cấp uỷ phân công, phân cấp hoặc

uỷ quyền đã thể hiện vai trò tác động trực tiếp của ban tổ chức huyện, thị,thành uỷ vào công tác tổ chức xây dựng Đảng ở các đảng bộ; giúp ban chấphành, ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ tránh rơi vào tình trạng phải giảiquyết quá nhiều sự vụ, sự việc làm ảnh hưởng, hạn chế đến chức năng, nhiệm

vụ lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị ở các huyện, thị, thành uỷ

Ba là, ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ tiến hành nhiều công việc

nghiệp vụ Công tác tổ chức xây dựng Đảng ngày nay không những là nhiệm

vụ then chốt, mà còn là một lĩnh vực khoa học có tính đặc thù cao Công tác

tổ chức, cán bộ liên quan đến tổ chức bộ máy của các địa phương, cơ quan,đơn vị và con người - lĩnh vực đặc biệt hệ trọng đối với hoạt động của hệthống chính trị Mặt khác, ngành tổ chức xây dựng Đảng gồm nhiều lĩnh vực,trong đó có các lĩnh vực cơ bản: tổ chức và cán bộ; tổ chức cơ sở đảng vàđảng viên; bảo vệ chính trị nội bộ; chính sách cán bộ Mỗi lĩnh vực hoạt độngđều có những quy định, quy trình, thủ tục thực hiện riêng biệt, chặt chẽ mànếu không có đủ trình độ, kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm sẽ rất dễnhận thức không đúng và thực hiện sai Những nội dung chính, cơ bản củacác văn bản chỉ đạo và hướng dẫn của cấp trên đòi hỏi phải được áp dụng, vậndụng chính xác, chặt chẽ, đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời và đúng theo cácthủ tục, trình tự quy định, nhất là các quy định, quy trình liên quan đến côngtác cán bộ như: nhận xét, đánh giá; quy hoạch; điều động; luân chuyển; bổnhiệm cán bộ; giới thiệu cán bộ ứng cử; v.v nếu được hiểu một cách không

Trang 32

đầy đủ, vận dụng, áp dụng sai sẽ dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, địa phương chủnghĩa, thiếu dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ Là cơ quan chuyên tráchcủa cấp uỷ về công tác tổ chức xây dựng Đảng, ban tổ chức huyện, thị, thành

uỷ có đội ngũ cán bộ, công chức để vận dụng, áp dụng các quy định, quytrình, hướng dẫn nghiệp vụ vào công tác tổ chức xây dựng Đảng ở cấp mình.Nếu ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ thực hiện không đúng các hoạt độngnghiệp vụ, chuyên môn của mình sẽ dẫn đến phát sinh khiếu nại, khiếu kiện,

tố cáo liên quan đến cán bộ và công tác cán bộ mà huyện, thị, thành uỷ phảigiải quyết

1.1.2.4 Đặc điểm đặc thù trong tổ chức, hoạt động của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp

Một là, từ năm 2007 đến nay, cán bộ, công chức công tác tại các ban tổ

chức huyện, thị, thành uỷ chỉ còn lại số cán bộ trưởng thành và tham gia côngtác sau ngày 30-4-1975, trong đó có một số cán bộ mới được tuyển dụng

Các cán bộ trưởng thành và tham gia công tác sau ngày 30-4-1975, nhất

là số cán bộ trẻ được tuyển dụng gần đây đa số được đào tạo cơ bản, có kiếnthức chuyên môn, nhưng lại hạn chế về hiểu biết thực tế, ít sâu sát cơ sở, chưa

có nhiều kinh nghiệm thực tiễn Đặc điểm này đòi hỏi công tác đào tạo, bồidưỡng đội ngũ cán bộ các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở Đồng Tháp phảichú ý đến tính toàn diện cả về chính trị - hành chính, chuyên môn nghiệp vụ

và kinh nghiệm công tác tổ chức, cán bộ

Hai là, công tác tổ chức và đội ngũ cán bộ các ban tổ chức huyện, thị,

thành uỷ ở Đồng Tháp được kế thừa truyền thống đấu tranh cách mạng kiêncường, bất khuất của quê hương và của ngành tổ chức

Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của các ban tổ chức huyện, thị,thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp gắn với sự ra đời của ngành tổ chức xây dựngĐảng và đảng bộ tỉnh Đồng Tháp Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ, từ buổi đầu chỉ có vài cán bộ cấp uỷ phụ trách côngtác tổ chức, cán bộ cho đến thời kỳ sau này hình thành nên một cơ quan với

Trang 33

đầy đủ các yếu tố của một tổ chức bộ máy Dù hoạt động trong vùng địch tạmchiếm, ở các căn cứ bí mật, ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ và đội ngũ cán

bộ những người làm công tác tổ chức, cán bộ không quản ngại khó khăn, giankhổ, hiểm nguy, luôn kiên định lập trường tư tưởng, quan điểm cách mạng,mục tiêu lý tưởng của Đảng, phấn đấu rèn luyện, học tập, công tác, bám địabàn cơ sở, từng bước trưởng thành và hoàn thành nhiệm vụ ngày một tốt hơn

Trong thời kỳ Đồng Tháp cùng cả nước xây dựng đất nước đi lên chủnghĩa xã hội và tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ và đội ngũ cán bộ làm công tác tổchức, cán bộ chuyên trách luôn phát huy truyền thống quý báu, tham mưugiúp cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí,phân công cán bộ, sắp xếp tổ chức bộ máy, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở,đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, quản lý, bồi dưỡng, nâng cao chấtlượng đảng viên Cùng với hoạt động thực hiện các nhiệm vụ tổ chức, cán bộ,các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ còn tham mưu cấp uỷ giải quyết hoặc đềnghị cấp trên giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách cho cán bộ như: tiềnlương, khen thưởng, trợ cấp khó khăn theo quy định của Trung ương và củatỉnh phù hợp với đặc điểm của địa phương

Mặc dù điều kiện làm việc và chế độ chính sách đối với cán bộ làmcông tác ở các đảng bộ huyện, thị, thành còn hạn chế, nhưng với tinh thầntrách nhiệm, ý chí lạc quan cách mạng, cán bộ các ban tổ chức huyện, thị,thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp luôn phấn đấu, xây dựng mối quan hệ đoàn kếtgắn bó, giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện, tình hình mới

Ba là, công tác xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, đội ngũ

cán bộ ở các huyện, thị, thành phố ở Đồng Tháp tiến hành trong môi trườngkinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, hạn chế của một tỉnh nông nghiệp, biêngiới, có những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, lịch sử chính trị phức tạp

Tuy đã có những tiến bộ nhất định, nhưng Đồng Tháp vẫn là tỉnh nôngnghiệp, thu nhập GDP bình quân đầu người (theo giá năm 1994) mới đạt 9,74

Trang 34

triệu đồng, tương đương 882 USD Tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng vớitiềm năng, thế mạnh của tỉnh; ngân sách eo hẹp, nên khả năng chi cho đầu tưphát triển rất hạn chế; trình độ dân trí và lao động được đào tạo thấp; các vấn

đề dân tộc, tôn giáo, biên giới vẫn còn diễn biến phức tạp Đây là những tháchthức đặt ra cho công tác của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở ĐồngTháp, đòi hỏi đội ngũ cán bộ tổ chức phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, ýthức trách nhiệm và sự tận tuỵ cao đối với công tác để có những tham mưuchính xác cho cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ về xây dựng tổ chức bộ máy vàđội ngũ cán bộ

1.2 QUAN NIỆM VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÁC BAN TỔ CHỨC HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ Ở TỈNH ĐỒNG THÁP

1.2.1 Quan niệm về chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ

ở Đồng Tháp

Chất lượng hoạt động của một cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị làmối quan tâm hàng đầu của các cấp uỷ đảng từ Trung ương đến cơ sở Nghị quyếtHội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá VIII) xác định: “Từng bước nâng cao chấtlượng trước hết là chất lượng chính trị của mỗi tổ chức cũng như toàn hệ thốngchính trị; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu bộ máy, cơ chế vận hành, lề lốilàm việc; nâng cao chất lượng cán bộ; tăng cường kỷ luật, kỷ cương”; “bộ máycủa Đảng phải phù hợp với điều kiện của một đảng cầm quyền Đảng cần có cơquan tham mưu chuyên trách có chất lượng cao và tinh gọn” [19, tr.24-25]

Để đánh giá đúng chất lượng và đề xuất được phương hướng, giải phápnâng cao chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Thápcần có quan niệm đúng về chất lượng ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ

Chất lượng là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống, nhưngtuỳ theo góc độ xem xét, nhìn nhận mà người ta có định nghĩa khác nhau.Theo triết học duy vật biện chứng, chất là tính quy định bản chất của sự vật.Tính quy định đó giúp phân biệt sự việc này với sự việc khác Chất lượngđược xem xét trong mối quan hệ biện chứng với số lượng, sự tác động biện

Trang 35

chứng giữa số lượng và chất lượng tạo ra sự tồn tại, vận động, phát triểnkhông ngừng của sự vật.

Trong lĩnh vực kinh tế, chất lượng được quan niệm là tập hợp nhữngtính chất của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn những yêu cầu định trướccho nó, trong điều kiện xác định về kỹ thuật, kinh tế, xã hội

Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Chất lượng là cái làm nên phẩm

chất, giá trị của con người, sự vật Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vậtnày khác với sự vật kia [63, tr.331]

Dù đối với mỗi lĩnh vực khác nhau có phương pháp đánh giá riêng vềchất lượng, nhưng đều có điểm chung: chất lượng của đối tượng đánh giá làtổng hợp các yếu tố liên quan đến bản chất đối tượng đó, làm nên tác dụng,giá trị của đối tượng và phân biệt đối tượng đó với đối tượng khác Nói đến chất

lượng là phải nói đến hai yếu tố: thứ nhất, là tổng hợp những phẩm chất, tính

chất (thuộc tính) tạo nên cái giá trị của một con người, một sự vật, hiện tượng;

thứ hai, những phẩm chất đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã đặt ra Nói đến

chất lượng là nói đến tốt hay xấu, đạt hay không đạt một chuẩn mực nào đó.Ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ là một cơ quan trong bộ máy tổ chứccủa huyện, thị, thành uỷ Bản thân ban tổ chức là một tổ chức cấu thành nằmtrong hệ thống tổ chức của huyện, thị, thành uỷ, có tính độc lập tương đối; cóchức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức độc lập Nói đến chất lượng ban tổ chứchuyện, thị, thành uỷ phải nói đến hai mặt: chất lượng tổ chức bộ máy và chấtlượng hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ban

Chất lượng tổ chức bộ máy của ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ thể

hiện ở sự kết hợp giữa các yếu tố cơ bản: cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ và cơchế hoạt động để đảm bảo cho tổ chức, bộ máy vận hành một cách đồng bộ,nhịp nhàng, hiệu quả Có đội ngũ cán bộ mới hình thành nên bộ máy tổ chức.Điều đó hoàn toàn đúng, nhưng chưa đủ; đội ngũ cán bộ không phải là những

cá nhân riêng lẻ để mỗi người tuỳ tiện hoạt động, mà phải là tập hợp nhữngcon người với những tiêu chuẩn nhất định, thực hiện những nhiệm vụ theo sự

Trang 36

phân công, phân cấp nhằm đạt được kết quả, mục tiêu chung đã được xácđịnh Do đó, tổ chức bộ máy phải là sự kết hợp giữa những con người cụ thểvới cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động phù hợp, đảm bảo các mối quan hệphụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, có tác dụng hỗ trợ nhau để hoàn thành nhiệm

vụ chung của một cơ quan, đơn vị

Chất lượng tổ chức bộ máy của ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnhĐồng Tháp phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức, chất lượng của đội ngũ cán bộ, cơchế, lề lối hoạt động nội bộ ban và các mối quan hệ công tác bên ngoài củaban tổ chức huyện, thị, thành uỷ Do đó, chất lượng tổ chức bộ máy củaban tổ chức cũng do nhiều yếu tố quy định như tính khoa học, hiệu quả của

cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, lề lối làm việc; sự đáp ứng yêu cầu củacác điều kiện làm việc; tính hợp lý của số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ;phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực công tác, phong cách làmviệc của đội ngũ cán bộ, công chức, so với tiêu chuẩn cán bộ, yêu cầunhiệm vụ chính trị

Chất lượng hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ban tổ chức

huyện, thị, thành uỷ là mức độ thực hiện các nhiệm vụ của ban thể hiện trongkết quả thực hiện các nội dung công tác của ban tổ chức, như công tác thammưu, công tác nghiệp vụ tổ chức, công tác quản lý cán bộ, công tác quản lýđảng viên Ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ không có mục đích tự thân, mà

sự tồn tại của ban là để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Nếu chấtlượng tổ chức bộ máy của ban là tốt, nhưng chất lượng hoạt động thực hiệnchức năng, nhiệm vụ không đáp ứng yêu cầu, thì ban tổ chức huyện, thị, thành

uỷ không được xem là có chất lượng tốt

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Chất lượng các ban tổ chức

huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp là tổng hợp các thuộc tính của hai yếu

tố chủ yếu: tổ chức bộ máy, cán bộ và tình hình thực hiện các nội dung công tác quy định mức độ đáp ứng các yêu cầu về tổ chức và chức năng, nhiệm

vụ của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp.

Trang 37

Thuộc tính yếu tố tổ chức bộ máy quy định chất lượng nội bộ của ban tổchức huyện, thị, thành uỷ, bao gồm: tính khoa học, hiệu quả của cơ cấu tổchức, cơ chế hoạt động, lề lối làm việc; sự đáp ứng của các điều kiện để làmviệc; tính hợp lý của số lượng, cơ cấu, phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ,năng lực, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức trong ban.

Thuộc tính yếu tố thực hiện các nội dung công tác của ban tổ chứchuyện, thị, thành uỷ bao gồm: tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ củaban tổ chức, như công tác tham mưu, công tác nghiệp vụ tổ chức, công cácquản lý cán bộ, quản lý đảng viên; sự phối hợp công tác với các ban, ngành,

tổ chức, đoàn thể liên quan

1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp

Tiêu chí là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sựvật Tiêu chí đánh giá chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnhĐồng Tháp là dấu hiệu, tính chất mà dựa vào đó có thể nhận biết, đánh giáđược chất lượng ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp là tốt haychưa tốt, tốt đến mức nào, đạt hay chưa đạt yêu cầu

Từ quan niệm về chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnhĐồng Tháp có thể xác định bốn nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng các ban tổchức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp

1.2.2.1 Nhóm tiêu chí về bộ máy tổ chức

Đây là nhóm tiêu chí cơ bản, có tính tổng thể để đánh giá chất lượngmột cơ quan, đơn vị Bộ máy tổ chức là sự kết hợp giữa các yếu tố: cơ cấu tổchức, đội ngũ cán bộ và cơ chế hoạt động để đảm bảo cho tổ chức vận hànhmột cách đồng bộ, nhịp nhàng, hiệu quả

Bộ máy tổ chức được xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, có cơ cấu tổchức hợp lý, đội ngũ cán bộ chất lượng cao, cơ chế hoạt động phù hợp,khoa học sẽ thúc đẩy năng suất, hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ và cả

Trang 38

bộ máy, ngược lại sẽ làm trì trệ các hoạt động của bộ máy, là lực cản làmgiảm hiệu suất làm việc, sự phát triển của đội ngũ cán bộ Việc xây dựng tổchức bộ máy tinh gọn, có chức năng, nhiệm vụ phù hợp là tiêu chí hàngđầu để đánh giá chất lượng hoạt động của các ban tổ chức huyện, thị, thành

uỷ ở tỉnh Đồng Tháp

1.2.2.2 Nhóm tiêu chí về cán bộ, công chức

Đội ngũ cán bộ, công chức của ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ làthành tố mang tính quyết định đối với chất lượng hoạt động của các ban tổchức huyện, thị, thành uỷ Đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng, hợp lý

về cơ cấu, bảo đảm các tiêu chuẩn sẽ là điều kiện, tiền đề quy định chất lượnghoạt động của ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ Nói cách khác, chất lượngthực thi các nhiệm vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức sẽ hìnhthành chất lượng hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị của ban tổ chứchuyện, thị, thành uỷ Kết quả, chất lượng thực thi các nhiệm vụ chuyên môncủa đội ngũ cán bộ, công chức phụ thuộc vào các yếu tố: kiến thức, trình độnghiệp vụ chuyên môn, lý luận chính trị; năng lực, kinh nghiệm thực tiễn;động cơ, tinh thần, thái độ phục vụ, phong cách, lề lối làm việc của từng cánhân §ội ngũ cán bộ, công chức hội tụ các yếu tố đó sẽ quy định, chi phốitrực tiếp đến chất lượng, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao theo hai chiềuhướng: nếu như phẩm chất, trình độ năng lực cao, tinh thần thái độ làm việctích cực, lề lối làm việc khoa học sẽ tác động tích cực đối với chất lượng hoạtđộng của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ, ngược lại, phẩm chất, trình độnăng lực bất cập, không đáp ứng yêu cầu, tinh thần, thái độ làm việc vô tráchnhiệm, lề lối, phong cách lạc hậu, chậm đổi mới sẽ ảnh hưởng tiêu cực đếnchất lượng hoạt động của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ

Để đánh giá chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnhĐồng Tháp cần xem xét toàn diện các mặt cơ cấu, số lượng, phẩm chất chínhtrị, đạo đức, trình độ, năng lực, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ, côngchức so với tiêu chuẩn cán bộ, công chức và yêu cầu nhiệm vụ

Trang 39

1.2.2.3 Nhóm tiêu chí về cơ chế hoạt động

Đó là tính hợp lý, khoa học của các mối quan hệ bên trong, bên ngoài,

lề lối làm việc, chức trách, nhiệm vụ của các chức danh trong bộ máy tổ chứccủa ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ … Trong điều kiện hiện nay, cơ chế hoạtđộng của ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ là thước đo trình độ về khoa học tổchức và quản lý của cơ quan, phản ánh trình độ tiên tiến hay lạc hậu, phát huydân chủ hay thiếu dân chủ Cơ chế hoạt động phải đảm bảo yêu cầu cơ bản:vừa giữ vững các nguyên tắc của khoa học tổ chức hiện đại, vừa phù hợp vớichức năng, nhiệm vụ, cho phép phát huy cao nhất năng lực của các thànhviên, đem lại kết quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ ở mức cao nhất

Cơ chế hoạt động tốt của ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ còn thể hiện

ở việc xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của ban; mối quan hệ côngtác với các ban, văn phòng của huyện, thị, thành uỷ; với hội đồng nhân dân,

uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội củahuyện, thị xã, thành phố; với Ban Tổ chức Tỉnh uỷ; với ban tổ chức của tổchức đảng trực thuộc huyện, thị, thành uỷ

1.2.3.4 Nhóm tiêu chí về kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ

Hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ là tiêu chí tổng hợp phản ánhchất lượng của các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ Hoạt động thực hiệnnhiệm vụ của ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ có thể phân chia ở hai cấp độ:hoạt động thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ và hoạt động thực hiệnnhiệm vụ chính trị của toàn ban

Hoạt động thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của từng cán bộ là các hoạtđộng của cán bộ xử lý các công việc thường xuyên có liên quan trực tiếp hoặcgián tiếp đến công tác tổ chức, cán bộ Nó bao gồm việc thực hiện các biệnpháp, thao tác nghiệp vụ cụ thể theo các quy trình, hướng dẫn riêng, xử lý tácnghiệp các hoạt động trong nội bộ cơ quan ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ.Còn hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị xuất phát từ chức năng cơ bản

Trang 40

của ban là tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ quyết địnhcác chủ trương, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ có liên quan trực tiếphoặc gián tiếp đến các cấp, các ngành trong đảng bộ huyện, thị, thành phố.

Hoạt động thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và thực hiện nhiệm vụchính trị có quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau Nhiệm vụ chuyên môn phục

vụ cho yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, là “điều kiện kỹ thuật” để hình thànhnhiệm vụ chính trị, hay nói cách khác, kết quả của nhiệm vụ chuyên môn hìnhthành nên kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, chất lượng của nhiệm vụchuyên môn phản ánh chất lượng của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.Ngược lại, nhiệm vụ chính trị định hướng, chỉ đạo và tác động trở lại nhiệm

vụ chuyên môn, kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị là thước đo trình độ,năng lực của cả đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ của ban tổ chứchuyện, thị, thành uỷ

Việc đánh giá các hoạt động thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và thựchiện nhiệm vụ chính trị là tiêu chí không thể thiếu để đánh giá chất lượng hoạtđộng của ban tổ chức huyện, thị, thành ủy

Khi vận dụng tiêu chí này cần xem xét mức độ thực hiện các nhiệm vụ:nghiên cứu, đề xuất; thẩm định, thẩm tra; hướng dẫn, kiểm tra; phối hợp côngtác; thực hiện các nhiệm vụ do ban thường vụ huyện, thị, thành ủy giao

1.2.3 Các vấn đề chủ yếu trong việc nâng cao chất lượng các ban tổ chức huyện, thị, thành uỷ ở tỉnh Đồng Tháp

1.2.3.1 Về chất lượng nội bộ

Thường xuyên kiện toàn công tác tổ chức, cán bộ, nhất là việc lựa chọnnhững cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống tốt; có trình độ, nănglực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đồng thời, bố trí đủ cán bộ ởcác bộ phận chuyên môn, chú ý bố trí cán bộ đảm nhiệm công tác bảo vệchính trị nội bộ; bố trí đúng người đứng đầu Người đứng đầu, bên cạnh việcbảo đảm đạt chuẩn theo quy định chung, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng,

Ngày đăng: 26/06/2020, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (1999), Về các quy chế đánh giá, bổ nhiệm cán bộ và quy định phân cấp quản lý của Bộ Chính trị về một số quyết định, quy chế, hướng dẫn về công tác cán bộ, Bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác cán bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các quy chế đánh giá, bổ nhiệm cán bộ vàquy định phân cấp quản lý của Bộ Chính trị về một số quyết định,quy chế, hướng dẫn về công tác cán bộ
Tác giả: Nguyễn Văn An
Năm: 1999
9. Lê Đức Bình (2002), “Tổ chức và cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và cán bộ”, "Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Lê Đức Bình
Năm: 2002
11. Nguyễn Văn Danh (2001), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tổ chức của Đảng ở Đảng bộ Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn tốt nghiệp Đại học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyêntrách làm công tác tổ chức của Đảng ở Đảng bộ Hà Tĩnh tronggiai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Danh
Năm: 2001
12. Phan Diễn (2002), “Công tác tổ chức và cán bộ luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tổ chức và cán bộ luôn là vấn đề quan trọnghàng đầu”, "Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Phan Diễn
Năm: 2002
13. Phan Diễn (2002), “Một số vấn đề quan trọng về công tác tổ chức và cán bộ của Đảng hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (31) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quan trọng về công tác tổ chức và cánbộ của Đảng hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Phan Diễn
Năm: 2002
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Một số văn kiện về đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Tài liệu lưu hành nội bộ, Ban Tổ chức Trung ương xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện về đổi mới và chỉnh đốnĐảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII về xây dựng Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hộinghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII về xây dựngĐảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba BanChấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2)Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1999
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BanChấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tổ chức xây dựng Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tổchức xây dựng Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấphành Trung ương Đảng khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BanChấp hành Trung ương Đảng khoá XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sựthật
Năm: 2013
27. Nguyễn Kim Đỉnh (2001), “Một số suy nghĩ về tiêu chuẩn người đứng đầu tổ chức trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về tiêu chuẩn người đứngđầu tổ chức trong giai đoạn hiện nay”," Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Kim Đỉnh
Năm: 2001
28. Nguyễn Văn Giang (2006), “Đổi mới phong cách làm việc”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phong cách làm việc”, "Tạp chí Xâydựng Đảng
Tác giả: Nguyễn Văn Giang
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w