1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC BÌNH XUYEN TỈNH VĨNH PHÚC

93 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC BÌNH XUYEN TỈNH VĨNH PHÚC Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại KBNN huyện Bình Xuyên, từ đó đề xuất các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG ĐÔ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÊN ĐỀ TÀI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC BÌNH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Vĩnh Phúc, tháng 06 năm 2017

Tác Giả

Nguyễn Thế Vượng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã nhận đượcnhiều sự quan tâm, giúp đỡ, góp ý quý báu của nhiều nhà khoa học trong và ngoàiTrường

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Đào tạo sau đại học,các thầy cô giáo trong trường Đại học Đông Đô, đã trực tiếp giảng dạy, chỉ dẫn chotôi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến

TS Lê Văn Chiến, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi về kiến thứccũng như phương pháp nghiên cứu, những ý kiến quý báu định hướng và hoàn thiệntrong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Kho bạc Nhà nước huyện BìnhXuyên tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện và cho phép tôi được học tập, nghiên cứu vàhoàn thành luận văn Xin cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp tại các Kho bạchuyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoànthành luận văn

Tác Giả xin chân thành cám ơn các cán bộ hướng dẫn khoa học tất cả các cơquan và đồng nghiệp, gia đình, bạn bè thân thiết, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi choviệc hoàn thành luận án này

Vĩnh Phúc, tháng 06 năm 2017 Tác giả

Nguyễn Thế Vượng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2

Mở Đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Mục tiêu chung 2

Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

Đối tượng nghiên cứu 3

Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin 3

4.1 Phương pháp nghiên cứu 3

4.2 Nguồn thông tin 4

Kết cấu luận văn: 4

Chương 1 5

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức kho bạc Nhà nước 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò cán bộ, công chức Kho bạc Nhà nước 5 1.1.1 Khái niệm cán bộ của kho bạc Nhà nước 5

1.1.2 Khái niệm về Công chức kho bạc Nhà nước 6

1.1.2 Khái niệm, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy kho bạc nhà nước 9

1.1.2.1 Khái niệm kho bạc nhà nước 9

1.1.2.2 Nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước 10

1.1.3 Vai trò đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống KBNN 12

1.2 Chất lượng cán bộ, công chức kho bạc Nhà nước 14

1.2.1 Nhận diện chất lượng cán bộ, công chức 14

Trang 6

1.2.3 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của KBNN 20

1.2.3.1 Công tác quy hoạch CBCCVC 20

1.2.3.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC 22

1.2.3.3 Công tác quy hoạch tuyển dụng CBCCVC 27

1.2.3.4 Công tác sử dụng CBCCVC 28

1.2.3.5 Hoàn thiện văn hóa công sở 29

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức KBNN 29

1.3.1 Chất lượng đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 29

1.3.2 Chuẩn bị nhân sự đối với chức danh cán bộ; tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng công chức 30

1.3.3 Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ngành Kho bạc Nhà nước 31

1.3.4 Yếu tố cơ sở vật chất của kho bạc Nhà nước 32

1.3.5 Yếu tố tự rèn luyện của đội ngũ cán bộ, công chức 33

1.4 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Kho bạc Nhà nước của một số địa phương trong nước 33

1.4.1 Đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng công chức KBNN ở tỉnh Tiền Giang 33

1.4.2 Đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng công chức KBNN ở Thừa Thiên Huế 35

Chương 2 37

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 37

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của KBNN huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 37

2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội của huyện Bĩnh Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 37

2.1.1.1 Tăng trưởng và chuyên dịch cơ cấu kinh tế 37

A Quy mô kinh tế tiếp tục tăng với tốc độ khá, cao hơn mức bình quân cả nước 37

Trang 7

B, Thu nhập bình quân tiếp tục tăng trưởng và luôn nằm trong nhóm

các địa phương có GRDP bình quân đầu người cao của cả nước 38

C, Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng chưa đạt mục tiêu đề ra 39

2.1.1.2 Đầu tư phát triển 40

2.1.1.3 Thu- Chi ngân sách 42

2.1.1.4 Phát triển các lĩnh vực Văn hoá, xã hội 43

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của KBNN huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 46

2.1.2.1 Quá Trình hình thành KBNN huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 47

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ của KBNN huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 50

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của KBNN huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 51

2.1.3.2 Đánh giá cơ cấu tổ chức nhân sự KBNN Huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc 53

1 Trình độ học vấn của đội ngũ CBCC KBNN 54

2 Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc 55

3 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc 55

2.1.4 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc 56

2.1.4.1 Đối với chức danh Giám đốc KBNN Bình Xuyên 56

2.1.4.2 Đối với chức danh Phó Giám đốc 57

2.1.4.3 Chức danh Kế toán trưởng 57

2.1.4.4 Đối với chức danh Phó phòng Kế toán 58

2.1.4.5 Đánh giá của khách hàng tới giao dịch tại KBNN đối với cán bộ, công chức của KBNN huyện Bình Xuyên khảo sát 62

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc 62

2.2.1.Tiền lương và chế độ phụ cấp 62

2.2.2 Thời gian làm việc và chế độ nghỉ ngơi của CBCC 63

2.2.3 Đào tạo và nâng cao tay nghề 64

2.2.4 Yếu tố cơ sở vật chất của KBNN 64

Trang 8

GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

CÔNG CHỨC KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYÊN 65

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 65

3.1.1 Những ưu điểm của chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức của KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc 65

3.1.2 Những hạn chế về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc 65

3.1.3 Ma trận SWOT phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng CBCC của KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc 66

3.2 Một số giải pháp chủ yếu 65

3.2.1 Hoàn thiện cơ chế quản lý cán bộ công chức KBNN 65

3.2.2 Đào tạo nâng cao học vấn, chuyên môn của CBCC KBNN 66

3.2.3 Phát huy tính tự giác trong tu dưỡng, học tập, rèn luyện toàn diện của đội ngũ CBCC của KBNN 67

3.2.4 Thực hiện đạo đức công vụ và quy chế ở nơi làm việc 70

3.2.5 Tăng cường chất lượng quy hoạch, bổ nhiệm và sử dụng CBCC 71

3.2.5.1 Đối với công tác quy hoạch cán bộ 71

3.2.5.2 Đối với công tác bổ nhiệm và sử dụng cán bộ 73

3.2.5.3 Vận dụng và thực hiện các chế độ chính sách đối với CBCC của KBNN 75

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình về chu kỳ học tập chủ động 23Hình 2.1 kho bạc nhà nước huyện Bình Xuyên 44

Trang 10

Mở Đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế

-xã hội của mỗi quốc gia Để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hoá chúng ta cần nhận thức sâu sắc, đầy đủ những giá trị

to lớn và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo,

“nguồn tài nguyên ” vô giá, vô tận của đất nước, phải có cách nghĩ cách nhìn mới

về vai trò, động lực và mục tiêu của nguồn nhân lực trong sự nghiệp Công nghiêphoá - hiện đại hoá đất nước, từ đó xây dựng các chiến lược, chương trình kế hoạchphát triển nguồn lực phù hợp, phát huy tối đa nhân tố con người, tạo ra động lựcmạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hoá - hiện đạihoá, thúc đẩy qua trình đổi mới toàn diện đất nước

Ngày nay chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với

sự phát triển Nếu trước đây sự phát triển của một quốc gia chủ yếu dựa vào cácnguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn tư bản, thị trường tiêu thụ, thì hiệnnay chính tri thức lại có ý nghĩa hết sức lớn lao góp phần tạo nên sự thịnh vượng, sựgiàu có cho một quốc gia Xu thế toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển công nghệthông tin, đặt biệt là sự ra đời của Internet đã làm cho các quốc gia, vùng lãnh thổngày càng trở nên gần nhau hơn, qua đó sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn vàtất nhiên ưu thế cạnh tranh bao giờ cũng nghiêng về quốc gia, lãnh thổ có chấtlượng nguồn nhân lực cao hơn, được đào tạo tốt hơn

Mỗi công việc của mỗi ngành nghề khác nhau lại có sự đòi hỏi khác nhau vềtrình độ, cũng như khả năng lao động của người lao động Kiến thức, kỹ năng, kinhnghiệm, sự hiểu biết và hoạt động sáng tạo tạo nên chất lượng lao động Chất lượnglao động kết hợp với những hình thức sử dụng hợp lý,

Linh hoạt lực lượng lao động, với nỗ lực chung của tập thể, với sự quan tâmđến các yếu tố văn minh thẩm mỹ của sản xuất kinh doanh và hoạt động xã hội tạonên chất lượng đội ngũ lao động, có ý nghĩa to lớn trong nâng cao chất lượng vàhiệu quả công việc Đó chính là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất kinhdoanh và hoạt động xã hội hiện đại Chính vì thế, mỗi doanh nghiệp, cơ quan muốn

Trang 11

tồn tại và phát triển thì việc nâng cao chất lượng nguồn lao động và phân công, sửdụng lao động hợp lý, linh hoạt, khoa học là vấn đề quan trọng hàng đầu để thànhcông.

Trong tiến trình đổi mới đất nước, hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN)được thành lập và nhanh chóng trở thành công cụ sắc bén trong quản lý mọi hoạtđộng thu chi Ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, hệ thống KBNN không thể thực hiệnnhiệm vụ của mình một cách hiệu lực và hiệu quả nếu thiếu một đội ngũ cán bộ,công chức có đủ trình độ và năng lực để đảm trách công việc được giao Chính vìvậy, phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và đề xuất các giảipháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại các kho bạc trong hệthống là vấn đề được KBNN quan tâm Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi tiến hànhnghiên cứu và chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức củaKho bạc Nhà nước huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc” Làm luận văn thạc sỹchuyên ngành quản trị kinh doanh

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại KBNN huyệnBình Xuyên, từ đó đề xuất các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức của KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc trong thờigian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức bao

Trang 12

gồm các nội dung trình độ cán bộ công chức, hiệu quả thực thi công vụ, đạo đứccông vụ và một số vấn đề khác của đội ngũ cán bộ, công chức trong KBNN tạihuyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc

- Số liệu nghiên cứu trong giai đoạn 2014-2016

- Thông tin số liệu sơ cấp khảo sát năm 2015

- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 4/ 2015 đến tháng 10/2016

+ Phạm vi về không gian

- Đề tài thực hiện nghiên cứu những thông tin số liệu thứ cấp cần thiết củaKBNN huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng yêu cầu nội dung nghiên cứu, đề tài luận văn sẽ được thực hiệntrên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Hệ thống hóa, khảo cứu các tài liệu hình thành cơ sở lý luận về chất lượngcông chức, viên chức trong cơ quan Nhà nước

- Sử dụng các phương pháp điều tra và phân tích thống kê để đánh giá chấtlượng công chức, viên chức trong cơ quan của KBNN huyện Bình Xuyên tỉnh VĩnhPhúc

- Sử dụng các phương pháp điều tra và phân tích xã hội học để nghiên cứuđịnh tính các yêu cầu; cụ thể: Sử dụng các bảng hỏi, nghiên cứu tình huống và thamvấn chuyên gia tại các đơn vị điều tra, tại mỗi đơn vị đề tài chọn mẫu để điều tra,phỏng vấn,…

- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia về nội dung nghiên cứu,những vấn đề cần giải quyết trong quá trình nghiên cứu

4.2 Nguồn thông tin

Trang 13

Nguồn thông tin và số liệu phục vụ cho phân tích chủ yếu là số liệu thứ cấpđược thu thập từ các cơ sở dữ liệu sẵn có, các ấn phẩm được phát hành, công bốchính thức từ các nguồn chính thống (cơ quan Nhà nước trung ương và địa phương,các tổ chức khoa học có uy tín ).

Ngoài ra đề tài cũng sử dụng thông tin từ phỏng vấn các nhà quản lý trongcác cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến cơ cấu tổ chức, bộ máy của KBNNnhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu

Kết cấu luận văn:

Ngoài lời nói đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ,

công chức kho bạc Nhà nước

Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức kho bạc Nhà

nước huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Giải pháp nhắm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức

kho bạc Nhà nước Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 14

có lương mà chỉ hưởng sinh hoạt phí của tổ chức mình mà thôi Kể từ Cách mạngTháng Tám 1945, sau khi giành được chính quyền, các cán bộ cách mạng được bốtrí vào đội ngũ quản lý chính quyền.

Cán bộ và công chức được định nghĩa chung tại Điều 1, Pháp lệnh về cán bộ

và công chức ngày 26-2-1998 không thấy có sự phân biệt giữa hai khái niệm này.Sau này, Luật Cán bộ, công chức (ngày 13-11-2008) có phân biệt giữa cán bộ vàcông chức theo quy định tại Điều 4 như sau:

- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức

vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhànước, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trungương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từngân sách nhà nước (khoản 1)

- Riêng về người làm việc ở cấp xã , phường, thị trấn thì cán bộ là công dân ViệtNam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, ủyban nhân dân, bí thư, phó bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị-xã hội

b Khái niệm về cán bộ kho bạc Nhà nước

- Cán bộ KBNN Việt Nam là công dân Việt Nam, được bổ nhiệm giữ chức

vụ, chức danh quản lý trong Hệ thống KBNN Việt Nam, có nghĩa vụ và trách nhiệmthực hiện các nhiệm vụ quản lý trong Hệ thống KBNN được phân công, dựa trên cơ

Trang 15

sở quyền lực Nhà nước và pháp luật quy định; Trong biên chế và hưởng lương từngân sách nhà nước.

- Cán bộ KBNN Việt Nam là những người giữ chức vụ, chức danh từ PhóPhòng trở lên đối với KBNN cấp huyện và cấp tỉnh Ở KBNN cấp huyện thì Cán bộ

là những người giữ chức vụ chức danh từ Tổ Phó Tổ nghiệp vụ của KBNN cấpHuyện trở lên

1.1.2 Khái niệm về Công chức kho bạc Nhà nước

a Khái niệm về Công chức

Thuật ngữ công chức được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới,

để chỉ ra những người giữ công vụ thường xuyên trong cơ quan, tổ chức nhà nước.Thuật ngữ công chức là thuật ngữ có tính lịch sử, hình thành trong những điều kiệnnhất định, cùng với chế độ công vụ

Công vụ là công việc, hoat đông nhà nước chủ yếu do công chức nhà nướcthực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước và pháp luật, được đảm bảo bằngquyền lực nhà nước, pháp luật và sử dụng quyền lực đó để thực thi các nhiệm vụ,chức năng của nhà nước

Ở những quốc gia tồn tại nhiều đảng chính trị (có đảng cầm quyền vàđảng đối lập) thì công chức được hiểu là những người giữ công vụ thường xuyêntrong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức được hưởnglương từ ngân sách nhà nước Còn ở những nước chỉ có một đảng duy nhất, đảnglãnh đạo nhà nước và xã hội thì quan niệm công chức không chỉ gồm những chủthể nêu trên, mà còn cả những đối tượng tương tự, nhưng lại làm việc tại các tổchức của đảng, tổ chức chính trị -xã hội Vì vậy, không thể có một định nghĩachung duy nhất về công chức cho tất cả các quốc gia Quan niệm về công chứcgắn liền với yếu tố chính trị và đời sống chính trị - xã hội có tính quyết định chế

độ công vụ và quan niệm công chức

Tại Trung Quốc,theo Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (1993), Điều lệ tạmthời về công chức nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công bố ngày 14tháng 8 năm 1993, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1993, công chức nhà nước

Trang 16

bao gồm công chức lãnh đạo và không lãnh đạo; và phải thông qua một chế độ tuyểndụng hét sức nghiêm ngặt Công chức không lãnh đạo bao gồm: Cán sự, Chuyên viên,Chuyên viên tổ trưởng, Chuyên viên tổ phó, Trợ lý chuyên viên nghiên cứu, Chuyênviên nghiên cứu, Trợ lý chuyên viên thanh tra Chức danh lãnh đạo: Thủ Tướng Quốc

vụ viện, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Các thành viên Quốc vụ viện, chức Trưởngphó cấp bộ, tỉnh, chức trưởng phó cấp vụ, … Hiện nay, Trung Quốc đã chuyển cáccông chức sang chế độ hợp đồng lao động và có những cải cách mạnh mẽ trong lĩnhvực hành chính để giảm biên chế

Ở Pháp, quan niệm về công chức rất rộng, công chức được phân thành hailoại: Loại thứ nhất là những công chức làm việc thường xuyên trong bộ máy nhànước, bị chi phối bởi luật công chức; loại thứ hai là những công chức bị chi phối bởiluật lao động, bởi hợp đồng lao động

Ở Nhật Bản, quan niệm công chức bao gồm cả công chức nhà nước trungương và công chức địa phương, có nghĩa là những người làm việc trong các cơ quanchính quyền và tự quản địa phưong cũng là công chức

Ở Việt Nam từ khi có Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 tới nay, quanniệm về công chức nhà nước cũng có những thay đổi nhất định Trên cơ sở Pháplệnh cán bộ, công chức năm 1998, Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 11năm 1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sủ dụng và quản lý công chức tuy khôngđưa ra định nghĩa công chức khái quát, nhưng đã liệt kê những đối tượng côngchức Nhà nước theo Điều1, Nghị định này thì công chức bao gồm những ngườiđược quy định tại khoản 3, khoản 5 của Điều 1 Pháp lệnh, cụ thể là:

- Công chức nhà nước trước hết là công dân Việt Nam;

- Được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trongcác cơ quan nhà nước, cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, cơ quan, đơn vịthuộc Công an nhân dân, và trong các đơn vị sự nghiệp Nhà nước;

- Được phân loại theo trình độ đào tạo;

- Được xếp vào ngạch hành chính, ngạch sự nghiệp;

- Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trang 17

Dấu hiệu nổi bật nhất của công chức là được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặcđược giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được hưởnglương từ ngân sách nhà nước Điều này phản ánh tính thường

xuyên liên tục của nền công vụ nhà nước Theo quy định này thì người đượctuyển dụng là người qua các kỳ thi công chức và đã trúng tuyển được tiếp nhận vàolàm việc tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp nhà nước, hết thời gian tập sự nếuthoả mãn các điều kiện trong thời gian tập sự thì được cơ quan, tổ chức nhà nước,người có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm chính thức vào ngạch công chức

Luật Cán bộ, công chức ngày 13-11-2008 có khái niệm về công chức theoquy định tại Điều 4 như sau:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chứcchính trị-xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộcQuân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhânquốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩquan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sựnghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội,trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (khoản 2)

- Riêng về người làm việc ở cấp xã , phường, thị trấn thì công chức cấp xã

là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụthuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhànước (khoản 3)

b Khái niệm công chức kho bạc nhà nước

- Công chức KBNN Việt Nam là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vàgiao đảm trách và thực hiện một công vụ thường xuyên trong KBNN Việt Nam, dựatrên cơ sở quyền lực Nhà nước và pháp luật quy định; Được xếp vào ngạch côngchức; Được phân loại theo trình độ; Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchnhà nước

Trang 18

1.1.2 Khái niệm, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy kho bạc nhà nước 1.1.2.1 Khái niệm kho bạc nhà nước.

Theo Trần Vũ Hải và Hoàng Minh Thái (2013), Kho bạc Nhà nước (StateTreasury) đã có từ lâu Thuật ngữ 'Treasury' theo nguồn gốc La tinh có nghĩa là 'vậtquý' hay 'kho báu' Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, những vật quý tìmđược ngày một nhiều hơn, dần dần được tập trung vào tay những người có thế lực,hình thành các kho cất giữ châu báu Khi các bộ tộc xuất hiện, kho báu chính là nơicất giữ tập trung các tài sản quý của cộng đồng bộ tộc

Cùng với sự ra đời của Nhà nước cổ đại, bộ máy quản lý tài sản của Nhànước cũng được hình thành, theo đó, xuất hiện các tổ chức chuyên quản lý các loạitài sản quý của Nhà nước và các khoản thu nhập công (tô, thuế) Tổ chức này dầndần hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy để trở thành Ngân khốquốc gia hay Kho bạc Nhà nước sau này

Dưới chế độ quân chủ, các vua chúa thường chọn những người ruột thịt,thân tín cho làm quan coi giữ các kho châu báu, tiền bạc, vũ khí để củng cố sứcmạnh của Nhà nước và quân đội Trong thế giới tư bản, cùng với sự phát triển vềkinh tế - tài chính, bộ máy Kho bạc Nhà nước trở thành một loại công sở đặc biệt,với chức năng chủ yếu là quản lý các khoản thu chi của ngân sách Nhà nước; cácloại tài sản quý hiếm; các nguồn dự trữ tài chính - tiền tệ của Nhà nước

Ngày nay, mặc dù còn có nhiều khác biệt về lịch sử và kinh tế, song hầu hếtcác nước đều có cơ quan Kho bạc Nhà nước Ở các nước phát triển, bộ máy Khobạc Nhà nước được thành lập khá sớm và hoàn chỉnh như Vương quốcAnh và Hoa Kỳ - năm 1789-1790; Pháp – năm 1800; Canada – năm 1867

1.1.2.2 Nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước

a Nhiệm vụ

Theo Quyết định số 235/2003/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ về quyđịnh chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kho bạc nhà nước, KBNN có nhữngnhiệm vụ như sau:

- Tập trung và phản ánh các khoản thu ngân sách nhà nước, thực hiện điều

Trang 19

tiết thu ngân sách nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy định của cấp có thẩmquyền.

- Thực hiện chi trả và kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo từng đối tượngthụ hưởng theo dự toán ngân sách nhà nước được duyệt

- Kiểm soát và thực hiện việc xuất, nhập các quỹ dự trữ tài chính nhà nước,tiền, tài sản tạm thu, tạm giữ và các khoản tịch thu đưa vào tài sản nhà nước theoquyết định của cấp có thẩm quyền

- Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thành toán, giaodịch bằng tiền mặt, chuyển khoản với các cơ quan, đơn vị, các nhân có quan hệ giaodịch với Kho bạc Nhà nước

- Tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triểnthông qua các hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ, Công trái xây dựng tổquốc theo quy định của Chính phủ

- Tổ chức kế toán, thống kê và báo cáo quyết toán quỹ ngân sách nhà nước,quỹ dự trữ tài chính nhà nước, tiền và tài sản tạm thu, tạm giữ

- Mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại quốcdoanh để giao dịch thanh toán giữa Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng

- Tổ chức thanh toán, điều hoà vốn và tiền mặt trong hệ thống Kho bạc Nhànước, bảo đảm tập trung nhanh, đầy đủ các khoản thu, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhucầu thanh toán, chi trả của ngân sách nhà nước

- Lưu trữ, bảo quản tài sản, tiền và các chứng chỉ có giá của Nhà nước, củacác cơ quan, đơn vị, các nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước

- Khi phát hiện đơn vị, tổ chức thụ hưởng ngân sách nhà nước vi phạm chế

độ quản lý tài chính nhà nước, Kho bạc Nhà nước được tạm thời đình chỉ việc chitrả, thanh toán và báo cáo với cấp có thẩm quyền để xử lý

- Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra trong hệ thống Kho bạc Nhà nước

- Tổ chức quản lý hệ thống thông tin, tin học trong toàn hệ thống Kho bạcNhà nước

- Quản lý công chức, viên chức, vốn và tài sản thuộc hệ thống Kho bạc Nhà

Trang 20

b Tổ chức bộ máy.

- Kho bạc Nhà nước được tổ chức như một Bộ trực thuộc Chính phủ Môhình này phổ biến ở Mỹ, Anh, Canada, Úc Ngoài nhiệm vụ chính là lập cân đối thuchi tiền tệ, phát hành tiền, quản lý nợ quốc gia và các loại tài sản quý hiếm, Kho bạcmột số nước còn làm nhiệm vụ quản lý biên chế công chức Nhà nước

- Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính (hoặc Bộ Kinh tế-Tài chính)gồm phần lớn các nước ở Tây Âu và Trung Âu, điển hình là Pháp, Ðức, Ý

và các nước ở Ðông Nam á như Indonexia, Malaysia, Thái Lan,Việt Nam Kho bạcNhà nước còn có tên gọi khác như Vụ quản lý tài chính công, Vụ Kế toán công,trong đó có các nghiệp vụ quản lý quỹ ngân sách Nhà nước, kế toán và quyết toánngân sách Nhà nước, quản lý nợ công

- Kho bạc Nhà nước trực thuộc Ngân hàng Trung ương như ởNga, Trung Quốc, các nước Ðông Âu và Châu Phi Trong bộ máy của Ngân hàngtrung ương có một đơn vị làm nhiệm vụ quản lý Quỹ ngân sách Nhà nước, đặc tráchtheo dõi và giúp Bộ Tài chính quản lý các khoản thu chi ngân sách Nhà nước, phốihợp với Vụ Ngân sách Nhà nước của Bộ Tài chính làm nhiệm vụ kế toán và quyếttoán ngân sách Nhà nước

Kho bạc Nhà nước trực thuộc một Bộ của Chính phủ Ðây là một mô hình kháđặc biệt, tồn tại ở một số nước thuộc khu vực Trung Cận Ðông và Tây Á ở Thổ Nhĩ

Kỳ, ngoài một số Bộ được gọi là 'siêu bộ' như Tài chính, Ngoại giao, Quốc phòng, các

cơ quan còn lại được phân thành các nhóm để hình thành các Bộ 1, Bộ 2, Bộ 3 củaChính phủ Theo mô hình này, Bộ 1 của Chính phủ gồm có các cơ quan Ngân hàngNhà nước, Kho bạc Nhà nước, Thương mại, Kế hoạch - Thống kê

Như vậy, có thể thấy rằng Kho bạc Nhà nước ở các nước ra đời khá sớm,hầu hết được chia tách và phát triển từ cơ quan Tài chính, chuyên môn hoá công tácquản lý ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, mô hình tổ chức bộ

máy và chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước ở các nước còn cónhiều điểm khác nhau

Trang 21

c Hệ thống kho bạc Nhà nước Việt Nam

Trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, hệ thống Kho bạc Nhà nước được thànhlập và nhanh chóng trở thành công cụ sắc bên trong quản lý mọi hoạt động thu chingân sách nhà nước Vượt qua chặng đường đầu tiên đầy khó khăn và thách thức,với sự phấn đấu nỗ lực Kho bạc Nhà nước đã hoàn hành suất sắc mọi nhiệm vụchính trị được giao, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước

Được sự quan tâm, chỉ đạo, giúp đỡ của Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước vàcấc cấp chính quyền địa phương, với nỗ lực và quyết tâm cao, toàn ngành đã khẩntrương vào trận ngay từ những ngày đầu tiên; nghiên cứu, tập huấn, tham khảo kinhnghiệm, sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ và phục vụ các đơn vị giao dịch ngay

1.1.3 Vai trò đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống KBNN

- Theo Lê Hùng Sơn (2012), Đội ngũ cán bộ có vị trí, vai trò quan trọng đối

với cơ quan, tổ chức Cán bộ, công chức là thành viên, là phần tử cấu thành của tổchức bộ máy Cán bộ, công chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi

sự hoạt động của tổ chức Hiệu quả hoạt động trong tổ chức và quyết định mọi sựhoạt động của tổ chức Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán

bộ Cán bộ công chức có trình độ, có đạo đức nghề nghiệp, tâm huyết, có trách nhiệmvới công việc được giao sẽ làm cho cơ quan, đơn vị hoạt động tốt, dẫn đến bộ máy nhànước hoạt động nhịp nhàng; cán bộ, công chức trình độ quản lý yếu kém, năng lực hạnchế, quan liêu, cửa quyền, sẽ làm cho bộ máy tê liệt

- Cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức trong hệ thống kho bạc

nói riêng có vai trò rất quan trọng Do bởi KBNN là cơ quan kiểm soát thu chingân sách nhà nước Tầm ảnh hưởng của KBNN ở cấp vĩ mô và vi

mô, có tác động lớn tới kinh tế xã hội Chính vì vậy cán bộ công chức ở Khobạc Nhà Nước Trung ương và KBNN các cấp là những người quyết định tới việc tổchức huy động và sử dụng nguồn tiền ngân sách, đảm bảo việc ổn định thu chi ngânsách nhà nước và hoạt động của nền tài chính quốc dân

- Những năm vừa qua cũng đã chỉ ra rằng sự thành công hay thất bại của

Trang 22

Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở phụ thuộc rất lớnvào chính sách tài khóa nói chung và hoạt động của KBNN nói riêng Tầm quantrọng của đội ngũ cán bộ, công chức KBNN quyết định khả năng hiện thực hóađường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về tài chính; là ngườitrực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, cũng như tiến hành

tổ chức, triển khai các hoạt động tái chính ở cấp trung ương và địa phương

- Cán bộ, công chức KBNN có một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động

quản lý điều hành nền tài chính quốc gia Các cán bộ công chức KBNN là người đạidiện cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý ngân sách nhà nước ở trung ương và

cơ sở; Kiểm tra việc thực hiện thu chi ngân sách, phát hiện các dấu hiệu vi phạmtrong việc sử dụng ngân sách nhà nước, ngừng cung cấp ngân sách và trình cấp cóthẩm quyền phương án xử lý, giải quyết phù hợp

Ngoài những vị trí, vai trò trên cán bộ, theo Phan Đình Tý (2011), công chứckho bạc còn có vị trí, vai trò thể hiện những phương diện sau đây:

- Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hành dự toán thu – chi củangân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là một trong những lĩnh vực quan trọnghàng đầu của quốc gia, việc thực hiện việc thu chi đều phải dựa vào cơ quan thuế

và kho bạc Những cán bộ, công chức kho bạc là những người có vai trò trong việcđôn đốc, kiểm tra và thúc đẩy việc thu – chi ngân sách nhà nước, phối hợp với các

cơ quan khác như chi cục thuế, ngân hàng thương mại để đối chiếu số liệu, phốihợp, xử lý vướng mắc trong quá trình thực hiện thu chi ngân sách nhà nước.Đồng thời cán bộ công chức KBNN

còn đảm bảo việc thực hiện đúng quy trình, chính xác, kịp thời cho các đơn

vị sử dụng ngân sách, phục vụ các đơn vị đến giao dịch để đảm bảo dòng vốn củanhà nước được luân chuyển đúng, đủ và kịp thời

- Đảm bảo điều hành ngân quỹ có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu chi NSNN:Việc triển khai ngân sách nhà nước không phải chỉ do một cơ quan, một trụ sở mà là

từ hệ thống các KBNN từ trung ương tới địa phương.Việc chi ngân sách nhà nướccho các mục tiêu chi thường xuyên, chi xây dựng cơ bản gồm rất nhiều các hạng

Trang 23

mục khác nhau, việc quản lý cũng không đơn giản như quản lý tài chính của mộtdoanh nghiệp Chính vì vậy đội ngũ cán bộ công chức kho bạc có vai trò hết sứcquan trọng trong việc điều hành ngân quỹ này được hiệu quả.

- Đảm bảo công tác tham mưu, phân tích, dự báo và phát triển ứng dụngchuyên môn: Kho bạc nhà nước ngoài nhiệm vụ thực hiện kế hoạch thu chi ngânsách nhà nước, cũng có chức năng hỗ trợ, chủ động tham mưu đề xuát về cơ chếchính sách liên quan tới tài chính nhằm tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong quátrình thực hiện nhiệm vụ Và để thực hiện tốt được nhiệm vụ này, không có gì kháchơn là cần có một đội ngũ cán bộ công chức đam mê công việc, hiểu rõ vấn đề và

đề xuất những vấn đề phù hợp

- Đảm bảo công tác thanh kiểm tra được thực hiện đều đặn, đảm bảo tuyệtđối an toàn cho kho quỹ Cũng như nhiều định chế tài chính khác, công tác kiểm traluôn là công tác cực kỳ quan trọng nhằm đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho khoquỹ Việc kiểm tra được thực hiện thông qua chứng từ sổ sách, số liệu trên máy tính,Tuy nhiên nhân tố trực tiếp thực hiện công tiếp này chính là các cán bộ, công chứccủa KBNN Vì vậy đội ngũ cán bộ, công chức có vị trí số 1 trong công tác thanhkiểm tra của KBNN

1.2 Chất lượng cán bộ, công chức kho bạc Nhà nước

1.2.1 Nhận diện chất lượng cán bộ, công chức.

Chất lượng hiểu theo nghĩa chung nhất là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của

một con người, sự vật, sự việc”

Đối với một con người thì chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợpnhững phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ, khoa học, chuyên môn nghiệp vụ,phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực Yêu cầu hiện nay, càng đòi hỏi ngườicán bộ, công chức phải có những trình độ phẩm chất theo yêu cầu như trên ngoài rangười cán bộ phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hànhnghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước,giữ vững tiêu chuẩn và tư cách của người cán bộ

Mỗi cán bộ, công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong

Trang 24

một chỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ cán bộ, công chức Vì vậy, quan niệm vềchất lượng cán bộ, công chức phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chấtlượng của từng cán bộ, công chức với chất lượng của cả đội ngũ cán bộ, công chức.Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức không phải là sự tập hợp giản đơn sốlượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ Sức mạnh này bắt nguồn từphẩm chất vốn có bên trong của mỗi cán bộ, công chức và nó được tăng lên bởi tínhthống nhất của tổ chức, của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý, kỷ luật vàcủa sự đoàn kết.

Theo Trần Phi Hùng (2012), Chất lượng cán bộ, công chức phải được nhận

diện trên hai bình diện:

Một là, chất lượng của từng cán bộ, công chức, cụ thể là: Phẩm chất chính

trị, đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ Chất lượng củatừng cán bộ, công chức là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của cả đội ngũ cán bộ,công chức

Hai là, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức với tính cách là một

chỉnh thể, thể hiện cơ cấu đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối,hợp lý về số lượng và độ tuổi bình quân được phân bố trên cơ sở các địa phương,đơn vị và lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội

Như vậy, các yếu tố cấu thành chất lượng cán bộ, công chức không bao gồmmột mặt, một khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống được kết cấu nhưmột chỉnh thể toàn diện từ chất lượng của từng cán bộ, công chức (đây là yếu tố tiênquyết, cơ bản nhất), cho đến cơ cấu số lượng nam nữ, độ tuổi, cùng với việc bồidưỡng, giáo dục, phân công, quản lý kiểm tra giám sát và thực hiện nghiêm cácnguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền nhân dân

Để nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức nói chung và kho bạc nhànước nói riêng cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng với số lượng cán

bộ, công chức Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ hài hòa, tác động hữu cơ với nhauthì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ Trong thực tế chúng ta cần phảichống hai khuynh hướng: khuynh hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ít chú

Trang 25

trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệuquả; Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến sốlượng, đến kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ, công chức Khuynh hướng này là mộtnguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình quân của cán bộ, công chức ngàycàng cao, hẫng hụt về thế hệ Trong giai đoạn hiện nay, cần hơn hết là phải coi trọngchất lượng của cán bộ, công chức trên cơ sở bảo đảm số lượng hợp lý.

1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức Kho Bạc Nhà nước

Theo Lê Quang Hoan (2004), Để đánh giá chất lượng cán bộ công chứctrong thời kỳ mới, có đủ tài, đủ sức hoàn thành các nhiệm vụ Đảng và nhà nướcgiao phó, các cá nhân phải đạt được những yếu tố sau đây:

Thứ nhất, về phẩm chất chính trị

- Phẩm chất chính trị là tiêu chí là yêu cầu cơ bản nhất đối với cán bộ, côngchức Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệt đốivới lý tưởng của Đảng, với Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinhthần tận tụy với công việc, hết lòng hết sức vì sự nghiệp của nhân dân; là bản lĩnhchính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

mà Đảng ta đã đề ra

- Phẩm chất chính trị đòi hỏi người cán bộ, công chức phải thấm nhuần chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần cương quyết đầu tranhchống lại các quan điểm lệch lạc, sai trái hoặc chống đối những chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các hành vi xâm phạm quyền lợichính đáng của nhân dân

- Phẩm chất chính trị của cán bộ, công chức KBNN được biểu hiện trướchết là sự tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêuđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng ta đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn, thử thách,

Trang 26

trước những cám dỗ Đặc biệt ngành tài chính là ngành khá nhạy cảm, thườngxảy ra tiêu cực.

- Người cán bộ, công chức KBNN có phẩm chất chính trị tốt là ngườigương mẫu chấp hành tốt những chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật củaĐảng và Nhà nước; tích cực tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân cùng thựchiện theo Là người luôn có trách nhiệm với công việc mà mình được giao; luôn tìmtòi cái mới, cái sáng tạo, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn ở cơ sở, từng bướcnâng cao chất lượng làm việc và cải thiện tốc độ xử lý các nghiệp vụ của kho bạc,tìm ra các hướng đi phù hợp để giải quyết ổn thỏa các phát sinh trong thực tiễn

- Phẩm chất chính trị của cán bộ, công chức kho bạc nhà nước còn biểu hiệnthông qua thái độ phục vụ nhân dân, các doanh nghiệp, sự phối kết hợp giữa các đơn

vị khác trong việc thực hiện nhiệm vụ ngân sách nhà nước của đất nước

Thứ hai, về phẩm chất đạo đức

- Cán bộ, công chức KBNN là người trực tiếp thực thi nhiệm vụ tài chínhcủa nhà nước Cho nên đạo đức của người cán bộ, công chức sẽ có tác động rất lớnđối với người dân, có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả quản lý, đầu tư của Nhànước Nếu người cán bộ, công chức có đầy đủ các phẩm chất: Cần, kiệm, liêm,chính, chí công vô tư thì các hoạt động tài chính, đầu tư của nhà nước sẽ được thựchiện thuận lợi, đảm bảo thu chi đúng, đủ, kịp thời, giảm thiểu được các tiêu cựcnhư hối lộ, kê khai sai, thiếu, dẫn đến thất thu ngân sách hoặc chi ngân sách khôngđúng mục đích, gây lãng phí, thiệt hại

- Người cán bộ, công chức KBNN không chỉ tuyên truyền, phổ biến đườnglối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về ngân sách nhànước cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, các ban ngành đoàn thể, người dân

mà còn phải là người gương mẫu, tiên phong trong việc chấp hành chính sách, phápluật về tài chính của nhà nước

- Người cán bộ, công chức có đạo đức cách mạng là người phải tích cực đấutranh chống lại các tiêu cực của xã hội như: tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa, sasút về đạo đức, lối sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn nhau, mất

Trang 27

đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị.

- Ngoài ra người cán bộ, công chức kho bạc phải luôn có ý thức tổ chức kỷluật và tinh thần tập thể, khiêm tốn, giản dị, trung thực, không cơ hội, có nếp sống vănminh Thứ ba, về trình độ, năng lực

Trình độ, năng lực của cán bộ công chưc bao gốn các mặt sau: năng lực lãnhđạo, quản lý, trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên mônnghiệp vụ, trình độ quản lý hành chính nhà nước, trình độ tin học

- Năng lực lãnh đạo, quản lý là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng của

đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và kho bạc nói riêng Đó là khả năngvận động cộng đồng thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật về ngân sách nhà nước Tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn các nghiệp vụ

về ngân sách nhà nước

- Trình độ học vấn: Trình độ học vấn là một trong những yếu tố quyết định

hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức vì nó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt độngquản lý của đội ngũ cán bộ Trình độ học vấn là nền tảng cho việc nhận thức, là nềntảng cho việc đào tạo trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị Hạnchế về trình độ học vấn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức dẫn đến năng lực tổ chứcthực hiện các chủ trương, chính sách, các quy định của pháp luật hạn chế, việc thựchiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức kho bạc cũng bị cản trở Do đótrình độ học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực quản lý nhà nước củacán bộ, công chức

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được

hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện quanhững cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sĩ Đây là nhữngkiến thức mà cán bộ, công chức kho bạc nhà nước cần được đào tạo để giải quyếtcông việc chuyên môn, có năng lực thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Nếukhông có trình độ chuyên môn, việc thực thi chức trách, nhiệm vụ sẽ bị hạn chế,hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước sẽ thấp

- Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định quan điểm,

Trang 28

lập trường giai cấp công nhân của cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, côngchức KBNN nói riêng Cán bộ, công chức có lập trường chính trị vững vàng, hoạtđộng vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì quá trình quản lý ngân sách nhà nước sẽđược thực hiện theo đúng định hướng phát triển của đất nước Ngược lại, nếu cán

bộ, công chức nào lập trường chính trị không vững vàng, làm việc vì lợi ích cánhân, thoái hóa, biến chất, sẽ gây mất lòng tin của xã hội, ảnh hưởng đến uy tíncủa Đảng, hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước thấp

Thứ tư, về hiệu quả hoạt động quản lý ngân sách nhà nước

- Thực hiện nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: Tập trung dân chủ lànguyên tắc được quy định trong hiến pháp và pháp luật Việc quản lý ngân sách nhànước cũng phải được thực hiện theo nguyên tắc trên Cán bộ công chức kho bạc nhànước là những người trực tiếp tham gia vào công tác quản lý ngân sách nhà nước, vìvậy đảm bảo tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý ngân sách nhà nước là điều

mà các cán bộ, công chức kho bạc cần phai thực hiện đúng

- Hai là, Nguyên tắc công khai minh bạch: Công khai là để mọi người đềuđược biết, Minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dễ hiểu Quản lý ngânsách phải công khai minh bạch xuất phát từ đòi hỏi chính đáng của người dân Quytắc chung về tính minh bạch gồm các nội dung chủ yếu là:

- Ngân sách phải đảm bảo tính toàn diện Điều này có nghĩa là các hoạt độngtrong và ngoài ngân sách đều được phản ánh vào tài liệu trình cấp có thẩm quyền xemxét quyết định Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản lý ngân sách nhà nước cán

bộ, công chức ngành KBNN luôn luôn phải quán triệt kỹ nguyên tắc này, nhằm đảmbảo hiệu quả quản lý ngân sách được nâng cao

- Ngân sách phải đảm bảo tính khách quan độc lập Các cấp, các đơn vị dựtoán, các tổ chức cá nhân được NSNN hỗ trợ phải công khai dự toán và quyết toánngân sách, Nội dung công khai theo các biểu mẫu quy định, thời gian công khai đượcquy định rõ đối với từng cấp ngân sách Để đảm bảo hoạt động ổn định, đúng đắn củangân sách nhà nước, thì các hình thức trốn thuế, gian lận, quyết toán khống,…phảiđược cán bộ công chức ngành KBNN kho bạc phát hiện, kiểm tra, đôn đốc chỉnh sửa

Trang 29

và báo cáo các vi phạm để các cơ quan có thẩm quyền xử lý kịp thời.

Ba là, đảm bảo trách nhiệm: Cán bộ, công chức ngành KBNN phải đảm bảotrách nhiệm trước nhân dân, quốc hội và các đơn vị có trách nhiệm khác

về nhiệm vụ quản lý ngân sách của mình Chịu trách nhiệm bao gồm khảnăng điều trần và gánh chịu hậu quả

Bốn là, Nguyên tắc đảm bảo cân đối NSNN: Cân đối NSNN ngoài sự cânbằng về thu, chi còn là sự hài hoà hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu,chi; các lĩnh vực, các ngành; các cấp chính quyền thậm chí ngay cả giữa các thế hệ(ví dụ: vay nợ) Đảm bảo cân đối ngân sách là một đòi hỏi khách quan xuất phát từvai trò nhà nước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định,hiệu quả và công bằng Vì vậy vai trò của các cán bộ, công chức ngành KBNN làphải tính toán nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách Các khoảnchi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp

1.2.3 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của KBNN

1.2.3.1 Công tác quy hoạch CBCCVC

Quy hoạch cán bộ là một chủ trương lớn có từ lâu của Đảng ta, được khẳngđịnh trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoáVIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước và được nhấn mạnh trong Kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trungương Đảng khoá IX về công tác tổ chức và cán bộ Xây dựng quy hoạch cán bộphải xuất phát từ những quan điểm cơ bản về công tác cán bộ của Đảng ta, đượcnêu rõ trong các Nghị quyết Trung ương là: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phải trên cơ sở quán triệt quanđiểm giai cấp công nhân; phải giữ vững nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạocông tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm củacác tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị; Đảng lãnh đạo công tác cán bộtheo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tôn trọng

Trang 30

pháp luật Nhà nước và điều lệ của các tổ chức quần chúng.

Quy hoạch CBCCVC là bước đầu tiên để thực hiện chiến lược nâng cao chấtlượng CBCCVC Quy hoạch là quá trình lựa chọn những CBCCVC ưu tú, có triểnvọng để đào tạo, bồi dưỡng và bố trí đảm trách những cương vị lãnh đạo cơ quan,đơn vị Trên cơ sở đó, quy hoạch cán bộ phải gắn với quy hoạch chung của đội ngũcán bộ và các khâu trong công tác cán bộ Quy hoạch đó phải sát với thực tiễn, trên

cơ sở nắm chắc đội ngũ cán bộ hiện có và nguồn cán bộ, dự báo được yêu cầu sắpđến, đề ra được các biện pháp tích cực, khả thi, hiệu quả Bên cạnh đó, quy hoạchcán bộ phải đảm bảo "mở" và "động" Mở là không khép kín trong từng đơn vị,không hạn chế trong số ít người được định sẵn một cách chủ quan Động là quyhoạch được rà soát thường xuyên, được điều chỉnh theo sát sự phát triển của cán bộ,kịp thời bổ sung những nhân tố mới Trong quy hoạch, mỗi chức danh lãnh đạo cầnquy hoạch ít nhất từ hai đến ba đồng chí dự bị; mỗi cán bộ có thể dự kiến đảm nhiệm từhai đến ba chức danh [7]

Công tác quy hoạch có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng đội ngũCBCCVC Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC nhất thiết phải làm tốtcông tác quy hoạch đội ngũ CBCCVC, đánh giá, phân loại, đào tạo, bồi dưỡng và

sử dụng thật tốt lực lượng CBCCVC lãnh đạo, điều hành Cán bộ trong diện quyhoạch phải là những người đáp ứng cơ bản tiêu chuẩn chức danh cán bộ, nhưng cầnđược tiếp tục hoàn thiện thông qua đào tạo, rèn luyện và thử thách trong thực tiễn.Sau khi quy hoạch và phân loại CBCCVC, cơ quan sử dụng và cơ quan quản lýCBCCVC phải cử đi đào tạo, bồi dưỡng số CBCCVC đã được lựa chọn để nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận và bồi dưỡng kiến thứcquản lý nhà nước, kỹ năng hành chính

1.2.3.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC

Đào tạo được cho là “quá trình tác động đến con người làm cho người đólĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng kỹ xảo một cách có hệ thống nhằmchuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân cônglao động nhất định” [4] Đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta

Trang 31

“trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”, còn bồi dưỡng đượcxác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” Xét vềmặt thời gian, đào tạo có thời gian dài hơn, thường là từ một năm học trở lên, vềbằng cấp thì đào tạo có bằng cấp chứng nhận trình độ được đào tạo, còn bồi dưỡngthường chỉ có chứng chỉ chứng nhận đã học qua khoá bồi dưỡng Việc tách bạchkhái niệm đào tạo, bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích cặn kẽ sự giống

và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng

Đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người mộtcách có hệ thống thông qua việc học tập Việc học tập này có được là kết quả của việcgiáo dục, hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch Theođịnh nghĩa của Uỷ ban Nhân lực của Anh, đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC được xácđịnh như là: một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năngthông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động haytrong một loạt các hoạt động nào đó Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở

tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại

và tương lai của cơ quan [5]

Trong đạo luật Liên bang của Mỹ, đào tạo được xác định như là một quá trìnhcung cấp và tạo dựng khả năng làm việc cho người học và bố trí, đưa họ vào cácchương trình, khoá học, môn học, hệ thống hoặc nói cách khác là huấn luyện và giáodục được chuẩn bị, có kế hoạch, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học, chuyênngành, kỹ thuật, cơ khí, thương mại, văn phòng, tài chính, hành chính hay các lĩnhvực khác nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức và giúp họhoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu công tác

Đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập,nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làmgia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là CBCCVC làmviệc trong tổ chức Đào tạo, bồi dưỡng tác động đến con người trong tổ chức, làm cho

họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn

có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ Với quan niệm như vậy thì đào tạo,

Trang 32

bồi dưỡng CBCCVC nhằm tới các mục đích sau:

- Phát triển năng lực làm việc CBCCVC và nâng cao khả năng thực hiệncông việc thực tế của họ

- Giúp CBCCVC luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lựctrong tương lai của tổ chức

- Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của CBCCVC dothuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làmviệc một cách nhanh chóng và tiết kiệm [3]

Nhìn chung, đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động nhằm: Trang bị, bổ sung, nângcao kiến thức, kỹ năng liên quan đến công việc; Thay đổi thái độ và hành vi;Nâng cao hiệu quả thực hiện công việc; Hoàn thành những mục tiêu của cá nhân vàcủa tổ chức Đào tạo và phát triển là một nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức Nókhông chỉ nâng cao năng lực công tác cho CBCC hiện tại mà chính là đáp ứng cácyêu cầu về nhân lực trong tương lai của tổ chức Đào tạo, bồi dưỡng CBCC là thựchiện nhiệm vụ lấp đầy khoảng trống giữa một bên là những điều đã đạt được, đã cótrong hiện tại với một bên là những yêu cầu cho những thứ cần ở tương lai, những thứ

mà cần phải có theo chuẩn mực [1]

Đào tạo, bồi dưỡng xét theo ý nghĩa của một hoạt động trong tổ chức, là quátrình làm thay đổi hành vi người học một cách có kế hoạch, có hệ thống thông quacác sự kiện, chương trình và hướng dẫn học tập, cho phép cá nhân đạt được các

trình độ kiến thức, kỹ năng và năng lực để thực hiện công việc của họ cóhiệu quả Học tập được quan niệm như sau:

- Học tập là một quá trình liên tục nhưng cũng là kết quả

- Học tập có thể chứng minh được người ta biết những gì mà họ không biếttrước đây (Kiến thức)

- Học tập có thể chứng minh được người ta có thể làm được những gì mà họkhông thể làm được trước đây (Kỹ năng)

- Học tập có thể chứng minh được sự thay đổi trong thái độ (Thái độ)”Theo nghiên cứu của David Kolb về quá trình học tập của CBCCVC cho

Trang 33

thấy đây là quá trình chuyển từ kinh nghiệm sang hình thành quan điểm để sử dụngtrong việc hướng dẫn lựa chọn những kinh nghiệm mới Để học tập có hiệu quả, cánhân mỗi người luôn phải thay đổi cách tiếp cận trong quá trình học tập Có khi họphải là những người quan sát xem các học viên học tập như thế nào, hoặc trực tiếptham gia vào phân tích một vấn đề một cách có chủ định Việc quan sát và phản ánh

sẽ giúp hình thành những quan điểm từ thực tiễn và tiếp theo là quá trình thửnghiệm chủ động, là đưa vào thí điểm các quan điểm, ý tưởng mới trong những tìnhhuống mới Tiếp tục phát triển đưa ra kinh nghiệm cụ thể mới và chu kỳ lại tiếp tục

Mô hình về chu kỳ học tập chủ động của D Kolb được mô tả như sau [10]:

Hình 1.1: Mô hình về chu kỳ học tập chủ động

Quản lý đào tạo, bồi dưỡng chính là quá trình tổ chức thực hiện đào tạo, bồidưỡng để đạt được mục tiêu của nó Thông thường người ta cho rằng quy trình đàotạo, bồi dưỡng bao gồm các thành tố (Hình 1.1)

Một cách đơn giản hơn, quy trình đào tạo, bồi dưỡng dựa trên cơ sở năng lựcthực hiện công việc bao gồm 4 thành tố theo (Hình 1.1)

- Xác định nhu cầu đào tạo: Xác định nhu cầu đào tạo nhằm trả lời các câuhỏi chính như: Những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí công việc? Nhữngkiến thức, kỹ năng cần thiết mà CBCC hiện có? Những kiến thức, kỹ năng cònthiếu của CBCC đối với vị trí công việc? Làm cách nào để xác định đúng nhữngthiếu hụt đó? Những khóa học nào cần tổ chức để khắc phục những thiếu hụt vềkiến thức, kỹ năng cho CBCC? Để nắm bắt nhu cầu đào tạo cần sử dụng cácphương pháp gồm: Phân tích tổ chức, các kế hoạch hoạt động và kế hoạch nguồn

Trang 34

nhân lực; Phân tích công việc, Phân tích đánh giá thực hiện công việc; Điều trakhảo sát đào tạo (Phiếu khảo sát, Thảo luận, lấy ý kiến chuyên gia).

Thông thường, người ta thực hiện các hoạt động xác định nhu cầu đào tạonhư sau: Làm rõ các yêu cầu Xác định vấn đề đào tạo, quyết định đưa ra nhữngnhiệm vụ mới, làm rõ những mong muốn, nguyện vọng đối với đào tạo, bồi dưỡng;Lập kế hoạch thực hiện xác định nhu cầu đào tạo Phân tích nhu cầu đào tạo; Đánhgiá thực trạng về thực hiện công việc; Xác định những sai sót, thiếu hụt trong thựchiện nhiệm vụ và những hành vi sai lệch; Xác định nhu cầu đào tạo từ các bước 2, 3

so sánh với bước 4; Xác định các mục tiêu và nội dung đào tạo

- Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngcần trả lời các câu hỏi chính như: Mục tiêu kế hoạch? Nội dung là gì? Ai thực hiện?thời gian và địa điểm tiến hành? Cách thức thực hiện? Kinh phí? Kiểm tra đánh giánhư thế nào? Để dễ nhớ, người ta dùng kỹ thuật 5W, 2H, 2C: Why, what, who,when, where, how, how much, control, check Một vấn đề quan trọng là cần phảixây dựng một Kế hoạch đào tạo, bao gồm các nội dung (Hình 1.1)

Các nhà nghiên cứu cho rằng, một kế hoạch tốt cần phải rõ ràng về mục tiêuđào tạo, bồi dưỡng Các mục tiêu cần được xây dựng theo kỹ thuật SMART:Specific - Cụ thể, Measurable - đo lường được, Achievable - có thể đạt được, vừasức, Realistic - Thực tiễn, khả thi, Time-bound - thời hạn [5]

Để giúp cho việc thực hiện công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, người ta đưa

ra các công việc cần thực hiện trong thiết kế chương trình đào tạo gồm: Liệt kênhững mục tiêu đối với chương trình đào tạo; Xem xét về số lượng học viên, nghiêncứu lấy ý kiến của họ về chương trình; Liệt kê những cách thức, hoạt

động để đạt được mục tiêu; Quyết định loại hình thức đào tạo nào: tại cơquan (đào tạo trong công việc) hay tập trung ngoài cơ quan; Quyết định hình thứcphương pháp đào tạo - như huấn luyện, kèm cặp hướng dẫn …; Thảo luận vềChương trình, kế hoạch với những người liên quan, với chuyên gia, học viên vànhững ngư- Xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần đảm bảo theo công thứcPRACTICE: Practical - Tính thực tế, Relevant - Liên quan, Applicable - Tính áp

Trang 35

dụng, Current Hiện hành, mới đây, Time limit Thời gian giới hạn, Important Quan trọng, Challenging - Thách thức, khác trước, Elective - Tuyển chọn, tổng hợp.

Thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng: Tổ chức thực hiện kế hoạch

đào tạo, bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi cơ bản như: Có những hoạt động cụ thểnào? Phân công phối hợp như thế nào cho có hiệu quả? Tổ chức sao cho chi phíphù hợp để kết quả cao?

Do đó, để thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cần phân tích kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng thành các công việc cụ thể: từ ra quyết định tổ chức khóa học, triệutập học viên, in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chươngtrình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá, báo cáo sơtổng kết, thanh quyết toán

Đánh giá đào tạo, bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi chính như: đào tạo, bồidưỡng có đạt mục tiêu không? Nội dung có phù hợp không? Chương trình có phùhợp không? Giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo, bồidưỡng không? Học viên có tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng không? Côngtác tổ chức có tốt không? Học viên học được những gì và họ áp dụng được nhữngđiều đã học vào thực tế công việc không? Hiệu quả của chương trình đào tạo, bồidưỡng? Theo các nhà nghiên cứu, có 4 cấp độ đánh giá chương trình đào tạo nhưsau:

- Đánh giá phản ứng của người học: Họ đánh giá như thế nào về đào tạo,bồi dưỡng vào các thời điểm trước, trong, cuối khoá đào tạo và vào những thờiđiểm sau đào tạo

- Đánh giá kết quả học tập: Xem xem học viên đã tiếp thu những gì từ khóahọc Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra

- Đánh giá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng những điều đãhọc vào công việc như thế nào Những thay đổi đối với việc thực hiện công việc

- Đánh giá tác động, hiệu quả của tổ chức: Việc đào tạo có tác động, ảnhhưởng tới kết quả của tổ chức, hiệu quả của đào tạo, bồi dưỡng như thế nào

Tùy theo các cấp độ đánh giá mà người ta sử dụng các phương pháp đánh giá

Trang 36

khác nhau để xem thực hiện quy trình đào tạo, bồi dưỡng đạt kết quả đến đâu, hiệuquả như thế nào.

1.2.3.3 Công tác quy hoạch tuyển dụng CBCCVC

Tuyển dụng công chức, viên chức là một việc làm quan trọng nhằm chọn ramột đội ngũ công chức, viên chức đáp ứng được những yêu cầu của nhà quản lý,công tác này được tiến hành trong suốt quá trình hoạt động của đơn vị, tổ chức bắtđầu từ khi được thành lập

Đây là yếu tố quan trọng bước đầu để quyết định đến chất lượng CBCCVCtrong đơn vị là cao hay thấp Tuyển dụng cán bộ công chức cho đơn vị phải phù hợpcác yêu cầu của đơn vị Trong mỗi giai đoạn phát triển thì công tác tuyển dụngCBCCVC cũng thay đổi để có thể tuyển dụng những CBCCVC có chất lượng caovào phục vụ cho đơn vị Trong quá trình tuyển dụng, đơn vị đưa ra các tiêu chuẩnđầu vào theo tình hình cụ thể và chính là yếu tố quyết định đến chất lượngCBCCVC của đơn vị Các tiêu chuẩn đầu vào chủ yếu gồm: trình độ văn hóa, trình

độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm hoạt động, đánh giá tham khảo năng lực củaCBCCVC thông qua quá trình hoạt động tại các đơn vị trước đây Đơn vị xây dựng

hệ thống tiêu chuẩn đầu vào có yêu cầu càng cao thì CBCCVC trong đơn vị càng cóchất lượng tốt, đồng đều và ngược lại hệ thống tiêu chuẩn không cao sẽ gây raCBCCVC trong đơn vị có chất lượng không đồng đều

Một vấn đề cần quan tâm trước khi tiến hành tuyển dụng là công tác quyhoạch tuyển dụng Đây là quy trình xác định và đưa ra các yêu cầu khi tuyển dụngvào các vị trí CBCCVC của các cơ quan Nhà nước Các cơ quan Nhà nước đưa racác chỉ tiêu về tuyển dụng CBCCVC cũng là một trong những hoạt động để quyhoạch tuyển dụng CBCCVC Nguồn lao động trong xã hội sẽ nắm bắt các yêu cầutuyển dụng để quyết định ứng tuyển vào các vị trí CBCCVC hay lựa chọn mộtngành nghề khác trong xã hội Tuyển dụng CBCCVC là xác định nguồn CBCCVCcủa đơn vị sẽ được tuyển dụng ở đâu là chủ yếu Các cơ quan Nhà nước thông qua

quá trình phân tích đánh giá nguồn nhân lực của địa phương để đưa ra cácnhận định về quy hoạch CBCCVC cho địa phương

Trang 37

Công tác quy hoạch tuyển dụng CBCCVC là việc đặt ra điều kiện tuyểndụng như ưu tiên tuyển dụng ứng viên ở vùng nào, quy định rõ ràng năng lực, trình

độ chuyên môn khi tuyển dụng CBCCVC Đơn vị tổ chức quy hoạch tuyển dụngCBCCVC đưa ra các yêu cầu cao, yêu cầu nguồn tuyển dụng có chất lượng chính làtạo điều kiện để nâng cao chất lượng CBCCVC của đơn vị trong tương lai

1.2.3.4 Công tác sử dụng CBCCVC

Công tác sử dụng CBCCVC có ý nghĩa rất quan trọng đối với một đơn vị bởi vìCBCCVC được sử dụng một cách hợp lý sẽ giúp đơn vị phát triển, tạo điều kiện tăngnăng suất cho xã hội Sử dụng CBCCVC đúng chuyên môn kỹ thuật, đúng sở trườngcủa từng CBCCVC sẽ tạo điều kiện cho cán bộ nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việccủa bản thân Công tác sắp xếp, sử dụng CBCCVC là một yếu tố quan trọng góp phầnhoạt động của hiệu quả hay không của CBCCVC Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả côngviệc đó chính là môi trường làm việc Do đó đơn vị bố trí sắp xếp CBCCVC chính làyếu tố rất quan trọng để có hiệu quả công việc cao Đơn vị bố trí sắp xếp, sử dụngCBCCVC hợp lý sẽ phải chú trọng tới các yếu tố ảnh hưởng như sau:

Bố trí sử dụng CBCCVC theo đúng năng lực chuyên môn khi tuyển dụngcần phân loại các công việc, lựa chọn nhân viên để thực hiện công việc Việc bố tríCBCCVC theo đúng chuyên môn nghiệp vụ của CBCCVC là tạo điều kiệnCBCCVC hoàn thiện kiến thức chuyên môn kỹ thuật, hoàn thiện kỹ năng chuyênmôn Ngược lại khi đơn vị bố trí cán bộ vào các vị trí không phù hợp với năng lựcchuyên môn hay các vị trí đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn năng lực bản củacán bộ khi đó không khuyến khích được người lao động hăng say lao động mà còn

có thể gây ảnh hưởng lớn đến năng lực chuyên môn của CBCCVC Do đó chấtlượng CBCCVC trong đơn vị được nâng cao qua việc bố trí sắp xếp lao động

1.2.3.5 Hoàn thiện văn hóa công sở

Trong mỗi đơn vị đều tồn tại một nền văn hóa công sở của riêng đơn vị đótuy nhiên việc xây dựng, hoàn thiện nền văn hóa công sở là một yếu tố rất quantrọng đối với sự phát triển của đơn vị Văn hóa công sở có ảnh hưởng rất lớn đếntoàn bộ đơn vị tuy nhiên ảnh hưởng của nó đến hoạt động quản trị nhân lực là lớn

Trang 38

nhất Văn hóa công sở chính theo nghĩa hẹp chính là không khí làm việc trong đơn

vị Không khí làm việc vui tươi sẽ tạo điều kiện giúp CBCCVC của đơn vị sáng tạocao trong công việc Ngược lại CBCCVC phải làm việc trong một môi trường ghenghét đố kỵ, hoạt động vì lợi ích cá nhân là chính thì công việc của nguồn nhân lực

sẽ không có hiệu quả cao Chính vì những lý do trên, một trong những yếu tố gópphần nâng cao chất lượng CBCCVC chính là hoàn thiện công tác xây dựng văn hóacông sở Văn hóa công sở phải được xây dựng trên nền tảng của văn hóa, nét riêngbiệt của đơn vị để tạo cho người lao động một không khí làm việc thoải mái, đầysức sáng tạo, có điều kiện nâng cao năng lực bản thân

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức KBNN 1.3.1 Chất lượng đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức.

- Chất lượng cán bộ, công chức kho bạc hình thành chủ yếu thông qua hoạt

động đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng kỹ năng về quản lý tàichính, quản lý ngân sách nhà nước làm cho cán bộ công chức trở thành người cónăng lực theo tiêu chuẩn nhất định

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức kho bạc nhà nước là làm cho độingũ này có được những năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, bao gồm: trình

độ, kiến thức về các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực hiểu biết, nhậnthức sự việc, phân tích, tổng hợp tình hình; có năng lực điều hành, quản lý, thực thitốt chức năng, nhiệm vụ của mình; có kinh nghiệm thực tế, có khả năng lý luậnnhất định, nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, đề ra những phương hướng, kế hoạch vàđưa ra các giải pháp đạt được những mục tiêu đã đề ra

- Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong bối cảnh đó có những thời cơ,thuận lợi mới nhưng cũng có không ít khó khăn, thách thức mới, nhiệm vụchính trị rất nặng nề, phức tạp Cung cấp nguồn tài chính, đảm bảo cho đầu tư pháttriển đất nước là rất cần thiết Vì vậy đội ngũ cán bộ, công chức cũng phải có nănglực đáp ứng được yêu cầu mới đó Muốn vậy đội ngũ cán bộ, công chức ngànhKBNN đòi hỏi phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, có trình độ chuyên

Trang 39

môn nghiệp vụ, có năng lực thực tiễn, để góp phần thực hiện mục tiêu mà Đảng vàNhà nước đã đề ra.

1.3.2 Chuẩn bị nhân sự đối với chức danh cán bộ; tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng công chức

- Việc chuẩn bị nhân sự đối với chức danh cán bộ; công tác tuyển dụng, bổ

nhiệm công chức có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả hoạt động kho bạc nhà nước Vìđối với những nhân sự được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn và việc tuyểndụng, bổ nhiệm đúng vị trí, chuyên môn dẫn đến đội ngũ cán bộ, công chức có trình

độ hơn, chất lượng hoạt động sẽ hiệu quả hơn

- Đối với các chức danh cán bộ, công tác chuẩn bị nhân sự rất quan trọng.Các cấp ủy Đảng cần căn cứ vào các quy định về tiêu chuẩn của cán bộ, phải lựachọn những cán bộ có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có năng lực, được nhân dântín nhiệm và nhất thiết phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, như vậy cán bộmới có thể đảm đương được các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao, chất lượng,hiệu quả hoạt động kho bạc các cấp mới được nâng lên Tránh trường hợp nể nang,quen biết đưa những cán bộ chưa đủ tiêu chuẩn, thiếu bằng cấp đưa vào bầu giữcác chức danh chủ chốt Những cán bộ này do chưa được đào tạo cơ bản, hiểu biết

về pháp luật còn hạn chế dễ dẫn đến công việc không được giải quyết thấu đáo,chưa đúng pháp luật, gây đến khiếu kiện, mất đoàn kết nội bộ, mất ổn định trongđơn vị, hiệu quả hoạt động thấp

- Đối với công chức KBNN, theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm

2008 thì việc tuyển dụng công chức phải thông qua hình thức thi tuyển, chọn đúngngười, đúng việc, đúng chuyên môn, năng lực, sở trường để đạt được kết quảcao trong công việc Trong công tác tuyển dụng, phải chú ý nâng cao chất lượngcác chỉ tiêu thi, đảm bảo đúng các chuyên ngành cần tuyển phù hợp với từng chứcdanh công chức Làm tốt công tác tuyển dụng, bổ nhiệm chúng ta sẽ lựa chọn đượcnhững người có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ năng lực, bố trí đượcđúng người, đúng việc, hiệu quả công việc sẽ tốt hơn, tạo điều kiện phát huy tinhthần hăng say làm việc, khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình

Trang 40

độ chuyên môn Ngoài ra đội ngũ công chức này cũng là nguồn cho cán bộ chủ chốt

có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm công tác

1.3.3 Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ngành Kho bạc Nhà nước

- Chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức ngành KBNN là

một bộ phận của chế độ, chính sách cán bộ, công chức nói chung, được thể hiệntrong các văn bản của Đảng, của Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trịnhằm điều chỉnh quá trình hoạt động, quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của độingũ cán bộ, công chức phù hợp với các tính chất công việc, đặc điểm chuyên ngànhcủa cơ sở

Theo quy định hiện hành chế độ, chính sách cán bộ, công chức bao gồm:

- Chính sách về tiêu chuẩn, tuyển dụng cán bộ, công chức

- Chính sách về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

- Chính sách bố trí, sử dụng, đề bạt cán bộ

- Chính sách luân chuyển cán bộ

- Chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức (tiền lương, phụ cấp, chế độ hưu,bảo hiểm xã hội,…)

- Chính sách đảm bảo điều kiện làm việc của cán bộ, công chức

Trong rất nhiều nội dung có liên quan đến chế độ, chính sách cán bộ, côngchức thì chính sách về tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối vớiđội ngũ cán bộ, công chức ngành kho bạc cũng là một nội dung quan trọng vì chế

độ chính sách là công cụ điều tiết cực kỳ quan trọng trong quản lý xã hội Chế độ,chính sách có thể là động lực thúc đẩy tính tích cực, sáng tạo, nhiệt tình, tráchnhiệm của mỗi người, nhưng ngược lại cũng có thể kìm hãm hoạt động, giảm sựnhiệt tình, sáng tạo của mỗi người

- Chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức hiện nay vẫn cònthấp Hệ thống chính sách vẫn mang tính chắp vá, chưa đồng bộ.Các Bộ Ngànhchức năng cần căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của cán bộ, công chứcnhất là ở những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, tham mưu cho Chính

Ngày đăng: 25/06/2020, 20:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w