1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG

90 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 712,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN VĂN: QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN: QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG ĐÔ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

LỜI CAM KẾT 3

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 8

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng nghiên cứu của luận văn 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Những đóng góp mới của luận văn 10

Chương 1 12

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 12

1.1 TỔNG QUAN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 12

1.1.1 Khái niệm và phân loại thu ngân sách Nhà nước 12

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của các khoản thu ngân sách nhà nước 19

1.1.3 Vai trò của thu ngân sách nhà nước 19

1.2 QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 20

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý thu ngân sách nhà nước 20

1.2.2 Nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước 23

1.3 Nội dung quản lý thu NSNN từ các hoạt động khoáng sản 25

1.3.1 Nội dung quản lý thu thuế hoạt động khoáng sản 25

1.3.2 Một số loại thuế đối với hoạt động khoá sản 27

1.3.3 Nội dung quản lý thu phí, lệ phí đối với hoạt động khoáng sản 30

1.3.4 Tiêu chí đánh quản lý thu ngân sách nhà nước và các nhân tố ảnh hưởng quản lý thu ngân sách nhà nước từ các hoạt động khoáng sản 31

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC RÚT RA TỈNH CAO BẰNG 33

1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Giang 33

1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Nguyên 34

1.4 3 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Kạn 35

1.4.4 Bài học kinh nghiệm đối với quản lý thu ngân sách nhà nước qua Cục thuế tỉnh Cao Bằng đối với hoạt động khoảng sản 38

Chương 2 40

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢNTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG 40

2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH CAO BẰNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NGUỒN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 40

2.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên 40

Trang 5

Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản Cao Bằng giàu tiềm năng, nhiều cơ hội đầu tư và phát

triển, nhưng cũng không ít thách thức, khó khăn./ 43

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 43

2.2 Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế 44

2.2.1 Sản xuất nông, lâm nghiệp 44

2.2.2 Sản xuất công nghiệp 47

2.2.3 Thương mại, dịch vụ 48

2.2.4 Đánh giá chung về đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quản lý nguồn thu NSNN về hoạt động khoáng sản của tỉnh Cao Bằng 51

2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2010-2016 51

2.3.1 Khái quát về tổ chức bộ máy thu ngân sách nhà nước tại Cục Thuế tỉnh Cao Bằng 51

2.3.2 Thực trạng quản lý thu NSNN của Cục Thuế tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2016 55

2.3.3 Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát thu ngân sách nhà nước 63

2.4 Thực trạng công tác thu thuế từ khoá sản tỉnh cao bằng giai đoạn 2014-2016 63

2.5 Thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế công tác thu NSNN từ Khoáng sản 66

2.5.1 Thành công 66

2.5.2 Hạn chế 66

2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 67

Chương 3 69

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG TRONG THỜI GIAN TỚI 69

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 VÀ NHU CẦU VỐN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG 69

3.1.1 Định hướng và các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Cao Bằng thời gian tới 69

Sản xuất nông, lâm nghiệp 69

Sản xuất công nghiệp 70

3.2 MỤC TIÊU QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH CAO BẰNG TỪ HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN TRONG THỜI GIAN TỚI 72

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG THỜI GIAN TỚI 74

3.3.1 Đổi mới cơ chế quản lý thu thuế 74

3.3.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế 76

3.3.3 tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về thuế, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế 77

3.3.4 Nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý thu thuế 78

3.3.5 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thu thuế nhằm nâng cao hiệu quả công tác thuế 79

3.3.6 Mở rộng công tác ủy nhiệm thu thuế 80

3.3.7 Nuôi dưỡng và mở rộng nguồn thu trên địa bàn 80

3.3.8 Tăng cường vai trò lãnh đạo 81

Trang 6

3.3.9 Các biện pháp quản lý thu ngoài thuế 82

3.4 KIẾN NGHỊ 83

3.4.1 Đối với Chính phủ, Bộ Tài chính 83

3.4.2 Đối với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Cao Bằng 84

KẾT LUẬN 85

Tài liệu tham khảo 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quanNhà nước có thẩm quyền quyết định

Quá trình chuyển sang nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ, chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi NSNN Điều này góp phần khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường thông qua việc sử dụng bàn tay hữu hình, chủ yếu là chính sách tài chính nhằm điều tiết nền kinh tế có hiệu quả Mặt khác thông qua sử dụng các công cụ này mới có thể quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, động viên toàn bộ nguồn lực để phát triển KT-XH, đáp ứng yêu cầu của cuộc đổi mới đất nước

Trong những năm qua, ngành KTKS của Việt Nam tăng trưởng nhanh vàđóng góp đáng kể cho NSNN Tuy nhiên, những đóng góp này được đánh giá

là chưa tương xứng với mức độ khai thác, chi phí đầu tư và tổn thất gây ra đối với môi trường, xã hội Hệ thống quản lý tài chính vẫn còn tồn tại nhiều lỗ hổng, tạo kẽ hở dẫn đến thất thoát nguồn thu cho NSNN

Theo TS Lê Quang Thuận - Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Bộ Tài chính so với một số nước thì mức thuế suất tài nguyên ở Việt Nam ở mức cao, tuy nhiên tỉ trọng thu NSNN còn thấp, dẫn đến việc thu chưa tương xứng với giá phải trả khi hậu quả do ô nhiễm môi trường là rất lớn Ông Thuận chỉ rõ: “Nguyên nhân chính là do giá tính thuế chưa hợp lý, quản lý sản lượng khaithác còn chưa chặt chẽ”

Bà Hoàng Thị Hà Giang - Vụ Chính sách thuế, Tổng cục Thuế chỉ rõ cácbất cập trong thu thuế Tài nguyên KTKS hiện nay: Nhiều tài nguyên có giá trị cao chưa có quy định thu thuế tài nguyên, các loại đá granite cao cấp vẫn có

Trang 8

mức thuế suất như đá thông thường Chính sách thuế cũng chưa quy định rõ việc thu thuế tài nguyên với hộ gia đình, cá nhân khai thác tài nguyên, vật liệu xây dựng thông thường Bên cạnh đó, hiện nay chưa có cơ chế để giám sát sản lượng khai thác thực tế của DN Điều này dấn đến những rủi ro thất thu do DN khai báo số liệu thấp hơn thực tế hoặc không thực hiện các nghĩa vụ đóng góp như cam kết ban đầu Ngoài ra, nhiều trường hợp DN chỉ xuất hóa đơn khi người mua yêu cầu để trốn sản lượng và giá tính thuế Mặt khác, việc quản lý KTKS ở nhiều nơi còn lỏng lẻo, nên vẫn còn hiện tượng khai thác trái phép gâythất thu sản lượng.

TS Lê Đăng Doanh nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương đưa ra một lý do nữa gây thất thu NSNN đó là tình trạng xuất khẩu lậu

KS diễn ra khá công khai và nhức nhối Với sản lượng xuất khẩu lậu, chúng ta không thu được thuế dẫn đến thất thoát Theo số liệu thống kê của Trung Quốc,năm 2012 Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều hơn 4,5 tỷ USD so với số liệu thống kê của Việt Nam, trong đó phần lớn là KS

Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài: Quản lý thu NSNN về hoạtđộng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Cao Bằng thực sự có ý nghĩa lý luận và thựctiễn góp phần làm rõ: (i) cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý thu NSNN vềhoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; phân tích, đánh giá thựctrạng quản lý thu NSNN trên địa bàn tỉnh Cao Bằng nhằm tìm ra thành công,hạn chế cũng như các nguyên nhân để từ đó có các giải pháp phù hợp trongthời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở nước ta trong nhữngnăm qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nhà khoa học, các cơ quantrung ương và địa phương như:

- Luận án tiến sĩ “Về việc quản lý thu thuế trên địa bàn các tỉnh Duyên hải miềnTrung” của tác giả Nguyễn Thế Tràm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ chí

Trang 9

Minh, năm 1996.

- Luận án tiến sĩ “Sử dụng công cụ chính sách tài chính để phát triển nền kinh

tế trong quá trình hội nhập” của tác giả Lê Công Toàn, trường Đại học Tàichính Kế toán Hà Nội, năm 2003

- Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của các cấpchính quyền địa phương” của tác giả Phạm Đức Hồng, trường Đại học Tàichính Kế toán Hà Nội, năm 2002

- Luận án tiến sĩ kinh tế “Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách Nhànước” của tác giả Nguyễn Việt Cường, trường Đại học Tài chính Kế toán HàNội, năm 2001

- Luận án thạc sĩ “Các biện pháp tăng cường quản lý thu, chi ngân sách các tỉnhduyên hải miền Trung” của tác giả Phan Văn Dũng, năm 2001

Riêng đối với quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Cao Bằngđếnnay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Chỉ có một số bài báocủa tỉnh, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể nội dung nói trên.Điều đó cho thấy việc nghiên cứu đề tài này là vấn đề mới đang đặt ra, vừa khókhăn, đòi hỏi phải nghiên cứu những điều kiện đặc thù của thành phố để quảnlý thu, chi ngân sách có hiệu quả hơn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là đề xuất phương hướng, giải pháp nâng caohiệu quả quản lý thu NSNN về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh CaoBằng trong thời gian tới dựa trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và thựctrạng quản lý thu NSNN ở tỉnh Cao Bằng hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu NSNN của

Trang 10

chính quyền địa phương;

- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu NSNN của một số quốc gia vàđịa phương khác trong cả nước;

- Phân tích thực trạng quản lý thu NSNN về hoạt động khoáng sản

trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyênnhân trong công tác quản lý thu NSNN;

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác

quản lý thu NSNN trong thời gian tới

4 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu công tác quản lý thu NSNN về hoạt động khoángsản trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởngHồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà Nước Việt Nam vềquản lý tài chính, ngân sách; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứukhoa học có nội dung gần gũi với đề tài

Về phương pháp nghiên cứu: vận dụng các phương pháp chung,phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh, khái quáthóa vấn đề, bản biểu minh họa

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp luận cứ khoa học và thôngtin về những vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý thuNSNN Luận văn vận dụng lý luận về quản lý ngân sách nhà nước để phân tích,đánh giá thực trạng công tác quản lý thu, ngân sách nhà nước về khoáng sản củatỉnh Cao Bằng Từ đó đề ra quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu,NSNN về khoáng sản của tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới

Với kết quả nghiên cứu đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh

Trang 11

đạo, điều hành thu ngân sách nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 TỔNG QUAN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1 Khái niệm và phân loại thu ngân sách Nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

NSNN là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia Tùy vào cáccách tiếp cận khác nhau mà NSNN được quan niệm khác nhau

NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời,tồn tại và phát triểntrên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Luật NSNN đượcQuốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông quangày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhànước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiệntrong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu cáckhoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trịtiền tệ.Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phầnchi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được đểthực hiện mục tiêu KT-XH NSNN được lập và thực hiện cho một thời giannhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua

NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Quỹ này thể hiện lượngtiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu củaNhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động Mặt tĩnh thể hiện cácnguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định đượcvào bất kỳ thời điểm nào Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hìnhthức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổcác nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh

tế quốc dân

NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, được coi là một hệ thống quan

Trang 13

hệ kinh tế tồn tại khách quan.Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặctrưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tàichính và bằng các quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nướcđược tạo lập và sử dụng.Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm:

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính

Như vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là mộtloại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của

nó thì NSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thểhiện các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thểđặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia đểgiải quyết các nhiệm vụ về KT-XH

Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ vớinhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiệnnhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN được tổ chức phùhợp với hệ thống tổ chức bộ máy QLHC nhà nước.Ở nước ta bộ máy QLHCNhà nước được tổ chức 4 cấp: trung ương; tỉnh,thành phố trực thuộc TW;quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn Mỗi cấpchính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theoquy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyềnđó

Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo những nguyên tắc

cơ bản sau:

- NSTW và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu

và nhiệm vụ chi cụ thể

- Ngân sách TW đóng vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến

Trang 14

lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối đượcngân sách.

- Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để chủ động thựchiện những nhiệm vụ được giao

- Nhiệm vụ chi thuộc cấp ngân sách nào do cấp ngân sách đó cân đối.Trường hợp cơ quan QLNN cấp trên ủy quyền cho cơ quan QLNN cấp dướithực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó

- Thực hiện phân chia theo tỷ lệ % đối với các khoản thu phân chiagiữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấpdưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương

Tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bổ sung từ ngân sách cấp trên chongân sách cấp dưới được ổn định từ 3-5 năm Số bổ sung từ ngân sách cấptrên được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới

- Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không đượcdùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác

NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ,công khai minh bạch, có sự phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn vớitrách nhiệm, nguyên tắc cân đối Các nguyên tắc này xuất phát từ các lý dosau:

Tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ

TW đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chínhphủ Ngân sách cấp dưới là một bộ phận không thể tách rời của ngân sách cấptrên; NSTW và NSĐP hợp thành một chỉnh thể NSNN thống nhất Nguồn tàichính quốc gia được tạo ra từ một cơ cấu kinh tế thống nhất, được phân bổtrên các vùng lãnh thổ của quốc gia cho nên NSNN là một thể thống nhất, baogồm toàn bộ các khoản thu, các khoản chi của Nhà nước trong một năm đểđảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Hệ thống tổ chức

và quản lý NSNN là thống nhất từ TW đến địa phương dưới sự lãnh đạo và

Trang 15

điều hành của Quốc hội và Chính phủ Các cơ chế, chính sách thu chi vàphương thức quản lý NSNN phải được thực hiện thống nhất do Quốc hội,Chính phủ quy định.

Nguyên tắc tập trung được thiết lập nhằm đảm bảo tính thống nhấttrong hệ thống NSNN và tăng cường quyền lực của chính quyền TW Tuynhiên để phù hợp với xu thế phát triển nền dân chủ chính trị, đi đôi với việctăng cường tập trung quyền lực của chính quyền TW cần phải đẩy mạnh thểchế dân chủ thông qua việc phân cấp quản lý NSNN và tăng quyền tự chủ chocác cấp ngân sách trong việc tổ chức và khai thác tối đa nguồn lực của địaphương để thúc đẩy sự phát triển của địa phương Việc phân cấp mà nội dungcốt lõi của nó là sự phân quyền nhưng đồng thời phải tăng cường tính tự chủ,

tự chịu trách nhiệm của chủ thể quản lý đối với NSNN

Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý NSNN xuất phát từ xuhướng mở rộng dân chủ trong hệ thống chính trị Người dân nộp thuế choNhà nước có quyền yêu cầu Chính phủ phải công khai minh bạch các khoảnthu, chi của NSNN để đánh giá mức độ hiệu quả và trách nhiệm của các cấpchính quyền Nhà nước trong việc sử dụng nguồn lực tài chính công Và đểthực hiện nội dung này Chính phủ cũng đã có những quy định cụ thể để côngkhai ngân sách các cấp NSNN vừa đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạchvừa phải được kiểm tra, kiểm soát theo một cơ chế được tổ chức chặt chẽ,thông qua việc sử dụng có hiệu quả các công cụ kế toán, kiểm toán, thanh tratài chính

Phân cấp quản lý NSNN:

Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấpngân sách là một tất yếu khách quan Thực chất của phân cấp ngân sách làgiải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong toàn bộ hoạt động củaNSNN Thông qua phân cấp NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấpchính quyền trong thu chi NSNN được xác định cụ thể; đồng thời, phân cấpNSNN còn phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cấp ngân sách,

Trang 16

giữa các địa phương, giữa địa phương với quốc gia Phân cấp ngân sách gắnliền với nội dung phân cấp hành chính Phân cấp ngân sách không chỉ tậptrung vào việc nâng cao tính tự chủ của chính quyền địa phương mà còn phảihướng đến nâng cao tính trách nhiệm về chính trị, tính hiệu quả và minh bạch.

* Nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách là:

- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trongviệc ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức tài chính Đây lànội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách

- Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nguồn thu,nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách Đây là mối quan hệ lợi ích nên trong thực

tế giải quyết mối quan hệ này rất phức tạp, gay cấn Do đó phải xác định rõnhiệm vụ kinh tế, chính trị của mỗi cấp chính quyền Phân cấp này phải ổnđịnh và đảm bảo cho NSTW giữ vai trò chủ đạo, tập trung những nguồn thulớn để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trên phạm vi cả nước, đồng thờinhững nhiệm vụ nào ổn định mang tính thường xuyên, có tính xã hội rộngphân cấp cho chính quyền địa phương

- Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách

Đó là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách

* Nguyên tắc phân cấp NSNN:

- Phân cấp NSNN phải phù hợp với Hiến pháp, với Luật tổ chứcHĐND và UBND các cấp Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp lý cho mỗichính quyền về quyền hạn trách nhiệm trong điều hành NSNN các cấp Đồngthời phân cấp NSNN phải đồng bộ với phân cấp QLKT nhằm đảm bảo sự phùhợp giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi được giao

- Phân cấp NSNN phải đảm bảo tính hiệu quả Nguyên tắc này yêu cầuphân cấp NSNN không dẫn đến sự chia cắt nguồn thu ngân sách, làm suy yếu

và phân tán nguồn tài chính quốc gia Phân cấp NSNN phải đảm bảo sự phốihợp đồng bộ giữa các cấp trong hệ thống ngân sách để hướng vào phục vụ lợiích chung của quốc gia Bên cạnh đó, phân cấp NSNN phải mang tính ổn định

Trang 17

để tạo điều kiện cho các cấp ngân sách chủ động khai thác và bồi dưỡngnguồn thu, tiến đến cân đối ngân sách địa phương nhằm thực hiện tốt chứcnăng nhiệm vụ được giao.

- Phân cấp NSNN phải đảm bảo tính công bằng Mục đích của phân cấp

là nhằm sử dụng nguồn lực tài chính công có hiệu quả hơn trong việc cungcấp hàng hóa công cho xã hội Do đó phân cấp nguồn thu phải tương ứng vớinhiệm vụ chi được giao để các cấp chính quyền cung cấp hàng hóa, dịch vụcông cho dân một cách tốt nhất Ngoài ra, phân cấp ngân sách phải đảm bảophát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương, tạo cho người dân đượchưởng thụ lợi ích phúc lợi công cộng do Nhà nước cung cấp là như nhau giữacác vùng, miền khác nhau

Tóm lại: Dù tiếp cận NSNN dưới khía cạnh này hay khía cạnh khác thìnội hàm của khái niệm NSNN đều chứa đựng những nội dung sau đây:

- Đều phản ánh kế hoạch, dự toán thu, chi của Nhà nước trong một thờigian nhất định

- Bản chất của NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liềnvới quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhànước

- Xét về tính chất xã hội: NSNN luôn là một công cụ kinh tế của Nhànước, nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

- Về thời gian: NSNN được thực hiện trong một năm (năm này được gọi

là năm ngân sách hay năm tài khóa)

1.1.1.2 Khái niệm thu ngân sách nhà nước

Ở hầu hết các quốc gia, thuế luôn là nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong cơ cấu thu NSNN bởi thuế được trích xuất từ những giá trị do nền kinh

tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực của Nhà nước

Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nướcdùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính dướihình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước.Như vậy,thu

Trang 18

NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước đểhình thành quỹ NSNN đáp ứng cho các yêu cầu chi tiêu xác định của nhànước.

Nét nổi bật của việc thu NSNN là: trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoảnthu NSNN đều gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị củaNhà nước Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước là điều kiện xuất hiệncác khoản thu NSNN Ngược lại, các khoản thu NSNN là tiền đề vật chấtkhông thể thiếu để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Một đặc trưng khác của thu NSNN là luôn luôn gắn chặt với các quá trìnhkinh tế và các phạm trù gía trị Kết quả của quá trình hoạt động kinh tế vàhình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị là tiền đề quantrọng xuất hiện hệ thống thu NSNN Nhưng chính hệ thống thu NSNN lại lànhân tố quan trọng có ảnh hưởng to lớn đến kết quả của quá trình kinh tế cũngnhư sự vận động của các phạm trù giá trị

Thu ngân sách nhà nước trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh

tế trong xã hội Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm làtiền đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN vàquyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN

Thu ngân sách nhà nước ảnh hưởng lớn đến tốc độ, chất lượng và tính bềnvững trong phát triển của một quốc gia Trong cơ cấu thu, nguồn thu nội địaphải luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất Không thể nói đến sự phát triển bền vữngnếu thu từ ngoài nước (vay nợ, nhận viện trợ từ nước ngoài) và các khoản thu

có liên quan đến yếu tố bên ngoài (thuế nhập khẩu, tiền bán tài nguyên thiênnhiên ra bên ngoài ) chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu

Trong cơ cấu thu ngân sách của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế luôn

là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu

từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước.Nền kinh tế quốc dân càng phát triển với tốc độ cao thì nguồn thu của nhànước từ thuế chiếm tỷ trọng càng lớn trong tổng thu NSNN.Thu NSNN bao

Trang 19

gồm thuế, các khoản phí,lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước, thuđóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ và các khoản thukhác theo quy định của pháp luật.

1.1.1.3 Phân loại thu ngân sách nhà nước

Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội và yêu cầu động viên nguồn lực tàichính của nhà nước ở mỗi quốc gia mà thu NSNN bao gồm những khoản thukhác nhau

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của các khoản thu ngân sách nhà nước

Thứ nhất, tuyệt đại đa số các khoản thu NSNN là những khoản thu mang tính chất bắt buộc

Thứ hai, các khoản thu NSNN về cơ bản là những khoản thu chuyển dịch nguồn lực tài chính từ khu vực tư sang khu vực công.

Thứ ba, mức độ và cơ cấu các khoản thu NSNN của một quốc gia về cơ bản phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế.

Thứ tư, các khoản thu NSNN dù có tính bắt buộc hay tự nguyện đều được thể chế bằng các văn bản pháp luật ở những mức độ khác nhau tùy theo tính chất, tầm quan trọng của các khoản thu

Thứ năm: Hầu hết các khoản thu NSNN chủ yếu được thực hiện trên nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp

1.1.3 Vai trò của thu ngân sách nhà nước

NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính

cơ bản, tổng hợp của Nhà nước Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tàichính và có vai trò quyết định sự phát triển của nền KT-XH Vai trò củaNSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trongtừng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đođánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước

Trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, NSNN có cácvai trò chủ yếu sau:

Trang 20

Thứ nhất, với chức năng phân phối, ngân sách có vai trò huy độngnguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sựcân đối thu chi tài chính của Nhà nước Đó là vai trò truyền thống của NSNNtrong mọi mô hình kinh tế Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trongquá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy

sự tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụngNSNN như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá

cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định KT-XH Muốnthực hiện tốt vai trò này NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nước thực hiệncác chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất,kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội

Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếmkhuyết của KTTT, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩyphát triển bền vững KTTT phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của

nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó Mặt trái của nó là phân hóagiàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đằng trong phânphối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Bên cạnh đó do mục tiêutối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đamọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa

và dịch vụ mà xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hànghóa công cộng Do đó nếu để KTTT tự điều chỉnh mà không có vai trò củaNhà nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNNthông qua công cụ là chính sách thuế khóa và chi tiêu công để phân phối lạithu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụcông cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo côngbằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

1.2 QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý thu ngân sách nhà nước

Trang 21

1.2.1.1 Khái niệm quản lý thu ngân sách nhà nước

Quản lý thu NSNN được hiểu là sự tác động của các cơ quan có thẩmquyền lên các khoản thu NSNN bằng cách hoạch định kế hoạch, tổ chức triểnkhai kế hoạch thu và phối hợp, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện kếhoạch thu NSNN

Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụchính sách,pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoàithuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích SXKD pháttriển Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràngbuộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách Phầnlớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi ngườidân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện

Trong việc quản lý các nguồn thu ngân sách, thuế là nguồn thu quantrọng nhất Thuế không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu NSNNhàng năm mà còn là công cụ của nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốcdân Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của các chính sách thuế, ở nước

ta cũng như các nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thườngxuyên thay đổi cho phù hợp với diễn biến thực tế của đời sống KT-XH và phùhợp với yêu cầu của QLKT, tài chính Các sắc thuế chủ yếu hiện đang được

áp dụng ở nước ta hiện nay gồm có: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặcbiệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp,thuếchuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà,đất

1.2.1.2 Đặc điểm quản lý thu ngân sách nhà nước

Quản lý thu NSNN là một bộ phận của quản lý tài chính công nên nómang đặc trưng vốn có của hoạt động quản lý tài chính công

- Thu NSNN là họat động gắn liền với việc thực hiện chức năngnhiệm vụ của nhà nước

- Trong họat động thu NSNN, nhà nước luôn tham gia với tư cách là

Trang 22

chủ thể bắt buộc và chủ thể được phép sử dụng quyền lực chính trị.

- Đối tượng của thu NSNN là của cải xã hội biểu hiệu dươi hình thứcgiá trị

- Các khoản thu NSNN chủ yếu bắt nguồn từ nền kinh tế quốc dân vàgắn liền với kết quả của các họat động sản xuất kinh doanh

1.2.1.3 Yêu cầu, vai trò quản lý thu ngân sách nhà nước

a) Yêu cầu quản lý thu NSNN

Đảm bảo động viên đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN theo đúng chínhsách, chế độ, văn bản pháp luật của nhà nước Đây là yêu cầu mang tính tấtyếu và bắt buộc thực hiện của công tác quản lý thu NSNN

b) Vai trò của quản lý thu NSNN

Đảm bảo hiệu quả quản lý NSNN nói chung và thu NSNN nói riêng Điều nàyxuất phát từ chính vai trò quan trọng của NSNN nói chung và thu NSNN nóiriêng Thu NSNN có vai trò đảm bảo thực hiện chức năng của bộ máy Nhànước; là công cụ thúc đẩy phát triển ổn định kinh tế từng địa phương; làphương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường, đảm bảo công bằng xã hội vàcác vấn đề môi trường…

Quản lý thu NSNN đóng vai trò rất quan trọng, thể hiện:

Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để kiểmsoát,điều tiết các hoạt động SXKD của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thunhập của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự đóng góp đảmbảo công bằng, hợp lý Các nhà nước trong lịch sử đều sử dụng công cụ thuếđể ổn định và phát triển nền kinh tế,chống lại các hành vi kinh doanh phạmpháp

Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn lực tàichính cần thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN Huy động cácnguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống thudưới bất kỳ chế độ nào, đó là đòi hỏi tất yếu của mọi nhà nước Nhà nướcmuốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải có

Trang 23

nguồn tài chính Nguồn tài chính mà Nhà nước có được đại bộ phận do quảnlý tốt nguồn thu ngân sách mang lại.

Thứ ba, quản lý thu NSNN là nhằm khai thác, phát hiện, tính toán chính xáccác nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên được và cũng đồng thờikhông ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu để có cơ chế tổ chứcquản lý hợp lý.Đây là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong quá trìnhtổ chức QLKT

Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công bằnggiữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trongquá trình SXKD Với hình thức thu và mức thu thích hợp kèm với các chế độmiễn giảm công bằng, thu NSNN có tác động trực tiếp đến quá trình SXKDcủa cơ sở Với sự tác động quản lý thu ngân sách sẽ góp phần tạo nên môitrường kinh tế thuận lợi đối với quá trình SXKD Đồng thời nó là công cụquan trọng góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nướcđối với toàn bộ hoạt động SXKD của xã hội

Thứ năm, quản lý thu ngân sách có vai trò tác động đến sản lượng và sảnlượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế Việc tăng mức thuế quá mứcthường dẫn tới giảm sản lượng trong nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô củanền kinh tế Ngược lại, giảm mức thuế chung có xu thế làm tăng sản lượngcân bằng Trong nền KTTT, người ta sử dụng tính chất này để điều chỉnh quymô sản lượng của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp và hộ kinh doanh

1.2.2 Nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước

1.2.2.1 Lập kế hoạch, dự toán thu ngân sách nhà nước

a) Khái niệm: Lập dự toán thu NSNN thực chất là việc tính toán số thu NSNN

sẽ được huy động vào NSNN trong tháng, quý, năm dựa trên những căn cứ,điều kiện nhất định và dự kiến những giải pháp sẽ được thực thi nhằm thựchiện dự toán thu NSNN đã được xác định trước đó

b) Yêu cầu trong lập kế hoạch, dự toán thu NSNN

- Đảm bảo đúng mẫu biểu, rõ ràng, dễ theo dõi

Trang 24

-Dự toán thu NSNN bao gồm hệ thống các khoản thu, lĩnh vực thu

- Đảm bảo tính khả thi, tính hiện thực và cả tính dự báo

c) Căn cứ để lập dự toán thu NSNN

Kế hoạch phát triển KT-XH hàng năm và năm năm của Nhà nước Kế hoạchphát triển kinh tế xã hội của Nhà nước vừa đặt ra yêu cầu tính toán mức độngviên và vừa là cơ sở để tính toán khả năng động viên nguồn thu của NSNN

d) Phương pháp và trình tự xây dựng kế hoạch, dự toán thu NSNN

Lập dự toán thu NSNN được thực hiện theo phương pháp phân bổ từtrên xuống và tổng hợp từ dưới lên

1.2.2.2 Tổ chức thu ngân sách nhà nước

a) Khái niệm

- Tổ chức thu NSNN có thể được hiểu là quá trình Nhà nước sử dụngcác công cụ pháp lý và công cụ kinh tế của mình tác động vào các chủ thểtrong nền kinh tế

b) Căn cứ tổ chức thu ngân sách nhà nước

+ Kế hoạch, dự toán thu NSNN đã được phê duyệt

+ Chức năng, thẩm quyền được phân cấp trong thu NSNN của địaphương

+ Chế độ, chính sách do Nhà nước quy định đối với các khoản thutrong NSNN và văn bản quy định của chính quyền địa phương

+ Quy trình thu NSNN

c) Nguyên tắc, yêu cầu trong tổ chức thu ngân sách nhà nước

- Nguyên tắc ổn định lâu dài:

- Nguyên tắc đảm bảo công bằng:

- Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:

- Nguyên tắc giản đơn:

- Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế:

d) Quy trình thu ngân sách nhà nước của địa phương

- Yếu tố tác động hình thành quy trình thu NSNN

Trang 25

- Quy trình thực hiện thu NSNN

Quy trình tổ chức thu NSNN có một số khác biệt đối với việc thuNSNN trong cân đối ngân sách hay thu nhà nước ngoài cân đối ngân sáchnhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách trong từng thời kỳ nhất định Ở đây, luậnvăn chủ yếu nghiên cứu quy trình thu NSNN trong cân đối ngân sách

1.2.2.3 Kiểm tra, giám sát quá trình thu ngân sách nhà nước

Kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thu NSNN là một nội dung quantrọng trong quá trình quản lý thu NSNN

Nội dung cơ bản về quản lý thu ngân sách nhà nước

Việc nghiên cứu toàn diện việc quản lý thu NSNN bao gồm rất nhiềuvấn đề và rất rộng, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ tập trung trìnhbày một số vấn đề về quản lý thu thuế và các khoản phí, lệ phí Đây là cáckhoản thu chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thu NSNN nhất là NSNN của cấpthành phố thuộc Tỉnh

1.3 Nội dung quản lý thu NSNN từ các hoạt động khoáng sản

1.3.1 Nội dung quản lý thu thuế hoạt động khoáng sản

Như chúng ta đã biết,thuế là nguồn thu chính chiếm tỷ trọng lớn và có

xu hướng ngày càng tăng trong tổng thu NSNN.Đồng thời thuế cũng là côngcụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều chỉnh kinh tế vĩ mô, thúc đẩytăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Do vậy quản lý thu thuếnói chung và quản lý thu thuế ở địa phương có ý nghĩa đặt biệt quan trọngtrong quản lý NSNN Quản lý thu thuế là hệ thống các biện pháp nghiệp vụ

do cơ quan có chức năng thu ngân sách thực hiện

Quản lý thu thuế phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật Quy trình xây dựng các biệnpháp quản lý thuế phải xuất phát từ các luật thuế, nằm trong khuôn khổ luậtquy định.Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các biện pháp quản lý thuế của Nhànước cũng phải phù hợp với quy định chung về thuế của các tổ chức kinh tếquốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là sau khi chúng ta gia nhập WTO

Trang 26

Thứ hai, nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ.Quy trình tổ chức vàquản lý thuế được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước cho các cơ quanthu và cho các đối tượng nộp thuế là các pháp nhân hay thể nhân Không chophép cơ quan thu được đặt ra bất cứ biệt lệ nào và cũng như có sự phân biệtđối xử giữa những người nộp thuế trong quá trình hành thu thuế.

Thứ ba,nguyên tắc công bằng trong quản lý thuế Đây là nguyên tắc cơbản của thuế, nghĩa là mọi công dân phải có nghĩa vụ vật chất với Nhà nướcphù hợp với khả năng tài chính của mình Khi xây dựng biện pháp quản lýthuế phải quán triệt nguyên tắc này nhằm động viên sức lực của toàn xã hộicho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; qua đó gắn kết nghĩavụ,quyền lợi của các tổ chức và công dân với nghĩa vụ và quyền lợi của quốcgia.Chỉ có như thế sự phát triển mới mang tính chất cộng đồng và bền vững

Thứ tư, nguyên tắc minh bạch Các khâu trong quy trình quản lý thuếđối với các đối tượng nộp thuế phải được công khai hóa.Công tác tuyêntruyền, tư vấn,giải thích quy trình quản lý thuế đến việc tổ chức thực hiệntừng khâu trong quy trình này đều phải rõ ràng, dễ hiểu, công khai Hạn chếtrường hợp đối tượng nộp thuế thiếu thông tin về các quy định về thuế

Thứ năm, nguyên tắc thuận tiện,tiết kiệm và hiệu quả trong quản lýthuế Quản lý thuế là những biện pháp mang tính nghiệp vụ và hành chínhpháp định Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan hành thu phải xây dựng quy trìnhquản lý thuế theo luật định một cách hợp lý, phù hợp với tình hình, đặc điểm,điều kiện SXKD, thu nhập phát sinh của người nộp thuế.Việc thực hiệnnguyên tắc này phải tạo ra những thuận lợi và tiết kiệm tối đa chi phí về thờigian, vật chất và tiền cho cơ quan thu và cho người nộp thuế.Có như vậy mớiphát huy được hiệu quả và hiệu lực của cơ chế hành thu thuế

Trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc nêu trên, nội dung công tác quảnlý thu thuế bao gồm các vấn đề sau:

Thứ nhất, xây dựng dự toán thu về thuế Đây là khâu cơ sở của quátrình quản lý thu thuế, việc xây dựng dự toán thu này phải dựa trên các căn cứ

Trang 27

- Các văn bản pháp luật về thuế hiện hành Đây là cơ sở pháp lý của dựtoán thu về thuế

- Kế hoạch phát triển KT-XH của cả nước hay từng địa phương,đơn vị

- Thực trạng tài chính quốc gia, tình hình thực hiện dự toán thu ngânsách năm báo cáo và yêu cầu động viên vào ngân sách năm kế hoạch

- Chủ trương, chính sách QLKT của nhà nước đã và sẽ ban hành

Thứ hai, tổ chức các biện pháp hành thu Nội dung này bao gồm:

- Quản lý đối tượng nộp thuế thông qua việc đăng ký thuế và cấp mã sốthuế Các tổ chức và cá nhân kinh doanh phải liên hệ với cơ quan thuế địaphương để đăng lý thuế Các bộ phận của cơ quan thuế sau khi tiếp nhận,kiểm tra sẽ phát giấy chứng nhận đăng ký thuế cùng với mã số thuế chodoanh nghiệp

- Xây dựng và lựa chọn quy trình quản lý thu thuế Hiện nay đang cóhai loại quy trình đó là:

+ Quy trình kê khai, nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế Theoquy trình này thì các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai thuếcho cơ quan thuế Cơ quan thuế sẽ tiến hành kiểm tra, tính thuế và ra thôngbáo số thuế phải nộp gởi cho đối tượng nộp thuế Phương thức này có nhiềuhạn chế, gây nhiều khó khăn cho người nộp và cơ quan thuế

+ Quy trình tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp thuế Theo phương thức nàycác đối tượng nộp thuế phải tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp vào KBNN vàphải chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác, trung thực của việc tự khai tựnộp của mình Cơ quan thuế sẽ chủ yếu tập trung vào công tác kiểm tra, thanhtra và đôn đốc cũng như tư vấn cho đối tượng nộp thuế Đây là phương thứctiên tiến được nhiều nước có nền KTTT trên thế giới áp dụng, tạo nhiều thuậnlợi cho người nộp thuế cũng như cơ quan thuế,tiết kiệm được chi phí

- Tổ chức thu nộp tiền thuế Hình thức chủ yếu hiện nay là nộp trực tiếpvào KBNN Theo đó đối tượng nộp thuế sẽ nộp trực tiếp vào KBNN dưới

Trang 28

dạng tiền mặt hoặc chuyển khoản Để làm tốt công tác này cần có sự phối hợpchặt chẽ giữa cơ quan thuế và KBNN để nắm bắt kịp thời tình tình hình nộpthuế từ đó có biện pháp đôn đốc thu nộp kịp thời.

- Tổ chức thanh tra, kiểm tra về thuế Đây là khâu tất yếu của quy trìnhquản lý thuế Mục tiêu chính của công tác này là đảm bảo thi hành pháp luậtthuế nghiêm minh từ cả phía đối tượng nộp thuế lẫn cơ quan thuế, giúp loạitrừ mọi biểu hiện gian lận thuế,trốn thuế và cả những nhũng nhiễu, tiêu cựccủa cán bộ thuế Ngoài ra khi đẩy mạnh việc thực hiện chế độ tự khai tự tínhthuế, tự nộp càng phải củng cố và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra

1.3.2 Một số loại thuế đối với hoạt động khoá sản

Tại Khoản 1, Điều 3 Luật Thuế tài nguyên quy định: "Người nộp thuế tàinguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tàinguyên"

Theo Điều 2, Điều 3 Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chínhphủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản thì "Đối tượngchịu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo quy định tạiNghị định này là dầu thô, khí thiên nhiên, khí than, khoáng sản kim loại vàkhoáng sản không kim loại” và “Người nộp phí bảo vệ môi trường đối vớikhai thác khoáng sản là các tổ chức, cá nhân khai thác các loại khoáng sảnquy định tại Điều 2 Nghị định này"

Tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Điều 37 Nghị định số 142/2013/NĐ-CPngày 24/10/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựctài nguyên nước và khoáng sản quy định:

Trang 29

Thứ nhất, phạt tiền đối với hành vi khai thác khi Giấy phép khai thác khoángsản đã hết hạn (trừ trường hợp đã nộp hồ sơ đề nghị gia hạn Giấy phép khaithác khoáng sản đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét theo quy định)hoặc khai thác khoáng sản trong thời gian bị tước quyền sử dụng Giấy phépkhai thác khoáng sản; khai thác vượt quá 50% trở lên đến 100% so với côngsuất được phép khai thác hàng năm nêu trong Giấy phép khai thác khoángsản

Thứ hai, phạt tiền đối với hành vi khai thác khoáng sản mà không có Giấyphép khai thác khoáng sản theo quy định, trừ các trường hợp đã quy định tạiKhoản 1 Điều này hoặc khai thác vượt quá 100% trở lên so với công suấtđược phép khai thác hàng năm nêu trong Giấy phép khai thác khoáng sản, Thứ ba, về hình thức xử phạt bổ sung, Nghị định 142/2013/NĐ-CP quy định:Tịch thu toàn bộ tang vật là khoáng sản; tịch thu phương tiện sử dụng để viphạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này; "

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp trong năm 2014, doanh nghiệpkhông tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản do Giấy phép khai tháckhoáng đã hết hạn mà mua nguyên liệu đá từ đơn vị khác để hoạt động chếbiến khoáng sản thì không phải là người nộp thuế tài nguyên và không phải làngười nộp phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

Trường hợp qua kiểm tra, phát hiện sản lượng khai thác không có Giấy phépkhai thác khoáng sản thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định

Căn cứ xác định sản lượng tài nguyên tính thuế

Tại Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 của BộTài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướngdẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủquy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thuế tài nguyên, quyđịnh:

Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà đưa vào sản xuất sản phẩmkhác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối

Trang 30

lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căncứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụngtài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm.

Định mức sử dụng tài nguyên phải tương ứng với tiêu chuẩn công nghệ sảnxuất, chế biến sản phẩm đang ứng dụng và được người nộp thuế đăng ký với

cơ quan thuế vào kỳ khai thuế đầu tiên

Trường hợp mức tiêu hao tài nguyên để sản xuất một đơn vị sản phẩm caohơn 5% so với tiêu chuẩn công nghệ thiết kế thì cơ quan thuế phối hợp vớicác cơ quan liên quan để thẩm định làm cơ sở ấn định sản lượng tài nguyênkhai thác chịu thuế"

Đồng thời, tại Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày2/10/2015 của Bộ Tài chính về thuế tài nguyên cũng quy định:

Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mớibán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu) thì sản lượng tài nguyên tính thuế

là sản lượng tài nguyên khai thác được xác định bằng cách quy đổi từ sảnlượng sản phẩm sản xuất trong kỳ để bán ra theo định mức sử dụng tài nguyêntính trên một đơn vị sản phẩm

Định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm do người nộpthuế kê khai căn cứ dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn côngnghệ thiết kế để sản xuất sản phẩm đang ứng dụng"

Căn cứ quy định nêu trên, việc xác định sản lượng đối với tài nguyên khaithác đưa vào sản xuất, chế biến mới bán ra được căn cứ vào sản lượng sảnphẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trênmột đơn vị sản phẩm do doanh nghiệp kê khai theo quy định pháp luật ápdụng tại từng thời điểm nêu trên

1.3.3 Nội dung quản lý thu phí, lệ phí đối với hoạt động khoáng sản

Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN,tuy nhiênnếu chỉ thu thuế thì chính phủ không đủ nguồn tài trợ cho nhiều hoạt động

Trang 31

vốn rất đa dạng của mình và cũng không thể buộc người dân sử dụng hànghóa và dịch vụ công theo cách thức có hiệu quả.Do đó phí,lệ phí đặt ra đối vớinhững tổ chức và cá nhân sử dụng hàng hóa hay dịch vụ công.

Phí thuộc NSNN là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải trả chomột cơ quan nhà nước khi nhận được dịch vụ do cơ quan này cung cấp Tronghoạt động xã hội, nhiều tổ chức thuộc bộ máy công quyền cung cấp ra bênngoài nhiều dịch vụ Chúng cần thiết phải thu tiền của đối tượng thụ hưởng để

bù đắp chi phí hoạt động Phí chính là số tiền đó

Lệ phí là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải nộp cho cơ quannhà nước khi thụ hưởng dịch vụ liên quan đến quản lý hành chính do cơ quannày cung cấp

Phí, lệ phí không phải là giá cả của dịch vụ công mà chỉ là động viênmột phần thu nhập của người thụ hưởng nhằm thực hiện công bằng trong tiêuthụ dịch vụ công

Mọi khoản phí, lệ phí đều phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnquy định Theo quy định hiện hành tại Pháp lệnh phí, lệ phí và Nghị định57/2002/NĐ-CP của Chính phủ thì chính phủ quy định chi tiết danh mục phí,

lệ phí đồng thời với việc quy định nguyên tắc xác định mức thu phí và lệ phí.Đối với một số khoản thu phí, lệ phí quan trọng, chính phủ trực tiếp quy địnhmức thu, chế độ thu,nộp và chế độ quản lý Đối với những khoản còn lại,chính phủ giao hoặc phân quyền quy định mức thu, chế độ thu,nộp và chế độquản lý cho cấp Bộ và tương đương Căn cứ vào quy định chi tiết của Chínhphủ, Bộ Tài chính quy định mức thu cụ thể đối với từng loại phí, lệ phí,hướng dẫn mức thu cho các cơ quan được phân cấp quy định mức thu HĐNDTỉnh quyết định thu phí, lệ phí được phân cấp Nghiêm cấm mọi tổ chức, cánhân tự đặt ra các loại phí, sửa đổi mức thu phí đã được cơ quan có thẩmquyền quy định, thu phí trái với quy định của pháp luật

Đơn vị thu phí,lệ phí là cơ quan thuế và các cơ quan được pháp luậtquy định Các cơ quan này phải niêm yết công khai tại địa điểm thu về tên

Trang 32

gọi, mức thu, phương thức thu và cơ quan quy định thu Khi thu phải cấpchứng từ thu theo quy định của Bộ Tài chính.

1.3.4 Tiêu chí đánh quản lý thu ngân sách nhà nước và các nhân tố ảnh hưởng quản lý thu ngân sách nhà nước từ các hoạt động khoáng sản

1.2.3.1 Tiêu chí đánh giá quản lý thu ngân sách nhà nước

Hiệu quả quản lý thu NSNN được đánh giá trên từng khâu trong quytrình quản lý thu NSNN cũng như hiệu quả của cả quy trình quản lý Hiệu quảquản lý thu NSNN thể hiện ở việc khai thác hợp lý các nguồn lực tài chínhtiềm năng và sẵn có trong nền kinh tế quốc dân, đi đôi với bồi dưỡng và tăngcường các nguồn thu nhằm tiếp ứng yêu cầu ngày càng cao trong bảo đảmquan hệ cân đối NSNN

- Cơ cấu nguồn thu

- Tỷ lệ thu/nhu cầu chi thường xuyên của NSNN

- Tỷ lệ đáp ứng chi đầu tư XDCB từ nguồn thu

1.2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước

1 Nhân tố GDP bình quân đầu người

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế cảu mộtquốc gia, phản ảnh khả năng tiết kiệm, đầu tư, chi tiêu cảu các tổ chức, đơn vịkinh tế và cá nhân dân cư Thu nhập bình quân đầu người là nhân tố quyếtđịnh đến mức động viên ngân sách nhà nước Nếu không xét đến nhân tố này

sẽ có tác động không tốt đén các vấn đề về chi tiêu, đầu tư, tiết kiệm của cáctổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư trong xã hội

2 Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế

Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế phản ánh hiệu quả của đầu tư pháttriển kinh tế Tỷ suất doanh lợi cao thì nguồn tài chính càng lớn từ đó nguồnđộng viên vào NSNN càng nhiều

Dựa vào tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thuNSNN Hiện nay tỷ suất doanh lợi của nước ta còn thấp nên mức động viênvào ngân sách nhà nước chưa cao

Trang 33

3 Tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của đất nước

Đối với các nước đang phát triển và những nước có nguồn tài nguyên

đa dạng và phong phú thì tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến mức độngviên NSNN Kinh nghiệm của VN cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu thô vàkhoáng sản lớn hơn 20% thì mức động viên NSNN cao và có khả năng tăngnhanh Trong thời gian tới VN sẽ tăng cường xuất khẩu dầu thô và khoángsản từ đó góp phần vào tăng mức động viên NSNN

4 Mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước

Nhân tố này ảnh hưởng vào:

- Quy mô tổ chức bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máynhà nước

- Nhiêm vụ kinh tế -xã hội mà nhà nước đảm nhiệm trong từng thời kỳ

- Chính sách sử dụng kinh phí của nhà nước

Trong điều kiện các nguồn tài trợ cho NSNN không tăng thì việc nhànước tăng mức độ chi phí của NN sẽ làm tăng tỷ suất thu NSNN

Ở hầu hết các nước đang phát triển thì nhà nước luôn tham vọng đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng việc đầu tư vào những công trình cóquy mô lớn Để có vốn đầu tư thì phải tăng thu Nhưng trong thực tế tăng thuquá mức lại làm chậm tốc độ phát triển kinh tế - xã hội Đê giải quyết vấn đềnày nhà nước cần sử dung các chính sách phát triển kinh tế xã hội có hiệu quảtrên cơ sở nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn

5 Tổ chức bộ máy thu nộp

Tổ chức bộ máy thu nộp phải gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, tránh đượctình trạng thất thu thuế, trốn thuế, lậu thuế… những nhân tố sẽ làm giảm thucủa NSNN

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC RÚT RA TỈNH CAO BẰNG

1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Giang

Hà Giang là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản hết sức đa

Trang 34

dạng và phong phú cả về kim loại và phi kim loại Trong đó có những loạikhoáng sản có giá trị kinh tế cao là sắt, chì - kẽm, Mangan, Antimon…Theotài liệu địa chất và khoáng sản, đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã xácđịnh được 215 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng sản với 28 loại khoáng sản khácnhau Trong đó 4 loại khoáng sản trọng điểm là: Quặng sắt (21 mỏ, điểm mỏ);quặng chì, kẽm (16 mỏ, điểm mỏ); quặng Mangan (27 mỏ, điểm mỏ) vàquặng Antimon Ngoài ra, còn nhiều loại khoáng sản khác có tiềm năng vềgiá trị kinh tế như: Đới vàng sông Con; đới vàng ngòi Sảo và đới vàng, Arsenchứa thiếc - vàng Sông Lô; mỏ thiếc - Vonfram Hố Quáng Phìn (huyện ĐồngVăn); mỏ Antimon Bó Mới (huyện Yên Minh)… Kết quả đánh giá, thăm dòkhoáng sản trên địa bàn tỉnh cho thấy có nhiều mỏ có trữ lượng hàng triệu tấn,chất lượng cao như mỏ Antimon Mậu Duệ (huyện Yên Minh) có trữ lượng330.000 tấn, mỏ sắt Sàng Thần (huyện Bắc Mê) trữ lượng 31,86 triệu tấn, mỏquặng sắt Tùng Bá trữ lượng 22,0 triệu tấn, mỏ chì - kẽm Na Sơn (huyện VịXuyên) trữ lượng 1,6 triệu tấn, mỏ chì - kẽm Tà Pan (huyện Bắc Mê) trữlượng 1,2 triệu tấn; dải quặng Mangan: Đồng Tâm, Trung Thành, Ngọc Linh,Ngọc Minh có tổng trữ lượng tài nguyên hơn 5,0 triệu tấn và nhiều khoángsản quý hiếm khác như thiếc, Vonfram, vàng sa khoáng, nguyên liệu dùngcho công nghệ gốm sứ cao cấp như Kaolin, Felspat

Để quản lý thu NSNN về hoạt động khoáng sản có hiệu quả và kịp thời

sách được tổ chức vào đầu năm, đồng chí Chủ tịch UBND thành phố đã giaonhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị liên quan, đề nghị thống nhất các nhiệm vụ vàgiải pháp để tập trung hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách đã được giao Riêngđối với Chi cục thuế thành phố, là đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thungân sách trên địa bàn cũng đã xây dựng chương trình hành động với 5 nhiệmvụ cụ thể Trong đó, xác định nhiệm vụ trọng tâm là: Triển khai đồng bộ cácbiện pháp quản lý thu ngân sách Nhà nước, tăng cường công tác kiểm trachống thất thu thuế, trốn thuế, nợ thuế; phấn đấu hoàn thành vượt dự toán thu

Trang 35

ngân sách năm 2017 được HĐND thành phố giao 360 tỷ đồng Ông HoàngXuân Thủy – Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố Hà Giang cho biết: Đểthực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đã đặt ra, Chi cục thuế thành phố cũng đãxác định các giải pháp cụ thể, Khối Tài chính thành phố Hà Giang đã xâydựng chương trình hành động của Khối với 5 nội dung trọng tâm Đồng thờiđẩy mạnh công tác tuyên truyền với nhiều hình thức.

1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Nguyên

Theo Cục Thuế Thái Nguyên trong 6 tháng đầu năm 2017, ngành Thuế TháiNguyên thực hiện thu ngân sách hơn 5.400 tỷ đồng, bằng 82% dự toán Bộ Tàichính giao, bằng 80% dự toán tỉnh giao, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.Cũng trong 6 tháng, nhiều khoản thu, sắc thuế đều đạt và vượt dự toán nămnhư: Thu tiền sử dụng đất đạt 146% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp nhànước Trung ương đạt 57% dự toán; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài đạt 83% dự toán năm; thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt86% dự toán; thuế thu nhập cá nhân đạt 82% dự toán năm; thuế bảo vệ môitrường đạt 52% dự toán năm; thu cấp tiền khai thác khoáng sản đạt 152% dựtoán năm; tiền thuê đất đạt 82% dự toán

Theo phân tích, các khoản thu tăng cao từ nhiều nguyên nhân, trong đó cóhoạt động hiệu quả của dự án Tổ hợp Samsung, dẫn tới số thuế nhà thầu, thuếthu nhập cá nhân làm việc tại dự án thu được tăng cao Cùng với đó, số thutăng còn có nguyên nhân từ việc phát triển công nghiệp dẫn tới sự phát triểnnhanh các khu dân cư, khu đô thị, dịch vụ đã tạo cho các khoản thu từ đất, thu

từ công thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng cao

Bên cạnh đó, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên nửa đầu nămcũng phát triển tích cực, các doanh nghiệp Trung ương và địa phương trên địabàn hoạt động hiệu quả, đã tạo ra số thu đạt kết quả cao

Ngoài ra, trong những tháng đầu năm, ngành Thuế Thái Nguyên đã tiếp tụcđẩy mạnh cải cách hành chính, điện tử hóa các hoạt động công tác thuế như:

Trang 36

Kê khai thuế qua mạng, nộp thuế điện tử, hợp tác với hệ thống ngân hàngthương mại để hỗ trợ người nộp thuế;

1.4 3 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Kạn

Để quản lý chặt chẽ, hiệu quả nguồn thu ngân sách và chống thất thu ngânsách nhà nước từ hoạt động khai thác khoáng sản, đồng thời kịp thời ngănchặn các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép gây thất thoát tài nguyênkhoáng sản trên địa bàn tỉnh, từ năm 2017, tỉnh Bắc Kạn bắt đầu thực hiệnviệc ấn định thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn

Bắc Kạn là một trong những tỉnh có thế mạnh, tiềm năng về khoáng sản với

273 mỏ và điểm khoáng sản cùng 24 loại khoáng sản khác nhau, phân bố ởhầu hết các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Các khoáng sản có giá trị như:Chì kẽm, sắt, vàng tập trung nhiều ở khu vực các huyện Chợ Đồn, Ngân Sơn,Pác Nặm, Na Rỳ; đá vôi và cát sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường tậptrung chủ yếu ở các huyện Chợ Đồn, Na Rỳ, Thành phố Bắc Kạn… Đây là lợithế và tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng quản lý và khai thác khoáng sản trên địabàn tỉnh thời gian qua còn nhiều bất cập như: Công tác chỉ đạo triển khai thựchiện một số văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động khoáng sản chưa đượckịp thời; các cơ quan chuyên môn chưa chủ động tham mưu, đề xuất được cácgiải pháp quản lý hiệu quả; công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trongquản lý khai thác, vận chuyển khoáng sản chưa chặt chẽ, đồng bộ, chưa quảnlý được sản lượng khoáng sản khai thác thực tế…

Bên cạnh đó, việc chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động khoángsản, thực hiện nghĩa vụ tài chính, bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệpchưa nghiêm túc Vẫn còn tình trạng một số doanh nghiệp kê khai nộp thuếthiếu trung thực, không sát với sản lượng khoáng sản khai thác, tiêu thụ Cáccấp, các ngành thiếu sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ trong công tác quản lý thu

Trang 37

ngân sách và xử lý vi phạm về thuế trong lĩnh vực khai thác khoáng sản Mặtkhác, việc kiểm tra, kiểm soát vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản của cơ cácquan chức năng còn lúng túng, công tác phối hợp chưa được thường xuyên,hiệu quả chưa cao; việc báo cáo sản lượng khoáng sản khai thác của doanhnghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa đồng nhất; tình hình nợthuế, phí bảo vệ môi trường, nợ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản chưađược xử lý dứt điểm

Chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016, trên địa bàn tỉnh có 61doanh nghiệp có đăng ký hoạt động khai thác khoáng sản với 66 mỏ khoángsản các loại được cấp phép khai thác Tuy nhiên, số thu ngân sách trung bìnhtrên 80 tỷ đồng từ thuế, phí tài nguyên khoáng sản mỗi năm là quá ít so với sốmỏ được cấp phép Ngoài ra, đến nay, tổng số tiền thuế, phí các doanh nghiệpkhai thác khoáng sản vẫn còn nợ là 62 tỷ đồng, trong đó có 50% doanhnghiệp đã đóng cửa mỏ hoặc hết hạn khai thác

Từ thực trạng trên, để đảm bảo kiểm soát chặt chẽ nguồn tài nguyên khoángsản và nguồn thu ngân sách nhà nước, thì việc ấn định thuế đối với hoạt độngkhai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là hết sức cần thiết Vì vậy,cuối tháng 5/2017, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 746/QĐ-UBND vềviệc phê duyệt Đề án ấn định thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sảntrên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, trong đó xác định phương án ấn định tạm tính củanăm 2017 và ấn định thực hiện từ 2018

Theo Đề án, năm 2017, tổng số mỏ hoạt động đến 30/5/2017 trên địa bàn tỉnh

là 24 mỏ của 20 doanh nghiệp, trong đó: Mỏ Chì kẽm Lũng Váng của Công tyTNHH Việt Trung chưa đủ căn cứ tạm tính ấn định thuế năm 2017; Mỏ Chìkẽm Nà Lẹng - Nà Cà, xã Sỹ Bình, Bạch Thông của Công ty TNHH Khaikhoáng Bắc Kạn do khó khăn trong khai thác nên đơn vị tạm dừng khai thác;Mỏ đá Bản Tặc, xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn của Doanh nghiệp tư nhân Cao

Trang 38

Bắc không cam kết nộp thuế đề nghị doanh nghiệp làm thủ tục trả lại mỏ.Như vậy toàn tỉnh còn 21 mỏ phải thực hiện nộp thuế theo Đề án.

Theo phương án ấn định thuế tạm tính của năm 2017, sản lượng khoáng sảnkhai thác của doanh nghiệp để làm căn cứ ấn định thuế được xác định trên cơsở trữ lượng thăm dò, công suất khai thác, số liệu sản lượng khai thác năm

2015 và 2016… Số thuế, phí bảo vệ môi trường năm 2017 phải nộp tạm tínhtheo ấn định đối với 21 mỏ là hơn 78 tỷ đồng, tăng hơn 18 tỷ đồng so với số

đã nộp theo kê khai năm 2016

Cụ thể, đối với khoáng sản chì kẽm đã tăng hơn 13 tỷ đồng so với số thuế, phínăm 2016; quặng sắt tăng thêm hơn 4,5 tỷ đồng; cát sỏi tăng thêm 330 triệuđồng; đá vôi tăng thêm 668 triệu đồng Công ty TNHH Thương mại dịch vụHoàng Nam tăng thêm hơn 1,3 tỷ đồng; Công ty TNHH Một thành viên Kimloại Màu Bắc Kạn tăng thêm hơn 2,2 tỷ đồng; Công ty TNHH Khai khoángBắc Kạn tăng thêm hơn 7 tỷ đồng cho hai khoáng sản chì kẽm sunfua và sắtmangan nghèo…

Đối với ấn định thuế từ năm 2018 trở đi, UBND tỉnh yêu cầu, với mỏ đanghoạt động thực hiện tạm ấn định theo sản lượng và mức thuế năm trước đãđược quyết toán Mỏ được cấp phép mới ấn định thuế theo sản lượng, côngsuất trên giấy phép được cấp Chậm nhất 90 ngày từ khi kết thúc năm tàichính hoặc 30 ngày từ khi giấy phép hết hạn khai thác, Sở Tài nguyên và Môitrường, Sở Công thương xác định sản lượng thực tế khai thác (mức tối thiểukhông thấp hơn số ấn định, trừ lý do khách quan bất khả kháng) để có căn cứquyết toán thuế Chậm nhất 90 ngày từ khi kết thúc năm tài chính hoặc 30ngày từ khi giấy phép có hiệu lực, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Côngthương xác định sản lượng khai thác để có căn cứ ấn định thuế

Khi thực hiện ấn định thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản thì căn cứvào sản lượng khoáng sản được phép khai thác hàng năm ghi trên giấy phép

Trang 39

khai thác hoặc được cấp có thẩm quyền xác định và phê duyệt để ấn định sốthuế phải nộp và thông báo cho đơn vị khai thác khoáng sản nộp theo từng kỳtính thuế Khi ấn định thuế sát với sản lượng khoáng sản khai thác sẽ hạn chếthất thoát về tài nguyên khoáng sản, về nguồn thu ngân sách nhà nước, đồngthời thu hút được các nhà đầu tư có năng lực trong lĩnh vực khai thác khoángsản Vì vậy, để chống thất thu thuế tài nguyên nói chung và khoáng sản nóiriêng, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành với địa phương để quản lýtài nguyên khoáng sản từ khâu cấp phép cho đến quy trình tổ chức thực hiện,tiêu thụ…, qua đó hạn chế thấp nhất tình trạng khai thác trái phép, gây thấtthu về sản lượng dẫn đến thất thu về ngân sách Nhà nước./.

1.4.4 Bài học kinh nghiệm đối với quản lý thu ngân sách nhà nước qua Cục thuế tỉnh Cao Bằng đối với hoạt động khoảng sản

Thứ nhất, cần tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường thuận lợi phát

triển hoạt động sản xuất kinh doanh

Thứ hai, cần tăng cường công tác quản lý NSNN, chống thất thu và xử

lý nợ đọng

Thứ ba, cần tập trung triển khai và áp dụng đồng bộ các biện pháp quản

lý thu ngân sách nhà nước

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT

ĐỘNG KHOÁNG SẢNTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG

2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH CAO BẰNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NGUỒN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

2.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Hai mặt Bắc vàĐông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài333.403 km Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Phía nam giáp

Ngày đăng: 25/06/2020, 20:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w