1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt tại phường hợp giang, tỉnh cao băng

75 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đánh giá hiểu biết và hành vi của người dân về công tác thu gom, xử lý và phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng.. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu kh

Trang 1

LÝ VĂN LONG

TÊN ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI RẮN SINH

HOẠT TẠI PHƯỜNG HỢP GIANG, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông Chính quy Chuyên ngành: Khoa học môi trường Khoa : Môi trường

Khóa học : 2016 - 2019

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 2

LÝ VĂN LONG

TÊN ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI RẮN SINH

HOẠT TẠI PHƯỜNG HỢP GIANG, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông Chính quy Chuyên ngành: Khoa học môi trường Lớp : K48 - LTKHMT Khoa : Môi trường Khóa học : 2016 -2019 Giảng viên hướng dẫn: ThS Hoàng Quý Nhân

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 3

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo Hoàng Quý Nhân người đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt thời gian thực tập Và em cũng xin cảm ơn công ty TNHH đầu tư phát triển và môi trường Cao Bằng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để chúng em hoàn thành tốt đợt thực tập vừa qua

Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã có cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên đề tài của em còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày 17 tháng 05 năm 2019

Lý Văn Long

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần và định nghĩa chất thải rắn sinh hoạt 17

Bảng 4.1 Dân số tỉnh cao bằng những năm gần đây 48

Bảng 4.2 Tổng nhân khẩu thường trú tại phường Hợp Giang 51

Bảng 4.3: Các nguồn sinh ra chất thải rắn 52

Bảng 4.4: Lượng rác phát sinh tại trong phường Hợp Giang năm 2018 53

Bảng 4.5 Thành phần chủ yếu của chất thải rắn sinh hoạt ở phường Hợp Giang 55

Bảng 4.6 Các phương tiện thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt 57

Bảng 4.7: Lịch làm việc của các công nhân 59

Bảng 4.8 Đánh giá của người dân về việc phân loại CRT sinh hoạt 63

Bảng 4.9 Đánh giá của người dân về thu gom và xử lý CTR tại gia đình 64 Bảng 4.10 Mức độ quan tâm của người dân đến việc quản lý rác thải sinh hoạt tại phường Hợp Giang 65

Bảng 4.11 Chất lượng dịnh vụ thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn 66

Bảng 4.12 Mức độ của người dân theo dõi về thông tin môi trường 67

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 16

Hình 4.1: Thành phố Cao Bằng 36

Hình 4.1 Biểu đồ Dân số tỉnh Cao Bằng những năm gần đây 49

Hình 4.2 Biểu đồ Tổng nhân khẩu thường trú tại phường Hợp Giang 51

Hình 4.3 Biểu đồ Lượng rác phát sinh tại phường Hợp Giang năm 2018 53 Hình 4.4 Biểu đồ Thành phần chất thải rắn sinh hoạt 56

Hình 4.5 Công nhân đang quét, thu gom rác 58

Hình 4.6 Sơ đồ xử lý chất thải rắn sinh hoạt 60

Hình 4.7 Phân loại rác 61

Hình 4.8 Đốt rác tại bãi rác Nà Lần 62

Hình 4.9 Biểu đồ Đánh giá của người dân về việc phân loại CRT sinh hoạt 63

Hình 4.10 Biểu đồ Thu gom và xử lý CTR sinh hoạt tại gia đình 64

Hình 4.11 Biểu đồ Mức độ quan tâm của người dân đến việc quản lý rác thải sinh hoạt 65

Hình 4.12 Biểu đồ Chất lượng dịnh vụ thu gom rác thải sinh hoạt 66

Hình 4.13 Biểu đồ Mức độ theo dõi về thông tin môi trường 67

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

1 BVMT Bảo vệ môi trường

3 CNH Công nghiệp hóa

4 CTR Chất thải rắn

5 CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt

6 ĐTM Đánh giá tác động môi trường

10 TCQT Tiêu chuẩn Quốc tế

11 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC BẢNG 2

DANH MỤC CÁC HÌNH 3

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT 4

MỤC LỤC 5

Phần 1 MỞ ĐẦU 9

1.1 Đặt vấn đề 9

1.2 Mục tiêu của đề tài 10

1.3 Ý nghĩa của đề tài 11

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 11

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 13

2.1 Cơ sở pháp lý 13

2.2 Cơ sở lý luận 14

2.2.1 Khái niệm môi trường và chất thải rắn sinh hoạt 14

2.2.1.1 Khái niệm môi trường 14

2.2.1.2 Tiêu chuẩn môi trường 14

2.2.1.3 Khái niệm chất thải 14

2.2.1.4 Khái niệm về chất thải rắn 14

2.2.1.5 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt 14

2.2.1.6 Khái niệm về quản lý chất thải rắn 15

2.2.1.7 Thu gom chất thải rắn 15

2.2.2 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt 15

2.2.3 Nguồn gốc - phát sinh chât thải rắn sinh hoạt 16

2.2.4 Thành phần và tính của chất thải rắn sinh hoạt 16

Trang 8

2.2.5 Tác hại của rác thải sinh hoạt tới môi trường và cộng đồng 17

2.2.5.1 Tác hại của chất thải rắn tới sức khỏe con người 17

2.2.5.2 Tác hại của chất thải rắn tới môi trường 18

2.3 Tổng quan về rác thải trên thế giới và Việt Nam 21

2.3.1 Tổng quan rác thải trên Thế Giới 21

2.3.2 Tổng quan rác thải ở Việt Nam 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 34

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34

3.3 Nội dung nghiên cứu 34

3.4 Phương pháp nghiên cứu 34

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 34

3.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 35

3.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 35

3.4.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu 35

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng 36

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 36

4.1.1.1 Vị trí địa lý 36

4.1.1.2 Thời tiết, khí hậu 38

4.1.1.3 Thuỷ văn và sông ngòi 39

4.1.1.4 Tài nguyên đất đai 40

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41

4.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế 41

Trang 9

4.1.2.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 46

4.1.2.3.Văn hóa xã hội 46

4.1.2.4.Y tế - giáo dục 47

4.1.2.5 Dân số và lao động 48

4.2 Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 52

4.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 52

4.2.2 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 54

4.2.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 55

4.2.4 Hiện trạng thu gom, vận chuyển xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 56

4.2.4.1 Hiện trạng thu gom vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 57

4.2.4.2 Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 60

4.2.5 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 62

4.3 Một số tồn tại và đề xuất giải pháp thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 68

4.3.1 Một số tồn tại trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 68

4.3.2 Đề xuất giải pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng 69

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

Trang 10

5.1 Kết luận 71 5.2 Kiến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 11

đó thúc đẩy các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đât nước nâng cao nhu cầu của người dân được cải thiện cũng đồng nghĩa với lượng rác thải ngày càng tăng và liên tục thay đổi Trong quá trình sinh hoạt, một khối lượng chất thải khổng lồ chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa triệt để được con người thải vào môi trường gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội luôn đi đôi với việc quan tâm tới vấn đề rác thải, góp phần cải thiện môi trường sống trong sạch, lành mạnh

Ở Việt Nam, nền kinh tế đang trên đà phát triển đời sống của người dân càng được nâng cao, lượng rác thải phát sinh càng nhiều Bên cạnh đó thì hệ thống quản lý thu gom chất thải rắn chưa thực sự có hiệu quả gây ra tình trạng

ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở nhiều nơi Hiện nay, chỉ ở các trung tâm lớn như ở thành phố, thị xã mới có công ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, còn tại các vùng nông thôn hầu như chưa

có biện pháp thu gom và xử lý rác thải hữu hiệu

Cao Bằng một mảnh đất anh hùng, vùng đất của cách mạng đang từng ngày đổi mới trong tiến trình CNH - HĐH đất nước nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng, sự đổi mới phương thức quản lý và chính sách đầu tư kinh tế

đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các khu công nghiệp, khu chế xuất mới, với

Trang 12

nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ Sự phát triển về kinh tế một mặt đã tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân, giúp cải thiện mức sống, chất lượng cuộc sống của những đứa con vùng kháng chiến năm xưa được nâng lên từng bước, mặt khác đây cũng là nguy cơ làm suy giảm chất lượng môi trường và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Đòi hỏi cần có

sự quản lý phù hợp và sự chung tay giữa cơ quan quản lý và toàn thể nhân dân trong lĩnh vực BVMT đảm bảo cho một môi trương sống Xanh - Sạch - Đẹp Một trong những nhân tố gây ô nhiễm môi trường đáng phải quan tâm

đó là hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người Hiện nay do điều kiện kinh tế còn hạn hẹp nên tỉnh chưa đầu tư được dây truyền công nghệ để xử lý triệt để các loại rác thải, chủ yếu sử dụng phương pháp xử lý thủ công nên vẫn còn gây ra các tác động xấu tới môi trường Vì vậy, việc đánh giá hiện trạng quản lý và biện pháp giảm thiểu các tác động xấu của rác thải sinh hoạt

là vấn đề đang được các cấp chính quyền quan tâm

Từ những lý do trên đây, cùng với sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường và dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Hoàng Quý

Nhân, em tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá tình hình thu gom và xử lý

rác thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Băng”

1.2 Mục tiêu của đề tài

Khóa luận đặt ra các mục tiêu chính sau:

- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của thành phố Cao Bằng nói chung, phường Hợp Giang nói riêng

- Đánh giá hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

- Đánh giá hiểu biết và hành vi của người dân về công tác thu gom, xử lý

và phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

- Đề xuất các biện pháp hiệu quả trong việc thu gom và xử lý rác (CTR)

Trang 13

phù hợp với điều kiện của tỉnh để đạt hiệu quả cao nhất góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Thông qua những khía cạnh nghiên cứu việc thực hiện đề tài nhằm thu thập những thông tin định tính và định lượng về hiểu biết và hành vi của người dân về công tác thu gom, xử lý và phân loại chất thải rắn sinh hoạt Đóng góp một phần nào đó cho hệ thống lí luận và phương pháp luận về hiểu biết và hành vi trong công tác thu gom, xử lý và phân loại chất thải rắn sinh

hoạt của người dân đối với môi trường

- Thông qua việc xử lý và phân tích dựa trên số liệu thu thập được cho thấy thực trạng việc thu gom, xử lý và phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân hiện nay Từ đó phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của người dân trong việc thu gom, xử lý và phân loại chất thải rắn sinh hoạt Cho thấy được ý thức cộng đồng của người dân hiện nay qua việc hiểu biết và hành vi của người dân về công tác thu gom, xử lý và phân loại

chất thải rắn sinh hoạt nói chung

- Thông qua các số liệu đã thu thập được giúp cho người dân nói chung

và các cơ quan nhà nước nói riêng có những chỉnh đốn kịp thời phù hợp hoàn cảnh đất nước hiện nay

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Đề tài mang tính chất thăm dò hiểu biết và hành vi của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường thông qua việc thu gom, xử lý chất thải rắn sinh

hoạt hàng ngày và qua công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt

- Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu

vấn đề này sâu hơn và cho các sinh viên khoá sau

- Qua đề tài em cũng đề ra những biện pháp giúp địa phương tham khảo

Trang 14

trong việc quản lý và hướng dẫn người dân trong việc thu gom, xử lý và phân

loại chất thải rắn sinh hoạt

- Qua đó cũng đề xuất một số khuyến nghị để địa phương tạo điều kiện

và cung cấp một số kiến thức về môi trường giúp cho người dân nâng cao

nhận thức, có trách nhiệm với môi trường qua những hành động cụ thể

Trang 15

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở pháp lý

- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cam kết bảo

vệ môi trường (CKBVMT) ban hành ngày 18/04/2011 và có hiệu lực thi hành

Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cam kết bảo

vệ môi trường (CKBVMT) ban hành ngày 18/04/2011 và có hiệu lực thi hành

kể từ ngày 05 tháng 6 năm 2011

- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/07/2011 của Bộ tài nguyên

và môi trường về việc quy định chi tiết số điều của nghị định số 29/2011/NĐ-

CP ngày 18/04/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá tác động chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường

- Quyết định số 798/QĐ-TTg ngày 25/05/2011 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 do Thủ tướng chính phủ ban hành

Trang 16

- Căn cứ Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ

- Quyết định số 39/2018/QĐ-UBND ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, về quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

2.2 Cơ sở lý luận

2.2.1 Khái niệm môi trường và chất thải rắn sinh hoạt

2.2.1.1 Khái niệm môi trường

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh

con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [7]

2.2.1.2 Tiêu chuẩn môi trường

Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường [7]

2.2.1.3 Khái niệm chất thải

Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh

hoạt hoặc hoạt động khác [7]

2.2.1.4 Khái niệm về chất thải rắn

Chất thải rắn là toàn bộ các loại tạp chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, cá

hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của công đồng [6]

2.2.1.5 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật Rác phát sinh từ các hộ

Trang 17

gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải…[6].

Trong đó, rác sinh hoạt chiếm tỉ lệ cao nhất Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật Bất kỳ một hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng,… đều sinh ra một lượng rác đáng kể Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất Cho nên, rác sinh hoạt có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống

2.2.1.6 Khái niệm về quản lý chất thải rắn

Quản lý chất thải rắn là hoạt động của các tổ chức và cá nhân nhằm

giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường hay mỹ quan Các hoạt động đó liên quan đến việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải… Quản lý chất thải rắn cũng có thể góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải [11]

2.2.1.7 Thu gom chất thải rắn

Thuật ngữ thu gom tập trung (hay còn gọi là thu gom thứ cấp) bao hàm không chỉ việc thu gom nhặt các chất thải rắn từ những nguồn khác nhau mà còn cả việc chuyên chở các chất thải đó tới địa điểm tiêu huỷ Việc dỡ đổ các

xe rác cũng được coi là một phần của hoạt động thu gom thứ cấp Như vậy thu gom thứ cấp là cách thu gom các loại chất thải rắn từ các điểm thu gom chung (điểm cẩu rác) trước khi vận chuyển chúng theo từng phần hoặc cả tuyến thu gom đến một trạm trung chuyển, một cơ sở xử lý hay bãi chôn lấp bằng các loại phương tiện chuyên dụng có động cơ [8]

2.2.2 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Theo điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 nghị định về

Trang 18

Hoạt động công nghiệp, nông nghiệp

Khu công cộng (nhà ga, )

Khu xây dựng

và phá hủy công trình xây dựng

Cơ quan công sở

Khu thương mại, khách sạn

Khu

dân cư

CTRSH

quản lý chất thải và phế liệu[12]:

Chất thải rắn sinh hoạt được phân loại tại nguồn phù hợp với mục đích quản lý, xử lý thành các nhóm như sau:

- Nhóm hữu cơ dễ phân hủy (nhóm thức ăn thừa, lá cây, rau, củ, quả, xác động vật);

- Nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế (nhóm giấy, nhựa, kim loại, cao

su, ni lông, thủy tinh);

- Nhóm còn lại

2.2.3 Nguồn gốc - phát sinh chât thải rắn sinh hoạt

Rác thải được phát sinh từ các nguồn khác nhau, tùy thuộc vào các hoạt động mà rác được phân chia thành các loại như sơ đồ:

Hình 2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Qua sơ đồ ta thấy chất thải rắn sinh hoạt được thải ra từ nhiều hoạt động khác nhau như: các khu dân cư, khu thương mại, cơ quan công sở, các hoạt động công nông nghiệp, tuy nhiên hàm lượng và thành phần rác thải ở các khu vực là khác nhau, trong số đó rác thải sinh hoạt chiếm đa số

2.2.4 Thành phần và tính của chất thải rắn sinh hoạt

Theo đánh giá của những nhà nghiên cứu và khoa học thì chất thải rắn

Trang 19

sinh hoạt chủ yếu chứa các chất hữu cơ khá cao tiếp đó là các chất vô cơ Thành phần cụ thể được thể hiện như bảng 2.1:

Bảng 2.1 Thành phần và định nghĩa chất thải rắn sinh hoạt

1 Các chất cháy được

a Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và

giấy Các túi giấy, mảnh bìa, giấy vệ sinh…

b Hàng dệt Có nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon…

c Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm Cọng rau, vỏ quả, thân

cây, lõi ngô…

d Cỏ, gỗ củi, rơm rạ Các vật liệu và sản phẩm được

chế tạo từ gỗ, tre, rơm…

Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế, đồ chơi, vỏ dừa…

e Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm được

chế tạo từ chất dẻo

Phim cuộn, túi chất dẻo, chai, lọ Chất dẻo, các đầu vòi, dây điện…

f Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm đượcchế

tạo từ da và cao su

Bóng, giày, ví, băng cao su…

2 Các chất không cháy

a Các kim loại sắt Các vật liệu và sản phẩm được

chế tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút

Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ…

b Các kim loại phi sắt Các vật liệu không bị nam

châm hút

Vỏ nhôm, giấy bao gói,

đồ đựng…

c Thuỷ tinh Các vật liệu và sản phẩm được

chế tạo từ thuỷ tinh

Chai lọ, đồ đựng bằng thuỷ

tinh, bóng đèn…

d Đá và sành sứ Bất kỳ các loại vật liệu không

cháy khác ngoài kim loại và thuỷ tinh

Đá cuội, cát, đất, tóc…

2.2.5 Tác hại của rác thải sinh hoạt tới môi trường và cộng đồng

2.2.5.1 Tác hại của chất thải rắn tới sức khỏe con người

Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng đến sức

Trang 20

khỏe của con người và môi trường là các chất hữu cơ bền Những hợp chất này vô cùng bền vững, tồn tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nước mô mỡ của động vật gây ra hàng loạt các bệnh nguy hiểm đối với con người, phổ biến nhất là ung thư Đặc biệt, các chất hữu cơ trên được tận dụng nhiều trong trong đời sống hàng ngày của con người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị điện trong gia đình, các thiết bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong truyền nhiệt Theo đánh giá của các chuyên gia, các loại chất thải nguy hại ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm môi trường do chất thải rắn cũng đã đến mức báo động

Hiện kết quả phân tích mẫu đất, nước, không khí đều tìm thấy sự tồn tại của các hợp chất hữu cơ trên Cho đến nay, tác hại nghiêm trọng của chúng đã thể hiện rõ qua những hình ảnh các em bé bị dị dạng, số lượng những bệnh nhân bị bệnh tim mạch, rối loạn thần kinh, bệnh đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da Do chất thải rắn gây ra và đặc biệt là những căn bệnh ung thư ngày càng gia tăng mà việc chuẩn đoán cũng như xác định phương pháp điều trị rất khó khăn Điều đáng lo ngại là hầu hết các chất thải rắn nguy hại đều rất khó phân hủy Nếu nhiệt độ lò đốt không đạt từ 800oC trở lên thì các chất này không phân hủy hết Ngoài ra, sau khi đốt, chất thải cần được làm lạnh nhanh, nếu không các chất lại tiếp tục liên kết với nhau tạo ra chất hữu cơ bền, thậm chí còn sinh ra khí dioxin cực độc thoát vào môi trường [13]

2.2.5.2 Tác hại của chất thải rắn tới môi trường

Hiện nay do khối lượng rác thải phát sinh với một lượng quá lớn, ở các địa phương công tác thu gom xử lý và tiêu hủy đã và đang vượt quá năng lực Điều này là nguyên nhân chủ yếu tác động xấu đến môi trường đất, nước,

Trang 21

không khí và sức khỏe cộng đồng

Ảnh hưởng trực tiếp của rác thải trước hết là môi trường và sức khỏe cộng đồng Các bãi tập trung rác không những là những nơi gây ô nhiễm mà còn là các ổ dịch bệnh, nơi ruồi muỗi và các vi sinh vật gây bệnh sinh sôi phát triển ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của người dân, là mối nguy hại cho sự tồn tại, phát triển và bền vững của cộng đồng dân cư trong vùng

Trong thành phần rác thải chứa nhiều chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi trường thì các chất độc xâm nhập vào trong đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: Giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch, nhái làm cho môi trường đất bị giảm đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng

- Tác hại của chất thải rắn tới môi trường nước:

- Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân,

nước làm lạnh tro xỉ, làm ô nhiễm nước ngầm

- Nước chảy khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, chảy vào các mương, rãnh, ao, hồ, sông, suối làm ô nhiễm nước mặt

Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu

cơ, các muối vô cơ hoà tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần

- Tác hại của chất thải rắn tới môi trường không khí: :

- Rác thải hữu cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4, CO2,

NH3, gây ô nhiễm môi trường không khí

- Khí thoát ra từ các hố hoặc chất làm phân, chất thải chôn lấp chứa rác chứa CH4, H2S, CO2, NH3, các khí độc hại hữu cơ

- Khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng, các chất độc lẫn trong rác

- Tác hại của chất thải rắn đối với môi trường đất: Đất bị ô nhiễm bởi

các nguyên nhân chủ yếu sau:

Trang 22

+ Do thải vào đất một khối lượng lớn chất thải công nghiệp như xỉ than, khai kháng, hóa chất… Các chất ô nhiễm không khí lắng đọng trên bề mặt sẽ gây ô nhiễm đất, tác động đến các hệ sinh thái đất

+ Do thải ra mặt đất những rác thải sinh hoạt, các chất thải của quá trình

xử lý nước

+ Do dùng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý các mầm bệnh

ký sinh trùng, vi khuẩn đường ruột… đã gây ra các bệnh truyền từ đất cho cây sau đó sang người và động vật…

- Chất thải rắn vứt bừa bãi ra đất hoặc chôn lấp vào đất chứa các chất hữu cơ khó phân huỷ làm thay đổi pH của đất

- Rác còn là nơi sinh sống của các loài côn trùng, gặm nhấm, vi khuẩn, nấm mốc những loài này di động mang các vi trùng gây bệnh truyền nhiễm cộng đồng

- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp khi đưa vào môi trường đất sẽ làm thay đổi thành phần cấp hạt, tăng

độ chặt, giảm tính thấm nước, giảm lượng mùn, làm mất cân bằng dinh dưỡng làm cho đất bị chai cứng không còn khả năng sản xuất.Tóm lại rác thải sinh hoạt là nguyên nhân gây ô nhiễm đất

- Chất thải rắn làm giảm mỹ quan đô thị:

Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý sẽ làm giảm mỹ quan đô thị Nguyên nhân của hiện tượng này là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh hở vẫn còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nước và ngập úng khi mưa

Đống rác là nơi sinh sống và cư trú của nhiều loài côn trùng gây bệnh:

Việt Nam đang đối mặt nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm, gây dịch nguy hiểm do môi trường đang bị ô nhiễm cả đất, nước và không khí

Trang 23

Chất thải rắn đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng, nghiêm trọng nhất là đối với dân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm chất thải rắn đã đến mức báo động Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch

tả, thương hàn,…do loại chất thải rắn gây ra Hậu quả của tình trạng rác thải sinh hoạt đổ bừa bãi ở các gốc cây, đầu đường, góc hẻm, các dòng sông, lòng

hồ hoặc rác thải lộ thiên mà không được xử lý, đây sẽ là nơi nuôi dưỡng ruồi nhặng, chuột,… là nguyên nhân lây truyền mầm bệnh, gây mất mỹ quan môi trường xung quanh Rác thải hữu cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4, CO2, NH3, gây ô nhiễm môi trường không khí Nước thải ra từ các bãi rác ngấm xuống đất, nước mặt và đặc biệt là nguồn nước ngầm gây ô nhiễm nghiêm trọng Các bãi chôn lấp rác còn là nơi phát sinh các bệnh truyền nhiễm như tả, lỵ, thương hàn Còn đối với loại hình công việc tiếp xúc trực tiếp với các loại chất thải rắn, bùn cặn (kim loại nặng, hữu cơ tổng hợp, thuốc bảo vệ thực vật, chứa vi sinh vật gây hại ) sẽ gây nguy hại cho da hoặc qua đường hô hấp gây các bệnh về đường hô hấp Một số chất còn thấm qua

mô mỡ đi vào cơ thể gây tổn thương, rối loạn chức năng, suy nhược cơ thể, gây ung thư…[13].

2.3 Tổng quan về rác thải trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tổng quan rác thải trên Thế Giới

- Trong bối cảnh đô thị hóa và tình trạng bùng nổ dân số gia tăng thì rác

thải đã trở thành một vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng trên thế giới Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới đầu năm 2017 tại Thụy Sỹ, đại diện các

Quốc gia đã đưa ra các giải pháp cho vấn đề này

Năm 1900, đã có khoảng 220 triệu người sống ở các thành phố, phát sinh

ra ít nhất 300.000 tấn chất thải rắn, bao gồm rác thực phẩm, bao bì và các vật dụng gia đình khác Một trăm năm sau, hơn 2,9 tỷ người sống ở các thành phố

Trang 24

và tạo ra hơn 3 triệu tấn rác thải mỗi ngày

Mối đe doạ do quản lý chất thải kém đặc biệt thể hiện rõ ở các quốc gia

có thu nhập thấp, nơi tỷ lệ thu gom rác thường dưới 50% Các đống rác dọc

bờ sông, khói dày đặc từ việc đốt rác, chất thải độc hại, hơi cay, ruồi muỗi và các loài gặm nhấm tràn lan là một trong những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, việc tăng dân số tự nhiên, việc di cư dân số về các

đô thị, đô thị hóa và phát triển kinh tế cũng làm cho lượng chất thải đang ngày càng trở nên quá tải đối với các hệ thống quản lý Trong báo cáo “Đánh giá toàn cầu về quản lý chất thải rắn” năm 2012, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, khối lượng rác thải ngày càng lớn của cư dân đô thị đang là một thách thức lớn không kém gì tình trạng biến đổi khí hậu, và chi phí xử lý rác thải sẽ

là gánh nặng đối với các quốc gia nghèo khó, đặc biệt là ở châu Phi

Ở nhiều nước đang phát triển, quản lý chất thải rắn có thể tiêu tốn 50% ngân sách Các quốc gia đang trên đà chuyển đổi từ tình trạng thu nhập thấp đến trung bình cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, không có cấu trúc thuế hoặc phí nào để duy trì các chương trình chất thải rắn và người dân thường sử dụng các bãi đất trống tự do để xả rác Các chuyên gia WB cũng cảnh báo, lượng chất thải rắn toàn cầu đang tăng lên 70% vào năm 2025, tăng từ hơn 3,5 triệu tấn mỗi ngày trong năm 2010, lên hơn 6 triệu tấn mỗi ngày vào năm

20-2025 Chất thải độc hại từ các thành phố đã đủ để lấp đầy một dòng xe chở hàng dài 5.000 cây số mỗi ngày Chi phí toàn cầu cho việc đối phó với tất cả những thùng rác đó cũng tăng lên: từ 205 tỷ USD mỗi năm trong năm 2010 lên 375 tỷ USD vào năm 2025, mức tăng chi phí mạnh nhất ở các nước đang phát triển

Tháng 9/2015, Hiệp hội Chất thải rắn quốc tế (ISWA) công bố báo cáo nêu bật “tình trạng khẩn cấp toàn cầu” ảnh hưởng đến hàng chục triệu người ở các nước đang phát triển khi thiếu cơ sở hạ tầng vệ sinh Báo cáo chỉ ra các

Trang 25

vấn đề liên quan đến rác thải ở các nước đang phát triển là do những vấn đề chưa từng có trước đây, như: sự tích tụ không được kiểm soát của các thiết bị điện tử, điện thoại di động, rác thải thực phẩm và rác thải y tế Báo cáo cũng cho thấy, khoảng 40% lượng chất thải trên thế giới đã được xử lý triệt để, phục vụ cho khoảng 3,5-4 tỷ người, đồng thời cũng kêu gọi một liên minh toàn cầu cùng phối hợp và có những hành động tích cực để giải quyết vấn đề rác thải trên toàn thế giới

Rác thải gây ra rất nhiều vấn đề, như: mùi khó chịu, vi trùng gây bệnh, điều kiện sinh hoạt mất vệ sinh Rác thải không được thu gom, tồn đọng, lâu ngày sẽ sinh ra các tác nhân tác động đến sức khoẻ con người Nghiêm trọng hơn nó thải vào nước, đất và không khí những hóa chất rất độc hại dù được xử

lý bằng cách chôn lấp hay đốt, gây ra tình trạng ô nhiễm trầm trọng Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) các loại chất thải ô nhiễm có thể

là nguyên nhân gây bệnh hen suyễn, dị ứng, bệnh đường hô hấp, tim mạch và đặc biệt là ung thư WHO và WB ước tính hơn 2 triệu người tử vong mỗi năm

do hít phải không khí bị ô nhiễm trong nhà và ngoài trời, đồng thời có khoảng

40 triệu trẻ em mắc các bệnh liên quan đến rác thải 23% số ca tử vong ở các nước đang phát triển có nguyên nhân từ các yếu tố môi trường, bao gồm ô nhiễm và các yếu tố rủi ro môi trường liên quan đến hơn 80% các bệnh thường gặp Rác thải nhựa trên các đại dương hiện nay đã ở mức báo động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh vật biển: thiếu dưỡng khí, phá hủy hệ sinh thái, tàn phá môi trường, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người khi sử dụng các nguồn tài nguyên từ biển Theo một nghiên cứu của Tổ chức Greenpeace, thì đại dương trên khắp thế giới cũng đã trở thành một bãi rác khổng lồ với gần 6,5 triệu tấn rác thải chứa trong nó

Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới tháng 1/2017 tại Thụy Sĩ đã đưa ra nhận định, nếu không có hành động khẩn cấp, đến năm 2050, các đại dương

Trang 26

bị ô nhiễm nặng nề của trái đất sẽ có nhiều rác thải nhựa hơn cả cá Khoảng 40% tổng lượng rác thải của thế giới đổ tại các “địa điểm mở” không được kiểm soát như bờ sông hoặc các dải bờ biển

Chất thải nhựa do có khối lượng nhẹ nên chúng nổi trên mặt nước biển

và bị phân tán trên toàn cầu, từ châu lục này đến châu lục khác theo sóng biển Nó tồn tại dai dẳng trong môi trường và hầu như không chịu bất cứ thay đổi sinh học nào do tính chất khó phân hủy Theo ước tính của các nhà nghiên cứu, có ít nhất 5,250 tỷ mảnh nhựa với trọng lượng khoảng 268,940 tấn đang trôi nổi trên các đại dương của thế giới Điều này có nghĩa số lượng rác thải hiện nay gấp 48 lần trữ lượng nhựa của con người từng có trong lịch sử thế giới Hay nói cách khác, nếu chúng ta lấy tất cả nhựa ra khỏi đại dương và chia đều thì mỗi người sẽ nhận ít nhất 48 mảnh nhựa

Hiện khoảng 20% sản phẩm nhựa trên thế giới có thể được tái sử dụng và khoảng 50% có thể được tái chế với chi phí thấp Tuy nhiên, nếu không có những thay đổi “căn bản” về thiết kế và sản xuất, thì 30% sản phẩm nhựa còn lại

sẽ không bao giờ được tái chế, và sẽ bị chôn vào đất, đổ ra biển hoặc tiêu hủy Một nghiên cứu mới đây của APEC ước tính, các nước thành viên của tổ chức này hàng năm phải chi trả tới 1,3 tỷ USD để xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường biển Hơn nữa, cũng theo báo cáo của APEC, hàng năm thế giới phải tiêu tốn số tiền từ 80 tỷ USD đến 120 tỷ USD cho việc sản xuất bao bì bằng nhựa Các chuyên gia của WB cũng kêu gọi các nhà hoạch định chính sách trên thế giới đưa ra các kế hoạch xử lý và tái chế rác thải nhằm hạn chế các khí gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời tăng cường xử lý chất thải rắn, đặc biệt là ở các thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh và các quốc gia thu nhập thấp

Hiện nay, nhiều thành phố đã và đang tìm kiếm, áp dụng các chính sách hiệu quả để giúp giảm thiểu lãng phí và tiêu dùng Rác thải có lúc thậm chí còn được coi là một nguồn nhiên liệu đầy tiềm năng khi những công nghệ

Trang 27

mới có thể chế biến chúng thành phân bón, hóa chất hay năng lượng đang được phát triển Một số thành phố đã đặt ra các ví dụ tích cực trong việc giảm thiểu lượng chất thải San Francisco (Mỹ) có một mục tiêu đầy tham vọng là

“không thải” vào năm 2020 với việc tái chế tích cực Khoảng 55% chất thải được tái chế hoặc tái sử dụng hiện nay tại thành phố này

Indonesia là một trong những quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng rác thải trầm trọng Năm ngoái, nước này thải ra đến

65 triệu tấn rác Hiện nay, Indonesia đang đặt mục tiêu giảm 22% lượng rác thải mỗi năm Giải pháp là thành lập thêm các ngân hàng rác thải, nơi người dân được khuyến khích mang rác thải đã phân loại đến để đổi lấy những khoản tiền trang trải cho cuộc sống Bên cạnh đó, Indonesia tích cực tham gia các diễn đàn toàn cầu và khu vực nhằm nâng cao nhận thức của người dân về những tác hại do rác thải nhựa gây ra đối với các đại dương; đẩy mạnh công tác tuyên truyền và có biện pháp ngăn chặn việc người dân đổ các loại rác thải nhựa xuống biển Hàng năm, Ấn Độ phát sinh ra gần 6,4 triệu tấn rác thải nguy hại, trong đó 3,09 triệu tấn có thể tái chế được, 0,41 triệu tấn có thể thiêu hủy và 2,73 triệu tấn sẽ phải đổ ra bãi chứa rác thải Việc sử dụng các nhiên liệu thay thế hoặc các nhiên liệu tái chế từ rác thải (Refuse derived fuels

- RDF) là một việc làm thông thường trong ngành công nghiệp xi măng Ấn

Độ Nhà máy sản xuất RDF đầu tiên đã được xây dựng trong năm 2006 bởi Grasim Industries Kể từ đó đến nay, Chính phủ Ấn Độ đã cấp phép cho 22 nhà máy xi măng để xây dựng các nhà máy sản xuất RDF tương tự Hầu hết rác thải có các đặc tính phù hợp cho việc tận dụng làm nguyên liệu nguồn, hoặc cho việc khôi phục năng lượng, hoặc các nguyên liệu như kim loại hoặc

sử dụng chúng trong ngành xây dựng, chế tạo các sản phẩm cấp thấp hoặc cho khôi phục lại chính sản phẩm đó, mà sau khi xử lý có thể được sử dụng như là một nguyên liệu nguồn

Trang 28

Úc là một trong những quốc gia thải rác nhiều nhất thế giới Nhiều trung tâm đô thị lớn ở mước này đã được mở rộng để phù hợp với tiêu chuẩn sống cao hơn của người dân Do đó, hệ thống xử lý rác thải cũng được yêu cầu cao hơn Những biện pháp xử lý rác thải bền vững đã được tìm kiếm và áp dụng Đối với chất thải rắn như rác sinh hoạt, sản phẩm công nghiệp được xử lý tại các bãi chôn lấp Đối với nước thải từ các hộ gia đình như nước rửa chén, chấy tẩy rửa xe đều được phân loại như chất thải lỏng và xử lý bằng hệ thống tái chế nước thải sinh hoạt

Ngoài ra, nhiều chính sách pháp luật cũng đã được đưa ra, như việc một

số quốc gia đã áp dụng biện pháp đánh thuế để giảm thiểu rác thải biển như Nam Phi, Israel áp thuế đối với túi nhựa; Bỉ đánh thuế đối với màng nhựa và dụng cụ ăn uống dùng một lần; Đan Mạch đánh thuế nhựa đối với túi và vật liệu đóng gói cũng như thuế đổ rác ở bãi rác hoặc đốt rác Bên cạnh một số quy định về kiểm soát hàng hóa trong sản xuất và sử dụng, một số nước có chính sách theo hướng tiếp cận tổng thể để giải quyết vấn đề rác thải biển như Nhật Bản đã ban hành riêng một luật về rác thải biển - Luật Khuyến khích xử

lý rác thải biển, Hàn Quốc ban hành Luật Quản lý môi trường biển, trong đó yêu cầu xây dựng Kế hoạch tổng thể quản lý rác thải biển Một số giải pháp khác cũng đã được thực hiện tại một số quốc gia như thu mua rác thải nhựa từ ngư dân, hay cung cấp túi rác và lắp đặt nơi đổ rác cho tàu thuyền…

Trong khi đó, Pháp đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới ngăn cấm rác thải thực phẩm siêu thị và yêu cầu các nhà bán lẻ quy mô lớn hiến tặng số lượng thực phẩm còn sót lại Luật này được thông qua vào năm ngoái, đánh dấu pháp luật đầu tiên thuộc loại hình này trong nỗ lực toàn cầu nhằm giảm chất thải thực phẩm Các nước khác như Đan Mạch, Đức, Anh và Hoa Kỳ cũng đang tham gia vào cuộc chạy đua không có chất thải thực phẩm, thực hiện các chiến lược ngăn ngừa chất thải và nâng cao kiến thức cho người tiêu

Trang 29

dùng về môi trường khi xử lý phế liệu Bằng cách điều chỉnh nhận thức về thực phẩm còn sót lại và phải làm gì với nó, những thay đổi sẽ khiến con người có thể sản xuất lượng khí thải carbon thấp hơn từ chất thải hữu cơ [10]

2.3.2 Tổng quan rác thải ở Việt Nam

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2016,cả nước thu gom được trên 33.167 tấn CTR, trong đó tổng lượng CTR thông thường thu gom được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng đạt khoảng 27.067 tấn (chiếm

tỷ lệ 81%) Như vậy, vẫn còn khoảng 5.100 tấn CTR được thu gom nhưng chưa được xử lý theo quy định, chưa kể lượng lớn CTR chưa được thu gom,

đã và đang gây ô nhiễm môi trường

Chất thải rắn sinh hoạt:Trong các nguồn phát sinh CTR, lượng CTR sinh

hoạt đô thị tăng nhanh theo quy mô dân số đô thị Ước tính lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 ÷ 16 % mỗi năm Lượng CTR sinh hoạt đô thị tăng mạnh ở các đô thị lớn như TP Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, nơi có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa tăng nhanh, chiếm tới 45,24%, tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị lớn trên cả nước; Tỷ lệ CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%) Tại khu vực nông thôn, lượng CTR sinh hoạt phát sinh trung bình khoảng 0,33 kg/người/ngày Vùng đồng bằng sông Hồng và Cửu Long là 0,4 kg/người/ngày, thấp nhất là vùng núi phía Bắc (0,2 kg/người/ngày) Đến nay, số lượng CTR sinh hoạt nông thôn hiện chưa được thống kê đầy đủ do công tác quản lý CTR sinh hoạt nông thôn còn hạn chế

Mặc dù, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt vẫn tăng hàng năm, nhưng do lượng CTR phát sinh lớn, năng lực thu gom còn hạn chế, cùng với ý thức cộng đồng chưa cao nên tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu Tổng khối lượng CTR sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý năm 2016 là 33.100 tấn/ngày

Trang 30

(đạt85,5%) Lượng CTR sinh hoạt được thu gom tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 đạt khoảng 90% Công tác phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn đã được thực hiện thí điểm ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh,

Đà Nẵng từ nhiều năm trước, đến nay TP Hồ Chí Minh đã tiến hành nhân rộng triển khai tại các quận nội thành

Công tác thu gom CTR tại nông thôn cũng đã được chú trọng trong những năm gần đây, tuy nhiên, cũng chủ yếu tập trung ở các khu vực nông thôn vùng đồng bằng Khu vực miền núi, do tập quán sinh hoạt, rác thải sinh hoạt phần lớn vẫn được các hộ dân tự thu gom và xử lý tại nhà (đổ ra vườn) Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ, trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40 - 55% Theo báo cáo của Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng, tính đến tháng 11/2016, cả nước có khoảng 35 nhà máy xử lý CTR tập trung tại các đô thị được đầu tư xây dựng

và đi vào vận hành Tổng công suất xử lý theo thiết kế khoảng 7.500 tấn/ngày

Số lượng lò đốt CTR sinh hoạt có khoảng 50 lò đốt, đa số là các lò đốt cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ Ngoài ra, cả nước có khoảng 660 bãi chôn lấp CTR sinh hoạt (chưa thống kê được đầy đủ các bãi chôn lấp nhỏ rải rác ở các xã) với tổng diện tích khoảng 4.900ha Tuy nhiên, trong đó chỉ có

203 bãi chôn lấp hợp vệ sinh Nhiều xã, đặc biệt các xã miền núi, chưa có các bãi rác tập trung, thiếu người và phương tiện chuyên chở rác, chủ yếu hình thành bãi rác tự phát, là nguồn gây ô nhiễm môi trường [5]

Theo “Báo cáo môi trường quốc gia năm 2017 về chất thải rắn” [2] của

Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, với sự hình thành, phát triển của các ngành nghề sản xuất, sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng, là động lực thúc đẩy phát

Trang 31

triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, đi kèm với đó là nỗi lo về môi trường, đặc biệt vấn đề chất thải rắn như chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải y tế, chất thải xây dựng, chất thải nguy hại, Việc thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn đã và đang trở thành một bài toán khó đối với các nhà quản lý tại hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Trong những năm qua, tốc độ phát triển dân số, đô thị hóa luôn gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam là quốc gia đang phát triển có mật

độ dân số đứng thứ 3 ở Đông Nam Á, thứ 14 trên thế giới Tính đến tháng 5/2017, cả nước đã có 802 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa 36,6% Tốc độ đô thị hóa cao đang bộc lộ nhiều bất cập, không chỉ ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng mà còn phát sinh các vấn đề môi trường

Nền kinh tế Việt Nam sau suy thoái kinh tế giai đoạn 2011 - 2013 đã có

sự phục hồi rõ nét, tuy nhiên tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào đầu tư, khai thác tài nguyên… Sự tăng trưởng các ngành kinh tế công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp và làng nghề, y tế và du lịch đã làm phát sinh chất thải ngày càng lớn (bao gồm cả CTR, nước thải, khí thải…) Đối với ngành công nghiệp, tính chung cả năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 7,85% Các hoạt động công nghiệp và xây dựng tập trung ở một số vùng kinh

tế trọng điểm đã đưa vào môi trường một khối lượng lớn chất thải Hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu tập trung ở khu vực phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên Với công nghệ còn lạc hậu, hoạt động khai thác khoáng sản đã

và đang gặp nhiều khó khăn để có thể kiểm soát và quản lý chất thải phát sinh Hoạt động phát triển năng lượng, điển hình là nhiệt điện và hoạt động sản xuất thép cũng làm phát sinh một lượng lớn khí thải, CTR và nước thải Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng các phương tiện giao thông với lượng tiêu

Trang 32

thụ nhiên liệu lớn là nguyên nhân chính phát sinh bụi, khí thải gây ô nhiễm môi trường không khí ở các đô thị lớn Ngành xây dựng cũng giữ vững nhịp tăng trưởng, 6 tháng đầu năm 2017 đạt 8,8%, cùng với đó lượng CTR xây dựng phát sinh ngày càng tăng Theo thống kê, mỗi năm ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm thải ra khoảng 75 - 85 triệu tấn chất thải Công tác xử lý chất thải chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản đang đứng trước nhiều thách thức Bên cạnh

đó, hoạt động của hơn 35 nghìn cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm, chế biến thủy hải sản cũng làm phát sinh một lượng lớn chất thải ra ngoài môi trường do việc đầu tư các hệ thống xử lý còn hạn chế Hoạt động của các làng nghề cũng tạo sức ép không nhỏ lên môi trường, chất thải tại hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý hiệu quả Công tác quản lý chất thải y tế đã được quan tâm đầu tư, tuy nhiên vẫn bộc lộ nhiều hạn chế Các vấn đề rác thải, nước thải

và vệ sinh môi trường phát sinh cũng gia tăng cùng với sự phát triển các hoạt động du lịch

Khối lượng CTR phát sinh đã tăng nhanh chóng về số lượng, với thành phần ngày càng phức tạp gây khó khăn cho công tác thu gom, xử lý

Đối với CTR sinh hoạt đô thị, lượng phát sinh phụ thuộc vào quy mô dân số đô thị Ước tính lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị trên toàn quốc tăng 10% - 16% mỗi năm, chiếm phần lớn trong tổng lượng CTR phát sinh ở các

đô thị Chỉ số phát sinh chất thải cũng gia tăng theo cấp độ đô thị, đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh… Công tác thu gom CTR đã được quan tâm, tuy nhiên do năng lực thu gom còn hạn chế, ý thức của người dân chưa cao, việc phân loại tại nguồn mới thực hiện thí điểm, chưa được áp dụng rộng rãi Tỷ lệ xử lý CTR đô thị cũng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế Đến tháng 11 năm 2016, cả nước có khoảng 35 nhà máy xử lý CTR tập trung tại các đô thị đi vào vận hành Phần lớn CTR thông thường vẫn được đổ thải và chôn lấp tại các bãi chôn lấp

Trang 33

Ở khu vực nông thôn, khối lượng CTR sinh hoạt gia tăng hằng năm ngày một cao, tuy nhiên, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40 - 55% Hiện nay đã có 05 công nghệ xử lý CTR đã được Bộ Xây dựng công nhận, gồm: 02 công nghệ ủ sinh học làm phân hữu cơ; công nghệ tạo viên nhiên liệu RDF; 02 công nghệ đốt (Công nghệ ENVIC và BD-ANPHA) Bên cạnh đó, 02 công nghệ xử lý nhập ngoại đang được áp dụng có hiệu quả ở Việt Nam là công nghệ tái chế CTR sinh hoạt thành than sạch và công nghệ đốt chất thải thu hồi năng lượng

Đối với CTR xây dựng, cùng với sự đô thị hóa và các công trình xây dựng tăng nhanh, lượng CTR xây dựng cũng gia tăng nhanh Với thành phần chủ yếu là đất cát, gạch vỡ, bê tông… chất thải xây dựng thường được chôn lấp cùng với CTR sinh hoạt Bộ Xây dựng đã có hướng dẫn về việc thu gom, tập trung CTR xây dựng nhằm giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường, song công tác xử lý vẫn gặp nhiều khó khăn

Lượng CTR công nghiệp thông thường phát sinh hàng năm khoảng 25 triệu tấn, đặc biệt là tại các khu vực có hoạt động công nghiệp phát triển mạnh như Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương CTR công nghiệp phát sinh từ các ngành như sản xuất giấy, nhiệt điện than, hóa chất, phân bón có các đặc thù riêng của từng ngành và có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây Trên

cả nước hiện còn thiếu các khu xử lý CTR công nghiệp, đặc biệt là khu xử lý chất thải tập trung quy mô lớn Đến tháng 10 năm 2017, mới chỉ có 473 doanh nghiệp làm dịch vụ xử lý CTR Việc tái chế, tái sử dụng CTR công nghiệp diễn ra khá phổ biến, chủ yếu là tự phát tại các cơ sở

Tổng lượng CTR y tế phát sinh tại các bệnh viện, cơ sở y tế vào khoảng

450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 47 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Theo Bộ

Y tế, 100% lượng CTR y tế (nguy hại, thông thường) phát sinh tại các bệnh viện, cơ sở y tế được phân loại, thu gom hàng ngày và thuê vận chuyển, xử lý

Trang 34

hoặc tự xử lý bằng các phương pháp khác nhau tại cơ sở y tế

Lượng CTR từ hoạt động nông nghiệp phát sinh ước tính khoảng hơn 14.000 tấn bao bì hóa chất BVTV, phân bón các loại, 76 triệu tấn rơm rạ và khoảng 47 triệu tấn chất thải chăn nuôi Trong đó, ước tính có khoảng 40 - 70% (tùy theo từng vùng) CTR chăn nuôi được xử lý, số còn lại thải trực tiếp thẳng ra ao, hồ, kênh, rạch

Bên cạnh đó, hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất hay nhập khẩu máy móc, thiết bị phương tiện đã qua sử dụng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với môi trường

Đối với CTNH, lượng phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 600 -

800 nghìn tấn/năm Tính đến tháng 10 năm 2017, toàn quốc có 108 cơ sở xử

lý CTNH đã được Bộ TN&MT cấp phép, tỷ lệ thu gom, xử lý đúng quy định đạt ít nhất 75% Đối với CTNH công nghiệp, hầu hết các chủ nguồn thải có lượng phát sinh CTNH lớn đều thực hiện thu gom và thuê đơn vị có chức năng xử lý Công tác xử lý chất thải y tế nguy hại đã được tăng cường đáng

kể, tuy nhiên vẫn chưa đồng đều tại các tỉnh, thành phố Mặc dù CTNH trong sinh hoạt phát sinh không nhiều song hầu hết bị thải lẫn với CTR sinh hoạt thông thường nên đây cũng là một nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng Công nghệ xử lý CTNH ở Việt Nam thời gian qua đã có sự chuyển biến rõ rệt Xu hướng tiêu hủy chất thải đang được thay thế bởi các công nghệ tái chế để tận dụng tài nguyên và BVMT Hiện có một số nhóm công nghệ xử lý CTNH đang được áp dụng phổ biến hiện nay như: nhóm công nghệ tái chế chất thải; nhóm công nghệ thiêu hủy; nhóm công nghệ chôn lấp; nhóm công nghệ hóa rắn và nhóm công nghệ xử lý khác

Bên cạnh đó, lượng bùn thải phát sinh cũng ngày càng tăng Hiện chưa

có số liệu thống kê đầy đủ về phát sinh bùn thải trên cả nước, chủ yếu tập trung là bùn thải từ bể tự hoại và bùn thải từ hệ thống thoát nước tại các đô

Trang 35

thị Hiện nay, phương thức xử lý bùn chủ yếu áp dụng tại các trạm XLNT đô thị Việt Nam là khử nước và chở đi chôn lấp Một số ít trạm xử lý có sản xuất phân vi sinh từ bùn sau khi làm khô và ổn định bùn bằng sân phơi bùn, sản xuất phân vi sinh sau khi làm khô bùn cơ học Đối với việc quản lý phân bùn

bể tự hoại, ở Việt Nam hiện nay chưa có cơ chế quản lý phân bùn hiệu quả Công tác quản lý, xử lý CTR ở nước ta thời gian qua chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải còn chưa thực sự được chú trọng Điều này dẫn đến khối lượng CTR phải chôn lấp cao, tại một số khu vực, chất thải chôn lấp ở các bãi chôn lấp tạm, lộ thiên, đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động sản xuất của con người

Trang 36

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đánh giá tình hình thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm thực tập: Công ty TNHH đầu tư phát triển và Môi trường

Cao Bằng, phường Hợp Giang

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2019

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Khái quát điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

- Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

- Một số tồn tại và đề xuất giải pháp thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp như : Các số liệu về điều kiện

tự nhiên, kinh tế xã hội của phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

- Các số liệu thứ cấp thu thập từ Công ty TNHH đầu tư phát triển và Môi trường Cao Bằng

- Thu thập thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu qua sách, báo,

Trang 37

mạng internet

3.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra được xây dựng dưới hình thức

đặt câu hỏi trực tiếp với người dân có nội dung theo chủ đề: rác phát sinh từ

hộ gia đình, thành phần khối lượng rác thải sinh hoạt

- Phạm vi phỏng vấn : Phỏng vấn một số hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại phường Hợp Giang, tỉnh Cao Bằng

- Đối tượng phỏng vấn : Hộ gia đình cá nhân

- Hình thức phỏng vấn : Phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra tiến hành phỏng vấn điều tra 30 hộ gia đình, cá nhân theo tiêu chí ngẫu nhiên

3.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia

- Tham khảo ý kiến của thầy cô giáo, những người có liên quan tới lĩnh vực môi trường, ý kiến đóng góp cán bộ trực tiếp quản lý về rác thải sinh hoạt tại khu vực

3.4.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu

- Sử dụng phần mềm word, excel để tổng hợp, phân tích các số liệu đã thu thập được

Ngày đăng: 25/06/2020, 15:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w