1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện vị xuyên, tỉnh hà giang

70 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Rác sinh hoạt y tế RSHYT: Là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện:

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ THỊ TỊNH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

HUYỆN VỊ XUYÊN - HÀ GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Khoa học môi trường Khoa: Môi trường

Khóa học: 2017-2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ THỊ TỊNH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

HUYỆN VỊ XUYÊN - HÀ GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Khoa học môi trường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, để có thể hoàn thành đề tài “Đánh giá hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang” ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em

đã nhận được sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và người thân

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy

và hướng dẫn chúng em, cám ơn các thầy cô đã truyền đạt cho em kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập trên giảng đường đại học

Em xin gửi lời cám ơn đến tập thể cán bộ, nhân viên của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Hà Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ em nhiệt tình, chu đáo trong suốt quá trình thực tập tại đây

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Đặng Thị Hồng Phương người đã hướng dẫn, góp ý em tận tình, hết lòng giúp đỡ, động

viên em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp cũng như hoàn thành đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, trình độ nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Giang, ngày 09 tháng 06 năm 2019

Sinh viên

Hà Thị Tịnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Phân nhóm chất thải y tế 5

Bảng 2.2: Lượng chất thải phát sinh tại các nước theo tuyến bệnh viện 8

Bảng 2.3: Lượng rác thải phát sinh tại Việt Nam theo các tuyến 9

Bảng 2.4: Lượng chất thải y tế tại các bệnh viện và các khoa trong bệnh viện tại Việt Nam 10

Bảng 2.5: Thành phần chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam 11

Bảng 2.6: Các kiểu lò đốt chất thải 13

Bảng 2.7: Nguy cơ mắc các bệnh khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da 17

Bảng 2.8: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các châu lục 19

Bảng 4.1: Tổng số nhân lực tại bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên 32

Bảng 4.2: Kết quả hoạt động và công tác khám chữa bệnh năm 2018 33

Bảng 4.3: Phân loại và xác định nguồn phát sinh chất thải 35

Bảng 4.4: Khối lượng chất thải phát sinh và phương pháp xử lý năm 2017 36 Bảng 4.5 : Khối lượng chất thải phát sinh và phương pháp xử lý năm 2018 38 Bảng 4.6: Tổng lượng CTR phát sinh từ tháng 5 đến tháng 11 và phương pháp xử lý 39

Bảng 4.7: Thu gom, vận chuyển và lưu trữ chất thải rắn y tế 42

Bảng 4.8 : Công tác phân loại, thu gom chất thải rắn tại bệnh viện 43

Bảng 4.9 : Kiến thức về mã màu sắc trong phân loại chất thải rắn y tế 44

Bảng 4.10: Công cụ thu gom chất thải rắn y tế tại bệnh viện 45

Bảng 4.11: Nhân lực quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện 46

Bảng 4.12: Mức độ hiểu biết của cán bộ bệnh viện về quy chế quản lý chất thải rắn y tế 47

Bảng 4.13: Lượng chất thải rắn trong kỳ báo cáo và phương pháp xử lý 48

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Nguồn phát sinh chất thải y tế bệnh viện 7

Hình: 4.1 Sơ đồ bệnh viện đa khoa huyện Vị Xuyên 29

Hình 4.2: Sơ đồ tổ chức bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên 30

Hình 4.3: Nguồn phát sinh chất thải rắn tại bệnh viện Đa khoa 34

Hình 4.4: Nhà lưu giữ rác thải y tế nguy hại 46

Hình 4.5: Quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý CTRYT 49

Hình 4.6: Sơ đồ lò đốt rác thải y tế LD40B 51

Hình 4.7: Hệ thống lò đốt CTYT 52

Hình 4.8: Hệ thống lò đốt CTYT 60

Hình 4.9: Hệ thống máy nghiền chất thải nguy hại 55

Trang 6

7 KHCN&MT : Khoa học công nghệ & Môi trường

8 NIOEH : Viện y học lao động và vệ sinh môi trường

9 QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

10 RSHYT : Rác sinh hoạt y tế

11 RYT : Rác y tế

13 TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

14 UBND : Ủy ban nhân dân

15 WHO : Tổ chức y tế thế giới

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa đề tài 2

1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Một số khái niệm 4

2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế 4

2.1.3 Nguồn gốc phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế 7

2.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế 10

2.1.5 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 12

2.1.6 Một số văn bản liên quan đến vấn đề chất thải rắn y tế 14

2.2 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng 15

2.2.1 Đối với môi trường 15

2.2.2 Đối với sức khỏe cộng đồng 16

2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 18

2.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 18

2.3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 20

PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

Trang 8

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.3.1 Giới thiệu khái quát về Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên – Hà Giang 27

3.3.2 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Vị Xuyên 27

3.3.3 Đề xuất các giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu 27

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 27

3.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa 28

3.4.3 Phương pháp so sánh, xử lý và phân tích số liệu 28

PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Giới thiệu khái quát về Bệnh viện đa khoa huyện Vị Xuyên – Hà Giang 29

4.1.1 Địa điểm, quy mô bệnh viện 29

4.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của bệnh viện Vị Xuyên 29

4.2 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Vị Xuyên 34

4.2.1 Nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện 34

4.2.2 Khối lượng chất thải phát sinh tại bệnh viện 36

4.2.3 Công tác phân loại và thu gom chất thải rắn y tế tại nguồn 40

4.3 Đề xuất giải pháp trong thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên 52

4.3.1 Nâng cao hệ thống quản lý hành chính 52

4.3.2 Nâng cao công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện 53

PHẦN 5.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Kiến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay, môi trường sống đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Điều đó trở thành mối quan tâm, lo lắng chung cho các quốc gia trên phạm vi toàn cầu Ô nhiễm môi trường làm giảm chất lượng cuộc sống của con người và làm biến đổi các đặc điểm của hệ sinh thái trên trái đất Xã hội ngày càng phát triển, công nghệ 4.0 ngày một hiện đại hóa dẫn đến nhiều thành tựu khoa học được phát minh và sáng chế để phục vụ cho nhu cầu của con người Nhưng mặt trái của sự phát triển lại là những mảng tối đáng buồn, một trong số đó là tình trạng

ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng: “Đó là các vấn đề mưa acid, hiệu ứng nhà kính, tầng ozon bị phá hủy, diện tích rừng bị giảm mạnh nhiều loài cây bị tuyệt diệt, rác thải thành tai họa, nước, đất bị cuốn trôi, tài nguyên nước bị cạn kiệt ” Hơn nữa dân số đã tăng lên nhanh chóng đặc biệt là các khu vực đô thị, các thành phố lớn Sự gia tăng dân số đã kéo theo việc sử dụng nước phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất, lượng nước thải, khói bụi và tiếng ồn ngày càng tăng Ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề đáng quan tâm Tất

cả những dấu hiệu trên đã gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của con người

Chính vì vậy, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe được hình thành, cùng với đó các bệnh viện, trung tâm y tế được xây dựng mới nhằm phục vụ nhu cầu khám và chữa bệnh ngày càng tăng cao

Bên cạnh công tác khám chữa bệnh ngày càng được chú trọng, vấn đề sức khỏe con người được quan tâm và đặt lên hàng đầu Ngành y tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ với trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của con người Nhưng song song với sự phát triển đó có nhiều vấn đề phát sinh và cần được quan tâm Xu thế sử dụng các sản phẩm

Trang 10

chỉ dùng một trong y tế càng khiến lượng chất thải rắn y tế phát sinh ngày càng tăng, trong đó có nhiều nhóm chất thải nguy hại đối với con người và môi trường xung quanh

Theo khảo sát của Bộ y tế vào năm 2009, có khoảng 33% các bệnh viện tuyến huyện và tỉnh không có hệ thống lò đốt chuyên dụng, phải xử lý chất thải

y tế nguy hại bằng lò đốt thủ công Khoảng 27% các cơ sở y tế tiến hành đốt chất thải ngoài trời hoặc chôn lấp tạm thời trong khu đất bệnh viện

Do đó vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện, trung tâm y tế hiện nay là vấn đề được toàn xã hội quan tâm Chất thải rắn y tế là một trong những chất thải nguy hại vào loại bậc nhất, việc quản lý và xử lý rất phức tạp và khó khăn Nếu không có các biện pháp quản lý hợp lý, xử lý không tốt thì đây sẽ là nguồn lây lan các mầm bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, gây ra những vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Từ những lí do trên mà đề tài: “Đánh giá hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Vị Xuyên – Hà Giang”_ được lựa chọn để thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên – Hà Giang Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải y tế, nâng cao chất lượng môi trường

1.3 Ý nghĩa đề tài

1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Vận dụng, phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế

- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu, học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế

- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này

Trang 11

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả của đề tài có thể sử dụng để đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm bảo vệ môi trường, thực thi pháp luật môi trường tại các bệnh viện

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Một số khái niệm

* Định nghĩa chất thải y tế

Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 quy định:

- Chất thải y tế (CTYT): Theo quy định về quản lý chất thải y tế của Bộ Y

tế ban hành, chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo, chất thải y

tế có thể ở dạng rắn, lỏng, khí

- Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH): Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy

hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ, phóng

xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải

này không được tiêu hủy an toàn (Nguồn: Bộ Y tế)[4]

Quản lý chất thải y tế (QLCTYT) là hoạt động quản lý việc phân loại, xử

lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiêu, tái sử dụng, tái chế, xử

lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra giám sát việc thực hiện

- Rác y tế (RYT): Là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải

dạng lỏng và khí, được thu gom và xử lý riêng

- Rác sinh hoạt y tế (RSHYT): Là chất thải không xếp vào chất thải nguy

hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện: giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ

2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế

2.1.2.1 Chất thải thông thường

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

Trang 13

- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nylon, túi đựng phim…

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

2.1.2.2 Chất thải lây nhiễm

Nhóm chất thải lây nhiễm được Bộ Y tế phân thành 4 nhóm loại chất thải theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, trong đó bao gồm:

Bảng 2.1: Phân nhóm chất thải y tế Phân

nhóm

Tên phân nhóm

đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh

Mô, cơ quan người: chân, tay, rau

thai, bào thai

(Nguồn: Bộ y tế - 2007 )[4]

Trang 14

- Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ…

- Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất

phóng xạ (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

2.1.2.4 Chất thải hóa học nguy hại

Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng…

Chất thải hóa học nguy hại gồm:

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

- Formaldehit: Đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó được sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác…

- Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa X_Quang

- Các dung môi: Các dung môi gồm các hợp chất của halogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi như halothane; các hợp chất không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat…

- Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…

Trang 15

- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu

- Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ), Cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ

trị) (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

2.1.2.5 Bình chứa áp xuất

Bao gồm bình đựng O2, CO2, bình gas, bình khí dùng 1 lần, xi ranh khí nén Các bình này dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng cách (Bộ Y tế, 2007) [4]

2.1.3 Nguồn gốc phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế

2.1.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

Toàn bộ chất thải rắn trong bệnh viện phát sinh từ các hoạt động diễn ra trong bệnh viện, bao gồm:

- Các hoạt động khám chữa bệnh như: chuẩn đoán, chăm sóc, xét nghiệm, điều trị bệnh, phẫu thuật,…

- Các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm trong bệnh viện

- Các hoạt động hàng ngày của nhân viên, bệnh nhân, thân nhân

Hình 2.1: Nguồn phát sinh chất thải y tế bệnh viện

Trang 16

2.1.3.2 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh

Hầu hết, các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khối lượng CTRYT phát sinh tại các nước thể hiện theo bảng sau:

Bảng 2.2: Lượng chất thải phát sinh tại các nước theo tuyến bệnh viện

(Đơn vị: Kg/Giường bệnh/ngày)

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải CTRYT nguy hại

Trang 17

Bảng 2.3: Lượng rác thải phát sinh tại Việt Nam theo các tuyến

Đơn vị: (kg/giường/ngày)

Bệnh viện chuyên khoa TW 0,23 - 0,29 0,28 - 0,35

Bệnh viện chuyên khoa tỉnh 0,17 - 0,29 0,21 - 0,35

Bệnh viện huyện, nghành 0,17 - 0,22 0,21 - 0,28

(Nguồn: Bộ Y tế, 2010)

Từ năm 2005 - 2010 lượng rác thải y tế phát sinh tại Việt Nam theo các tuyến bệnh viện tăng nhanh với số lượng lớn

- Bệnh viện đa khoa TW: tăng 0.07 kg/giường/ ngày

- Bệnh viện chuyên khoa TW: tăng 0,05 -0,06 kg/giường/ ngày

- Bệnh viện đa khoa tỉnh: tăng 0,06 kg/giường/ ngày

- Bệnh viện chuyên khoa tỉnh: tăng 0,04 - 0,06 kg/giường/ ngày

- Bệnh viện huyện, ngành: tăng 0,04 - 0,06 kg/giường/ ngày

Trang 18

Bảng 2.4: Lượng chất thải y tế tại các bệnh viện và các khoa trong bệnh

viện tại Việt Nam

Bệnh viện/ khoa

Tổng lượng chất thải y tế phát sinh (kg/giường/ngày)

Lượng chất thải nguy hại phát sinh (kg/giường/ngày)

BV

TW

BV cấp tỉnh

BV cấp huyện TB

BV

TW

BV cấp tỉnh

BV cấp huyện TB

Khám bệnh 0,97 0,88 0,73 0,86 0,16 0,14 0,11 0,14 Chăm sóc đặc biệt 1,08 0,27 1,00 1,11 0,30 0,31 0,18 0,26 Khoa dược 0,64 0,47 0,45 0,52 0,04 0,03 0,02 0,03 Trẻ em 0,50 0,41 0,45 0,45 0,04 0,05 0,02 0,04 Phẫu thuật 1,02 0,87 0,73 0,87 0,26 0,21 0,17 0,21 Phụ sản 0,82 0,95 0,73 0,83 0,21 0,22 0,17 0,20 Mắt - Tai 0,66 0,68 0,34 0,56 0,12 0,10 0,08 0,10 Cận lâm sàng 0,11 0,10 0,08 1,00 0,03 0,03 0,03 0,03

( Nguồn: Bộ Y tế,2009)[3]

Bảng 2.4 đã cung cấp thông tin về việc phát sinh CTYT tại các bệnh viện và các khoa thuộc bệnh viện trung ương, tỉnh và quận Do tổng số giường bệnh tại các bệnh viện đa khoa, chuyên ngành chiếm tới 150.000 giường bệnh nên lượng chất thải y tế từ các cơ sở này cũng chiếm tới 70% tổng lượng phát sinh Khối lượng CTYT mỗi ngày trong năm 2010 khoảng 380 tấn/ngày, trong

đó 45 tấn/ngày là CTYTNH

2.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế

* Thành phần vật lý:

+ Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…

+ Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…

+ Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm…

Trang 19

+ Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ…

+ Thành phần gồm các nguyên tố: C, H, O, N, S, Cl và một số phân tro

- Thành phần hữu cơ: Phần vật chất có thể bay hơi sau khi được nung ở nhiệt độ 950oC

- Thành phần vô cơ (tro) là phần tro còn lại sau khi nung rác ở 950oC

2 Thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa 3,2

Trang 20

Phương pháp này được áp dụng để khử trùng đối với chất thải rắn y tế

có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm hạn chế xảy ra tai nạn cho nhân viên thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trong bệnh viện

- Khử trùng bằng hóa chất: Clo, Hypoclorite… là phương pháp rẻ tiền, đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu hủy hết vi khuẩn trong chất thải

- Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: Là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng cao, xử lý kim tiêm khi nghiền nhỏ, làm biến dạng Nhược điểm của phương pháp là tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp

- Khử trùng bằng siêu cao tần: Có hiệu quả khử trùng tốt, năng suất cao Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến

* Phương pháp chôn lấp

Có 2 phương pháp chôn lấp: Chôn lấp hoàn toàn và chôn lấp có xử lý:

- Chôn lấp hoàn toàn: phương pháp đơn giản nhất, rẻ tiền nhưng không

vệ sinh, dễ gây ô nhiễm các nguồn nước ngầm và tốn diện tích đất chứa bãi rác Đối với chất thải nguy hại cần phải đảm bảo sao cho bãi chôn lấp cần tách biệt hoàn toàn với môi trường xung quanh

Trang 21

- Chôn lấp có xử lý: Rác thải thu gom về được phân ra làm 2 loại: rác vô

cơ và rác hữu cơ Đối với rác vô cơ được đem đi chôn lấp, còn rác hữu cơ được xử lý và ủ làm phân bón

Thời gian lưu

Lò đốt thùng quay

Chất thải nguy hại được đốt trong ống trụ gạch chịu nhiệt quay

Đốt bất cứ loại chất thải nguy hại

ở trạng thái lơ lửng

Chất thải nguy hại ở dạng bùn

có thể bơm được

700 - 1650 0,1 - 1

giây

Lò đốt nhiều tầng

Chất thải nguy hại được đốt ở chế độ nhiệt tăng

dần

Bùn và các chất thải nguy hại ở dạng viên

760 - 980 Vài giờ

Lò đốt tầng sôi

Chất thải nguy hại được phun vào trong lớp sôi đã được đốt nóng

Chất thải nguy hại rắn dạng viên 760 - 1100 Vài phút

(Nguồn: Bộ Y tế, 2006)[5]

Trang 22

- Phương pháp thiêu đốt chỉ sử dụng khi chất thải là chất độc sinh học, không bị phân hủy sinh học và bền vững trong môi trường Và một số chất thải không thể tái chế, tái sử dụng hay dự trữ an toàn trong bãi chôn lấp Phần tro sau khi đốt được chôn lấp

- Chất thải được đốt ở nhiệt độ cao, được sử dụng như một biện pháp xử

lý để giảm tính độc, thu hồi năng lượng và có thể xử lý một lượng lớn chất thải.Nhìn chung dung lò đốt là phương pháp sạch nhưng chi phí cao

* Xử lý bằng công nghệ sinh học

Quy trình xử lý có việc sử dụng chất vi sinh để tiêu diệt vi trùng Về cơ bản quy trình xử lý này khá giống với việc xử lý bằng hóa chất vì tận dụng các tính năng của vi sinh (hóa chất) để tiêu diệt vi trùng

2.1.6 Một số văn bản liên quan đến vấn đề chất thải rắn y tế

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

- Nghị định Số: 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu

- Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Nghị định số 59/2007 NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 về Quản lý chất thải rắn

- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 về quản lý chất thải nguy hại

- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại

- Thông tư 18 /2013/TT-BYT: Quy định về vị trí, thiết kế, điều kiện cơ

sở vật chất, kỹ thuật, thiết bị của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh truyền nhiễm

- Thông tư 31/2013/TT-BYT: Quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện

- Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại

Trang 23

- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế

- QCVN 02:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế

- TCVN 6705:2000: chất thải rắn không nguy hại Phân loại do Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng ban hành

- TCVN 6706:2000: chất thải rắn nguy hại Phân loại do Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng ban hành

- TCVN 6696: 2000: Chất thải rắn - Bãi chôn lấp hợp vệ sinh - Yêu cầu chung về bảo vệ môi trường

- QCVN 07:2009/BTNMT: - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại

2.2 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng

2.2.1 Đối với môi trường

* Đối với môi trường đất

Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn

có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả

về sau lại gặp khó khăn (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

* Đối với môi trường không khí

Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại, NOx, đioxin, furan HX… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức

khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

Trang 24

* Đối với môi trường nước

Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Đặc trưng của chất thải bệnh viện là bị nhiễm BOD, COD, kim loại nặng và các vi khuẩn gây bệnh Do đó nếu không được quản lý nghiêm ngặt, khi mưa nước chảy tràn sẽ cuốn nước thải bệnh viện đi vào nguồn nước mặt như: ao, hồ, sông, ngòi Các chất này sẽ gây ô nhiễm nguồn nước mặt, một phần ngấm xuống đất mang theo các chất ô nhiễm, vi khuẩn gây bệnh vào nguồn nước ngầm gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước Gây ra các bệnh truyền nhiễm đường ruột như: thương hàn, tả,

tulare, brucella (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

2.2.2 Đối với sức khỏe cộng đồng

* Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp chất thải rắn y tế

Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:

- Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện

- Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú

- Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân

- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ

sở khám chữa bệnh và điều trị như: Giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân…

Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác

thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…,(Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

Trang 25

* Tác động từ chất thải rắn y tế

+ Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Một mối nguy cơ rất lớn hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y tế Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức:

- Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da)

- Qua các niêm mạc (màng nhầy)

- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)

- Qua đường tiêu hoá

Theo Bộ Y tế năm 2012 thống kê, một số bệnh có nguy cơ mắc các bệnh khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da từ chất thải y tế được thể hiện ở bảng 2.7 như sau

Bảng 2.7: Nguy cơ mắc các bệnh khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da

+ Ảnh hưởng của hoá chất thải và dược phẩm

Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những mối nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người (các độc dược, các chất gây

Trang 26

độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ…) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Những chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa

+ Chất thải phóng xạ

Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và nhiều bất thường khác Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chẩn đoán (máy X_Quang, máy chụp cắt lớp…), có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể)

2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Trên thế giới, quản lý chất thải rắn bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới

Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt

Trang 27

Nguyên tắc Pollutor pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn

và giữ cho môi trường trong sạch

Nguyên tắc Proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất

thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường.(Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều

có thiết lập hệ thống xử lý loại phế thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 1000oC đến trên 4000oC Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí

Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh thải vào không khí, đó là phương pháp nghiền nát phế thải và

xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải

Khối lượng phát sinh CTR y tế ở mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế có sự khác nhau rõ rệt

Bảng 2.8: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các châu lục

(Đơn vị: Kg/Giường bệnh/ngày)

Châu lục Tổng lượng chất

thải

CTRYT nguy hại

Đông Á

Các nước có thu nhập cao

Các nước có thu nhập trung

bình

2,5 – 4 1,8 – 2,2

0,3 – 0,8 0,2 – 0,5

( Nguồn:WHO,2002 )[11]

Trang 28

Sự khác nhau về mức thu nhập giữa các nước dẫn đến lượng CTR y tế nói chung và lượng CTR y tế nguy hại là khác nhau Nhóm nước có thu nhập cao họ có điều kiện về kinh tế lỹ thuật, nhu cầu về sức khỏe được quan tâm nhiều hơn do vậy các cơ sở khám chữa bệnh mọc lên nhiều, lượng chất thải y

tế phát sinh lớn 2,5 - 4 Kg/Giường bệnh/ngày Trong khi đó các nước có thu nhập thấp hơn điều kiện về kinh tế kỹ thuật và nhu cầu khám chữa bệnh cũng không cao dẫn tới lượng CTR y tế thấp 1,8-2,2 Kg/Giường bệnh/ ngày

*Các nước đang phát triển:

Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn còn rất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải

y tế: Lập thủ tục và Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ ràng phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do đó, vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia này đã được cải thiện

Trang 29

bệnh/vạn dân thực kê tại ba tuyến trung ương, tỉnh, huyện (bao gồm cả bệnh

viện tư nhân ) là 28,1 giường ( Nguồn: Sở y tế cao Bằng, 2015)[6]

Với số lượng bệnh viện và giường bệnh khá lớn Tổng lượng CTR y tế phát sinh trên toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày

là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ ngày, trong

đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; gia tăng thực hành y học hiện đại với các phương pháp chuẩn đoán và điều trị mới; dân số gia tăng, người dân ngày càng có nhu cầu khám chữa bệnh và tiếp cận nhiều hơn với

dịch vụ y tế (Bộ TN&MT, 2011)[1]

Theo thống kê của Bộ Y tế, hiện cả nước có 13.511 cơ sở y tế, trong đó

có 1.361 cơ sở khám chữa bệnh Mỗi ngày lượng chất thải rắn y tế phát sinh khoảng 140 tấn, trong đó có hơn 30 tấn chất thải rắn y tế nguy hại Tuy nhiên, hiện mới chỉ có khoảng 95,6% bệnh viện thực hiện phân loại và khoảng 91% bệnh viện thu gom chất thải rắn hàng ngày Nhưng việc phân loại và thu gom vẫn chưa thực hiện đúng quy định, vẫn còn hiện tượng phân loại nhầm chất thải nguy hiểm cho môi trường, tỷ lệ BV có nơi lưu giữ chất thải đảm bảo vệ sinh theo qui định mới đạt khoảng 45% tổng số BV trong toàn quốc Việc xử lí chất thải rắn y tế nguy hại hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu, mới có khoảng 73% bệnh viện xử lí bằng lò đốt, trong số đó chỉ có một số nơi áp dụng công nghệ hiện đại, còn lại gần 27% bệnh viện đang sử dụng biện pháp đốt ngoài trời hoặc chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện hoặc bãi rác chung của địa phương

Đa số các bệnh viện tuyến huyện các tỉnh miền núi, vùng đồng bằng đều chưa có cơ sở hạ tầng để xử lý chất thải y tế nguy hại, vì vậy người ta chủ yếu

tự thiêu đốt bằng các lò thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện

Trang 30

Qua thực tế kiểm tra, Bộ Y tế đã chỉ ra 6 bất cập đang tồn tại tại các bệnh viện trong vấn đề quả lý chất thải đó là:

- Việc phân loại chất thải rắn y tế còn chưa đúng quy định

- Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn

- Xử lý và tiêu hủy gặp nhiều khó khăn

- Thiếu các cơ sở tái chế chất thải

- Thiếu nguồn kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải rắn và nước thải bệnh viện

- Vấn đề quản lý chất thải y tế thông thường có thể tái chế còn bất cập: Một số bệnh viện lơi lỏng công tác quản lý giám sát để nhân viên hợp đồng cung cấp rác thải y tế cho các cơ sở tái chế tư nhân chưa qua xử lý

Theo niên giám thống kê năm 2007, ngành y tế cả nước có 13.438 cơ sở khám chữa bệnh với 136.542 giường bệnh, trong đó 956 bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, khối y tế tư nhân có 1.631 cơsở y tế từ phòng khám tới bệnh viện tư hoạt động Số lượng và mạng lưới y tế như vậy là lớn so với các nước trong khu vực, song vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý chất thải tại các

cơ sở từ trung ương tới địa phương còn quá yếu, hầu hết chưa có hệ thống xử

lý chất thải, một vài nơi tuy có hoạt động nhưng chưa đạt yêu cầu kỹ thuật 92,5% số bệnh viện có thu gom rác thường kỳ, 14% số bệnh viện có phân loại rác y tế để xử lý Tuy nhiên phân loại rác từ khoa phòng khám và điều trị bệnh

nhân chưa trở thành phổ biến (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

Hầu hết chất thải rắn ở các bệnh viện không được xử lý trước khi chôn lấp hoặc đốt Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ

thiên gây ô nhiễm môi trường (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

+ Quá trình phân loại và thu gom:

Theo kết quả của Viện y học lao động và vệ sinh môi trường (NIOEH) năm 2006, về quản lý và xử lý chất thải bệnh viện với sự tham dự của tất cả

Trang 31

các bệnh viện TW phía bắc Trong việc quản lý chất thải rắn, tuy đã có quy định về phân loại tại các cơ sở y tế, tuy nhiên cơ sở bệnh viện vẫn còn để xảy

ra hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý

Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện (81,25%) đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng chuyên môn Theo kết quả điều tra khác của Viện KHCN Xây dựng, có khoảng 80% số bệnh viện tiến hành phân loại chất thải từ khoa - phòng-buồng bệnh, trong số đó có 63% bệnh viện có khu để chất thải y

tế riêng biệt với chất thải sinh hoạt

Tại 1 số bệnh viện còn xảy ra hiện trạng để chất thải nguy hại cùng chung với chất thải sinh hoạt, chất thải thông thường Việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như tách các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế, còn lẫn nhiều chất thải sinh hoạt và chất thải y tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi, thùng đựng chất thải chưa đúng quy chế quản lý chất thải bệnh viện, còn tùy tiện

Còn nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số các bệnh viện đã thực hành tách riêng vật sắc nhọn, có tới 11,4% bệnh viện tuy có tách vật sắc nhọn nhưng chưa thu gom vào các hộp đựng vật sắc nhọn theo đúng tiêu chuẩn quy định, đa số các bệnh viện (88,6%) thường đựng các vật sắc nhọn vào chai truyền dịch, lọ thủy tinh, chai nhựa đựng nước, hộp cactong hay vật dụng tự tạo Dụng cụ thu gom chất thải tại các khoa phòng rất đa dạng, chủ yếu là các loại thùng nhựa, xô nhựa có nắp Có 93% các bệnh viện dùng túi nilon lót thùng, khi thu gom sẽ nhấc túi nilon ra

Trang 32

Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được hộ lý và y công thu gom hằng ngày tại khoa phòng Theo kết quả của Viện KHCN Xây dựng có 100% các bệnh viện đều đã thu gom chất thải tại các phòng ban và buồng bệnh 1 lần/ngày, có thể nhiều hơn 2 - 3 lần khi cần, và tiến hành thu gom ngay sau các ca phẫu thuật Quy trình thu gom ở các bệnh viện không giống nhau và cũng chưa triệt để, nguyên nhân là do các đối tượng được giao nhiệm vụ phân loại, thu gom còn chưa được giáo dục, huấn luyện chuyên môn tốt để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp

tham gia vào quá trình phân loại và thu gom (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

+ Quá trình lưu trữ, vận chuyển để xử lý

Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viên Một số nhà lưu giữ chất thải không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập

Sau khi đã được phân loại và thu gom, chất thải y tế được vận chuyển về khu vực trung chuyển tại bệnh viện - thường là các nhà chứa rác thuộc quản lý của bệnh viện

Hiện nay theo Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết định số 43/2007 của Bộ Y tế ban hành ngày 30/11/2007, nơi lưu trữ chất thải y tế phải đảm bảo các điều kiện như có mái che, sàn không thấm nước, có cửa khóa chống côn trùng, gặm nhấm xâm nhập… và quá trình vận chuyển chất thải y tế cũng phải theo quy định Những nơi lưu trữ của một số bệnh viện vẫn chưa đạt chuẩn

Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2007 về tình hình thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế, khi vận chuyển chất thải chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy; 53,4% bệnh viện nơi lưu trữ chất thải có mái che… đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và

Trang 33

môi trường Tuy nhiên, vẫn còn khoảng một nửa số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng

có nắp đậy

Đa số các bệnh viện tự tiến hành thu gom chất thải y tế và sau đó thì tự

xử lý bằng cách thiêu đốt, và chôn lấp trong khu đất của bệnh viện Chỉ có chất thải sinh hoạt và tại một số ít bệnh viện có hợp đồng thu gom xử lý với Công

ty Môi trường đô thị (Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

+ Quá trình xử lý chất thải rắn y tế

Trong hầu hết các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh, chất thải y tế được chôn lấp tại các bãi rác công cộng hay chôn lấp trong khu đất của bệnh viện Theo thống kê của Tổng cục Môi trường năm 2010, toàn tuyến y tế cấp tỉnh có tới 61% cơ sở y tế vẫn thuê xử lý chất thải, 6,4% sử dụng lò đốt 1 buồng và 9% cơ sở tự đốt hoặc chôn lấp Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện chất thải được chứa trong hố đào và lấp đất lên nhiều khi lớp đất phủ trên mặt quá mỏng không đảm bảo vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, một số loại chất thải đặc biệt như bào thai, rau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom để đem chôn trong khu đất của bệnh viện hoặc chôn trong nghĩa trang của địa phương Do diện tích mặt bằng của bệnh viện bị hạn chế nên bệnh viện hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn lấp chất thải nguy hại

Theo một thống kê khác của Viện KHCN Xây dựng, có khoảng 60-70% chất thải được thải ra bãi chung hoặc chôn ngay trong bệnh viện, 20-30% được thiêu đốt hoặc đóng rắn, khoảng 10% áp dụng các biện pháp khác

Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với chất thải y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tai bãi rác cộng đồng Hiện nay, ở một số bệnh viện vẫn còn hiện tượng chất thải nhiễm khuẩn được thải lẫn với chất thải sinh

Trang 34

hoạt và được vận chuyển ra bãi rác của thành phố, do vậy chất thải nhiễm khuẩn không có xử lý đặc biệt gì khi tiêu hủy chung

Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm công nghệ đốt và không đốt Việc lựa chọn công nghệ xử lý dựa vào các tiêu chí sau: Thành phần, tính chất chất thải rắn y tế nguy hại; khả năng phân loại, cô lập chất thải rắn y tế tại nguồn thải, khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại cần xử lý, vị trí đặt cơ sở xử lý chất thải rắn y tế nguy hại, khả năng tài chính và khả năng quản

lý vận hành của từng địa phương.(Trần Mỹ Vy, 2011)[10]

Trang 35

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên – Hà Giang

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên – Hà Giang

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Thời gian: Ngày 15 tháng 12 năm 2018 đến ngày 26 tháng 04 năm 2019

- Địa điểm: Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên – Hà Giang

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Giới thiệu khái quát về Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên – Hà Giang 3.3.2 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Vị Xuyên

- Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế phát sinh của Bệnh viện

- Thực trạng thu gom chất thải rắn y tế tại Bệnh viện

- Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện

3.3.3 Đề xuất các giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập các số liệu về tổ chức hoạt động (quy mô, diện tích, cơ cấu

tổ chức) của Bệnh viện đa khoa huyện Vị Xuyên

- Thu thập số liệu về công tác quản lý, thu gom, xử lý chất thải Bệnh viện

- Thu thập thông tin qua sách, báo, mạng internet, các tài liệu liên quan khác

- Tiếp cận quy trình thu gom, xử lý chất thải y tế

- Thống kê dụng cụ, máy móc phục vụ cho công tác thu gom, xử lý rác thải

Ngày đăng: 25/06/2020, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tài nguyên và môi trường (2011), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia về chất thải rắn, chương 5: chất thải rắn y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia về chất thải rắn", chương 5
Tác giả: Bộ tài nguyên và môi trường
Năm: 2011
3. Bộ Y tế (2009), Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015 , Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày 28/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
4. Bộ Y tế (2007), Quy chế Quản lý chất thải y tế ( Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007) Bộ trưởng Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế Quản lý chất thải y tế ( Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007)
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
5. Bộ Y tế (2006), Sức khỏe và môi trường, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe và môi trường
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
7. Sở Y tế Hà Giang, Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên (2018), Báo cáo kết quả quan trắc môi trường bệnh viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở Y tế Hà Giang, Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên (2018)
Tác giả: Sở Y tế Hà Giang, Bệnh viện Đa khoa huyện Vị Xuyên
Năm: 2018
10. Trần Mỹ Vy ( 2011), Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn bệnh viện Hóc Môn. http://luanvan.net.vn II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn bệnh viện
12. WHO (1997), Treatment waste from hospitals and other health care establishment, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment waste from hospitals and other health care establishment
Tác giả: WHO
Năm: 1997
2. Bộ y tế (2012), Quyết đinh 3671/QĐ-BYT: Về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn Khác
6. Sở y tế Cao Bằng (2015), Cục Quản lý Khám chữa bệnh Cao Bằng triển khai kế hoạch năm 2015 Khác
11. WHO (2002), Safe management of wastes from health-care activities Khác
3. Trình độ học vấn: …………………….. 4. Địa chỉ:(xóm)…………….Xã:……………Huyện:…………Tỉnh:…… Khác
1. Ông/bà có được hướng dẫn quy chế về quản lý CTYT do bộ y tế ban hành không?Có  Không  Khác
3. Theo ông/ bà CTRYT có gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường không Khác
4. Theo quy chế quản lý CTYT hiện nay đang áp dụng thì chia làm mấy nhóm?Ba nhóm  Bốn nhóm Năm nhóm  Sáu nhóm  Khác
5. Ông/bà có biết quy định về mã màu sắc bao bì, dụng cụ đựng CTYT không?Có  Không  Khác
6. Ông/bà có thực hiện phân loại CTYT tại phòng bệnh không? Có  Không  Khác
7. Theo quy định bao bì, dụng cụ đựng có mã màu trắng đựng chất thải nào? Chất lây nhiễm  Chất thải hóa học nguy hại  Chất thải tái chế  Chất thải thông thường  Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w