1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Lịch sử các học thuyết kinh tế: Học thuyết kinh tế của adam smith

15 902 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 611,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Lịch sử các học thuyết kinh tế: Học thuyết kinh tế của adam smith trình bày về đôi nét về Adam Smith, đặc điểm phương pháp luận của Adam Smith và những lý luận kinh tế cơ bản của Adam Smith. Mời các bạn tham khảo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

oOo

-TIỂU LUẬN MÔN:

LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

ĐỀ TÀI:

ADAM SMITH

NGƯỜI THỰC HIỆN: LÊ THÁI DƯƠNG

LỚP: D02 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ KIÊN CƯỜNG

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong hệ thống các môn học thuộc chuyên ngành kinh tế và quản trị kinh doanh, môn lịch sử các học thuyết kinh tế giữ vai trò quan trọng, nó là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu các môn kinh tế khác Các nhà kinh tế, quản trị và hoạch định chính sách phải am hiểu một cách có hệ thống sự phát triển của các lý thuyết kinh tế trong lịch sử để có thể vận dụng chúng một cách tốt nhất, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước Do đó việc nghiên cứu các học thuyết kinh tế là một nhiệm vụ và là lợi ích đối với bất kì ai quan tâm đến các vấn đề kinh tế.

Trang 3

MỤC LỤC

I Đôi nét về Adam Smith

1 Tiểu sử, tác phẩm,sự nghiệp và thời đại của Adam Smith

2 Tư tưởng tự do kinh tế của Adam Smith

II Đặc điểm phương pháp luận của Adam Smith

III Những lý luận kinh tế cơ bản của Adam Smith

1 Phê phán chế độ phong kiến và luận chứng cương lĩnh kinh tế của giai cấp tư sản

2 Phê phán chủ nghĩa trọng thương

3 Phê phán chủ nghĩa trọng nông

4 Lý luận về thuế khoá

5 Lý luận về kinh tế hàng hoá

IV Đóng góp của học thuyết

Trang 4

HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA ADAM SMITH

I Đôi nét về Adam Smith

1 Tiểu sử, tác phẩm,sự nghiệp và thời đại của Adam Smith

Vào thế kỉ XVIII châu Âu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp, tích lũy tư bản

Sự chuyển biến phương thức sản xuất đã làm cho học thuyết kinh tế chủ nghĩa trọng thương không còn thích hợp và thay vào đó là Kinh tế chính trị học tư sản ra đời Nó là nền tảng khoa học của kinh tế thị trường ngày nay Một trong những đại biểu tiên phong xây dựng hệ thống ấy là Adam Smith

Adam Smith (1723-1790) sinh ở Kircaldy, Scotland, là con của một viên kiểm soát thuế

vụ Bố ông mất trước khi sinh ông một vài tháng, còn mẹ ông thọ đến 90 Năm 1737, vào tuổi 14, Adam Smith đã vào trường Đại học Glasgow, sau đó tiếp tục theo học Đại học Oxford và trở thành nhà lý luận kinh tế chính trị học cổ điển nổi tiếng của Anh Từ thời thanh niên, Smith biểu lộ dấu hiệu mà giới chuyên gia nghiên cứu tâm thần gọi là

“hội chứng giáo sư” Người viết tiểu sử của ông mô tả ông là một học sinh có năng lực, mặc dù có “sự cao hứng khó hiểu”, sau này trong cuộc đời học thuật thường chuyển qua những lúc cao hứng mộng tưởng thường làm rối loạn bạn đồng nghiệp (ví dụ họ nhìn thấy ông mỉm cười trong buổi lễ nhà thờ) Một trong những lúc mộng tưởng vào sáng sớm, ông đi bộ đến 15 dặm trong bộ đồ ngủ trước khi chuông nhà thờ ở làng bên “đánh thức” ông Trong một dịp khác, trong khi đi bộ với một người bạn, người ta kể rằng tự nhiên ông tranh luận sôi nổi trong khi không có không có người khác ở gần, đến mức rơi xuống hố thuộc da! Người ta còn kể ông đãng trí làm rơi bánh mì bơ vào nước sôi, sau đó ông cho rằng xưa nay mình chưa hề pha chén chè nào tệ đến như thế

Mặc dù không phải là người điển trai, sự có duyên của ông khiến bạn bè và sinh viên yêu mến Có thể người ta tàn nhẫn mô tả ông là “hỗn độn những gì nhô ra” Một chân dung ông bằng đá chạm cho thấy môi dưới của ông trề ra, chiếc mũi to đùng và đôi mắt ốc nhồi Vả lại trong suốt đời ông gặp rắc rối vì nỗi khổ sở của bệnh thần kinh, đầu ông lắc lư, bị ảnh hưởng của chứng mất ngôn ngữ Tuy nhiên

Trang 5

tất cả những điều này không làm giảm khả năng tri thức của ông ông tự mô tả mình là “một gã nịnh đầm không có gì ngoài sách vở” Ở Đại học Glasgrow và sau này ở Offord, Smith giảng về thần học tự nhiên, luân lý học, luật học và kinh tế chính trị học Sinh viên từ Nga và châu Âu sang Anh để nghe ông giảng Ông là học trò của Frances Hutcheson là bạn của David Hume, và là người quen biết với Quesney Một trong số các bạn ông có Joseph Black một người tiền phong về ngành hóa học, James Watt là nhà phát minh ra máy hơi nước, Robert Foulis là nhà sáng lập ra Viện hàn lâm Kiểu mẫu Anh quốc (The British Academy of

Design) Adam Smith còn quen thân với Andrew Cochran, một nhà buôn, nguyên viện phó của Đại học Glasgow, người sáng lập ra Câu lạc bộ Kinh tế chính trị (Political Economy Club) Trong tác phẩm rất quan trọng của ông, “The theory of moral setiments”, xuất bản lần đầu tiên năm 1759 Tác phẩm này là nỗ lực nhận định nguồn gốc đánh giá luân lí hay thừa nhận và phản đối luân lý Trong sách ấy Smith nhận thức con người nhưng một sinh vật tư lợi mặc dù có khả năng đánh giá luân lý trên cơ sở những cân nhắc khác với tính ích kỷ Ông cho rằng sự đánh giá luân lý thường được tiến hành bằng cách duy trì tư lợi trong sự vâng lời và đặt chính mình trong quan điểm người thứ ba, người quan sát vô tư Trong cách này, người ta tiếp cận khái niệm đồng cảm luân lý chứ không phải là khái niệm ích kỷ,

và luân lý thực sự vượt qua sự ích kỷ tác phẩm “The theory of Moral sentiments”

và các vấn đề trong sách ấy thu hút sự quan tâm ngay lập tức và mang lại danh tiếng cho tác giả Nhưng nhiều sử gia tư tưởng kinh tế có khuynh hướng xem điều

đó là không nhất quán với tầm quan trọng mà sau này Smith đặt tính tư lợi như một động lực trong “The wealth of nations” (xuất bản năm 1776) Quan điểm am hiểu có khuynh hướng xem tác phẩm “The wealth of nations” như một sự triển khai lô gic của tác phẩm “The theory of moral sentiments”, mặc dù vậy chưa phải

là cách đánh giá nhất trí

Xét về phương pháp luận của Adam Smith, K Marx đã nhận xét: một mặt, Adam Smith quan sát các mối liên hệ bên trong, các phạm trù kinh tế Mặt khác, Adam Smith lại đặt mối liên hệ đó như mối liên hệ bề ngoài của hiện tượng… và do đó, Adam Smith xa lạ đối với khoa học Phương pháp luận nghiên cứu của Adam Smith đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các học thuyết kinh tế tư sản sau này Ông được coi là “Cha đẻ của lý luận kinh tế thị trường” hay rộng hơn là cha đẻ của kinh tế học hiện đại

2 Tư tưởng tự do kinh tế của Adam Smith

Điểm xuất phát trong nghiên cứu lý luận kinh tế của Adam Smith là nhân tố con người

Theo Adam Smith xã hội là liên minh của những mối quan hệ trao đổi Thiên hướng trao đổi là đặc tính vốn có của con người Chỉ có trao đổi và thông qua thực hiện những việc trao đổi thì con người ta mới cảm thấy thỏa mãn “Hãy đưa cho tôi cái mà tôi cần, tôi sẽ đưa cho anh cái mà anh cần” Ông cho rằng đó là một thiên hướng phổ biến và tất yếu của xã hội

Trang 6

Adam Smith cho rằng tư tưởng tự do kinh tế (bàn tay vô hình) có nghĩa là: Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình

Ai cũng muốn thế cho nên vô hình trung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng Theo Adam Smith, chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và doanh nghiệp, cứ để nó tự do hoạt động kinh doanh; ông kết luận: "Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của nhà nước, mà do bởi tự do kinh doanh" - Tư tưởng này đã chế ngự trong suốt thể kỉ XIX

Theo lý luận này, thì hoạt động của mỗi thành viên trong xã hội chỉ mang mục đích bảo vệ lợi ích của riêng mình; thông thường, không có chủ định củng cố lợi ích công cộng và cũng không biết mình đang củng cố lợi ích này ở mức độ nào Tuy nhiên khi đó, hệ thống thị trường và cơ chế giá cả sẽ hoạt động một cách tự phát vì lợi ích của tất cả mọi người như thể có một bàn tay vô hình đầy thiện ý điều khiển toàn bộ quá trình xã hội và sự điều khiển tự phát này còn có hiệu quả hơn cả khi có ý định làm việc này

Thuyết của Smith chống lại tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương (yêu cầu có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế), là mầm mống cho đòi hỏi được tự do kinh doanh, có sự thích hợp với chủ nghĩa tư bản trong một thời kì dài Tuy nhiên sau này, thực tế đã cho thấy những điểm chưa hoàn toàn hợp lý của thuyết này, và người ta vẫn phải dùng đến nhà nước là "bàn tay hữu hình" thông qua luật pháp, thuế và các chính sách kinh tế để điều chỉnh nền kinh tế xã hội kết hợp với cơ chế

tự điều chỉnh theo thuyết bàn tay vô hình để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế xã hội của đất nước

Một ví dụ dễ nhận thấy của "bàn tay vô hình" trong quy luật cung cầu của thị trường là vấn đề kiểm soát giá của các loại hàng hóa Khi giá cả không được tự do định đoạt bởi quy luật cung cầu hoặc bị ngăn cản thực hiện ở mức "arm's length" (thuận mua vừa bán) thì mặc nhiên sẽ hình thành nên một thị trường ngầm mà người ta quen gọi là thị trường "chợ đen", vượt hoàn toàn ra khỏi ý chí của bất cứ

cơ quan có thẩm quyền nào Khi được hỏi “Chính sách kinh tế nào phù hợp với trật tự tự nhiên?” Adam Smith đã trả lời: Tự do cạnh tranh Xã hội muốn giàu có phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do

II Đặc điểm phương pháp luận của Adam Smith

Phương pháp luận của Adam Smith dựa trên trật tự tự do, thể hiện trong tư tưởng trật tự tự nhiên, cho rằng một xã hội hợp với tự nhiên là xã hội tự do cạnh tranh giao lưu trao đổi hàng hóa Bằng phương pháp luận trừu tượng ông cố gắng phân tích bản chất bên trong của xã hội tư sản Nhưng ông lại cho rằng nhiệm vụ quan trọng của nền kinh tế học cổ điển là mô tả bức tranh cụ thể của đời sống kinh tế để vạch ra các chính sách kinh tế Điều đó dẫn đến tính hai mặt trong phương pháp

Trang 7

luận của Adam Smith Mâu thuẫn này dẫn đến mâu thuẫn trong lý luận kinh tế của ông

Cũng từ đây đã đề ra hai trường phái kinh tế khác nhau: trường của D.Ricardo,

K.Marx và trường phái của Say, Malthus…

Mô hình cổ điển của A.Smith

III Những lý luận kinh tế cơ bản của Adam Smith

1 Phê phán chế độ phong kiến và luận chứng cương lĩnh kinh tế của giai cấp tư

sản

+ Ông phê phán tính chất ăn bám của bọn quý tộc phong kiến, theo ông "các đại

biểu được kính trọng nhất trong xã hội" như: nhà vua, quan lại, sĩ quan, thầy tu cũng giống như những người tôi tớ, không sản xuất ra một giá trị nào cả

+ Ông phê phán chế độ thuế khoá độc đoán như thuế đánh theo đầu người, chế độ thuế thân có tính chất lãnh địa, chế độ thuế hà khắc ngăn cản việc tích luỹ của

nông dân

+ Ông lên án chế độ thừa kế tài sản nhằm bảo vệ đặc quyền của quý tộc, coi đó là

"thể chế dã man" ngăn cản việc phát triển của sản xuất nông nghiệp

+ Ông bác bỏ việc hạn chế buôn bán lúa mỳ vì nó gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp

Cạnh

Tranh

Trao đổi Phân công

lao động

Thu nhập của những người có hiệu quả nhất

Sôi động cung Việc làm Tăng cường Tiết kiếm

Trang 8

+ Ông vạch rõ tính chất vô lý về mặt kinh tế của chế độ lao dịch và chứng minh tính chất ưu việt của chế độ lao động tự do làm thuê

+ Ông kết luận: chế độ phong kiến là một chế độ "không bình thường": là sản phẩm của sự độc đoán, ngẫu nhiên và dốt nát của con người, đó là một chế độ trái với trật tự ngẫu nhiên và mâu thuẫn với yêu cầu của khoa học kinh tế chính trị Theo ông nền kinh tế bình thường là nền kinh tế phát triển trên cơ sở tự do cạnh tranh, tự do mậu dịch

2 Phê phán chủ nghĩa trọng thương

+ Adam Smith là người đứng trên lập trường của tư bản công nghiệp để phê phán chủ nghĩa trọng thương Ông xác định đánh tan chủ nghĩa trọng thương là niệm quan trọng bậc nhất để đánh tan ảo tưởng làm giàu bằng thương nghiệp

+ Ông phê phán chủ nghĩa trọng thương đã đề cao quá mức vai trò của tiền tệ Theo ông, sự giàu có không phải ở chỗ có tiền mà là ở chỗ người ta có thể mua được cái gì với tiền Ông cho rằng lưu thông hàng hoá chỉ thu hút được một số tiền nhất định và không bao giờ dung nạp quá số đó

+ Ông phê phán chủ nghĩa trọng thương đề cao quá mức vai trò của ngoại thương

và cách làm giàu bằng cách trao đổi không ngang giá Ông cho rằng việc nâng cao

tỷ suất lợi nhuận trong thương nghiệp bằng độc quyền thương nghiệp sẽ làm chậm việc cải tiến sản xuất Muốn làm giàu phải phát triển sản xuất

+ Ông phê phán chủ nghĩa trọng thương dựa vào nhà nước để cưỡng bức kinh tế, ông cho rằng chức năng của nhà nước là đấu tranh chống bọn tội phạm, kẻ

thù nhà nước có thể thực hiện chức năng kinh tế khi các chức năng đó vượt quá sức của các chủ xí nghiệp riêng lẻ như xây dựng đường sá, sông ngòi và các công trình lớn khác Theo ông, sự phát triển kinh tế bình thường không cần có sự can thiệp của nhà nước

3 Phê phán chủ nghĩa trọng nông

+ Mục tiêu phê phán của ông là đánh tan các ảo tưởng của phái trọng nông về tính chất đặc biệt của nông nghiệp, và phá vỡ những luận điểm kỳ lạ của họ về tính chất không sản xuất của công nghiệp

+ Ông phê phán quan điểm của trọng nông coi giai cấp thợ thủ công, chủ công trường là giai cấp không sản xuất

+ Ông đưa ra nhiều luận điểm để chứng minh ngành công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất như luận điểm về năng suất lao động, tích luỹ tư bản

4 Lý luận về thuế khoá

+ Adam Smith là người đầu tiên luận chứng cương lĩnh thuế khoá của giai cấp tư sản, chuyển gánh nặng thuế khoá cho địa chủ và tầng lớp lao động, ông xác định thu nhập của nhà nước có thể từ hai nguồn: một là từ quỹ đặc biệt của nhà nước, tư bản đem lại lợi nhuận, ruộng đất đem lại địa tô, hai là lấy từ thu nhập của tư nhân bắt nguồn từ địa tô lợi nhuận, tiền công

+ Ông đưa ra bốn nguyên tắc để thu thuế:

- Các thần dân phải có nghĩa vụ nuôi chính phủ, "tuỳ theo khả năng và sức lực của mình"

- Phần thuế mỗi người đóng phải được quy định một cách chính xác

Trang 9

- Chỉ thu vào thời gian thuận tiện, và với phương thức thích hợp.

- Nhà nước chi phí ít nhất vào công việc thu thuế

+ Ông đưa ra hai loại thuế phải thu: đó là thuế trực thu và thuế gián thu:

- Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập: địa tô, lợi nhuận, tiền công, và tài sản kế thừa

- Thuế gián thu, ông cho rằng không nên đánh thuế vào các vật phẩm tiêu dùng thiết yếu, nên đánh thuế vào các hàng xa xỉ để điều tiết thu nhập của những người

"sống trung bình hoặc cao hơn trung bình"

5 Lý luận về kinh tế hàng hoá

* Lý luận về phân công lao động

+ Adam Simith cho rằng phân công lao động là sự tiến bộ hết sức vĩ đại trong sự phát triển sức sản xuất lao động

+ Ông cho rằng phân công lao động sẽ làm tăng thêm hiệu suất lao động, tăng năng suất lao động

+ Ông khẳng định nguyên nhân dẫn đến phân công lao động là trao đổi, nên mức

độ phân công phụ thuộc vào quy mô thị trường, điều kiện để thực hiện phân công

là mật độ dân số cao và sự phát triển của giao thông liên lạc

Cũng theo Adam Smith phân công lao động có 3 ưu điểm: một là, tay nghề và kỹ thuật sản xuất của người công nhân tang lên; hai là, tiết kiệm thời gian chuyển từ dạng lao động này sang dạng lao động khác; ba là, có khả áp dụng các phương pháp sản xuất mới và điều kiện cho máy móc ra đời Rõ rang ông đã lẫ lộn giữa phân công lao động trong xã hội với phân công lao động trong công trường thủ công xem xã hội như một công trường thủ công mở rộng Đồng thời, Adam Smith cho rằng nguyên nhân xuất hiện và phát triển của phân công lao động là khuynh hướng ích lợi cá nhân và khuynh hướng trao đổi

* Lý luận về tiền tệ

Adam Simith đã trình bày lịch sử ra đời của tiền tệ thông qua sự phát triển của lịch

sử trao đổi, từ súc vật làm ngang giá đến kim loại vàng, ông đã nhìn thấy sự phát triển của các hình thái giá trị Ông đã chỉ ra bản chất của tiền là hàng hoá đặc biệt làm chức năng phương tiện lưu thông và đặc biệt coi trọng chức năng này của tiền

tệ Nó là phương tiện để khắc phục khó khăn của trao đổi hàng hóa trực tiếp, là

“chiếc bánh xe vĩ đại của lưu thông” Ông là người đầu tiên khuyên nên dùng tiền giấy

A Smith là người có nhiều đóng góp khi nghiên cứu nguồn gốc và cách sử dụng tiền tệ của các dân tộc trên thế giới Chẳng hạn vỏ sò được sử dụng như tiền tệ ở

Ấn Độ cá tuyết khô (Newfoundland), thuốc lá (Virginia) đồng (La Mã cổ đại), vàng và bạc được sử dụng ở các quốc gia giàu có

Ông đã có quan điểm đúng về số lượng tiền cần thiết trong lĩnh vực lưu thông là

do giá cả quy định

Trong lý luận của A.Smith còn có hạn chế là: không hiểu đầy đủ bản chất của tiền, còn nhầm lẫn giá trị tiền với số lượng tiền, không thấy hết các chức năng của tiền tệ

* Lý luận về giá trị - lao động

Trang 10

+ Adam Simith đã đưa ra thuật ngữ khoa học là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, khi phân tích về giá trị trao đổi ông đã tiến hành phân tích qua các bước:

- Xét hàng hoá trao đổi với lao động: Ông cho rằng, thước đo thực tế của giá trị hàng hoá là lao động nên giá trị hàng hoá là do lao động sống mua được Như vậy

là ông đã đồng nhất giá trị là lao động kết tinh trong hàng hoá với lao động mà hàng hoá đó đổi được

- Xét trao đổi hàng hoá với hàng hoá: Ông viết: "giá trị trao đổi của chúng bằng một lượng hàng hoá nào đó" Như vậy giá trị trao đổi của hàng hoá là quan hệ tỷ lệ

về số lượng giữa các hàng hoá

- Xét trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ: Theo ông, khi chấm dứt nền thương nghiệp vật đổi vật thì giá trị hàng hoá được đo bằng tiền và giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả hàng hoá có hai loại thước đo đó là lao động và tiền tệ, trong đó thước đo là lao động là thước đo chính xác nhất của giá trị, còn tiền tệ chỉ là thước đo trong một thời gian nhất định mà thôi

Về định nghĩa giá trị ông có hai quan điểm:

Thứ nhất, giá trị lao động trong tất cả các ngành sản xuất vật chất tạo ra nó và được đo bằng chi phí lao động Ở đây ông đề cập đến giá trị lao động giản đơn và phức tạp Ông khẳng định rằng trong một đơn vị thời gian, lao động có chuyên môn tạo ra một giá trị lao động lớn hơn giản đơn Với định nghĩa này ông được xem là cha đẻ của lý luận giá trị - lao động

Thứ hai, giá trị được quyết định bởi số lao động có thể mua được hàng hóa này (giá trị bằng với tiền của công nhân) Theo A.Smith định nghĩa này không mâu thuẫn với định nghĩa trên

+ Adam Simith là người đưa ra quan đúng đắn về giá trị hàng hoá đó là: giá trị hàng hoá là do lao động hao phí tạo ra, ông còn chỉ rõ giá trị hàng hoá bằng số lượng lao động đã chi phí bao gồm lao động quá khứ và lao động sống

Tóm lại trong lý luận giá trị - lao động A.Smith đã có những bước tiến đáng kể so với chủ nghĩa trọng nông và W.Petty Cụ thể là:

- Ông đã chỉ ra cơ sở của giá trị, thực thể của giá trị chính là do lao động Lao động là thước đo giá trị (theo ông: lao động là nguồn gốc của sự giàu có của các quốc gia, là thực thể giá trị của hàng hoá Không phải vàng hay bạc mà sức lao động mới là vốn liếng ban đầu và có khả năng tạo ra mọi của cải cần thiết)

- Ông khẳng định mọi thứ lao động sản xuất đều bình đẳng trong việc tạo ra giá trị hàng hoá (đã khắc phục hạn chế của chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa trọng nông)

- Trong khi phân biệt hai phạm trù giá trị sử dụng và giá trị, ông bác bỏ quan niệm cho rằng giá trị sử dụng quyết định giá trị trao đổi Khi phân tích về giá trị, ông cho rằng giá trị được biểu hiện ở giá trị trao đổi trong mối quan hệ về số lượng với các hàng hoá khác, còn trong nền sản xuất hàng hoá phát triển nó được biểu hiện ở tiền

- Lượng giá trị: là do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định, không phải

do lao động chi phí thực tế để sản xuất hàng hoá Ở đây đã có sự trừu tượng hoá các dạng lao động cụ thể, các chi phí lao động cá biệt để xem xét giá trị do lao

Ngày đăng: 25/06/2020, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w