Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu vải thiều của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018, từ đó nhận diện các khó khăn, thách thức mà Việt Nam đang gặp phải khi xuất khẩu vải thiều sang thị trường Australia. Để nắm chi tiết nội dung nghiên cứu mời các bạn cùng tham khảo tiểu luận.
Trang 1ĐỀ TÀI: NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VẢI THIỀU VIỆT NAM SANG THỊ
TRƯỜNG AUSTRALIA
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, trong khoảng 5 năm trở lại đây, sản lượng vải của
cả nước đạt khoảng từ 210.000 – 225.000 tấn Trong đó, vớitổng diện tích trồng vải khoảng 43.000 ha, sản lượng tại haitỉnh Bắc Giang và Hải Dương đạt khoảng 190.000 tấn quả tươi(tại Bắc Giang diện tích khoảng 32.000 ha, sản lượng khoảng160.000 tấn, tại Hải Dương diện tích khoảng 11.000 ha, sảnlượng khoảng 40.000 tấn) Trong đó, diện tích vải áp dụngtheo tiêu chuẩn VietGap khoảng 8.500 ha tại Tỉnh Bắc Giangvà 800 ha tại Tỉnh Hải Dương
Việc đưa trái vải xuất khẩu có thể đem lại lợi nhuận kinh
tế hơn rất nhiều so với chỉ tiêu thụ trong nước Do sản lượngvải hàng năm của Việt Nam lớn, nếu chỉ tiêu thụ trong nước
sẽ dẫn tới việc cung vượt quá cầu khiến cho giá bán quá thấp,hiệu quả kinh tế thấp Trong khi đó ở một số nước nhu cầutiêu thụ quả vải lớn, tuy nhiên nguồn cung rất hạn chế Bêncạnh đó, quả vải Việt Nam xuất ra nước ngoài rất được giá, ởthị trường Việt Nam giá cao nhất vào khoảng 24.000đ/kg,nhưng ở các thị trường khác quả vải có thể được bán với giá220.000đ – 240.000đ/kg
Cũng như nhiều mặt hàng nông sản khác của Việt Nam,Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu vải thiều truyền
Trang 2thống Việc phụ thuộc vào một thị trường xuất khẩu sẽ khôngthể tránh khỏi những rủi ro nhất định cho nền kinh tế nóichung và cho nông dân nói riêng Do vậy, việc đẩy mạnh côngtác nghiên cứu, xúc tiến xuất khẩu trái vải của Việt Nam sangcác nước khác nhằm bớt phụ thuộc vào thị trường Trung Quốclà hết sức cần thiết Những năm gần đây, Việt Nam đã mởrộng sang các thị trường khác, trong đó các thị trường như Mỹvà Australia ngày càng đóng vai trò quan trọng Tại thời điểmhiện tại, Australia chỉ chấp nhận cho nhập khẩu một loại hoaquả tươi của Việt Nam vào thị trường này là trái vải thiều Việcđưa trái vải thành công vào thị trường Australia sẽ đồng thời
mở ra cơ hội mới cho một số loại trái cây khác như thanhlong, nhãn, xoài
Trái cây Việt Nam có nhiều triển vọng xuất khẩu sangthị trường Australia, bởi Việt Nam có các loại trái cây nhiệt đớiđặc sản, lạ có sức hấp dẫn đối với nhu cầu đổi mới và thíchmới lạ của người tiêu thụ như trái vải thiều Tuy nhiên, hoạtđộng xuất khẩu vải thiều của Việt Nam sang thị trườngAustralia đang phải gặp phải nhiều thách thức do đây là mộttrong những nước có các quy định và kiểm định ngặt nghèonhất trên thế giới
Để góp phần vào việc nhận diện những thách thức củaViệt Nam khi đưa trái vải thâm nhập vào thị trường Australia,
nhóm nghiên cứu đã triển khai đề tài “NHỮNG THÁCH THỨC
CỦA VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VẢI THIỀU SANG THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3-Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích và đánhgiá thực trạng xuất khẩu vải thiều của Việt Nam giaiđoạn 2010 – 2018, từ đó nhận diện các khó khăn, tháchthức mà Việt Nam đang gặp phải khi xuất khẩu vải thiềusang thị trường Australia.
-Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiệncác nhiệm vụ:
Phân tích thực trạng xuất khẩu trái vải thiều ViệtNam trong giai đoạn 2010-2018
Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu trái vảithiều tại Australia, các quy định, yêu cầu đối với trái vải tươikhi được đưa vào thị trường Australia Từ đó, phân tích nhữngthách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt trong việc xuấtkhẩu trái vải thiều sang thị trường Australia
Đề xuất một số giải pháp khắc phục các thách thứcmà hoạt động xuất khẩu trái vải thiều Việt Nam sang thịtrường Australia đang phải đối mặt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng: hoạt động xuất khẩu vải thiều vủa Việt Nam
Trang 4o Giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022: dự báovà phân tích các khó khăn trong hoạt động xuất khẩu vảithiều của Việt Nam sang thị trường Australia.
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng một số phương pháp nghiên cứusau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: là phương phápnghiên cứu với chất liệu nghiên cứu bao gồm những báo cáo,tư liệu, số liệu… đã có sẵn trước đó Tác giả đã thu thập sốliệu từ những nguồn chính thống, từ đó, đi sâu vào phân tíchvà đưa ra giải pháp Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thuthập qua các tài liệu tham khảo, báo cáo, dữ liệu được côngbố của các công ty, cục Thương mại quốc tế, bộ Công thương,tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài, các bài báo cónguồn đáng tin cậy…
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: là phương pháp sửdụng, so sánh và đối chiếu với những kinh nghiệm đã có củamột số quốc gia khác về vấn đề xuất khẩu nông sản, qua đóđưa ra những giải pháp tối ưu nhất cho vấn đề xuất khẩu vảithiều của Việt Nam
5 Kết quả nghiên cứu
5.1 Kết quả nghiên cứu 1: Phân tích tình hình sản xuất và xuất khẩu trái vải thiều tại Việt Nam
a Tình hình trồng vải
Vùng trồng vải của Việt Nam tập trung ở phía Bắc và mộtsố vùng ở phía Nam Các tỉnh trồng vải bao gồm Lào Cai, Lạng
Trang 5Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Nội, Hoà Bình, Vĩnh Phúc,Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Giang, Ninh Bình, QuảngNinh, Thanh Hoá và Phú Thọ Tuy nhiên, do điều kiện thời tiết,chỉ có Hải Dương, Hưng Yên và Bắc Giang là các tỉnh có sảnlượng và chất lượng cao để xuất khẩu
Theo số liệu của Sở Công thương tỉnh Bắc Giang, sảnlượng vải thiều của tỉnh Bắc Giang nói chung đạt 215.800 tấn,tăng 124.300 tấn so với vụ vải thiều năm 2017
Hình 1 Sản lượng vải thiều của tỉnh Bắc Giang từ năm
2010 đến năm 2018
Nguồn: Sở Công thương tỉnh Bắc Giang
Mùa thu hoạch vải ở Việt Nam vào khoảng tháng Năm vàtháng Bảy Mùa vụ quả vải thường chia làm 2 giai đoạn: Vảivụ sớm (bắt đầu từ khoảng giữa tháng 5 đến giữa tháng 6)chủ yếu là tiêu thụ trong nước Vải vụ muộn (bắt đầu từ đầutháng 6 đến đầu tháng 7) chủ yếu là xuất khẩu Vải được thuhoạch vào sáng sớm hoặc chiều muộn trong những ngày thờitiết mát và khô Ở Việt Nam, vải không được thu hoạch vàbán rời quả như các nước khác mà thu hoạch theo từng trùm
Trang 6vẫn còn nguyên lá để giữ vải tươi được lâu hơn Vải tiêu thụtrong nước được thu hoạch lúc chín cây, tuy nhiên vải để xuấtkhẩu thường thu hoạch lúc trái vải vừa chớm chuyển sangmàu đỏ Nếu chưa được tiêu thụ ngay, vải sẽ được bảo quảntrong phòng lạnh ở nhiệt độ 4-5 độ C và 90-95% độ ẩm đểtránh tình trạng mất nước làm vải thâm và giảm chất lượng Để đáp ứng các tiêu chuẩn để mở rộng thị trường xuấtkhẩu là hết sức cần thiết Trong mùa vải năm 2015, riênghuyện Lục Ngạn (Bắc Giang) có kế hoạch sản xuất 9.500 havải thiều theo tiêu chuẩn VietGAP tại 30 xã, thị trấn và tănglên 10.000 ha vào năm 2020 Ngoài ra, dự kiến diện tích sảnxuất vải đạt tiêu chuẩn GlobalGAP năm 2016 là 150 ha, và đạt
250 ha vào năm 2020
Hiện nay, ở Việt Nam có 23 phòng cấp giấy chứng nhậpVietGAP (các phòng cấp giấy chứng nhận này được chỉ địnhbởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhưng khôngphải là cơ quan nhà nước) Trước khi cấp giấp chứng nhận, họ
sẽ đi kiểm tra vườn cây và các thông tin cung cấp bởi chủvườn Các phòng cấp giấp chứng nhận VietGAP phải chịutrách nhiệm kiểm tra việc thực hiện theo tiêu chuẩn VietGAP.Các vườn vải được cấp chứng nhận VietGAP phải ghi nhật kýviệc sử dụng hoá học để kiểm soát dịch bệnh
b Tình hình tiêu thụ trái vải thiều
Thống kê cho thấy, tiêu thụ tại thị trường trong nướcchiếm đến khoảng 60% sản lượng (thị trường tiêu thụ chủ yếutại các tỉnh, thành phố Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, ĐàNẵng, Thừa Thiên Huế, Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam)trong khi xuất khẩu quả vải tươi, qua chế biến chiếm khoảng
Trang 740% sản lượng, trong đó xuất khẩu chủ yếu sang thị trườngTrung Quốc Ngoài Trung Quốc, Việt Nam còn xuất khẩu sangLào, Campuchia, Maylaysia, Singapore, Nhật Bản, châu Âu,Nga, Australia nhưng số lượng rất nhỏ
Giá bán nội địa năm 2018 tại tỉnh Bắc Giang, giá vải thiềuloại 1 phổ biến từ 35.000đ- 40.000đ/kg, giá vải loại 2 từ16.000đ - 25.000đ/kg và giá vải loại xấu nhất (dùng để chếbiến các sản phẩm nước ép, đóng hộp và sấy khô) từ 5.000đ -10.000đ/kg; tại thành phố Hà Nội, giá vải dao động từ25.000đ - 30.000đ/kg; tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh,thành phố thuộc vùng Đông - Tây Nam Bộ, giá vải dao động
từ 27.000đ - 35.000đ/kg tùy theo chất lượng quả vải
Về xuất khẩu, trái vải tươi của Việt Nam được xuất khẩuchủ yếu sang Trung Quốc Theo thống kê của Bộ CôngThương, khối lượng quả vải tươi được xuất khẩu qua các cửakhẩu thuộc Lào Cai, Lạng Sơn và Hà Giang tính đến hết ngày
08 tháng 7 năm 2018 là 86.400 tấn với trị giá là 151,2 triệuUSD Như vậy, khối lượng quả vải mùa vụ năm 2018 xuấtkhẩu qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc sang thị trườngTrung Quốc vẫn tương đương mọi năm
Giá xuất khẩu quả vải theo hợp đồng kinh tế của doanhnghiệp dao động từ 18.000 - 20.000 đ/kg Còn giá bán tự dotại cửa khẩu có xu hướng giảm so với thời gian đầu vụ, daođộng từ 13.000 - 15.000 đ/kg ở chính vụ, tiêu thụ với sảnlượng lớn trong khi một số thương lái trong nước đưa hàng lênbiên giới để bán tự do không có hợp đồng kinh tế nên bịkhách hàng ép giá Giá bán vải loại 1 tại vườn cho thương
Trang 8nhân Trung Quốc thu mua để xuất khẩu có thời điểm cao vàdao động từ 20.000 - 35.000 đ/kg
Từ ngày 18/4/2015, Australia đã cấp phép nhập khẩu tráivải tươi của Việt Nam Mùa vụ năm 2015, 32 tấn vải thiều LụcNgạn lần đầu tiên xuất khẩu thành công sang thị trườngAustralia
Để xuất khẩu trái vải tươi sang các nước đòi hỏi kiểm dịchkhắt khe, vải của Việt Nam sẽ được chiếu xạ, xử lý nhiệt hơihoặc giữ lạnh để diệt côn trùng gây bệnh trước khi xuất khẩu,sau đó sẽ được cơ quan kiểm dịch của Việt Nam kiểm tra vàcấp giấy chứng nhận trước khi xếp hàng vào container lạnhđể xuất khẩu
Trang 9Hình 2 Quy trình xuất khẩu vải thiều Việt Nam
Trang 10vải sang Úc do trùng mùa thu hoạch Trung Quốc và Thái Lanđược phép xuất khẩu vải vào Úc từ năm 2004, Việt Nam đượcphép xuất khẩu vải từ năm 2015 Sản phẩm của hai nước nàyvà Việt Nam được bán tại thị trường Úc trong thời gian vải củaÚc chưa đến kỳ thu hoạch
Đối với Úc, việc nhập khẩu trái vải từ các nước có mùa vụngược với Úc mang đến một lợi thế tiềm năng cho ngànhtrồng vải của Úc bởi người dùng sẽ có thói quen ăn vải tươiquanh năm Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm nhập khẩu kém
sẽ ảnh hưởng đến các sản phẩm của Úc trong trường hợpngười tiêu dùng không muốn ăn vải nữa
b Xu hướng phát triển thị hiếu người tiêu dùng
Thị trường Úc không phải là một thị trường nhập khẩu vảilớn, nhưng vẫn có tiềm năng phát triển do hầu hết người tiêudùng Úc chưa quen với hoặc không biết gì về vải, hương vị,cách ăn Lượng tiêu thụ tập trung chủ yếu ở người Á đông vốn
đã quen và thích trái vải Thị trường tiêu thụ hiện nay mới chỉtập trung các thành phố lớn như Sydney, Melbourne, Darwin…Theo kết quả nghiên cứu, nhu cầu tiêu thụ vải thiều tại thịtrường Australia còn rất lớn Kết quả cụ thể là:
Hầu hết người tiêu dùng không quen hoặc khôngnhận biết được quả vải, hương vị, cách chế biến và ăn vải nhưthế nào;
Người mua vải chủ yếu là những người có nguồngốc Châu Á, là những người biết và có sở thích ăn vải từ trước;
Người tiêu dùng có khuynh hướng thích vải có hạtnhỏ hơn và cùi dày hơn (tỷ lệ cùi so với hạt cao hơn)
Trang 11Gần đây, theo số liệu khảo sát Homescan của ACNielsen,cho biết khuynh hướng mua và tiêu dùng quả vải:
Có 11,2% số hộ gia đình mua vải quả;
Bình quân mỗi hộ chi 6,6 AUD (để mua vải quả;
Mỗi hộ gia đình mua 2 lần mỗi mùa;
Mỗi lần đi mua vải chi 3,3 AUD;
Hộ gia đình thường chi tiền mua vào dịp Lễ giángsinh và vào thời
gian sau lễ giáng sinh;
Các cặp vợ chồng đã ổn định và các cặp lớn tuổimua lượng vải
chiếm 40% tổng số vải bán ra
Giá vải của Úc tương đối cao Hiện tại, giá bán tại cổngtrang trại là 6,5 AUD/kg (xấp xỉ 105.000 VNĐ/kg) Giá bán tạicác siêu thị lên đến trên dưới 16 AUD/kg (xấp xỉ 260.000 VNĐ/kg) Tuy nhiên, giá cả dao động tuỳ theo thời điểm thu hoạch:
Mùa vải đến sớm ở vùng bắc Queensland với nguồncung hạn chế sẽ làm cho giá cao;
Khi sản lượng gia tăng ở tất cả các khu vực trồngvải từ bắc cho tới đông nam Queensland giá bắt đầu giảmnhanh chóng và giá thấp nhất rơi vào dịp Giáng sinh và nămmới;
Giống vải cao cấp hạt nhỏ như FZS và Salathiel luônđược giá cao trong suốt mùa vụ;
Giá được cải thiện chút ít vào cuối mùa khi khốilượng trên thị trường thấp và vào dịp Tết âm lịch khi lượngcung cho thị trường Á đông tăng mạnh
Trang 125.3 Kết quả nghiên cứu 3: Một số thách thức trong hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Nam vào thị trường Australia
Các thách thức trong hoạt động xuất khẩu vải thiều sangthị trường Australia mà Việt Nam đang phải đối mặt xuất phát
từ cả phía Việt Nam và Australia
5.3.1 Các thách thức đến từ phía Australia: có rất
nhiều thách thức mà Việt Nam đang gặp phải xuất phát từphía Australia, nổi bật nhất là hàng rào phi thuế quan (các ràocản kĩ thuật) và thách thức về hạn ngạch
Úc là một trong những nước có các qui định về kiểm dịchngặt nghèo nhất trên thế giới Úc đã xây dựng khuôn khổchính sách về an toàn sinh học nhằm bảo vệ nền nông nghiệptrước những rủi ro do côn trùng có hại xâm nhập và phát tán.Tiến trình phân tích rủi ro nhập khẩu (IRA) là một phần quantrọng trong chính sách an toàn sinh học của Úc Trước khi cânnhắc việc cho phép nhập khẩu một sản phẩm mới, việc phântích rủi ro nhập khẩu được tiến hành một cách chính thức.Nếu phát hiện có nguy cơ rủi ro, các biện pháp kiểm soát rủi
ro sẽ được đề xuất để làm giảm thiểu rủi ro ở mức có thể kiểmsoát được, trong trường hợp không thể giảm thiểu nguy cơ rủi
ro, sản phẩm mới sẽ không được cấp phép nhập khẩu vàonước Úc
Trong quá trình phân tích rủi ro nhập khẩu, Bộ Nôngnghiệp Úc sử dụng các chuyên gia về khoa học và kỹ thuật vàcác tư vấn gia cùng các bên có liên quan để đánh giá và đềxuất các biện pháp kiểm dịch động thực vật Bộ Nông nghiệpdựa trên báo cáo của các chuyên gia sẽ quyết định việc cấp