GIAN LẬN VÀ SAI SÓTDẫn nhập:Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế cũng ngày càng tăng lên về quy mô và số lượng.Tuy nhiên, bên cạnh sự ra đời của doanh nghiệp mới thì cũng có rất nhiều doanh nghiệp phá sản dù trước đó họ công bố báo cáo tài chính với các chỉ tiêu rất tốt. Nguyên nhân dẫn tới sự phá sản này chủ yếu do sự gian lận trong hoạt động tài chính của các công ty. Trước tình hình đó, kiểm toán trở thành nhu cầu bức thiết hơn bao giờ hết để củng cố lòng tin của những người quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp.Mục đích của kiểm toán chủ yếu là xem xét thông tin trên báo cáo tài chính có được trình bày trung thực và hợp lý hay không, có chứa đựng sai phạm trọng yếu hay không. Việc phát hiện ra các hành vi gian lận và sai sót có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với cả nền kinh tế. Tuy nhiên trong quá trình kiểm toán luôn tiềm ẩn những gian lận và sai sót không phát hiện được và làm sai lệch báo cáo tài chính. Hành vi gian lận thường được che đậy kín đáo và khó phát hiện hơn hành vi sai sót.Để giảm rủi ro không phát hiện được gian lận gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và đưa ra ý kiến đúng đắn về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần quan tâm nghiên cứu vấn đề gian lận và khả năng xảy ra gian lận trong quá trình kiểm toán.Trong thực tế luôn tồn tại sự khác biệt giữa kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính mong chờ ở kiểm toán viên và những gì kiểm toán viên có thể đáp ứng được.Người sử dụng báo cáo tài chính cho rằng kiểm toán viên đảm bảo được báo cáo tài chính trung thực và hợp lý một cách tuyệt đối nhưng kiểm toán viên không thể làm đượcđiềuđó. Do đó kiểm toán viên phải không ngừng nâng cao năng lực cá nhân nhằm phát hiện được gian lận và sai sót gây sai lệch trọng yếu đến báo cáo tài chính.Trong bối cảnh hiện nay Việt Nam mới gia nhập các tổ chức thương mại, nền kinh tế đứng trước thách thức mới với nhiều cơ hội và khó khăn hơn, do đó các doanh nghiệp đang cạnh trang khốc liệt với nhau để mở rộng thị phần, tăng doanh số. Thế nên các doanh nghiệp có xu hướng gian lận nhiều hơn nhằm phục vụ mục đích của cá nhân doanh nghiệp và những người quản lý bộ máy quản trị, làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng.Vậy thế nào là gian lận và sai sót, biểu hiện và ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp như thế nào? Ở nội dung bài thảo luận này, nhóm xin đưa ra những cái nhìn tổng quan mang tính lý thuyết về gian lận và sai sót, biểu hiện và các nhân tố ảnh hưởng gian lận và sai sót, trách nhiệm của kiểm toán viên và của đơn vị được kiểm toán trong việc phát hiện gian lận, sai sótvà qua đó đề cập thực trạng gian lận và sai sót ở nước ta. MỤC LỤCTrangI.Khái niệm, biểu hiện41.Gian lận42.Sai sót5II.Các nhân tố ảnh hưởng gian lận và sai sót61.Các nhân tố bên trong62.Các nhân tố bên ngoài8III.So sánh gian lận và sai sót91.Điểm giống nhau92.Điểm khác nhau9IV.Trách nhiệm của kiểm toán viên và của Đơn vị được kiểm toán121.Trách nhiệm của kiểm toán viên12a.Kiểm toán viên phải có trách nhiệm trong việc đánh giá ảnh hưởngcủagian lận, sai sót đã phát hiện được12b.Trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc thông báo gian lận, sai sót132.Trách nhiệm của Đơn vị được kiểm toán15V.Thực trạng gian lận và sai sót tại Việt Nam151.Thực trạng gian lận và sai sót trong Kiểm toánbáo cáo tài chính152.Thực trạng gian lận và sai sót trong Kiểm toán hoạt động và tuân thủ20a.Kiểm toán hoạt động20b.Kiểm toán tuân thủ21
Trang 1GIAN LẬN VÀ SAI SÓT
Dẫn nhập:
Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế cũngngày càng tăng lên về quy mô và số lượng Tuy nhiên, bên cạnh sự ra đời của doanhnghiệp mới thì cũng có rất nhiều doanh nghiệp phá sản dù trước đó họ công bố báo cáo tàichính với các chỉ tiêu rất tốt Nguyên nhân dẫn tới sự phá sản này chủ yếu do sự gian lậntrong hoạt động tài chính của các công ty Trước tình hình đó, kiểm toán trở thành nhu cầubức thiết hơn bao giờ hết để củng cố lòng tin của những người quan tâm tới tình hình tàichính của doanh nghiệp
Mục đích của kiểm toán chủ yếu là xem xét thông tin trên báo cáo tài chính có đượctrình bày trung thực và hợp lý hay không, có chứa đựng sai phạm trọng yếu hay không.Việc phát hiện ra các hành vi gian lận và sai sót có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối vớidoanh nghiệp mà còn đối với cả nền kinh tế Tuy nhiên trong quá trình kiểm toán luôn tiềm
ẩn những gian lận và sai sót không phát hiện được và làm sai lệch báo cáo tài chính Hành
vi gian lận thường được che đậy kín đáo và khó phát hiện hơn hành vi sai sót Để giảm rủi
ro không phát hiện được gian lận gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và đưa ra
ý kiến đúng đắn về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần quan tâm nghiên cứu vấn đề gianlận và khả năng xảy ra gian lận trong quá trình kiểm toán Trong thực tế luôn tồn tại sựkhác biệt giữa kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính mong chờ ở kiểm toán viên vànhững gì kiểm toán viên có thể đáp ứng được Người sử dụng báo cáo tài chính cho rằngkiểm toán viên đảm bảo được báo cáo tài chính trung thực và hợp lý một cách tuyệt đốinhưng kiểm toán viên không thể làm được điều đó Do đó kiểm toán viên phải khôngngừng nâng cao năng lực cá nhân nhằm phát hiện được gian lận và sai sót gây sai lệchtrọng yếu đến báo cáo tài chính
Trong bối cảnh hiện nay Việt Nam mới gia nhập các tổ chức thương mại, nền kinh tếđứng trước thách thức mới với nhiều cơ hội và khó khăn hơn, do đó các doanh nghiệp đang
Trang 2cạnh trang khốc liệt với nhau để mở rộng thị phần, tăng doanh số Thế nên các doanhnghiệp có xu hướng gian lận nhiều hơn nhằm phục vụ mục đích của cá nhân doanh nghiệp
và những người quản lý bộ máy quản trị, làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng Vậy thế nào làgian lận và sai sót, biểu hiện và ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính của doanh nghiệpnhư thế nào? Ở nội dung bài thảo luận này, nhóm xin đưa ra những cái nhìn tổng quanmang tính lý thuyết về gian lận và sai sót, biểu hiện và các nhân tố ảnh hưởng gian lận vàsai sót, trách nhiệm của kiểm toán viên và của đơn vị được kiểm toán trong việc phát hiệngian lận, sai sót và qua đó đề cập thực trạng gian lận và sai sót ở nước ta
Trang 3MỤC LỤC
Trang
I Khái niệm, biểu hiện 4
1 Gian lận 4
2 Sai sót 5
II Các nhân tố ảnh hưởng gian lận và sai sót 6
1 Các nhân tố bên trong 6
2 Các nhân tố bên ngoài 8
III So sánh gian lận và sai sót 9
1 Điểm giống nhau 9
2 Điểm khác nhau 9
IV Trách nhiệm của kiểm toán viên và của Đơn vị được kiểm toán 12
1 Trách nhiệm của kiểm toán viên 12
a Kiểm toán viên phải có trách nhiệm trong việc đánh giá ảnh hưởng của gian lận, sai sót đã phát hiện được 12
b Trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc thông báo gian lận, sai sót 13
2 Trách nhiệm của Đơn vị được kiểm toán 15
V Thực trạng gian lận và sai sót tại Việt Nam 15
1 Thực trạng gian lận và sai sót trong Kiểm toán báo cáo tài chính 15
2 Thực trạng gian lận và sai sót trong Kiểm toán hoạt động và tuân thủ 20
a Kiểm toán hoạt động 20
b Kiểm toán tuân thủ 21
Trang 4I Khái niệm, biểu hiện
Hành vi gian lận luôn được che đậy một cách cố ý, tinh vi và luôn tồn tại một cáchtiềm ẩn trong hoạt động kinh tế và báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Ví dụ 2: Lập bảng lương giả để tăng chi phí của doanh nghiệp giảm lợi nhuận của doanh nghiệp giảm lượng thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Che giấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làmsai lệch báo cáo tài chính
Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật
Ví dụ: Theo quy định, chi phí tiếp khách của doanh nghiệp tối đa 10% tổng chi phí được trừ kế toán doanh nghiệp có thể đi lấy hóa đơn đỏ ở nhà hàng để
bổ sung hóa đơn của doanh nghiệp giảm lợi nhuận trước thuế giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Trang 5 Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kếtoán, chính sách tài chính.
Ví dụ 1: Doanh nghiệp ghi tăng doanh thu để lập báo cáo tài chính phục vụ mục đích thu hút đầu tư, gian lận,…: trong báo cáo tài chính năm 2002, Bibica
đã ẩn khoản lỗ dưới dạng chi phí xây dựng cơ bản (5,6 tỷ) mà thực chất là chi phí hoạt động của một nhà máy tại Hà Nội Do đó chi phí doanh nghiệp được giảm, giảm lỗ thật, tăng lãi giả.
Ví dụ 2: Cắt kì sớm (như cắt kì từ 15/12) hoặc cắt kì muộn (như cắt kì từ 15/1)
để đạt doanh thu như dự tính.
Cố ý tính toán sai về mặt số học để làm sai lệch báo cáo tài chính hoặc đemlại lợi ích cá nhân
Gắn với một lợi ích kinh tế nào đó: ăn cắp, biển thủ tài sản, làm giả chứng
từ, giấu diếm các khoản nợ xấu
Ví dụ: Mua một tài sản nhưng nâng giá trị của tài sản đó lên để được khấu trừ đầu vào nhiều hơn (cấu kết với bên bán để lập hồ sơ chứng từ giả).
Lỗi về tính toán số học hay ghi chép sai
Ví dụ: Ghi chép sai các thông tin như mã số thuế, số tiền hàng, số hóa đơn chứng từ, sai số trên sổ sách.
Bỏ sót hoặc hiểu sai các khoản mục hoặc nghiệp vụ kinh tế do trình độ, hiểubiết hạn chế
Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp kế toán, chính sáchtài chính nhưng không cố ý
Trang 6Ví dụ: Tính sai định mức khống chế chi phí quảng cáo, chi phí bảo hiểm, hoa hồng,…
II Các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận, sai sót
1 Các nhân tố bên trong
Trình độ và đạo đức của các nhà quản lý:
Cơ hội: đó là thời cơ để thực hiện hành vi gian lận Khi có quyền lực càngnhiều thì càng dễ phát sinh gian lận, hoặc đơn vị vi phạm nguyên tắc bất kiêmnhiệm trong quản lý tài sản nên để một người nắm giữ vừa sổ sách vừa tài sản
Ví dụ: Một người vừa làm thủ kho vừa làm kế toán hàng tồn kho hoặc giám đốc tài chính quyết định các khoản đầu tư mà không ai giám sát.
Tính trung thực và liêm khiết: Nếu các nhà lãnh đạo thiếu trung thực vàliêm khiến sẽ là mầm mống của gian lận Sự kết hợp giữa sự xúi giục, thiếu liêmkhiết và thời cơ sẽ biến thành hành vi gian lận Do đó thiếu một trong ba yếu tốtrên thì hành vi gian lận khó mà xảy ra
Trình độ và ý thức của nhân viên:
Sự xúi giục là một loại áp lực từ cả phía cá nhân người thực hiện hay một
cá nhân nào khác Một số động cơ phổ biến như: cần phải trang trải một khoàntiền lớn nào đó, muốn giàu có nhanh, vỡ lòng tham, muốn nổi tiếng, có sự hiểubiết mơ hồ về pháp luật, tin người,… Với trình độ hạn chế và ý thức chưa tốt củanhân viên đó là cơ hội để gian lận và sai phạm được xảy ra
Năng lực làm việc, lề lối làm việc là nguyên nhân dẫn đến sai sót: Tấtnhiên, năng lực xử lý công việc kém, khả năng nhận biết vấn đề không nhanhnhạy sẽ làm gia tăng sai sót Hơn nữa, lề lối làm việc cẩu thả, thiếu thận trọng,thiếu ý thức trách nhiệm cũng là yếu tố quan trọng góp phần làm tăng khả năngsai sót
Lương thưởng của cán bộ công nhân viên:
Một thực tế là thực trạng gian lận và sai sót diễn ra tại nơi có hệ thống lươngtrả cho nhân viên thấp, chưa tương xứng với trình độ cũng như năng suất họ tạo
ra Điều này tạo ra tâm lý lách luật gây sai phạm để thu nguồn lợi bất chính bùđắp cho phần lương thưởng còn hạn chế
Trang 7 Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Công tác quản lý bị một người (hay một nhóm người) độc quyền nắm giữ,thiếu sự giám sát có hiệu lực của Ban Giám đốc hoặc Hội đồng quản trị hoặckhông có ban, hội đồng giám sát độc lập, có hiệu lực
Cơ cấu tổ chức của đơn vị phức tạp một cách cố ý khó hiểu
Có sự thay đổi thường xuyên kế toán trưởng hoặc người có trách nhiệm của
Yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán:
Yếu kém của hệ thống kiểm toán nội bộ và hệ thống kế toán thường bị bỏqua hoặc tỏ ra bất lực trong khi thực tiễn những yếu kém này hoàn toàn có thểkhắc phục được
Do hạn chế vốn có của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ nên vẫn có khảnăng xảy ra gian lận và sai sót có ảnh hưởng trọng yếu tới báo cáo tài chính Đốivới hệ thống kiểm soát nội bộ, tồn tại các sai phạm là do sự thông đồng giữa cácnhân viên hay gian lận của Ban giám đốc
Khó khăn trong thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp:
Tài liệu kế toán không đầy đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế hoặckhông được cung cấp kịp thời
Ví dụ: Không thu thập đủ chứng từ, phát sinh chênh lệch lớn giữa sổ và báo cáo, những nghiệp vụ ghi chép sai hoặc để ngoài sổ kế toán.
Lưu trữ tài liệu không đầy đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế
Ví dụ: Chứng từ chưa được phê duyệt, thiếu tài liệu hỗ trợ cho nghiệp vụ lớn hoặc bất thường.
Có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với xác nhận của bên thứ bamâu thuẫn giữa các bằng chứng kiểm toán
Trang 8 Không giải thích được sự thay đổi của các chỉ số hoạt động.
Ban giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải trình không thỏa mãnyêu cầu của kiểm toán viên
Các nghiệp vụ, sự kiện bất thường
Các nghiệp vụ đột xuất, đặc biệt xảy ra vào cuối niên độ kế toán có tácđộng đến doanh thu, chi phí, kết quả
Các nghiệp vụ hoặc phương pháp xử lý kế toán phức tạp
Các nghiệp vụ với bên hữ quan như mua đất, bán rẻ hoặc quan hệ vớinhững khách hàng có nhiều tiêu cực, không minh bạch,…
Các khoản chi phí quá cao so với những dịch vụ được cung cấp
2 Các nhân tố bên ngoài
Có sự thay đổi thường xuyên về chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc kiểm toán viên
Sức ép bất thường lên doanh nghiệp
Ngành nghề kinh doanh gặp khó khăn và số đơn vị phá sản ngày càng tăng
Thiếu vốn kinh doanh do lỗ, hoặc do mở rộng quy mô doanh nghiệp quánhanh
Sức ép về tài chính từ những nhà đầu tư hoặc các cấp quản lý đơn vị
Sức ép đối với nhân viên kế toán phải hoàn tất báo cáo tài chính trong thờigian quá ngắn, hoặc phải điều chỉnh doanh thu, chi phí, kết quả theo yêu cầu củađơn vị
Chính sách pháp luật thiếu đồng bộ hiệu quả, nhiều điểm yếu, kẽ hở
Các biến động kinh tế vĩ mô: lạm phát, lãi suất, tỉ giá,…
Đối thủ cạnh tranh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trang 9 Môi trường kĩ thuật công nghệ
Không lấy được thông tin từ máy tính
Có thay đổi trong chương trình vi tính nhưng không lưu tài liệu, khôngđược phê duyệt và không được kiểm tra
Thông tin tài chính in từ máy tính không phù hợp với BCTC
Các thông tin in ra từ máy vi tính mỗi lần lại khác nhau
Khi doanh nghiệp nhảy sang một lĩnh vực mới
III So sánh gian lận và sai sót
1 Điểm giống nhau
Đều là những sai phạm trong lĩnh vực tài chính kế toán làm lệch lạc thông tin kinh
tế, tài chính; phản ánh sai thực tế, liên quan rất nhiều đến việc xác định kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp Những sai phạm này do mắc lỗi tạo nên
Dù ai là người gây ra lỗi thì nhà quản trị nói chung và nhà kế toán nói riêng trongdoanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cuối cùng về sai phạm này
2 Điểm khác nhau
Về mặt ý thức
Gian lận là hành vi có tính toán, có chủ ý, một hành động lừa dối của nhữngngười có liên quan nhằm mục đích tư lợi (ví dụ như biển thủ tài sản, tham ô, chegiấu tài sản, xuyên tạc thông tin, cố ý áp dụng sai lệch chuẩn mực kế toán tàichính, làm sai lệch thông tin trên báo cáo tài chính,…)
Sai sót là những lỗi hoặc sự nhầm lẫn không có chủ ý, do vô tình bỏ sóthoặc do năng lực yêu kém, thiếu thận trọng trong công viêc của kế toán,… gây rasai phạm (ví dụ như các lỗi về tính toán số học, bỏ sót hoặc hiểu sai sự việc mộtcách vô tình, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế hoặc áp dụng saichuẩn mưc do thiếu năng lực,…)
Về mức độ tinh vi
Trang 10 Gian lận: Hành vi gian lận là hành vi có chủ ý nên luôn được che đậy cố ýmột cách kín đáo và tinh vi Khi thực hiện gian lận, người thực hiện thường có sựchuẩn bị và tính toán kỹ lưỡng nên việc phát hiên ra gian lận khó hơn sai sót.
Sai sót: Là hành vi không có chủ ý nên mức độ tinh vi thấp, dễ dàng kiểmtra và phát hiện
xuyên tạc, làm giả, sửa đổi chứng từ
và tài liệu liên quan đến báo cáo tàichính
- Che giấu hoặc cố ý bỏ sót các thôngtin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làmsai lệch báo cáo tài chính
- Ghi chép các nghiệp vụ không đúng
sự thật
- Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực,nguyên tắc, phương pháp và chế độ kếtoán, chính sách tài chính
- Cố ý tính toán sai về mặt số học đểlàm sai lệch báo cáo tài chính hoặcđem lại lợi ích cá nhân
- Thường gắn liền với việc tham ô,
Là hành vi không có chủ
ý, chỉ là vô tình bỏ sót hoặc
do năng lực hạn chế, thiếuthận trọng trong côngviệc, gây ra sai phạm
- Lỗi tính toán về số họchay ghi chép sai
- Bỏ sót hoặc hiểu sai dẫnđến làm sai lệch các khoảnmục hoặc các nghiệp vụkinh tế do trình độ, hiểu biếthạn chế
- Áp dụng sai các chuẩnmực, nguyên tắc, phươngpháp kế toán, chính sách tàichính do hạn chế về nănglực
Trang 11biển thủ tài sản hoặc vụ lợi cho cánhân hoặc nhóm người.
Mức độ tinh vi
Do gian lận là hành vi có chủ ý nênmức độ tinh vi cao Người gian lậnthường thực hiện thường chuẩn bị,tính toán kĩ lưỡng nên rất khó để pháthiện ra
Do sai sót là hình vi không
có chủ ý nên mức độ tinh vithấp, dễ phát hiện ra
Gian lận và sai sót đều là những sai phạm tiềm ẩn trong báo cáo tài chính của mỗidoanh nghiệp, ảnh hưởng đến kết quả trên báo cáo tài chính, phản ánh sai lệch tình hìnhkinh doanh thực tế của doanh nghiệp Điểu này có thể dẫn tới việc đánh giá sai về tìnhhình của doanh nghiệp nên các đối tác hay nhà đầu tư có thể không có được cái nhìnđúng đắn về doanh nghiệp do đó có những quyết định sai lầm Mặt khác, sự sai lệch nàycũng có thể ảnh hưởng đến việc quản lý tình hình kinh tế tài chính của Nhà nước, thấtthoát nguồn thu ngân sách nhà nước qua hành vi trốn thuế
Việc phát hiện những gian lận thường khó khăn hơn những sai sót, vì gian lận đượcngười thực hiện che giấu cố ý và hết sức tinh vi Đồng thời, các hành vi gian lận chủ yếuvới mục đích tư lợi và ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả trên báo cáo tài chính Vì vậymục đích chính của các kiểm toán viên là mong muốn tìm ra những gian lận hơn là saisót Nói như vậy không có nghĩa là chỉ gian lận mới ảnh hưởng đến báo cáo tài chính cònsai sót thì không Một sai sót được coi là trọng yếu khi sai sót đó diễn ra trên diện rộng(quy mô lớn) và lặp đi lặp lại, ảnh hưởng lớn đến quá trình kiểm toán doanh nghiệp.Trong thực tế, khi kiểm toán, kiểm toán viên phải tìm kiếm, phát hiện những sai sót vàgian lận có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đem lại sự minh bạch trong vấn
đề tài chính của doanh nghiệp
IV Trách nhiệm của Kiểm toán viên và của Đơn vị được kiểm toán
1 Trách nhiệm của kiểm toán viên về các gian lận và sai sót
Trang 12Kiểm toán viên phải có trách nhiệm về các gian lận và sai sót theo từng khâu củagiai đoạn kiểm toán.
a Kiểm toán viên phải có trách nhiệm trong việc phát hiện và đánh giá ảnh hưởng của gian lận, sai sót đã phát hiện được
Khi lập kế hoạch kiểm toán và khi thực hiện kiểm toán: kiểm toán viên và công tykiểm toán phải đánh giá rủi ro về gian lận, sai sót có thể có làm ảnh hưởng trọng yếu đếnbáo cáo tài chính Kiểm toán viên phải lập kế hoạch, xây dựng các thủ tục kiểm toán phùhợp để đảm bảo mọi gian lận, sai sót có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính đượcphát hiện
Trong quá trình kiểm toán: kiểm toán viên phải có trách nhiệm giúp đơn vị đượckiểm toán ngăn ngừa, phát hiện và xử lý gian lận, sai sót nhưng kiểm toán viên khôngphải chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc ngăn ngừa gian lận, sai sót ở đơn vị mà họkiểm toán
Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để chứngminh rằng báo cáo tài chính không có gian lận, sai sót ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáotài chính hoặc báo cáo tài chính có gian lận, sai sót thì đã được phát hiện, sửa chữa hoặc
đã được trình bày, phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính Kiểm toán viên phải chỉ ra sựảnh hưởng của gian lận, sai sót đến báo cáo tài chính
Để hạn chế rủi ro vốn có của kiểm toán (không phát hiện hết tất cả các gian lận, saisót có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính), kiểm toán viên phải luôn tuân thủnguyên tắc hoài nghi nghề nghiệp trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán,luôn ý thức rằng từ hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ có thể có sự kiện dẫnđến gian lận, sai sót trọng yếu tồn tại trong báo cáo tài chính
Khi nghi ngờ báo cáo tài chính có gian lận, sai sót, kiểm toán viên có trách nhiệmthực hiện các thủ tục cần thiết để phát hiện gian lận, sai sót
Khi đã phát hiện gian lận, sai sót hoặc khi kiểm toán viên còn có sự nghi ngờ thìkiểm toán viên phải đánh giá ảnh hưởng của gian lận, sai sót này đến báo cáo tài chính.Nếu gian lận, sai sót có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên cầnthực hiện các bước đi cần thiết và sửa đổi, bổ sung thủ tục kiểm toán thích hợp
b Trách nhiệm của Kiểm toán viên trong việc thông báo về gian lận, sai sót