1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu ứng của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến sự ổn định tài chính tại Việt Nam

16 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 346,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở căn cứ vào một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, nghiên cứu xây dựng lại mô hình các nhân tố tác động – đại diện cho chính sách tiền tệ CSTT và chính sách an

Trang 1

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác

động đến tăng trưởng tín dụng của 21 ngân

hàng thương mại (NHTM) trong giai đoạn

2008 – 2015 Trên cơ sở căn cứ vào một số

nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước,

nghiên cứu xây dựng lại mô hình các nhân

tố tác động – đại diện cho chính sách tiền tệ

(CSTT) và chính sách an toàn vĩ mô (ATVM)

đến tăng trưởng tín dụng, qua đó đánh giá ảnh

hưởng của các công cụ điều hành đến sự ổn

định tài chính tại Việt Nam Theo Wooldrige

(2002), phương pháp để xây dựng mô hình

nghiên cứu là phương pháp bình phương

bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) nhằm khắc phục hiện tượng tự tương quan, phương sai sai số thay đổi nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững

và hiệu quả Kết quả nghiên cứu cho thấy các công cụ của CSTT tại Việt Nam có tác động mạnh hơn so với các công cụ đại diện cho chính sách ATVM đến tăng trưởng tín dụng.

Từ khóa: tăng trưởng tín dụng, ổn định

tài chính, chính sách an toàn vĩ mô, chính sách tiền tệ, FGLS.

HIỆU ỨNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Hoàng Chung*

THE EFFECT OF MONETARY POLICY AND MACROPRUDENTIAL POLICY

TO FINANCIAL STABILITY IN VIETNAM ABSTRACT

This paper analyses the factors affecting

credit growth of 21 commercial banks in the

period 2008-2015 Based on some previous

research hypothesis, empirical evidences, this

study contributes regression model with some

impact factors which representing monetary

policy and macroprudential policy to credit

growth, thereby assessing the impact of operating

tools to inancial stability in Vietnam According

to Wooldrige (2002), we suggest regression model with Feasible General Least Square (FGLS) method to correct the auto-correlation and heteroskedasticity to ensure stable, reliable results This result shows that monetary tools have stronger effects than macroprudential tools to inancial stability

Keywords: credit growth, inancial

stability, macroprudential policy, monetary

policy, FGLS.

* ThS GV Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương NCS.Trường Đại học Ngân hang Tp Hồ Chí Minh, ĐT: 0906.672.58

Trang 2

1 GIỚI THIỆU

Khủng hoảng tài chính toàn cầu (global

inancial crisis) cơ bản đã qua đi, nhưng

hậu quả để lại sẽ còn kéo dài trong nhiều

năm Cuộc khủng hoảng này đã khiến nhiều

ngân hàng trung ương (NHTW) trên thế

giới nhận thấy mục tiêu ổn định giá cả hay

kiểm soát lạm phát (price stability) không

đủ để đảm bảo ổn định tài chính (William R

White (2006)) Vì vậy các NHTW cần phải

thực hiện các biện pháp, chính sách hướng

tới mục tiêu ổn định tài chính (inancial

stability) Hay nói cách khác ổn định tài

chính, an toàn kinh tế vĩ mô đang được xem

là mục tiêu trọng yếu của nhiều quốc gia bên

cạnh mục tiêu ổn định giá cả, kiểm soát lạm

phát Đây có thể được xem là chính sách mới

được áp dụng sau các cuộc khủng hoảng gần

đây, được chính phủ các nước trong khu vực

châu Á – Thái Bình Dương cũng vì thế mà

tăng cường sử dụng các công cụ điều tiết

vĩ mô thận trọng (macroprudential tools)

nhằm mục tiêu ổn định tài chính trong khu

vực Đây cũng chính là khu vực thực thi

chính sách an toàn vĩ mô (macroprudential

policy) thông qua việc sử dụng các công cụ

an toàn vĩ mô (ATVM) nhiều nhất trong suốt

20 năm qua so sánh với các khu vực địa lý

khác trên thế giới như Châu Âu, Châu Mỹ

La tinh, Trung Đông, Châu Phi và Bắc Mỹ

(Soyoung Kim & Aaron Mehrotra 2015)

Vì vậy bài nghiên cứu dự kiến đánh giá tác

động cụ thể của chính sách tiền tệ (CSTT)

(monetary policy) và chính sách ATVM

(macroprudential policy) tại Việt Nam đến

sự ổn định tài chính nhằm làm rõ vai trò

của chính sách ATVM đến sự ổn định tài

chính của một quốc gia mà Việt Nam là một

trường hợp áp dụng Ngoài ra bài nghiên

cứu cũng nhấn mạnh mục tiêu quan trọng

của từng chính sách: CSTT hướng đến mục

tiêu chính là ổn định giá cả và chính sách

ATVM hướng đến mục tiêu chính là ổn định tài chính, cách thiết lập như vậy cũng phù hợp với quy tắc Tinbergen1 (Tinbergen, J (1952); William A Knudson (2008)) Cuối cùng cả hai chính sách này đều hướng đến mục tiêu cuối cùng ổn định nền kinh tế của một quốc gia

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.1 Nền tảng lý thuyết về vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Ổn định tài chính

Mỗi quốc gia có một cách định nghĩa đi cùng với sự điều hành hướng tới các mục tiêu

ổn định tài chính khác nhau Theo NHTW Thụy Sĩ thì ổn định hệ thống tài chính nghĩa

là một hệ thống tài chính mà trong đó các chủ thể tài chính bao gồm: trung gian tài chính, thị trường tài chính và hạ tầng tài chính thực hiện tốt các chức năng của mình và có khả năng chống đỡ được các cú sốc tiềm ẩn NHTW Đức định nghĩa ổn định tài chính là khả năng vận hành tốt các chức năng chính của hệ thống tài chính, kể cả trong thời kỳ kinh tế căng thẳng và thời kỳ điều chỉnh cơ cấu nhằm giúp phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn lực và rủi ro tài chính cũng như tạo nền tảng hạ tầng tài chính hiệu quả NHTW

Úc cho rằng ổn định hệ thống tài chính là một trạng thái mà trong đó các trung gian tài chính, thị trường và hạ tầng tài chính phân

bổ tốt các luồng vốn giữa tiết kiệm và đầu

tư, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Và NHTW Anh khẳng định ổn định tài chính

1. Quy tắc Tinbergen cho rằng đối với mỗi mục tiêu chính sách phải có ít nhất một công cụ chính sách Nếu có ít công cụ thực thi mục tiêu chính sách thì một số mục tiêu này sẽ không đạt được Hoặc một số công cụ giúp đạt được mục tiêu, và một số công cụ khác trong khi đáp ứng một số mục tiêu lại làm cho các mục tiêu khác trở nên khó khăn hơn

Trang 3

hàm ý việc xác định rủi ro trong hệ thống tài

chính và hành động để giảm thiểu chúng Tuy

vậy, có thể thống nhất quan điểm về nội hàm

của thuật ngữ này như sau: Ổn định tài chính

là một trạng thái trong đó hệ thống tài chính

gồm các trung gian tài chính, thị trường và hạ

tầng tài chính có khả năng chống đỡ được các

cú sốc và những rủi ro do sự mất cân đối tài

chính gây ra từ đó làm giảm bớt khả năng sụp

đổ của các trung gian tài chính vốn sẵn có tác

động tiêu cực đối với việc phân bổ tiết kiệm

và đầu tư (NHTW Châu Âu) Cuối cùng, có

thể nhận thấy tất cả đều có chung một nhận

định là chính sách an toàn vĩ mô có vai trò

hết sức quan trọng đối với ổn định tài chính,

sự mất ổn định tài chính sẽ tác động đến môi

trường kinh tế vĩ mô, các hoạt động kinh tế,

ổn định giá trị đồng tiền và quá trình truyền

dẫn CSTT (Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc

Gia Việt Nam)

2.1.2 Chính sách ATVM

Theo Hội đồng ổn định tài chính (FSB),

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) và Quỹ

Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng chính sách

ATVM là chính sách sử dụng các công cụ

an toàn để hạn chế các rủi ro mang tính hệ

thống và/hoặc các rủi ro đối với tổng thể hệ

thống tài chính (inancial system) nhằm giảm

thiểu khả năng đổ vỡ của hệ thống tài chính

thông qua việc ngăn ngừa các dịch vụ tài

chính có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối

với nền kinh tế thực (real economy) (IMF,

2013a) Điều này có thể được thực thi thông

qua việc tăng cường sự bền vững của toàn bộ

hệ thống tài chính đối với các cú sốc thông

qua việc chủ động hạn chế tích tụ rủi ro

Đối tượng điều chỉnh của chính sách ATVM

(macroprudential policy) là rủi ro hệ thống

(systemic risks) với mục tiêu ổn định tài chính

(inancial stability), bao gồm: (i) phát hiện

và ngăn ngừa nguy cơ xảy ra khủng hoảng

tài chính (inancial crisis) làm sụt giảm tổng sản phẩm quốc nội (domestic output), và (ii) giảm thiểu các rủi ro lan truyền từ hệ thống tài chính đến khu vực tài chính thực; và (iii) thực hiện xử lý khủng hoảng (Đỗ Việt Hùng

và cộng sự, 2014) Cuối cùng bên cạnh chính sách tiền tệ (monetary policy) và chính sách tài khóa (iscal policy) thì chính sách ATVM giúp NHTW tạo nên bộ ba quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô, đã và đang được áp dụng để chứng minh sự hiệu quả tại các nước phát triển và thị trường mới nổi (emerging market economies (EMEs)

2.1.3 Chính sách tiền tệ

CSTT quốc gia là các quyết định về tiền

tệ ở tầm quốc gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu

ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công

cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra (Lý Hoàng Ánh, Lê Thị Mận và các cộng sự, 2012) Chính sách tiền tệ là một phần đặc biệt quan trọng trong chính sách kinh tế vĩ mô, bao gồm các quan điểm, chủ trương, đường lối để quản lý, kiểm soát để điều tiết tiền tệ trong nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng với vai trò chủ đạo là Ngân hàng Nhà Nước, được cụ thể hóa trong các cơ chế, giải pháp, biện pháp và công cụ điều hành lượng tiền cung ứng, các hoạt động tiền tệ nhằm bảo đảm đạt được các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế như: ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế (Lê Quốc Lý, 2013) Hay CSTT còn được xem là các hành động của NHTW nhằm thay đổi cung tiền hoặc lãi suất chính sách để hướng đến mục tiêu ổn định lạm phát, tăng trưởng kinh tế, toàn dụng lao động và ổn định tỷ giá hối đoái (Araújo, 2015; Drakos and Kouretas, 2015; Sánchez, 2012)

Trang 4

Kênh dẫn truyền chủ yếu của CSTT đến

nền kinh tế thường là thông qua hệ thống tài

chính, trong đó quan trọng nhất là hệ thống

ngân hàng thương mại (NHTM)

2.1.4 Cơ sở lý thuyết về cung tiền và lạm

phát

Theo lý thuyết về lượng tiền của Milton

Friedman, mối quan hệ giữa cung tiền và lạm

phát được thể hiện qua phương trình định

lượng: MV=PY Trong đó: M là lượng tiền,

V là vòng quay của tiền, P là giá cả, Y là

sản lượng (GDP thực tế) Phương trình định

lượng có thể viết dưới dạng phần trăm như

sau:

% thay đổi của M + % thay đổi của V = %

thay đổi của P + % thay đổi của Y (1)

Hay: % thay đổi của M = %thay đổi của

P + % thay đổi của Y - % thay đổi của V (2)

Công thức trên cho thấy mối quan hệ qua

lại giữa các biến động của yếu tố cung tiền,

vòng quay của tiền, giá cả và GDP thực tế

Thông thường, vòng quay của tiền hay còn

gọi là tốc độ chu chuyển của tiền V không

thay đổi nhiều qua từng năm Giả sử V không

thay đổi, khi đó tốc độ tăng của cung tiền

bằng tốc độ tăng của giá cả cộng (+) tốc độ

tăng của GDP thực tế Bên cạnh đó, tại Việt

Nam thì cung tiền trong nền kinh tế chủ yếu

bởi hệ thống NHTM thông qua kênh cho vay

(…) Như vậy, phương trình (2) cho thấy tốc

độ tăng trưởng kinh tế thực và tỷ lệ lạm phát

sẽ quyết định tỷ lệ tăng trưởng tín dụng trong

nền kinh tế

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước

đây về vấn đề liên quan đến bài viết

2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài liên

quan đến bài viết

Căn cứ theo nghiên cứu của Cesa –

Bianchi và Rebucci (2013) thì CSTT sẽ chịu

trách nhiệm với mục tiêu ổn định giá cả còn

các chính sách ATVM sẽ chịu trách nhiệm với mục tiêu ổn định tài chính (inancial stability) Theo đó trong thời gian gần đây, vấn đề sử dụng chính sách ATVM nhằm đảm bảo ổn định tài chính cũng như môi trường kinh tế vĩ mô tại mỗi quốc gia là một trong những nội dung quan trọng và đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Các phân tích, đánh giá và mô hình đã được xây dựng nhằm xác định mức độ hiệu quả của các công cụ ATVM và công cụ thực thi CSTT tại nhiều quốc gia và khu vực Một

số kết quả, nhận định được đưa ra từ các nghiên cứu này như sau:

Cesa - Bianchi & Rebucci 2013 – Cuộc

khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đã tạo động lực cho các học giả trên thế giới nghiên cứu sâu thêm về việc tích hợp mục tiêu ổn định tài chính và các chính sách ATVM (macroprudential policy) vào các mô hình kinh tế vĩ mô cùng với CSTT (monetary policy) Công cụ ATVM và công cụ CSTT có thể giải quyết cả hai biến dạng gây ra bởi lực cản tài chính (inancial friction) và lực cản kinh tế vĩ mô (macroeconomic friction) Bài nghiên cứu có liên quan đến một số nghiên cứu, với đại diện của trường phái New Keynesian là các lực cản tài chính (inancial friction) và quy tắc Taylor (Angelini, Neri, and Panetta (2011), Beau, Clerc, and Mojon (2012), Kannan, Rabanal, and Scott (2012)) Những bài nghiên cứu này cho rằng công

cụ lãi suất tăng cường và công cụ ATVM (macroprudential tools) tăng cường như là tăng trưởng tín dụng (credit growth), giá tài sản (asset price), LTV (loan to value ratio) tạo ra một sự kết hợp giữa lãi suất và quy tắc ATVM để chính sách tiền tệ có thể nương theo chiều gió (lean against the wind)

Shin 2015 – Bài nghiên cứu là sự so sánh

giữa chính sách ATVM và CSTT Trong một

Trang 5

vài khía cạnh cụ thể, chính sách ATVM được

sử dụng bởi nhiều nền kinh tế phát triển trước

năm 1970 Trong khi đó CSTT ảnh hưởng

đến khả năng chấp nhận rủi ro, tác động cả hệ

thống tài chính trong nước và lan truyền sang

các nền kinh tế khác Bên cạnh đó, các nghiên

cứu thực nghiệm được nêu trong bài cho rằng

tương quan giữa CSTT và chính sách ATVM

là bổ sung, thông qua kết quả của một vài cú

sốc khác nhau Đó có thể là tương quan cùng

chiều (pull in the same direction) (Bruno

& Shim 2015) Các công cụ ATVM thường

được sử dụng thông qua các NHTM Bài

nghiên cứu cho rằng việc thay đổi tỷ lệ của

mức chi trả nợ trên thu nhập (Debt service to

income ratio – DSTI) hoặc tỷ lệ tín dụng trên

giá trị (Loan to value ratio – LTV) sẽ hoạt

động theo một cơ chế như CSTT Cụ thể, sự

biến động của hai chỉ số trên sẽ ảnh hưởng

tới chi phí và mức độ sẵn có của tín dụng cho

các hộ gia đình và doanh nghiệp, qua đó tác

động tới các quyết định đẩy mạnh hoặc trì

hoãn tiêu dùng

Kuttner và Shim 2013 – Nghiên cứu

thực nghiệm là phần mở rộng của chính sách

ATVM, với mục tiêu hạn chế các rủi ro hệ

thống trong hệ thống tài chính (IMF-BIS-FSB

(2011)) Mục tiêu đầu tiên của chính sách này

là chứng minh được khả năng phục hồi của

hệ thống tài chính bằng cách thực thi tính

thanh khoản, vốn và tài sản thế chấp Thứ hai

là thu hẹp lại các sự mất cân bằng về tài chính

bằng tín dụng và kênh giá tài sản Mục tiêu

của bài nghiên cứu này là cung cấp những

đánh giá về sự hiệu quả của tín dụng và chính

sách thuế liên quan đến kênh cho vay nhà ở

và giá nhà Bài nghiên cứu chỉ rõ tác động

của sự suy giảm tỷ lệ mức chi trả nợ trên thu

nhập (DSTI) và tỷ lệ cho vay (LTV) tới việc

tổng cầu và tiêu dùng cuối cùng giảm thông

qua cho vay nhà ở và giá nhà Nghiên cứu

thực nghiệm cũng thống kê lại việc sử dụng

các công cụ chính sách khác ngoài lãi suất

để đảm bảo sự ổn định tài chính kể từ năm

2000 So sánh giữa các khu vực địa lý, tác giả chỉ ra rằng nền kinh tế Châu Á Thái Bình Dương sử dụng các công cụ ATVM nhiều nhất trong hơn 20 năm qua Trong các nước

áp dụng lạm phát mục tiêu, Hàn Quốc là quốc gia thực hiện nhiều biện pháp can thiệp nhất với hơn 26 biện pháp ATVM, cụ thể là 21 biện pháp thắt chặt và chỉ 6 biện pháp là nới lỏng Tác giả còn rút ra kết luận quan trọng

là các biện pháp ATVM được sử dụng nhiều hơn trong một số nền kinh tế sau khi NHTW ban hành mục tiêu ổn định tài chính (Thái

Lan, Malaysia…)

Kim, S & Mehrotra, A (2016) – Bài

nghiên cứu về vấn đề đánh đổi chính sách giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát và duy trì ổn định tài chính Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ các nước tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương áp dụng khuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu, đồng thời cũng thực thi chính sách ATVM Thông qua ước lượng mô hình hệ phương trình tự hồi quy dạng cấu trúc (SVAR) cho các nước thực thi chính sách lạm phát mục tiêu, bài nghiên cứu xây dựng mô hình nhận diện các cú sốc của CSTT và các chính sách ATVM, đồng thời

mô hình hóa được mối quan hệ giữa các biến đại diện cho các chính sách như lãi suất chính sách (policy rate) đại diện cho CSTT và biến ATVM (prudential variables) đại diện cho chính sách ATVM Bài nghiên cứu này sử dụng 5 biến nội sinh (endogenous variables), trong đó có hai biến công cụ chính sách (policy instruments) – lãi suất chính sách (R)

và biến chính sách ATVM (PP) (Shim et al, 2013) Ngoài ra, bài nghiên cứu sử dụng chỉ

số giá tiêu dùng (CPI) đại diện cho biến mục tiêu của CSTT, tổng tín dụng cho khu vực tư nhân (CRD) được sử dụng như mục tiêu của chính sách ATVM GDP thực (RGDP) cũng

Trang 6

được đưa vào mô hình để phản ánh các hoạt

động kinh tế phát sinh Mô hình trong bài

nghiên cứu được xem là mô hình mở rộng

từ mô hình xác định các cú sốc CSTT của

Christiano và cộng sự (1999) Thông qua

trọng tâm nghiên cứu là đánh giá phản ứng

của 5 biến nội sinh trước các cú sốc về CSTT

và chính sách ATVM cho thấy khi cả hai cú

sốc theo hướng thắt chặt: PP tăng trước cú sốc

chính sách ATVM và R tăng trước cú sốc về

CSTT Cả hai cú sốc này đều dẫn đến sự sụt

giảm có ý nghĩa thống kê của CPI và CRD

Điều đó có nghĩa là CSTT thắt chặt không

chỉ làm giảm mức giá mà còn là giảm cả khối

lượng tín dụng Tương tự, chính sách ATVM

thắt chặt cũng làm giảm không chỉ tín dụng

mà cả mức giá, qua đó tác động đáng kể đến

lạm phát

Angelini & cộng sự 2014 – Bài nghiên

cứu đã chứng minh được lợi ích của việc phối

hợp giữa CSTT và chính sách ATVM trong

bối cảnh thị trường tài chính có nhiều biến

động Trong đó, NHTW sẽ góp phần ổn định

sản lượng và tỷ lệ tín dụng trên GDP (credit

to GDP), đây cũng là mục tiêu của nhà điều

hành chính sách ATVM tuy nhiên sẽ bị đánh

đổi bằng việc lạm phát cao hơn và lãi suất

chính sách biến động mạnh hơn

Ueda & Valencia 2014 – Bài nghiên

cứu chỉ ra rằng khi NHTW chịu trách nhiệm

ổn định giá cả và ổn định tài chính, sẽ tồn

tại vấn đề không nhất quán thời gian (time

inconsistency problem) trong mô hình thực

nghiệm Cụ thể sau khủng hoảng, CSTT

thường có xu hướng tạo ra mức lạm phát cao

hơn, mức lạm phát tối ưu (the social optimal

level of inlation) để làm giảm gánh nặng từ

các khoản nợ (private debt) do các chính sách

ATVM không thể được sử dụng để làm giảm

khối lượng nợ Do các cơ quan hoạch định

chính sách ATVM biết NHTW có thể làm

giảm gánh nặng nợ thông qua lạm phát nên

cơ quan này có thể cho phép nền kinh tế tích lũy một khối lượng nợ lớn hơn, từ đó tạo ra khuynh hướng lạm phát (inlation bias)

Lim & cộng sự (2011) – Bài nghiên cứu

chỉ ra rằng các công cụ ATVM như LTV, DTI, hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc (DTBB)

và dự phòng rủi ro (Loan Loss Provisioning) thực sự hiệu quả trong việc làm giảm các biến động rủi ro chu kỳ (counter-cyclical) của tín dụng và đòn bẩy tài chính (inancial leverage)

Crowe và cộng sự (2011) - đã chứng minh

được mối quan hệ giữa chính sách ATVM và chu kỳ bất động sản LTV là công cụ tốt nhất

để hấp thụ và giảm thiểu các rủi ro tín dụng

do sự bùng nổ bất động sản Các công cụ với mục tiêu làm gia tăng sức chống đỡ cho hệ thống ngân hàng (như dự phòng linh hoạt) mặc dù không hiệu quả trong việc chấm dứt tình trạng bùng nổ nhưng lại rất có hữu dụng trong việc xử lý tình trạng vỡ bong bóng tín dụng bất động sản

Vandenbussche, Vogel, và Detragiache (2012) - Trong nghiên cứu của mình tại các

quốc gia ở châu Âu đã nhận định rằng, các công cụ an toàn vốn (CAR) và công cụ như DTBB ký quỹ đối với các khoản vốn ngoại tệ hoặc DTBB ký quỹ kết hợp với tăng trưởng tín dụng giúp hạ nhiệt giá bất động sản Hay các công cụ giới hạn tăng trưởng tín dụng trong ngành như LTV, DTI và các công cụ kiểm soát vốn như dự trữ bắt buộc (DTBB) giúp gia tăng sức mạnh cho hệ thống tài chính

quốc gia (Gabriele Galati, 2015)

Claessens và các cộng sự (2012) - Chỉ ra

rằng cấu trúc, tổ chức và đặc điểm của hệ thống tài chính (dựa vào ngân hàng hay dựa vào thị trường) có tác động làm khuyếch trương chu

kỳ tài chính và chu kỳ kinh tế thực, vì thế đây

là yếu tố quan trọng nhất mà cơ quan giám

Trang 7

sát cần phải xem xét khi lựa chọn áp dụng

công cụ ATVM Ví dụ như, đối với các quốc

gia có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng

thì các nhà chính sách nên sử dụng các công

cụ có liên quan đến hệ thống ngân hàng và tổ

chức tài chính và ngược lại Điều kiện chính

sách tài khóa và tiền tệ đang được áp dụng

cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn công cụ

Tiếp theo việc sử dụng các công cụ ATVM

tại các quốc gia có sự khác biệt; các quốc gia

phát triển ưu tiên sử dụng các công cụ làm

giảm tăng trưởng tín dụng, trong khi đó các

quốc gia đang phát triển lại sử dụng kết hợp

nhiều công cụ với nhau, kiểm soát vốn, thanh

khoản và tăng trưởng tín dụng

Valla và Escorbiac (2006) – Bài nghiên

cứu tập trung vào một số yếu tố nội tại và

vĩ mô ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản

của các ngân hàng ở Anh như nghiên cứu của

nhóm tác giả Aspachs và cộng sự (2005) Kết

quả nghiên cứu cho rằng tỷ lệ thanh khoản

của các ngân hàng Anh phụ thuộc đồng biến

vào tăng trưởng tín dụng, GDP, lãi suất ngắn

hạn và nghịch biến với lợi nhuận ngân hàng

2.2.2 Các nghiên cứu trong nước liên

quan đến bài viết

So với nhiều nghiên cứu nước ngoài thì

các nghiên cứu trong nước có phần hạn chế

hơn, các bài báo, nghiên cứu chủ yếu xoay

quanh việc làm rõ nội dung của chính sách

ATVM, về khái niệm, về các công cụ an toàn

vĩ mô theo thông tư 36/2014/TT-NHNN và

các văn bản sửa đổi, bổ sung đính kèm, các

công cụ này liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn

tối thiểu, tỷ số thanh khoản, tỷ lệ cho vay

trên tổng vốn huy động… các bài nghiên cứu

đánh giá tác động của các biến số này đến các

biến số đại diện cho chính sách an toàn vĩ mô

và chính sách tiền tệ nhằm đánh giá tác động

của các công cụ điều hành đến sự ổn định vĩ

mô Bên cạnh đó là một số nghiên cứu liên

quan đến các biến số vĩ mô (GDP, CPI) tác động đến tăn trưởng tín dụng, cụ thể:

Nguyễn Thị Thu Hương & Nguyễn Khánh Linh (2014) – Bài nghiên cứu thống

kê Việt Nam đang áp dụng 6 biện pháp cơ bản nhằm đảm bảo an toàn cho kinh tế vĩ mô, bao gồm: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Captial Adequacy Requirement – CAR), tỷ lệ khả năng chi trả (Liquidity ratio - LIQ), tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động (Loan deposits ratio - LDR), giới hạn cho vay ngoại tệ, trạng thái ngoại tệ và trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ Tuy nhiên hiện nay chưa thể đánh giá được hiệu quả của các công cụ này tại Việt Nam nên bài nghiên cứu chỉ dừng lại dưới góc độ lượng hóa tác động của các công cụ này đối với vấn đề hiệu quả thực thi chính sách

Vũ Hải Yến & Trần Thanh Ngân (2016)

– Trong bài nghiên cứu đã lựa chọn mô hình

dữ liệu bảng với tác động cố định (Panel ixed-effects model) để đánh giá tác động của các chính sách ATVM (Macroprudential policy effects) đến sự ổn định của hệ thống tài chính (Financial stability) giai đoạn

2007 – 2014 Biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng tín dụng (Credit Growth) và chỉ số giá chứng khoán (VN Index) được lựa chọn

để phản ánh sự ổn định tài chính Biến độc lập bao gồm: các công cụ của CSTT như tỷ

lệ dự trữ bắt buộc (RRR), lãi suất tái chiết khấu (Rediscount rate - DR), hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR), tỷ lệ dự trữ thanh khoản (Liquidity ratio), tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) Ngoài ra, tác giả sử dụng các biến kiểm soát tăng trưởng kinh

tế (GDP) và tốc độ lạm phát (CPI) để giảm tác động gây nhiễu của các biến bị bỏ sót và hiện tượng hệ số ước lượng không đáng tin cậy (mô hình không vững, hệ số ước lượng không có ý nghĩa thống kê…) Kết quả thực nghiệm đánh giá hiệu quả chính sách đối với

Trang 8

tăng trưởng tín dụng cho rằng hệ số CAR, tỷ

lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR)

và tăng trưởng tín dụng (CRD) tương quan

đồng biến (+), tiếp đó sự thay đổi lãi suất tái

chiết khấu (DR) tác động ngược chiều (-) đến

tăng trưởng tín dụng Về hiệu quả chính sách

đối với chỉ số giá chứng khoán thì cho rằng

CAR tác động cùng chiều, tỷ lệ dự trữ thanh

khoản tại các ngân hàng có tác động tích cực

(+) nhưng lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt

buộc thì tác động ngược chiều (-) với chỉ số

giá chứng khoán

Lê Tấn Phước (2016) – Trong bài

nghiên cứu đã lựa chọn mô hình OLS để

đánh giá các yếu tố tác động đến tăng trưởng

tín dụng của NHTM tại Việt Nam Theo kết

quả nghiên cứu thì các NHTM có tỷ lệ tài

sản thanh khoản cao sẽ đặt mục tiêu tăng

trưởng tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận Cùng

với đó, bài nghiên cứu còn tìm ra được mối

quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và GDP

tăng lên sẽ khiến tăng trưởng tín dụng tại

ngân hàng tăng lên Bài nghiên cứu dừng

lại ở việc xây dựng mô hình hồi quy nghiên

cứu OLS Kết quả nghiên cứu cho thấy các

NHTM có khoản vốn chủ sở hữu lớn, tỷ lệ

tài sản thanh khoản cao sẽ đặt mục tiêu tăng

trưởng tín dụng vì lợi nhuận Cùng với đó,

bài nghiên cứu còn tìm thấy mối quan hệ

cùng chiều (+) giữa tăng trưởng GDP với

tăng trưởng tín dụng ngân hàng

Lê Thị Mận và các cộng sự (2016) –

Bài nghiên cứu phân tích mối quan hệ dài

hạn giữa tăng trưởng tín dụng ngân hàng và

tăng trưởng kinh tế tại VN trong giai đoạn

1992 – 2014 thông qua mô hình VECM cùng

với hàm phản ứng đẩy và phân rã phương

sai kết hợp bộ lọc HP để kiểm định tốc độ

tăng trưởng tín dụng ngân hàng tại VN Kết

quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tồn

tại mối quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng tín

dụng ngân hàng đến tăng trưởng kinh tế VN

3 SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Số liệu và lấy mẫu

Số liệu được lấy từ 21 Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn 2008 –

2015, trong đó có một số ngân hàng đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX)

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (panel data) theo ba phương pháp Pool Regression, REM (Random Effect Model) và FEM (Fix Effect Model) Sau đó sử dụng các kiểm định Hausman Test, F – Test, Lagrange Multiplier Test (LM Test) để lựa chọn ra mô hình phù hợp Nếu mô hình được lựa chọn này vi phạm các giả thuyết kinh tế lượng như

tự tương quan và phương sai sai số thay đổi

sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng các phương pháp hồi quy thông thường trên dữ liệu bảng (OLS, FEM, REM) không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi quy không còn đáng tin cậy Vì vậy theo Wooldrige (2002), tác giả áp dụng phương pháp bình phương

bé nhất tổng quát khả thi - Feasible General Least Square (FGLS) để khắc phục hiện tượng tự tương quan, phương sai sai số thay đổi nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững

và hiệu quả

3.3 Mô hình nghiên cứu

Mô hình dữ liệu được lựa chọn để đánh giá tác động của chính sách bảo đảm ATVM

và CSTT đến sự ổn định của hệ thống tài chính trong khoảng thời gian từ 2008 – 2015

dự kiến:

CRD = β0 + β1∆RRR + β2∆DR + β3CAR +

β4LIQ + β5∆LDR + β6GDP + β7CPI + εt

Trang 9

3.4 Cách thức đo lường các biến

Biến phụ thuộc là tăng trưởng tín dụng

(CRD) được đo lường bằng tỷ lệ biến động

dư nợ cuối kỳ qua các năm Tốc độ tăng

trưởng tín dụng được lựa chọn là biến phụ

thuộc để phản ánh sự ổn định của hệ thống

tài chính Theo IMF (2011), những thay đổi

bất thường trong tín dụng và giá tài sản là hai

tín hiệu quan trọng của rủi ro hệ thống, được

sử dụng để làm chỉ số cảnh báo sớm (Early

Warning Index - EWI) Kết quả nghiên cứu

của Soyoung Kim & Aaron Mehrotra (2015)

cho thấy các chính sách ATVM có tác động

tới tăng trưởng tín dụng, đồng thời cũng có

ảnh hưởng đáng kể đến lạm phát Cụ thể là

các chính sách ATVM thắt chặt sẽ góp phần

làm gia tăng áp lực từ lạm phát thấp Tăng

trưởng tín dụng của các ngân hàng thường

có xu hướng tăng nhanh khi chính sách tiền

tệ và tài khóa theo hướng mở rộng, đi kèm

với sự nới lỏng các chính sách và quy định

cấp tín dụng Mở rộng tín dụng đồng nghĩa

với sự gia tăng rủi ro tín dụng Trong trường

hợp rủi ro xảy ra, nó không chỉ ảnh hưởng

trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của một

ngân hàng mà còn có khả năng gây mất ổn

định toàn hệ thống Thực tế tại Việt Nam,

giai đoạn tín dụng tăng trưởng quá nóng

2007 - 2010 (tỷ lệ tăng trưởng dư nợ luôn

trên mức 25%) đã kéo theo hệ quả tỷ lệ nợ

xấu tăng cao trong giai đoạn 2011 - 2013,

những ngân hàng yếu kém lâm vào tình

trạng mất khả năng thanh khoản và khiến

cho hoạt động toàn hệ thống kém ổn định

Như vậy, chỉ số tăng trưởng tín dụng (CRD)

có thể phản ánh mức độ rủi ro mà các ngân

hàng gánh chịu, từ đó biểu thị khả năng phát

triển bền vững và lành mạnh của hệ thống

tài chính trong tương lai

Theo Vũ Hải Yến (2016), biến độc lập được chia thành 03 nhóm biến; trong đó: (i) Nhóm biến đại diện cho chính sách tiền tệ

bao gồm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) được đo

bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho tiền

gửi VNĐ không kỳ hạn và dưới 12 tháng; lãi suất tái chiết khấu (Rediscount rate – DR)

là lãi suất bình quân áp dụng cho nghiệp vụ tái chiết khấu giấy tờ có giá (ii) Nhóm biến đại diện cho chính sách an toàn vĩ mô phải

kể đến bao gồm: Hệ số an toàn vốn (CAR) được đo lường bằng tỷ lệ vốn tự có trên tổng

tài sản có rủi ro; tỷ lệ dự trữ thanh khoản (Liquidity ratio – LIQ) được đo lường bằng

tài sản có tính thanh khoản cao so với tổng

nợ phải trả; Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (Loan to Deposit Ratio – LDR)

được đo lường bằng tổng dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (iii) và nhóm biến đại diện

cho các biến số vĩ mô bao gồm tăng trưởng kinh tế (GDP) và tốc độ lạm phát (CPI) chỉ

số phản ánh mức thay đổi tương đối của một nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng theo thời gian Các biến số nêu trên được thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các ngân hàng TMCP, NHNN Việt Nam

và Tổng Cục Thống Kê Trong đó, do tác động của chính sách thường có độ trễ nhất định nên mô hình sử dụng biến trễ, lấy sai phân bậc 1 (irst diffrence) của tỷ lệ DTBB (

∆RRR hay DRRR), lãi suất tái chiết khấu (

∆DR hay DDR) Về phía chính sách an toàn

vĩ mô, các chỉ tiêu được sử dụng trong mô hình đều thuộc các quy định Thông tư số 36/TT/NHNN về tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động của ngân hàng, bao gồm: Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR), tỷ lệ dự trữ thanh khoản (LIQ) và biến trễ của tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (∆LDR hay DLDR)

Trang 10

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Thống kê mô tả

Bảng 1: Mô tả các biến

STT Chỉ tiêu trung bình Giá trị lớn nhất Giá trị nhỏ nhất Giá trị

1 Tăng trưởng tín dụng (CRD) 34,5% 423% (31%)

3 Lãi suất tái chiết khấu (DDR) 6,8% 13% 4,5%

4 Lãi suất tái chiết khấubq (DR) 7,3% 12,5% 4,5%

5 Hệ số an toàn vốn (CAR) 11,7% 45,89%

-6 Tỷ số thanh khoản (LIQ) 25,54% 64,5% 6%

7 Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) 63,57% 108,4%

9 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 9% 19,8% 0,6%

Nguồn: Thu thập dữ liệu từ SBV, Tổng Cục Thống Kê, Báo cáo của các

NHTM và tính toán của tác giả từ phần mềm thống kê Stata 12

4.2 Kết quả ước lượng

4.2.1 Ma trận tương quan giữa các biến

Bảng 2: Ma trận tương quan giữa các biến

CRD 1,0000

DRRR -0,3923 1,0000

DDR -0,2195 0,2979 1,0000

CAR -0,1465 0,0648 -0,0224 1,0000

LIQ 0,2014 -0,2797 0,0784 -0,1144 1,0000

DLDR 0,2972 -0,1267 -0,0981 0,0121 -0,2319 1,0000

GDP 0,0130 0,5187 0,4960 -0,1026 -0,1424 -0,1145 1,0000

CPI -0,0194 -0,0113 0,6843 0,0683 0,3419 -0,1139 -0,0081 1,0000

Nguồn: Thu thập dữ liệu từ SBV, Tổng Cục Thống Kê, Báo cáo của các

NHTM và tính toán của tác giả từ phần mềm thống kê Stata 12

Dựa vào bảng phân tích tương quan nêu

trên, ta có thể nhận xét như sau: CRD tương

quan nghịch biến (-) với DTBB (DRRR) và

lãi suất tái chiết khấu (DDR) (2 biến có trễ - hàm ý độ trễ chính sách), hệ số an toàn vốn (CAR) và lạm phát (CPI) Tuy nhiên, CRD

Ngày đăng: 24/06/2020, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w