Vì vậy, đề tài không nghiên cứu tất cả các nộidung về chính sách pháp luật bảo vệ ANQG mà chỉ tập trung luận giải khâuthực hiện chính sách pháp luật về ANQG trên một số lĩnh vực chủ chốt
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ THỊ NGỌC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT BẢO VỆ
AN NINH QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội – 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ THỊ NGỌC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT BẢO VỆ
AN NINH QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Chính sách công
Mã số: 9.34.04.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ PHÚ HẢI
Hà Nội – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
TÁC GIẢ
LÝ THỊ NGỌC
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 17
1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 17
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về vấn đề, giải pháp và công cụ chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 17
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 23
1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về thể chế chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 24
1.1.4 Nhóm công trình nghiên cứu về các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia 33
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 36
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án 38
1.3.1 Về những ƣu điểm, những kết quả nghiên cứu mà Luận án sẽ kế thừa, tiếp tục phát triển 38
1.3.2 Về những vấn đề còn chƣa đƣợc giải quyết thấu đáo hoặc cần phải tiếp tục nghiên cứu 39
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA 42
2.1 Chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 42
2.2 Chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam 50
2.3 Thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 61
2.4 Các lĩnh vực chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 66
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 69
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 69
Trang 53.2 Thực trạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia
74
3.2.1 Thực trạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh nội bộ 753.2.2 Thực trạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh xã hội 973.2.3 Thực trạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh
thông tin 1023.2.4 Thực trạng thực hiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực hợptác quốc tế bảo vệ an ninh quốc gia 115
3.3 Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 127
3.3.1 Ưu điểm 1273.3.2 Hạn chế 129
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 138
4.1 Định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay 138
4.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc
gia ở Việt Nam hiện nay 141
4.2.1 Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến về vai
trò của công tác tham mưu, đề xuất hoạch định, xây dựng chính
sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 1414.2.2 Đẩy mạnh công tác dân vận, tạo điều kiện để nhân dân thựchiện trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi trong thực hiện chính sách
pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 1444.2.3 Xác định các vấn đề trọng điểm về an ninh quốc gia cần ưutiên đầu tư để hoàn thiện các chính sách pháp luật liên quan 1464.2.4 Khắc phục những điểm bất hợp lý trong các quy định của hệ
Trang 6thống chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 148
Trang 74.2.5 Nâng cao hiệu lực thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an
ninh quốc gia của các cơ quan nhà nước 1514.2.6 Nâng cao chất lượng quan hệ phối hợp giữa các lực lượng
bảo vệ an ninh quốc gia 153
KẾT LUẬN 157
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 159
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
PHỤ LỤC 1: Bảng thống kê xét xử sơ thẩm hình sự các tội xâm phạm
ANQG 167
PHỤ LỤC 2: Diễn biến của tình hình các tội xâm phạm ANQG về số vụ
và số bị cáo 168
PHỤ LỤC 3: Hệ thống văn bản liên quan đến hoạch định và thực hiện
chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 169
PHỤ LỤC 4: Tình hình lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam từ năm 2011 đến
năm 2018 181
PHỤ LỤC 5: Tình hình xâm hại cơ sơ hạ tầng viễn thông từ năm 2011
đến năm 2018 184
PHỤ LỤC 6: Phiếu điều tra khảo sát về thực trạng chính sách pháp luật
bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay 185
PHỤ LỤC 7: Bảng câu hỏi phỏng vấn sâu 191
Trang 8XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng thống kê xét xử sơ thẩm hình sự các tội xâm phạm ANQG 85
Bảng 3.2 Bảng diễn biến của tình hình các tội xâm phạm ANQG về số vụ
và số bị cáo 87
Trang 10DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chính sách pháp luật bảo
vệ ANQG 74
Biểu đồ 3.2: Mục tiêu chính sách pháp luật bảo vệ ANQG thể hiện rõ trong pháp luật hiện hành 76
Biểu đồ 3.3 Giải pháp chính sách pháp luật bảo vệ ANQG đƣợc quy định trong pháp luật 77
Biểu đồ 3.4 Cơ cấu số vụ phạm tội xâm phạm ANQG trong tổng số VAHS nói chung 86
Biểu đồ 3.5 Cơ cấu số bị cáo xâm phạm ANQG trong tổng số bị cáo trong các VAHS nói chung 86
Biểu đồ 3.6 Diễn biến số vụ xâm phạm ANQG ở Việt Nam 87
Biểu đồ 3.7 Diễn biến số bị cáo xâm phạm ANQG ở Việt Nam 88
Biểu đồ 3.8 Cơ cấu theo tội danh 95
Biểu đồ 3.9 Cơ cấu theo số bị cáo phạm tội phạm cụ thể xâm phạm ANQG 96
Biểu đồ 3.10 Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong thực hiện chính sách 107
Biểu đồ 4.1 Đề xuất hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia 141 Đồ thị 3.1 Diễn biến THTP xâm phạm ANQG ở Việt Nam từ năm 2009 đến 2018 89
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách pháp luật có vị trí quan trọng trong khoa học pháp lý vàkhoa học chính sách công ở nước ta hiện nay Vị trí đó xuất phát từ vai tròcủa chính sách pháp luật đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội Với sự trợgiúp của chính sách pháp luật, các chính sách chuyên ngành khác như: chínhsách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách văn hoá, chính sách môi trường,chính sách khoa học và công nghệ được đưa vào thực tiễn Trong nhiều lĩnhvực của chính sách pháp luật, chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia(ANQG) là lĩnh vực quan trọng, thể hiện thái độ của Nhà nước đối với mộttrong những vấn đề hệ trọng nhất của đời sống xã hội: ANQG của đất nước
Từ năm 1986 đến nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước cónhiều thay đổi to lớn, sâu sắc, diễn biến phức tạp, khó lường đã tác động trựctiếp đến ANQG của Việt Nam Hòa bình, hợp tác, toàn cầu hóa vẫn là xuhướng chung nhưng xung đột sắc tộc, tranh chấp biên giới, lãnh thổ, khủnghoảng chính trị, bạo loạn, lật đổ vẫn xảy ra tại một số quốc gia, khu vực Cácyếu tố an ninh phi truyền thống như: khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tộiphạm công nghệ cao, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực trở thành mối đedọa mang tính toàn cầu
Ở trong nước, bên cạnh những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới,chúng ta phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa ANQG như dấu hiệu “tựdiễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ bộc lộ ngày càng rõ nét và nghiêmtrọng hơn; tình trạng tham nhũng, tiêu cực, xuống cấp về đạo đức, lối sốngcủa một bộ phận cán bộ, đảng viên gây bức xúc trong nhân dân; tình trạngkhiếu kiện vượt cấp, đông người kéo dài, biểu tình, đình công, lãn công diễn
ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng gay gắt, nhiều địa phương đã phát sinhthành “điểm nóng” gây mất an ninh, trật tự
Trước bối cảnh quốc tế diễn biến theo chiều hướng bất lợi cho phongtrào cách mạng, lợi dụng chính sách đổi mới, mở cửa, hội nhập của Đảng,
Trang 12Nhà nước ta, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước tăng cườngcác hoạt động chống phá, vừa công khai trắng trợn, vừa tinh vi, xảo quyệtnhằm gây mất ổn định chính trị, xóa bỏ vai trò của Đảng Cộng sản và chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Thực tiễn cho thấy một số quốc gia trên thế giớichuyển từ chính sách bao vây cấm vận sang bình thường hóa quan hệ, đẩymạnh hợp tác trên tất cả các lĩnh vực với Việt Nam nhưng vẫn không từ bỏ
âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, tìm mọi cách thâm nhậpnội bộ ta, tác động, hướng lái đường lối, chính sách kinh tế, pháp luật, thúcđẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Nhìn lại chính sách pháp luật bảo vệ ANQG của Nhà nước ta nhữngnăm qua cho thấy, yêu cầu bảo vệ ANQG đã làm cho chính sách pháp luật củaNhà nước ta trên lĩnh vực này có những đặc trưng so với các lĩnh vực khác
Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổimới, mở cửa, hội nhập quốc tế đã dẫn đến yêu cầu “cởi mở”, “thông thoáng”trong các quy định của Nhà nước Tuy nhiên, sự vận hành của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình mở cửa hội nhập quốc tế ởnước ta càng diễn ra nhanh, mạnh mẽ bao nhiêu cũng đồng nghĩa với việc giatăng những yếu tố đe dọa ANQG, trật tự, an toàn xã hội tương ứng; là mộttrong những nguyên nhân khách quan trực tiếp dẫn đến sự phức tạp của tìnhhình an ninh, trật tự thời gian qua Do đó, chính sách pháp luật bảo vệ ANQGcần được xây dựng, củng cố theo hướng không cản trở mà phải thống nhất,tạo điều kiện thúc đẩy quá trình đổi mới, phát triển, hội nhập quốc tế Đồngthời, cần phải được xây dựng, hoàn thiện hướng tới mục tiêu loại bỏ nhữngtác động tiêu cực từ mặt trái của sự “cởi mở”, “thông thoáng” trong chuyểnđổi nền kinh tế, mở cửa, hội nhập quốc tế
Trước tình hình trên, hệ thống chính sách pháp luật bảo vệ ANQG củaViệt Nam không theo kịp diễn biến nhanh chóng của tình hình trong nước vàtình hình thế giới Vì vậy, trong thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG,
có lúc, có nơi, Việt Nam đang lúng túng, bị động đối phó với những
Trang 13hành vi, những hoạt động xâm phạm ANQG Đã đến lúc cần đánh giá kháchquan, sâu sắc, toàn diện việc thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQGnhằm phát hiện những thiếu hụt, bất cập để kịp thời bổ sung phù hợp với tìnhhình mới Nghiên cứu việc thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninhquốc gia trở thành một yêu cầu cấp thiết mà thực tiễn đặt ra Do đó, nghiên
cứu sinh chọn đề tài: “Thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc
gia ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện nghiên cứu.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trước yêu cầu cần thiết phải hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luậtbảo vệ ANQG ở Việt Nam hiện nay, tác giả xác định mục đích nghiên cứu đề
tài “Thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam
hiện nay” là tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ
ANQG ở Việt Nam hiện nay Những kết luận đưa ra có dựa trên nghiên cứu
so sánh chính sách pháp luật bảo vệ ANQG với một số nước trên thế giới, từ
đó làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn về chính sách pháp luật bảo vệANQG ở Việt Nam một cách có hệ thống và toàn diện Trên cơ sở này và dựavào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đề tài đề xuất những giải pháp,nội dung xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở ViệtNam nhằm góp phần bảo vệ vững chắc ANQG
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơbản sau:
- Phân tích, luận giải vị trí, vai trò quan trọng của chính sách pháp luậtbảo vệ ANQG đối với sự nghiệp bảo vệ vững chắc ANQG của Việt Nam.Nghiên cứu đánh giá chính sách pháp luật bảo vệ ANQG của một số quốc giatrên thế giới và của Việt Nam
- Phân tích làm rõ khái niệm ANQG, bảo vệ ANQG, chính sách pháp luật bảo
vệ ANQG, lịch sử và quá trình phát triển chính sách pháp luật bảo vệ ANQG.
Trang 14So sánh khái niệm, quá trình phát triển chính sách pháp luật bảo vệ ANQGcủa một số nước trên thế giới Xác định nội dung cơ bản của chính sách phápluật bảo vệ ANQG.
- Khảo sát, điều tra và phân tích thực trạng thực hiện chính sách phápluật bảo vệ ANQG ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Chính sách pháp luật bảo vệ ANQG của
Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Chính sách pháp luật về bảo vệ ANQG là một
vấn đề khá rộng và phức tạp Vì vậy, đề tài không nghiên cứu tất cả các nộidung về chính sách pháp luật bảo vệ ANQG mà chỉ tập trung luận giải khâuthực hiện chính sách pháp luật về ANQG trên một số lĩnh vực chủ chốt, cụ thểnhư sau: An ninh nội bộ, an ninh xã hội, an ninh thông tin, hợp tác quốc tếtrong bảo vệ ANQG
- Phạm vi về không gian: Chính sách pháp luật về bảo vệ ANQG trênphạm vi toàn quốc
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2005, là thời điểm Bộ Chính trị ban hànhNghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật từ nay đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý thuyết
4.1.1 Một số lý thuyết sử dụng
- Lý thuyết các giai đoạn của chu trình chính sách và các lý thuyết khác
của khoa học chính sách công
Trang 15Chính sách trở thành vấn đề được nghiên cứu, xem xét có tính hệ thốngchỉ trong mấy chục năm gần đây Khái niệm “khoa học chính sách” đượcLasswell đề cập lần đầu tiên từ năm 1951 Cuốn sách “The Policy Sciences:Recent Trends in Scope and Method” (Lerner & Lasswell 1951) được xuấtbản, đã giới thiệu một phương pháp tiếp cận mới, đưa ra bởi Harold Lasswell
về “sự định hướng chính sách”, với khái niệm khoa học chính sách được xemnhư là một phương pháp giải quyết các vấn đề xã hội Đến nay, khoa họcchính sách đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong nhữngnội dung trọng tâm của khoa học xã hội Chính sách công được định nghĩa làmột tập hợp các quyết định có liên quan lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công
cụ chính sách để giải quyết vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xácđịnh của đảng chính trị cầm quyền [19, tr.21]
Chu trình chính sách gồm 4 khâu (ibib):
Trang 16các vấn đề chính sách và đề ra các biện pháp chính sách nhằm giảm nhẹ haygiải quyết các vấn đề đó Nghiên cứu chính sách không phải chỉ để nghiêncứu, mà gắn mục đích, bối cảnh và vấn đề cụ thể với phân tích đa chiều, toàndiện nhằm đưa ra giải pháp tích cực cho vấn đề công [51, tr.34].
Hiện nay, không có một lý thuyết tổng quát về chính sách, mà tồn tại nhiều
lý thuyết khác nhau được các học giả nghiên cứu và áp dụng trong nghiên cứuchính sách ở các nước phương Tây Một số lý thuyết quan trọng là:
+ Lý thuyết các giai đoạn của chu trình chính sách: chu trình hoạch địnhchính sách bao gồm các giai đoạn sắp xếp theo trình tự thời gian được ápdụng từ những năm 1960, dựa trên các nghiên cứu của Harold Lasswell,David Easton và được nhiều học giả phát triển sau này Trong đó, các giaiđoạn tiêu biểu là: xác định vấn đề chính sách, lập chương trình, hình thànhchính sách, thông qua chính sách, thực thi chính sách, đánh giá chính sách, kếtthúc chính sách (hoặc đánh giá và cải cách);
+ Lý thuyết khung liên minh vận động: tiêu biểu cho sự tìm kiếm lýthuyết thay thế về quá trình chính sách là Sabatier với Lý thuyết về Khungliên minh vận động (The Advocacy Coalition Framework – ACF), phát triển
từ những năm 1980, cung cấp các giả thuyết nhân quả cần thiết cho việcnghiên cứu lý thuyết và thực hành chính sách [54,tr.12] ACF đặt vấn đề xemxét quá trình thay đổi chính sách cần có thời gian hàng thập kỷ Quá trìnhchính sách thường tập trung hay diễn ra ở những hệ thống chính sách nhỏ(subsystems), với sự tương tác giữa các chủ thể khác nhau có ảnh hưởng đếntừng chủ đề, lĩnh vực chính sách cụ thể, trong mối liên hệ với những sự kiệnbên trong và bên ngoài hệ thống Đề xuất chính sách cũng xuất hiện ở rấtnhiều thời điểm khác nhau và không phải tất cả những chủ thể làm chính sáchđều tham gia vào các hệ thống chính sách nhỏ này Các chủ thể chính sách cóthể tạo thành những liên minh ngắn hạn, hoặc ổn định, dài hạn để chia sẻ niềmtin, giá trị cũng như sự vận động, ảnh hưởng đến từng lĩnh vực chính sách,trong các ràng buộc thể chế nhất định;
Trang 17+ Lý thuyết đa dòng chảy và cửa sổ cơ hội: lý thuyết tiếp cận đa dòngchảy (The Multiple Streams Approach) về quá trình chính sách của Kingdonđóng vai trò rất quan trọng trong việc giải thích sự “mơ hồ”, không rõ ràngkhi một đề xuất chính sách có thể trở thành chính sách, trong khi các đề xuấtkhác thì không Lý thuyết này có các giả thuyết như các nhà hoạch định chínhsách hoạt động dưới sự ràng buộc khắt khe về thời gian, dẫn tới những hạnchế về số lượng các đề xuất chính sách có thể được chú ý đến; hệ thống hoạtđộng trong một thể chế bao gồm các dòng chảy tương đối độc lập với nhau,gồm dòng vấn đề, dòng chính sách và dòng chính trị Trải qua việc lập nghịtrình với những tương tác giữa các chủ thể tham gia, có thể xuất hiện “cửa sổ
cơ hội” khi các dòng chảy gặp gỡ, kết hợp với nhau tại một thời điểm, để một
số đề xuất chính sách được lựa chọn đưa vào nghị trình, trong khi một sốkhác thì rất lâu, hoặc không có cơ hội;
+ Lý thuyết phân tích thể chế và phát triển: khung phân tích thể chế vàphát triển (Institutional Analysis and Development (IAD) Framework) đượcphát triển từ những năm 1970 bởi Vincent và Elinor Ostrom khi nghiên cứu
về các thỏa thuận thể chế, quản lý nguồn lực công và lựa chọn công IAD xemxét phân tích những vấn đề công trong một bối cảnh xã hội, phạm vi hànhđộng, điều kiện ràng buộc về thể chế – “luật chơi” chi phối các chủ thể chínhsách Trong thể chế đó, các chủ thể này tương tác lẫn nhau trong các tìnhhuống hành động nhằm xác lập các mô hình giải quyết vấn đề công Khungkhổ này đã đề ra các mục tiêu dự kiến cần đạt được, cũng như các tiêu chí cụthể để đánh giá kết quả Điểm lưu ý là IAD đưa ra những giả thuyết nghiêncứu, có thể áp dụng nhiều lý thuyết khác nhau của kinh tế học, chính trị học
và chú trọng vào các thể chế công, trong đó đòi hỏi trách nhiệm giải trình caocủa các chủ thể, như chính trị gia hay công chức hành chính, trong nỗ lực đạtđược các cấp độ mục tiêu chính sách khác nhau, có thể nghiên cứu ứng dụngcho nhiều nước đang phát triển hiện nay
Trang 18Ngoài ra, còn một số lý thuyết đáng chú ý khác như: Khung phản hồichính sách, Tường thuật chính sách Việc nhiều học giả tìm kiếm sự thay thếcho Lý thuyết các giai đoạn, dẫn đến hình thành nhiều lý thuyết mới về chínhsách công, và kéo theo những tranh luận về vai trò, vị trí của các lý thuyếtnày Tuy nhiên, trên thực tế, các lý thuyết không phủ định nhau, mà bổ sungcho nhau để làm rõ hơn bức tranh đa chiều của quá trình chính sách Mặc dù
có một số hạn chế và không phải lý thuyết tổng quát về quá trình chính sách,các giai đoạn chính trong chu trình chính sách vẫn được coi là chuẩn tắc tronghoạch định, phân tích, nghiên cứu chính sách [27]
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về chính sách pháp luật bảo vệ ANQG sẽ được tiến hành dựa trên sự vận dụng các lý thuyết này về chính sách công, trong
đó, lý thuyết các giai đoạn của chu trình chính sách là lý thuyết quan trọng, cơ bản mà nghiên cứu sinh sử dụng để tiếp cận và xây dựng khung nghiên cứu.
Theo quan điểm tiếp cận hệ thống xã hội, mỗi sự kiện, quá trình xã hộicủa chủ thể xã hội, phải được xem xét đa diện, nhiều chiều, biện chứng,thống nhất, mọi thành phần của hệ thống đều có sự phụ thuộc lẫn nhau mộtcách chặt chẽ và tương tác với môi trường xung quanh
Theo lý thuyết hệ thống xã hội, khi nghiên cứu một hệ thống xã hội,khoa học xã hội cần xem xét hai mặt cơ bản là: thăng bằng hay ổn định vàmất ổn định Cần đi sâu phân tích các trạng thái ấy: Thăng bằng hay ổn định:
ổn định động, ổn định tĩnh là sự ổn định có sức ỳ cao không tạo điều kiện cho
Trang 19sự phát triển; Mất ổn định: tích cực - báo hiệu sự thay đổi hệ thống bằng một
hệ thống mới tốt đẹp hơn, tiêu cực - dẫn đến suy yếu và đổ vỡ hệ thống, khicác bộ phận hoạt động nhịp nhàng theo một mục tiêu thống nhất thì có sựđồng bộ, sự phát triển quá sớm hay sự duy trì tình trạng lạc hậu quá độ ở một
bộ phận nào đó có nguy cơ dẫn đến lệch pha; Tích hợp (integration) và thíchnghi (adaptation): tích hợp là sự thống nhất nội bộ do những nội lực phát sinhbên trong hệ thống, thích nghi là quá trình quan hệ thích ứng của hệ thống vớicác hệ thống xung quanh Để đảm bảo sự thích nghi cần thiết với môi trường,
hệ thống xã hội phải là một hệ thống mở
Chính sách pháp luật bảo vệ ANQG cần được tiếp cận nghiên cứu như tiếp cận với một hệ thống xã hội để đánh giá mối quan hệ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và hiệu quả thực hiện của nó, để dự đoán về sự thay đổi và đề ra các biện pháp điều chỉnh trong tương lai cho phù hợp với tình hình mới.
4.1.2 Khung phân tích để làm rõ lý thuyết: Cụ thể:
Các câu hỏi nghiên cứu chung:
1) Lý luận chính sách pháp luật bảo vệ ANQG là gì?
2) Thực trạng chính sách pháp luật bảo vệ ANQG hiện nay như thế nào?3) Giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam hiện nay là gì?
Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể và giả thuyết nghiên cứu:
Chính sách trong đề tài này được hiểu là chính sách công Có nhiều cáchtiếp cận để đưa ra quan niệm về chính sách công, nhưng theo quan điểm củatác giả chúng cần có những nội hàm sau: là phương thức/ hành động ứng xửcủa Nhà nước trước các vấn đề chính sách, được đảm bảo thực hiện bởi tậphợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau, có mục tiêu, giải pháp vàcông cụ rõ ràng Chính sách công là một chu trình với nhiều giai đoạn, từ việchoạch định, xây dựng, ban hành, thực thi đến giám sát, đánh giá chính sách
Trang 20Chính sách pháp luật bảo vệ ANQG là kết quả ý chí chính trị của hệthống chính trị, cốt lõi là Đảng chính trị, được thực hiện bới quyền lực Nhànước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau,trong đó bao hàm mục tiêu bảo vệ ANQG và hệ thống các giải pháp, công cụchính sách ANQG để bảo đảm mục tiêu ANQG đề ra được hiện thực hoá.
Để làm rõ thực trạng xây dựng, ban hành thể chế chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam
Giả thuyết nghiên cứu được xây dựng như sau: Chính sách pháp luậtbảo vệ ANQG được xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung tương đối tích cực,kịp thời, tạo cơ sở cho công tác bảo vệ ANQG Hệ thống văn bản chính sáchkhá đồng bộ được ban hành bởi các chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩmquyền Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định như việc nghiên cứu, đềxuất các biện pháp chính sách mới còn thiếu kịp thời, một số nội dung chínhsách chậm được cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành
Để làm rõ nội dung hiện hành của chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam
Giả thuyết nghiên cứu được xây dựng như sau: Nội dung hiện hành củachính sách pháp luật bảo vệ ANQG được phân tích theo 3 trục nội dung: vấn đềchính sách, mục tiêu chính sách, các giải pháp và công cụ chính sách pháp luậtbảo vệ ANQG ở Việt Nam Trong đó: Vấn đề chính sách pháp luật bảo vệANQG là các đối tượng chống đối trong nước và thế lực thù địch có âm mưu,hoạt động chống phá Việt Nam hòng xâm phạm sự ổn định, phát triển bền vữngcủa chế độ xã hội chủ nghĩa, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Mục tiêu của chính sách là đảm bảo sự ổnđịnh và an toàn tuyệt đối của toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội của ViệtNam; Các nhóm giải pháp hiện nay gồm: nhóm giải pháp phòng ngừa, nhóm giảipháp phát hiện, đấu tranh hành vi xâm phạm ANQG; Các công cụ chính sáchpháp luật bảo vệ ANQG bao gồm: Pháp luật, cơ quan chuyên trách,
Trang 21tuyên truyền giáo dục Các nội dung của chính sách pháp luật bảo vệ ANQGhiện nay khá toàn diện, phù hợp với thực tế Tuy nhiên, vẫn còn một số hạnchế nhất định như chưa cập nhật được tình hình tội phạm, nhất là tội phạmphi truyền thống, quy định cụ thể nhưng thiếu, công cụ chưa đủ quyết liệt.
Để làm rõ những yếu tố tác động đến chính sách pháp luật bảo vệ ANQG thời gian tiếp theo.
Giả thuyết nghiên cứu được xây dựng như sau:
Yếu tố tác động tích cực: Trên phạm vi quốc tế và khu vực, hòa bình,hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn Trong nước, thành tựu 30 năm đổimới đã làm thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước Việc mở rộngquan hệ hợp tác quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình tạo thêm nhiều thuậnlợi cho nhân dân ta đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh hơn
Yếu tố khó khăn, thách thức: Các thế lực thù địch vẫn liên tục chống pháViệt Nam với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng nhanh chóngxóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Toàn cầuhóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bìnhđẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang pháttriển; xuất hiện nhiều tội phạm quốc tế đe dọa nghiêm trọng tới sự ổn định củathế giới, khu vực và Việt Nam Trong nước, đất nước ta đang đứng trước nhiềuthách thức lớn, đan xen nhau như tệ tham nhũng, tội phạm có tổ chức, mâuthuẫn trong nội bộ nhân dân, vấn đề tồn tại trong thực hiện chính sách dân tộc,chính sách tôn giáo, yếu tố tự diễn biến, tự chuyển hóa
Để làm rõ mục tiêu và giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam hiện nay.
Giả thuyết nghiên cứu được xây như sau: Mục tiêu của chính sách phápluật bảo vệ ANQG ở Việt Nam hiện nay là đấu tranh bảo vệ ANQG nhằmđảm bảo sự ổn định và an toàn của toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội.Các giải pháp gồm: giải pháp cho khâu xây dựng và ban hành chính sách, giải
Trang 22pháp hoàn thiện nội dung chính sách, giải pháp cho khâu thực hiện, giám sát, đánh giá chính sách.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG
- Luận án được thực hiện bằng các phương pháp cụ thể như sau:
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tác giả tiến hành xem xét, nghiêncứu hồ sơ, văn bản, tài liệu, báo cáo tổng kết, công trình khoa học…về chínhsách pháp luật bảo vệ ANQG để rút ra những nhận xét, đánh giá và kết luậnkhoa học Để có đánh giá mang tính khoa học, tác giả đã tìm tòi, lựa chọnnhững tài liệu có tính pháp lý, tin cậy cao, đã được các cơ quan có thẩmquyền thẩm định và công nhận
+ Phương pháp thống kê, so sánh: Tác giả thu thập, sắp xếp số liệu theonhững tiêu chí cụ thể về tình hình, thực trạng xây dựng, thực hiện chính sáchpháp luật bảo vệ ANQG để tạo dựng bảng số liệu, bản đồ Từ đó, có thể sosánh những sự kiện, con số với nhau; đồng thời cung cấp hình ảnh trực quanmang tính định lượng phục vụ công tác nghiên cứu luận án
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dựa trên việc phân tích thực trạngthực hiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam (trên các lĩnh vực:
An ninh nội bộ, an ninh xã hội, an ninh thông tin, hợp tác quốc tế bảo vệANQG) để tổng hợp, đánh giá ưu điểm, hạn chế trong thực hiện chính sáchpháp luật bảo vệ ANQG
+ Phương pháp chuyên gia: Tác giả đã trực tiếp trao đổi với các nhàkhoa học và cán bộ trực tiếp xây dựng, thực hiện chính sách pháp luật bảo vệANQG để tham khảo kinh nghiệm của họ trong công tác này, đồng thời để kiểm chứng những nhận định hay giải pháp mà luận án đưa ra
Trang 23+ Phương pháp logic - lịch sử: Tác giả sử dụng phương pháp logic đểphát hiện ra những đặc điểm mang tính riêng có của việc thực hiện chính sáchpháp luật bảo vệ ANQG, tránh tình trạng áp đặt những quy luật chung có sẵn
để làm khuôn mẫu cho việc nhận thức, đánh giá thực trạng thực hiện chínhsách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam hiện nay
Phương pháp logic được gắn bó chặt chẽ, không tách rời khỏi lịch sử:Việc nghiên cứu để tìm ra kết quả, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của thựctrạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG phải được tiến hành trên
cơ sở khái quát hóa và rút ra từ hiện thực Nghĩa là phải sử dụng phương pháplogic gắn liền với phương pháp lịch sử Sự gắn kết này giúp cho nghiên cứu rút ra những kết luận có cơ sở, cụ thể và chính xác
+ Phương pháp nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu sinh lựa chọn một sốtrường hợp đặc trưng để phân tích, đánh giá đầy đủ tình huống, diễn biến, kếtquả của quá trình Qua đó nhằm lý giải, sáng tỏ những kết luận về kết quảcũng như hạn chế của việc thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ởViệt Nam, làm cơ sở xác định các vấn đề quan trọng cần được tiếp tục nghiêncứu ở Chương 4
4.3 Thu thập số liệu
+ Dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo của Chính phủ, Quốc hội, Tòa án, Việnkiểm sát nhân dân, các bộ, ngành về thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ anninh quốc gia Các báo cáo sơ kết, tổng kết của Đảng về vấn đề an ninh quốcgia trong 20 năm trở lại đây Thống kê của các ngành Công an, Kiếm sát, Tòa
án, các địa phương…
+ Dữ liệu sơ cấp:
Điều tra phiếu hỏi: Đối tượng là các cán bộ, công chức, viên chức lãnh
đạo trong lực lượng vũ trang Phiếu phát ra là 300 phiếu, phiếu thu về là 245phiếu Số lượng phiếu sử dụng được 215 phiếu Cơ cấu phiếu bảng dưới:
Trang 24Bảng: Cơ cấu phiếu điều tra khảo sát
2 Lực lượng Quân đội (Bộ đội biên phòng) 78
Phỏng vấn sâu: Tiến hành với 31 người Thời gian phỏng vấn trung bình
mỗi người là 01 giờ, cá biệt thời gian phỏng vấn có người lên đến 2h (là lãnhđạo ngành Công an) Cơ cấu đối tượng đã phỏng vấn theo bảng sau:
Bảng: Cơ cấu đối tượng phỏng vấn sâu
lượng
+ Do tính chất của nghiên cứu, nên nguồn số liệu thứ cấp là nền tảng,các số liệu thu thập sơ cấp làm bổ trợ, hoặc củng cố cho những dữ liệu thứcấp là các báo cáo Bên cạnh đó, một số số liệu thống kê của ngành An ninh,Tòa án, Viện kiểm sát được sử dụng như một minh chứng quan trọng đảmbảo độ chính xác, tin cậy của nghiên cứu
Trang 255 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Dự kiến sau khi hoàn thành, luận án sẽ có những đóng góp mới như sau:
- Khái quát“bức tranh toàn cảnh”về những công trình nghiên cứu ởViệt Nam và trên thế giới về chính sách pháp luật bảo vệ ANQG;
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về chính sách pháp luật bảo vệANQG: Khái niệm chính sách pháp luật bảo vệ ANQG, chính sách pháp luậtbảo vệ ANQG ở Việt Nam; vấn đề, mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sáchpháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam; thực hiện chính sách pháp luật bảo vệANQG; các lĩnh vực chính sách pháp luật bảo vệ ANQG;
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế;
-Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách pháp luật bảo
vệ ANQG ở Việt Nam; trình bày phương hướng và đề xuất một số giải phápnhằm hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án làm rõ một số vấn đề lýluận chung về chính sách pháp luật bảo vệ ANQG; đánh giá thực trạng thựchiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế
và nguyên nhân của hạn chế; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiệnchính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam; trình bày phương hướng và
đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG
ở Việt Nam hiện nay
Về mặt thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trongnghiên cứu, giảng dạy; là tài liệu tham khảo cho cán bộ trong hoạt động thựctiễn; là tài liệu góp phần để tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
hệ thống chính sách pháp luật bảo vệ ANQG
Trang 267 Kết cấu của luận án
Luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận chung về chính sách pháp luật bảo vệ
an ninh quốc gia
Chương 3: Thực trạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh
quốc gia ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh
quốc gia ở Việt Nam hiện nay
Trang 27Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở trong nước hiện nay có nhiều nghiên cứu lựa chọn chính sách phápluật bảo vệ ANQG là đối tượng nghiên cứu và đề cập dưới các khía cạnhkhác nhau Sắp xếp theo các góc độ khác nhau đó, có thể chỉ ra các nhómcông trình khoa học dưới đây:
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về vấn đề, giải pháp và công cụ chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia
Vấn đề chính sách pháp luật bảo vệ ANQG được các tác giả nghiên cứudưới các góc độ, quy mô, lĩnh vực, phạm vi, giai đoạn khác nhau:
Trong những năm gần đây, vấn đề an ninh phi truyền thống được nhiều tácgiả quan tâm nghiên cứu, như: “An ninh phi truyền thống trong thời kỳ hội nhậpquốc tế”, của Tô Lâm và các tác giả, năm 2017; “An ninh phi truyền thống: nguy
cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam” của tác giả NguyễnVăn Hưởng, năm 2014; “Quan điểm và giải pháp bảo vệ an ninh quốc gia trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Lê Văn Cương và các tác giả, năm 2005;
“Mối đe dọa đối với an ninh phi truyền thống và tác động của nó đến quan hệquốc tế hiện nay” của Hồ Châu và các tác giả, năm 2006; đề tài NCKH cấp Bộ
“Các thách thức an ninh phi truyền thống ở Đông Nam Á và tác động đến ViệtNam” của Nguyễn Quang Chiến và các tác giả, năm 2007; Đề tài NCKH cấp Bộ
“Mối đe dọa an ninh phi truyền thống và giải pháp nâng cao hiệu quả công tácCông an trong bảo vệ an ninh quốc gia” của Phạm Minh Chính và các tác giả,năm 2014 Tuy có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau, nhưng các tácphẩm đều khẳng định những nguy cơ, thách thức an ninh phi truyền thống đang
đe dọa trực tiếp, nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển bền vững của ViệtNam, đến vấn đề đảm bảo an ninh quốc
Trang 28gia và trật tự an toàn xã hội Các vấn đề như tội phạm có tổ chức xuyên quốcgia, khủng bố, an ninh mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao, biến đổi khíhậu và thảm họa thiên tai, an ninh môi trường, an ninh năng lượng, an ninhtài chính, tiền tệ, an ninh lương thực, an ninh thông tin đều là các vấn đề
“nóng” cần tập trung giải quyết triệt để
Nhiều tác giả đã nghiên cứu về bốn nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong củaĐảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam được nhắc đến trong các văn kiện củaĐảng Các tác phẩm: “Phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, mệnhlệnh của cuộc sống” của tác giả Nguyễn Bá Dương, năm 2020; “Phê phán cácquan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối củaĐảng Cộng sản Việt Nam” của Hội đồng Lý luận Trung ương, năm 2015;
“Hãy cảnh giác với “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam” của tác giảNguyễn Đình Minh, năm 2016 đã vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn xảoquyệt và tác hại của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam docác thế lực thù địch gây ra; chỉ rõ sự thật về cái gọi là “cuộc cách mạng lýluận” và vấn đề “thay máu cho hệ tư tưởng” ở Việt Nam, mà thực chất là sựphủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thay vào đó là hệ tư tưởng tư sản
Luận án tiến sĩ “Các tội xâm phạm ANQG trong luật hình sự Việt Nam”của tác giả Bạch Thành Định, năm 2000 đã phân tích thực trạng, diễn biến, cơcấu, tính chất của tội phạm xâm phạm ANQG từ năm 1975 đến năm 1999, từ
đó đã chỉ rõ vấn đề chính sách pháp luật bảo vệ ANQG Việt Nam giai đoạnnày là tình hình tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia không ngừng tăng lên
về số lượng, nghiêm trọng hơn về tính chất, thủ đoạn của hành vi phạm tội
Luận án Tiến sĩ Luật học: “Đấu tranh phòng, chống tội tuyên truyền chốngNhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Nguyễn ThịPhương Thảo, năm 2016 đã phân tích khá đầy đủ về thực trạng gia tăng hoạtđộng tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 29của các đối tượng phạm tội hiện nay Tác giả khẳng định, các đối tượng đãtriệt để lợi dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ internet để tiếnhành hoạt động phạm tội; đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng đây là thủ đoạnlàm cho tính chất hành vi phạm tội trở nên nguy hiểm hơn, gây hậu quả, táchại nặng nề hơn Từ đó, tác giả chỉ ra đây là vấn đề chính sách cần được đặcbiệt quan tâm.
Luận án Tiến sĩ Luật học: “Các tội phạm về khủng bố trong Luật Hình sựViệt Nam” của tác giả Đỗ Khắc Hưởng; “Hoàn thiện pháp luật về phòng,chống khủng bố - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nguyễn Ngọc Anh;
“Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố ởViệt Nam hiện nay”, Thông tin chuyên đề, Viện nghiên cứu lập pháp, là nhómnghiên cứu về tội phạm khủng bố Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, trong xuthế toàn cầu hóa hiện nay, đây là tội phạm có chiều hướng gia tăng cả về sốlượng và mức độ nguy hiểm, không một quốc gia nào có thể tuyệt đối an toàntrước tội phạm khủng bố, trong đó có Việt Nam Từ đó, các nghiên cứu chỉ ratính cấp thiết phải có các giải pháp để giải quyết vấn đề chính sách nói trên
Về giải pháp chính sách pháp luật bảo vệ ANQG, nhiều tác giả đề cập tớicác giải pháp đa dạng để xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệANQG như: hoàn thiện những quy định chung, các quy định về địa vị pháp lý,chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên trách bảo vệ ANQG, vềtrách nhiệm bảo vệ ANQG của các cơ quan, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng
vũ trang và công dân, về trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạmpháp luật trong lĩnh vực bảo vệ ANQG, về tổ chức bảo vệ ANQG, về hợp tácquốc tế bảo vệ ANQG; đổi mới cơ bản quy trình xây dựng pháp luật nói chung
và pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ ANQG nói riêng đảm bảo tăng tốc, nângcao chất lượng văn bản QPPL Điển hình là các nghiên cứu của các tác giả:
Phạm Văn Dần: Lãnh đạo của Đảng trong cuộc bảo vệ An ninh quốc gia và
trật tự an toàn xã hội (1954-1975), Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội;
Trang 30Nguyễn Trần Hiếu: Biện pháp kinh tế trong bảo vệ An ninh quốc gia của lực
lượng An ninh nhân dân, những lý luận và thực tiễn, Đề tài khoa học cấp Bộ,
Hà Nội, 2017; Phạm Hồng Quân: Cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ trong
chiến lược bảo vệ An ninh quốc gia, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội; Trần
Thế Quân: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện một bước cơ sở pháp lý về
bảo vệ An ninh quốc gia trong thời kì mới, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội;
Hồ Sỹ Tuệ: Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong chiến lược bảo vệ
An ninh quốc gia, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội; Trần Thế Quân: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện một bước cơ sở pháp lý về bảo vệ An ninh quốc gia trong thời kì mới, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội; Hồ Sỹ Tuệ: Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong chiến lược bảo vệ An ninh quốc gia,
Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội; Nguyễn Xuân Toản: Những vấn đề lí luận về
xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo vệ An ninh quốc gia, Đề tài khoa
học cấp Bộ, Hà Nội; Vũ Hải Triều: Quan điểm và giải pháp bảo vệ An ninh
quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
Trong các nhóm giải pháp nói trên, nhấn mạnh giải pháp quá trình xâydựng, hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG phải đặt dưới sự lãnhđạo chặt chẽ của Đảng, báo cáo tổng luận “Bổ sung và hoàn thiện một bước
cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo vệ ANQG trong tình hình mới”, 2014,Chương trình khoa học cấp Nhà nước của tác giả Trần Đình Nhã và đồngnghiệp lý giải: các quan hệ xã hội mà pháp luật hướng đến bảo vệ trong lĩnhvực ANQG là những quan hệ xã hội đặc thù, do đó trong lĩnh vực bảo vệANQG có nhiều văn bản của Đảng chỉ đạo trực tiếp Hơn thế nữa, các vănbản chỉ đạo của Đảng và các văn bản QPPL về bảo vệ ANQG thường có độmật cao, ít phổ biến toàn văn ra công chúng Xuất phát từ cách nhìn nhậnANQG và bảo vệ ANQG như là những vấn đề mang tính “nội bộ” của mỗiquốc gia, nên sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này cũng hạn chế hơn sự hợptác trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác
Trang 31Cùng quan điểm với tác giả Trần Đình Nhã, tác giả Phùng Thế Vắc(2015) tiếp tục đề xuất: Về giải pháp xây dựng pháp luật, Đảng cần tăngcường lãnh đạo Quốc hội trong việc hoạch định, xây dựng chiến lược xâydựng pháp luật bảo vệ ANQG Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lậpHiến và lập pháp, phải có chiến lược về xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảo
vệ ANQG Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chínhNhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần banhành Nghị định xác định trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quanthuộc Chính phủ, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp trong việc thựchiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằngcần tăng cường giải pháp về tuyên truyền và giáo dục pháp luật bảo vệANQG nhằm hướng tới nâng cao trình độ pháp luật và ý thức pháp luật, bảođảm hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ ANQG
Trên các lĩnh vực cụ thể, tác giả Lê Văn Cương có đề tài nghiên cứukhoa học cấp Nhà nước “Quan điểm và giải pháp bảo vệ ANQG trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế”, đã chỉ ra một số giải pháp hoàn thiện chínhsách pháp luật bảo vệ an ninh tư tưởng – văn hóa: Hoàn thiện chính sáchpháp luật gắn với bảo vệ giá trị, truyền thống văn hóa dân tộc trong quá trìnhhội nhập; tiến hành trên cơ sở một hệ thống các giải pháp đồng bộ trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội; tiếp tục thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốnĐảng theo các nghị quyết Trung ương đã đề ra; tăng cường vai trò lãnh đạocủa Đảng và công tác quản lý nhà nước trong hoạt động của các cơ quan khối
tư tưởng, văn hóa, các cơ quan lý luận, báo chí ; tăng cường công tác tổngkết thực tiễn, hoàn thiện lý luận, phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng đất nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Một số công trình khoa học như: “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia”(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, mã số 95-1040054); “Cơ chế lãnh
Trang 32đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, chính sách, pháp luật bảo đảm cho việcthực hiện nhiệm vụ chiến lược an ninh quốc gia trong giai đoạn mới” (Đề tàinghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số KX09-14.02, tác giả: Phùng Thế Vắc);
“Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động của lực lượng Công
an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay” (Luận
án Phó tiến sĩ khoa học Luật học, mã số 5.05.01, tác giả: Nguyễn PhùngHồng); “Đấu tranh phòng, chống các hành vi đặc biệt nguy hiểm xâm phạm
an ninh quốc gia với việc thực hiện các chức năng của Nhà nước trong điềukiện đổi mới ở nước ta hiện nay” (Luận án Phó tiến sĩ khoa học Luật học, mãsố: 50.50.1, tác giả: Dương Thanh Biểu) đã giới thiệu, kiến nghị những vấn
đề chung nhất về sự cần thiết phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sáchpháp luật bảo vệ ANQG
Có thể nhìn thấy một cách tương đối rõ ràng, các nghiên cứu nói trên đãtiếp cận vấn đề chính sách pháp luật bảo vệ ANQG dưới nhiều góc độ vàphạm vi khác nhau Do đó, bước đầu đã giúp tác giả luận án nhìn nhận vấn đềchính sách một cách tương đối đa dạng và phong phú Dù ở giai đoạn nào,lĩnh vực nào, khía cạnh nào, có thể khẳng định hoạt động xâm phạm an ninhquốc gia của các thế lực thù địch và các đối tượng phản động luôn ráo riết,quyết liệt Chúng chưa bao giờ từ bỏ âm mưu xóa bỏ sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta Tuynhiên, có thể khẳng định chưa có một nghiên cứu nào đề cập một cách kháiquát, toàn diện về vấn đề chính sách pháp luật bảo vệ ANQG
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến các giải pháp có tính khả thinhằm nâng cao hiệu quả việc xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệANQG Như đã phân tích ở trên, các tác giả mới chỉ dừng ở góc độ đề xuấtnhững giải pháp, công cụ cho vấn đề chính sách ở từng lĩnh vực, từng giai đoạn
cụ thể Do đó, cần có một cái nhìn tổng quát cho vấn đề chính sách pháp luật bảo
vệ ANQG chung nhất hiện nay, cũng chính là vấn đề đang được
Trang 33bỏ ngỏ trong các nghiên cứu chính sách pháp luật bảo vệ ANQG đến thờiđiểm hiện tại.
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia
Các văn kiện đại hội Đảng qua các thời kỳ đã đề cập đến một trong nhữngyếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến chính sách pháp luật bảo vệ ANQG, đó làquan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong quan điểm về đối tượng
– đối tác trong chính sách đối ngoại Từ quan điểm “Việt Nam muốn là bạnvới các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và pháttriển” (Văn kiện Đại hội VII), được kế thừa, phát triển thành: “Việt Nam sẵnsàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội IX) và nguyên tắc xác định đốitượng- đối tác được đưa ra tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) là: “Những
ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợptác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta Bất kểlực lượng nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước tatrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”.Quan điểm này tiếp tục được Đảng ta khẳng định và phát triển tại Nghị quyết
số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tìnhhình mới, trong đó nhấn mạnh, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biếnmau lẹ và phức tạp, cần có cách nhìn biện chứng về đối tác- đối tượng, cầnnhận thức rõ trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần phải tranh thủ, hợptác và trong mỗi đối tác cũng có thể có mặt khắc biệt, mâu thuẫn với lợi íchcủa ta, cần phải đấu tranh Từ đó, chính sách pháp luật bảo vệ ANQG cầnđược xây dựng, hoàn thiện kịp thời theo sự phát triển của quan điểm củaĐảng, Nhà nước về vấn đề này
Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật bảo vệ ANQG cũng đã được phântích khá sâu sắc trong công trình nghiên cứu: “Hội nhập kinh tế quốc tế,
Trang 34những vấn đề đặt ra đối với công tác công an” của nhóm tác giả do Thiếutướng, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Hiền làm chủ biên, Nhà xuất bản Công
an nhân dân ấn hành năm 2011 Công trình đã chỉ rõ những nhân tố cơ bảntrong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế chi phối đến pháp luậtbảo vệ an ninh quốc gia gồm: sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng côngnghệ cao; vấn đề an ninh của các quốc gia đã phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc
an ninh toàn cầu và an ninh khu vực; vấn đề đảm bảo an ninh quốc gia đã vàđang có xu hướng mở rộng cả về không gian và nội dung của nó; các nguy cơ
đe dọa đến an ninh các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển ngày càng
đa dạng và đến từ nhiều hướng, trên mọi phương diện từ chính trị, kinh tế,văn hóa, tôn giáo, dân tộc, xã hội, môi trường
Quan tâm đến ảnh hưởng trực tiếp của chính sách các nước lớn đến anninh quốc gia và chính sách pháp luật ANQG Việt Nam, tác giả Phạm NgọcQuảng có đề tài khoa học cấp Bộ: “Một số vấn đề chiến lược của Mỹ có liênquan đến An ninh quốc gia Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp của ViệtNam trong bảo vệ An ninh Quốc gia trong thời kì mới” Tác giả khẳng định,một số chiến lược của Mỹ có những ảnh hưởng liên quan trực tiếp đối với anninh quốc tế, trong đó có Việt Nam; do đó cần có một hệ thống các đối sáchphù hợp trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội
Qua nghiên cứu tổng quan, tác giả luận án nhận thấy các yếu tố tác độngđến chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ít nhiều đều được đề cập đến trongphần nội dung của các nghiên cứu liên quan đến đề tài này Tuy nhiên được
đề cập tới là đối tượng nghiên cứu chính của luận án như nghiên cứu của tácgiả Phạm Ngọc Hiền và Phạm Ngọc Quảng thì không nhiều
1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về thể chế chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia
Nghiên cứu các công trình, các tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài trực tiếpnghiên cứu về thể chế chính sách pháp luật bảo vệ ANQG cho thấy một bứctranh đa màu sắc tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, điển hình:
Trang 35- Liên bang Nga: Sau khi Liên Xô tan rã, Liên Bang Nga là chủ thể hợppháp kế thừa các quyền và nghĩa vụ của Liên Xô (cũ) Ngày 5.1.1994, Tổngthống Liên bang Nga ký Sắc lệnh số 19 về việc phê chuẩn “Quy chế về Cơquan phản gián Liên bang của Liên bang Nga” Trong sắc lệnh này có nộidung tuyên bố Sắc lệnh số 42 ngày 24.4.1991 của Tổng thống Liên bang Nga
về việc thành lập Bộ An ninh Liên bang Nga cùng với những thay đổi sau đómất hiệu lực thi hành Theo sắc lệnh số 19 nêu trên, Cơ quan phản gián Liênbang của Liên bang Nga (viết tắt là FSB) là cơ quan trung ương quyền lựccủa Nhà nước Liên bang, chỉ đạo hoạt động của các cơ quan phản gián trựcthuộc và xí nghiệp, tổ chức, đơn vị bộ đội, các cơ sở đào tạo thuộc ngànhphản gián FSB tiến hành công tác phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn hoạtđộng gián điệp phá hoại của các tổ chức và cơ quan đặc biệt nước ngoài, sựxâm phạm trái phép chế độ hiến pháp, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và khảnăng quốc phòng của Liên bang Nga
Quy chế về Cơ quan phản gián Liên bang Nga ban hành kèm theo Sắclệnh nêu trên quy định hệ thống, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt
động của Cơ quan phản gián Liên bang của Liên bang Nga (FSB); quy địnhTổng thống Liên bang Nga là người thực hiện quyền giám sát hoạt động củaFSB; xác định FSB có tư cách pháp nhân, có tên chính thức và mật danh, cóbiểu tượng, con dấu với hình quốc huy Liên bang Nga và tên gọi của mình, cótài khoản ở các nhà băng, kể cả ngoại tệ
Về nhiệm vụ của FSB: phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn hoạt độnggián điệp phá hoại của các tổ chức và cơ quan đặc biệt nước ngoài chốngLiên bang Nga; thu thập tin tức tình báo và mối đe dọa an ninh của Nga; đảmbảo việc cung cấp thông tin cho Tổng thống về mối đe dọa an ninh của Nga;đấu tranh chống khủng bố, lưu thông bất hợp pháp vũ khí và chất ma túy,chống các đơn vị vũ trang bất hợp pháp, các hội đoàn bị cấm hoặc thành lậptrái phép đang xâm hại chế độ hợp tiến của Nga; đảm bảo việc giữ gìn bí mật
Trang 36quốc gia của Liên bang Nga trong phạm vi thẩm quyền của mình; đảm bảo bảo vệ biên giới quốc gia của Nga về mặt nghiệp vụ phản gián.
- Trung Quốc: Trung Quốc cho rằng, ban hành Luật ANQG là cần thiết,
có lợi cho cải thiện, mở cửa và xây dựng kinh tế, thúc đẩy công tác ANQG, phục
vụ đắc lực đường lối cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tăng cường
đảm bảo an ninh, tăng cường phát huy nền chuyên chính dân chủ nhân dântrên trận tuyến bí mật
Sau khi Bộ ANQG được thành lập năm 1983, Trung Quốc đã tổ chứcnghiên cứu vấn đề lập pháp về công tác ANQG Năm 1987, Trung Quốc đãbắt đầu soạn thảo Luật ANQG, qua điều tra nghiên cứu rộng rãi, lập luậnchứng, sửa đổi và học tập kinh nghiệm của nước ngoài, dự án được tiến hànhsửa đổi nhiều lần Tháng 4/1990, dự án luật được đưa ra trưng cầu ý kiến củacác cơ quan hữu quan đầu ngành trung ương và một số chuyên gia về phápluật Qua 15 lần sửa đổi lớn, tháng 12/1990, Quốc vụ viện Trung Quốc xemxét và trưng cầu ý kiến của các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc và ngànhhữu quan, quân đội và các đảng phái dân chủ, rồi được sửa đổi tiếp Ngày8/12/1992, dự thảo luật được trình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội, tại kỳhọp thứ 30 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 7, Luật ANQG nước Cộnghòa nhân dân Trung Hoa chính thức được thông qua ngày 1/6/1994
Theo quan niệm của nhà nước Trung Quốc, hành vi xâm phạm ANQG,
về nghĩa rộng, còn bao gồm sự xâm nhập quân sự từ bên ngoài, phần tử thùđịch trong nước và thế lực thù địch gây động loạn, phiến loạn Tuy nhiên,trong phạm vi của Luật ANQG, các hành vi xâm phạm ANQG sau đây thìđược coi là hành vi phạm pháp thuộc đối tượng của Luật này: Âm mưu lật đổchính quyền, chia rẽ đất nước, phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa; tham gia tổchức gián điệp hoặc nhận nhiệm vụ của tổ chức gián điệp và các phần tửkhác; lấy trộm, dò la, mua chuộc, cung cấp bí mật quốc gia trái phép; kích
Trang 37động, móc nối mua chuộc nhân viên Nhà nước tiến hành đảo chính; tiến hànhcác hoạt động phá hoại, xâm phạm ANQG.
- Hàn Quốc: Ngày 31/5/1991, Hàn Quốc ban hành Luật ANQG – Bộluật số 4373 (được sửa đổi trên cơ sở của Bộ luật số 3318 ban hành ngày31/12/1990) Luật này gồm 4 chương với 25 điều, có phần phụ lục với 4 điều
và phụ lục bổ sung với 3 khoản Điểm đặc biệt của Luật ANQG Hàn Quốc là
có quy định hình phạt đối với các hành vi phạm tội xâm phạm ANQG, đồngthời quy định cả một số điều khoản đặc biệt về thủ tục tố tụng hình sự
Mục đích của Luật này là nhằm kiểm soát các hoạt động chống lại Nhànước, nguy hiểm đến ANQG để đảm bảo sự an toàn cho Nhà nước và quyền
tự do cho nhân dân Điều 2 của Luật này quy định “tổ chức chống Nhà nước”
là các hội, nhóm có tổ chức trong hoặc ngoài nước Hàn Quốc có ý định trởthành chính phủ hoặc quấy rối, cản trở Nhà nước
Luật quy định các hành vi phạm tội xâm phạm ANQG, hình phạt tươngứng với các hành vi đó và một số quy định khác Cụ thể, Luật định về: thànhlập tổ chức chống Nhà nước; việc thực hiện các hành vi phạm tội; việc tựnguyện giúp đỡ hoặc nhận tiền, vật chất; việc đào tẩu và xâm nhập; việc xúigiục và khuyến khích; việc hội họp, giao thông, liên lạc; việc tạo điều kiệnthuận lợi; việc không chịu khai báo; việc thoái thác trách nhiệm; việc tố cáogiả hoặc bịa đặt vu cáo; mức hình phạt đặc biệt; tạm hoãn thi hành án; tịch thu
và sung công quỹ; giảm án; phủ nhận hiệu lực của Bộ luật khác; việc xét xử
và giam giữ nhân chứng (trong trường hợp nhân chứng có ít nhất 2 lần từ chối
có mặt khi được triệu tập với lý do không chính đáng); quy định về việc kéodài thời gian giam giữ (đối với những người đã bị giam giữ theo luật định) vàquy định về việc tạm hoãn khởi tố; về các phần thưởng và ân xá
- Australia: “Luật Tình báo An ninh Australia” được Quốc hộiAustralia thông qua năm 1979 và được bổ sung, sửa đổi nhiều lần (lần sửa đổigần đây nhất vào ngày 24 tháng 5 năm 2001) và đang có hiệu lực Luật này
Trang 38quy định về cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, hoạt độngcủa Cơ quan Tình báo An ninh Australia và sự phối hợp hoạt động giữa cơquan phản gián và Tình báo Australia Chức năng của Cơ quan tình báo gồm:thu thập, xử lý, đánh giá tin tức tình báo liên quan đến ANQG, cung cấp tintình báo cho các cá nhân có trách nhiệm, tham mưu cho Bộ trưởng, Cơ quanLiên bang những vấn đề trong phạm vi chức năng, cung cấp các đánh giá vềtình hình ANQG, về lệ phí phải trả cho việc tham vấn hoặc cung cấp thông tincủa cơ quan khi cung cấp thông tin; chỉ Tổng giám đốc hoặc cán bộ được ủyquyền thay mặt Cơ quan được quyền trao đổi tin tức tình báo.
Xuất phát từ tính chất, đặc điểm quan trọng của ANQG, quy trình, thủtục ban hành Luật ANQG cũng như quy trình lập pháp của hầu hết các nướcđều rất chặt chẽ Tác giả đã nghiên cứu quy trình này của một số quốc gia sauđây: Mỹ, Pháp, Nhật, Đức, Anh, Italia Ở các nước này, quy trình lập phápcủa các nghị viện được bắt đầu bằng sáng quyền lập pháp Người có quyềnsáng lập pháp, tức là người có quyền trình bày trước Quốc hội (Nghị viện)những dự án luật Chủ thể sáng quyền lập pháp này thường được quy địnhtrong Hiến pháp, trong Luật về quy chế của Nghị viện và rất hẹp, chủ yếu làdành cho các nghị sĩ Nghị sĩ muốn đề xuất dự án luật phải có sự ủng hộ tốithiểu của một số lượng nghị sĩ Ví dụ: Nghị sĩ Nhật muốn đệ trình một dự ánluật thì phải tìm được sự ủng hộ bằng chữ ký của ít nhất 20 hạ nghị sĩ hoặccủa ít nhất 10 thượng nghị sĩ Số người này sẽ tăng lên nếu dự án đề xuất là
dự án thuế, ngân sách, tài chính Nhiều nước còn quy định dự án luật trướckhi đưa và chương trình của Nghị viện phải đưa ra trưng cầu ý kiến của cửtri (Thụy Sĩ – dự án luật cần phải có 50.000 cử tri đồng ý)
Ở Mỹ, sáng quyền lập pháp là đặc quyền của nghị sĩ Theo quan điểmcủa nhiều nhà luật học Mỹ, việc quy định như vậy nhằm mục đích bảo đảmquyền hạn lập pháp đích thực của Quốc hội Nhưng, bộ máy hành pháp doTổng thống Mỹ đứng đầu tác động rất mạnh đến việc trình dự án luật của nghị
Trang 39sĩ bằng nhiều biện pháp và hình thức khác nhau Khoảng gần một nửa số dự
án luật Quốc hội Mỹ do Tổng thống đề nghị, thông qua các thông điệp gửiQuốc hội
Việc thảo luận các dự án là bước tiếp theo các qui trình lập pháp Việcthảo luận này thông thường được chia ra làm ba giai đoạn, ứng với mỗi giaiđoạn là một lần đọc Ở Anh lần đọc thứ nhất dự án luật chỉ cần chuyển choThư ký Hạ viện Thư ký đọc vắn tắt tên dự án, không cần phải thảo luận và
ấn định thời gian cho lần đọc thứ hai Tại lần đọc thứ hai, dự án được thảoluận trên nghị trường Mục đích của lần đọc này là thảo luận các nguyên tắccủa của dự án Tại lần đọc này, Nghị viện có thể đình chỉ việc xem xét dự án,hoặc nếu tiếp tục thì quyết định chuyển cho các ủy ban thường trực, bao gồmcác thành viên do ủy ban chỉ định lựa chọn, xem xét Sau đó, dự án lại đượcchuyển về Hạ viện xem xét Dưới sự chủ tọa của Chủ tịch, Hạ viện kiểm tralại hoạt động của ủy ban và chỉnh lý lại dự án
Sau đó, dự án chuyển sang lần đọc thứ 3, bắt đầu bằng việc nghe tómtắt các ý kiến chống đối, đồng ý với dự án, và biểu quyết thông qua Khi có ýkiến chống đối thì chủ tịch phải phân bố thời gian phát biểu đều cho hai bên.Nếu Nghị viện có cơ cấu hai viện, dự án sau khi được một viện xem xét xongthì chuyển cho viện thứ hai
Ở Mỹ, một dự án có thể được chuyển cho Hạ viện bất cứ lúc nào Người
ta làm một thùng riêng dành cho dự án Ngược lại, ở Thượng viện dự án chỉđược bỏ vào thùng theo một thời gian nhất định Sau đó, các dự án được chuyểnthẳng cho ủy ban Tại đây các ủy ban phải xem xét cụ thể, chi tiết các dự án và
có toàn quyền quyết định số phận các dự án Ủy ban có thể quyết định không tiếptục thẩm tra dự án, và trong trường hợp này tiến trình thảo luận dự án bị đình chỉ
và kiến nghị luật phải hủy bỏ, kết thúc lần đọc thứ nhất
Nếu được các ủy ban chấp thuận, dự án chuyển về cho Nghị viện xemxét và biểu quyết từng điều Đây là giai đoạn kết thúc lần đọc thứ hai dự án
Trang 40Lần đọc thứ ba, được bắt đầu và kết thúc bằng việc biểu quyết thông qua toànvăn dự án Dự án được thông qua sẽ chuyển cho thư viện thứ hai xem xét vàquyết định Nếu giữa hai bên có ý kiến bất đồng thì phải thành lập ủy ban hòagiải, bao gồm các thành viên đại diện cho hai viện giải quyết.
Ở Nhật Bản, dự án chuyển cho viện nào xem xét trước cũng được Trongvòng 5 ngày, viện nhận được dự án phải xem xét và chuyển cho viện kia cùngxem xét Dự án có thể được chuyển cho ủy ban thường trực xem xét,
ủy ban có toàn quyền bãi bỏ dự án mà không cần thuyết trình trước viện, nếukhông có 20 nghị sĩ yêu cầu
Ở Cộng hòa liên bang Đức, một dự án luật được đệ trình qua ba lầnđọc Việc thẩm tra dự án của các ủy ban được tiến hành giữa hai lần đọc thứnhất và lần đọc thứ hai, hoặc cũng có thể dự án được gửi thẳng cho ủy banthảo luận trước Lần đọc thứ ba, dự án được thảo luận từng điều và Hạ việntiến hành biểu quyết toàn văn dự án
Ở Pháp, dự án luật hoặc kiến nghị luật phải được chuyển trước cho các
ủy ban của Nghị viện xem xét Kết thúc việc xem xét, các ủy ban phải làmbáo cáo thẩm tra trình trước Quốc hội Nếu như sáng kiến luật là những kiếnnghị của nghị sĩ, ủy ban phải có dự án luật kèm theo nếu như ủng hộ kiếnnghị đó Báo cáo thẩm tra là cơ sở cho việc thảo luận và thông qua dự án
So với các nước tư bản phát triển nêu trên, qui trình lập pháp của Italia
có nét đặc biệt hơn cả Nét đặc biệt thể hiện ở chỗ, các ủy ban Nghị viện cóquyền thông qua các dự án luật Theo quy định của pháp luật Italia, các ủyban của hai viện cũng có chức năng tư vấn, xét xử trước các dự án để phục
vụ cho việc thông qua các dự án này tại nghị trường như các nước khác
Nhưng, nếu được sự cho phép của Chủ tịch viện, dự án có thể được ủyban tương ứng của hai viện xem xét và thông qua không cần phải qua Nghị viện.Trên các phiên họp này, các nghị sĩ không phải thành viên của ủy ban cũng cóquyền đến dự nhưng không được biểu quyết Dự án được 4/5 tổng số