1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CSLTDL TP HCM đến năm 2020 và tầm NHÌN đến năm 2030

110 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lợi thế là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, … của cả nước, là đầu mối giao thông lớn, nối liền với các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế của khu vực, trong những năm qua, ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực phát triển không ngừng, thể hiện qua việc luôn giữ vị trí đứng đầu cả nước. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ khách du lịch giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch, trong đó phải kể đến đầu tiên là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch. Việc nâng cao chất lượng các cơ sở lưu trú, tạo điều kiện thuận lợi về nơi ăn, nghỉ, đi kèm với các dịch vụ tiện ích, đáp ứng nhu cầu của du khách sẽ góp phần quảng bá, giới thiệu với du khách về tiềm năng du lịch, nét đẹp văn hoá truyền thống của địa phương. Trong quá trình hội nhập, ngành Khách sạn Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang từng bước phát triển vững vàng, có khả năng cạnh tranh với các điểm đến khác trong khu vực, đồng thời là một trong những nhân tố đóng góp tích cực vào việc tổ chức thành công các sự kiện mang tầm quốc tế.

Trang 1

1

A- QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ LƯU TRÚ

DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

Trang 2

2

PHẦN I MỞ ĐẦU

I.1 SỰ CẦN THIẾT LẬP QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2025

Với lợi thế là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, … của cả nước, là đầu mối giao thông lớn, nối liền với các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế của khu vực, trong những năm qua, ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực phát triển không ngừng, thể hiện qua việc luôn giữ vị trí đứng đầu cả nước

“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2025” (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 31 tháng 12 năm 2013) đặt ra mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp Định hướng phát triển du lịch thành phố ngang tầm với các nước trong khu vực; phát triển thành phố thành trung tâm du lịch và trung chuyển khách du lịch, phát triển các loại hình du lịch mua sắm, du lịch hội nghị, du lịch khám chữa bệnh, du lịch ẩm thực; đẩy mạnh phát triển du lịch nội địa Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ hiện đại, trong đó bao gồm hệ thống nhà hàng khách sạn cao cấp Có thể nói phát triển du lịch trong thời gian tới có ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ khách du lịch giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch, trong đó phải kể đến đầu tiên là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Việc nâng cao chất lượng các cơ sở lưu trú, tạo điều kiện thuận lợi về nơi ăn, nghỉ, đi kèm với các dịch vụ tiện ích, đáp ứng nhu cầu của du khách sẽ góp phần quảng bá, giới thiệu với du khách về tiềm năng du lịch, nét đẹp văn hoá truyền thống của địa phương Trong quá trình hội nhập, ngành Khách sạn Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang từng bước phát triển vững vàng, có khả năng cạnh tranh với các điểm đến khác trong khu vực, đồng thời là một trong những nhân tố đóng góp tích cực vào việc tổ chức thành công các sự kiện mang tầm quốc tế

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, lĩnh vực kinh doanh lưu trú du lịch đã và đang thu hút nguồn vốn đầu tư từ tất cả các thành phần kinh tế Mặc dù đóng góp khá lớn vào

Trang 3

3

kết quả kinh doanh chung của ngành du lịch, sự phát triển của hệ thống cơ sở lưu trú

du lịch cần phải được dự báo, quy hoạch và định hướng phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế từng giai đoạn Ngày 6 tháng 11 năm 2006, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Chỉ thị số 35/2006/CT-UBND về quy hoạch một số ngành nghề giai đoạn 2006-2010, trong đó có ngành nghề kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, định hướng chung là “chỉ cấp mới đăng ký kinh doanh đối với các cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu chuẩn 1 sao trở lên” Trên tinh thần đó, các quận-huyện đã tiến hành rà soát hiện trạng, xây dựng dự thảo quy hoạch, Sở Du lịch đã có văn bản góp ý cụ thể cho từng quận-huyện, làm cơ sở đề nghị Ủy ban Nhân dân Thành phố phê duyệt từ cuối năm 2007 Tuy nhiên, hiện nay việc cấp đăng ký kinh doanh ngành khách sạn tại thành phố nói chung chưa có căn cứ pháp lý chính thức, có sự áp dụng không thống nhất giữa các khu vực khác nhau, do quy hoạch giai đoạn 2006-2010 chưa được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt và thời gian quy hoạch cũng đã hết hiệu lực Điều này gây khó khăn cho cơ quan cấp đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý ngành và cho cả nhà đầu

tư Mặt khác, thực tế những năm gần đây cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng trong cung cầu ở một số nhóm hạng cơ sở lưu trú du lịch Chính vì vậy, việc đánh giá lại đúng thực trạng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch trên toàn thành phố và theo từng khu vực, căn cứ vào bối cảnh phát triển kinh tế chung và các chỉ tiêu dự báo mới của ngành

du lịch thành phố, từ đó đưa ra dự báo nhu cầu phòng và định hướng phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 là hết sức cần thiết và cấp bách

I.2 MỤC ĐÍCH QUY HOẠCH CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH

- Đảm bảo về số lượng cũng như về chất lượng đối với tất cả các loại, hạng cơ sở lưu trú đáp ứng được nhu cầu của du khách tới thành phố, không để xảy ra tình trạng thiếu phòng, nhất là vào mùa cao điểm du lịch Góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch thành phố

- Trong quá trình phát triển không để xảy ra tình trạng dư thừa phòng gây lãng phí tiền đầu tư của xã hội, làm giảm hiệu quả kinh doanh thậm chí thua lỗ, phá sản của các nhà đầu tư

Trang 4

4

- Điều chỉnh đưa cung – cầu về trạng thái cân bằng (nếu có sự mất cân đối), đảm bảo sự vận động của cung và cầu đối với từng phân khúc luôn tỷ lệ thuận với nhau và với tốc độ tương đồng nhau Trên cơ sở đó, các cơ sở lưu trú luôn đạt được công suất sử dụng phòng tối ưu nhất, hiệu quả kinh doanh cao Lợi ích của các nhà đầu tư cũng như của du khách đều được bảo vệ Tránh được những tác động tiêu cực về mặt an ninh trật tự xã hội cũng như môi trường văn hóa mà hoạt động du lịch gây ra cho xã hội

- Định hướng cho nhà đầu tư kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch

I.3 CĂN CỨ QUY HOẠCH

I.3.1 Căn cứ pháp lý

- Luật Du lịch 2005 ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005;

- Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật du lịch;

- Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện;

- Chỉ thị số 13/2012/CT-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân thành phố về tăng cường quản lý nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ phát sinh tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố;

- Văn bản số 4204/UBND-TM ngày 17 tháng 8 năm 2009 của Ủy ban nhân dân thành phố về khoảng cách an toàn đối với cơ sở lưu trú du lịch;

- Chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố tại công văn số 434/VP-TM ngày 16 tháng 01 năm 2013 về việc quy hoạch cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn quận, huyện đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025

I.3.2 Chủ trương chính sách

- Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020;

Trang 5

5

- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 2631/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2025;

- Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 13 tháng 02 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;

- Văn kiện Đại hội Đảng bộ TP HCM lần thứ IX

I.3.3 Tình hình cung – cầu trên thị trường

Đánh giá đúng thực tế tình hình kinh doanh của tất cả các loại, hạng cơ sở lưu trú

du lịch trong thời điểm hiện tại, dự báo lượng du khách tới thành phố theo từng giai đoạn tới năm 2020 và 2025 Việc xác định chính xác tình hình cung – cầu đối với từng phân khúc ở thời điểm hiện tại, kết hợp dự báo tốc độ tăng trưởng khách quốc tế và khách nội địa tới Thành phố trong thời kỳ quy hoạch là cơ sở quan trọng để xây dựng quy hoạch phát triển cơ sở lưu trú du lịch

I.4 PHƯƠNG PHÁP LẬP QUY HOẠCH

- Phương pháp thu thập tài liệu: Được sử dụng để thu thập, lựa chọn tài liệu, số liệu, những thông tin có liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu trong quy hoạch

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Là phương pháp được sử dụng nhằm tổng hợp các thông tin, dữ liệu đã thu thập để từ đó phân tích, đánh giá toàn diện các nội dung, các đối tượng nghiên cứu trong quy hoạch

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Thông qua phương pháp này để kiểm tra, quan sát và kiểm chứng tại chỗ các thông tin, tài liệu đã được thu thập từ các nguồn khác nhau, đảm bảo cho nguồn thông tin có độ tin cậy cao và đánh giá độ chính xác của các kết quả phân tích, đánh giá

Trang 6

6

- Phương pháp dự báo: Là phương pháp có sử dụng tính toán, dự báo các chỉ số phát triển du lịch trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động

Trang 7

7

PHẦN II HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH

TẠI THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN 2006 – 2013

II.1 CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TRONG THỜI GIAN QUA

Công tác quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch trong những năm qua ngày càng được tăng cường trên phạm vi cả nước, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống các văn bản pháp luật được xây dựng và hoàn thiện (đặc biệt là sự ra đời của Luật Du lịch có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006), là căn cứ để cơ quan quản lý ngành triển khai thực thi có hiệu quả các công tác quản lý nhà nước, góp phần đổi mới quản lý và phát triển du lịch, từng bước nâng cao chất lượng cơ sở lưu trú du lịch

Hiện nay, việc thẩm định, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch hạng 2 sao, 1 sao và tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch được phân cấp cho các Sở quản lý du lịch địa phương, Tổng cục Du lịch phối hợp với các Sở địa phương thẩm định và công nhận hạng cho các khách sạn từ 3 sao đến 5 sao và hạng cao cấp

Tại thành phố Hồ Chí Minh, trước khi Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Chỉ thị số 35/2006/CT-UBND ngày 6 tháng 11 năm 2006 về quy hoạch một số ngành nghề giai đoạn 2006-2010, trong đó có ngành nghề kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, nhìn chung các loại hình cơ sở lưu trú du lịch đều phát triển theo hướng tự phát Chỉ thị 35/2006/CT-UBND quy định: “hạn chế cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, chỉ cấp mới đối với các cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu chuẩn có sao” Thực hiện chỉ đạo trên, Sở Kế hoạch và Đầu tư cũng như Ủy ban nhân dân các quận huyện khi cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh đối với ngành nghề kinh doanh lưu trú du lịch, đều yêu cầu rõ “phải đạt tiêu chuẩn sao”, một số địa bàn còn có quy hoạch chi tiết hạng sao đối với từng tuyến

đường đặc biệt (như quận Tân Bình, quận Phú Nhuận, Quận 9) Chính vì vậy, từ năm

2006 đến cuối năm 2013, tổng số khách sạn đã được thẩm định và công nhận hạng từ 1 sao đến 5 sao tăng lên đến 1.426 khách sạn với 38.293 phòng, trong đó tăng mạnh nhất

là khối khách sạn 1 sao (tăng gấp 17,8 lần từ 62 lên 1.106 khách sạn); ngược lại khối

Trang 8

8

cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch giảm dần, do ngưng cấp mới đăng ký kinh doanh, bên cạnh đó nhiều cơ sở đã đầu tư nâng cấp lên hạng sao, một số

cơ sở sang nhượng, giải thể do kinh doanh không hiệu quả (Phụ lục 1: Bảng thống kê

cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013)

2006-Từ khi triển khai áp dụng quy trình ISO 9001:2000 vào cuối năm 2007, công tác thẩm định, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch đã và đang tiếp tục được Sở duy trì khá tốt, đảm bảo đúng quy định về thời gian, đơn giản hóa thủ tục và công khai, minh bạch trong quá trình xử lý hồ sơ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chấp hành đúng các quy định của pháp luật Việc triển khai công tác xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch thời gian qua đã góp phần thúc đẩy và nâng cao chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch của thành phố, đồng thời giúp khách hàng yên tâm khi chọn lựa dịch vụ phù hợp Bên cạnh đó, việc thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các quận - huyện để hỗ trợ tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch và công tác quy hoạch phát triển

hệ thống cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn cũng góp phần tích cực trong việc đưa hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch vào nề nếp ổn định, phát triển phù hợp với chỉ tiêu và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói chung và mục tiêu phát triển ngành du lịch nói riêng

II.2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH

Nhìn chung, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố những năm gần đây phát triển khá nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, theo kịp đà phát triển của ngành du lịch, góp phần đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch không chỉ về lưu trú, mà cả về ăn uống, hội họp, cũng như các dịch vụ sức khỏe, vui chơi, giải trí… Tốc

độ tăng trưởng về lượng cung phòng khách sạn tăng, ở cả nhóm khách sạn hạng 1 sao,

2 sao và nhóm khách sạn cao cấp từ 3 sao – 5 sao

Đến thời điểm cuối năm 2013, thành phố có tổng cộng 3.345 cơ sở lưu trú với 64.014 phòng (chiếm 22% tổng số cơ sở và 20% tổng số phòng của cả nước), trong đó

có 104 khách sạn 3 – 5 sao, 1.322 khách sạn 1-2 sao, 01 căn hộ du lịch cao cấp, còn lại

là cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch và cơ sở chưa phân loại, xếp hạng Điều đáng lưu ý là số khách sạn 1 sao của thành phố chiếm tới 55% số khách sạn

Trang 9

9

và 47% số phòng nhóm khách sạn hạng này của cả nước (Phụ lục 2: So sánh số cơ sở

và số phòng lưu trú tại Thành phố Hồ Chí Minh với cả nước năm 2013)

Đi đôi với sự tăng trưởng về số lượng là sự phát triển về chất lượng, thể hiện qua sự chuyển dịch cơ cấu phòng theo hướng tăng tỉ trọng phòng khách sạn đạt hạng từ 1 sao trở lên, trong đó khách sạn cao cấp 3-5 sao tăng gấp đôi từ 6.447 phòng lên 12.878 phòng, giảm tỉ trọng phòng cơ sở lưu trú du lịch cấp thấp (đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch) từ 9.954 phòng xuống còn 7.267 phòng (giảm 37%) Việc giảm

tỷ trọng phòng loại này phần lớn là do các chủ đầu tư mở rộng và nâng cấp thành

khách sạn ở cấp hạng cao hơn, một phần nhỏ do các cơ sở đóng cửa, giải thể (Phụ lục

3: Biểu đồ tăng trưởng số phòng cơ sở lưu trú du lịch đã được xếp hạng tại Thành phố giai đoạn 2006-2013)

So với tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch, nhìn chung hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở thành phố đáp ứng ở mức khá tốt đối với từng cấp hạng, thuộc loại hàng đầu so với các tỉnh thành trong cả nước, cơ sở vật chất được đầu tư tương xứng, được các hãng lữ hành và khách du lịch trong và ngoài nước đánh giá khá cao, có khả năng cạnh tranh với các thành phố khác trong khu vực Cạnh tranh là động lực thúc đẩy các cơ sở lưu trú du lịch không ngừng đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới trang thiết bị cũng như bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ của đội ngũ quản lý và nhân viên phục vụ Trong những năm qua, hầu hết các khách sạn cao cấp, đặc biệt là các khách sạn 4 sao và 5 sao đều quan tâm đầu tư các dịch vụ phục vụ du lịch MICE, góp phần hình thành và phát triển phân khúc thị trường du lịch cao cấp này cho thành phố Hồ Chí Minh cũng như cho cả nước

II.3 HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH

Trong thời gian vừa qua, hệ thống cơ sở lưu trú của thành phố phát triển nhanh về số lượng Tuy nhiên, sự phát triển nhanh này cũng có những mặt chưa tốt vì tốc độ phát triển đối với từng loại hạng không đồng đều và thường nhanh hơn tốc độ tăng của

khách Chính điều này làm hiệu quả kinh doanh của toàn ngành thấp (Phụ lục 4:

Bảng so sánh tốc độ tăng trưởng khách quốc tế đến Thành phố và số phòng cơ sở lưu trú giai đoạn 2006 – 2013)

Trang 10

10

II.3.1 Khối khách sạn cao cấp (3 sao, 4 sao, 5 sao):

Khối khách sạn loại này hầu hết tọa lạc ở vị trí rất thuận lợi, gần các trung tâm mua sắm, điểm tham quan, có cơ sở vật chất tốt, tiện nghi cao cấp, đội ngũ nhân sự có trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, tác phong phục vụ chuyên nghiệp Ngoài phòng ngủ, khách sạn tổ chức các dịch vụ hỗ trợ khác như ẩm thực, hội họp, giải trí, chăm sóc sức khỏe,…, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách lưu trú mà chủ yếu là khách quốc

tế

Giai đoạn 2006-2013, sự tăng trưởng của lượng khách và lượng phòng khách sạn 3-5 sao là tương đối đồng đều nhau (khách quốc tế đến thành phố tăng bình quân 8,3%/năm, lượng phòng khách sạn tăng bình quân 10,4%/năm)nên công suất sử dụng phòng thường đạt được ở mức tương đối lý tưởng Ngoại trừ năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên lượng khách quốc tế đến thành phố giảm sút làm hiệu quả kinh doanh của khối này thấp (chỉ đạt xấp xỉ 55%) Ngược lại, trong những năm 2005-2007, do tình hình chính trị bất ổn tại Thái Lan nên lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam cũng như thành phố Hồ Chí Minh tăng đột biến Do đó đã xảy ra tình trạng thiếu trầm trọng phòng khách sạn cao cấp 3 – 5 sao vào mùa cao điểm, dẫn đến giá phòng khách sạn tăng nhiều Trước tình hình đó, Sở Du lịch đã sớm chủ động tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố các giải pháp tích cực nhằm khuyến khích phát triển nhanh số phòng khách sạn cao cấp, bao gồm ưu tiên dành những khu đất có khuôn viên phù hợp, ở vị trí thuận lợi để đầu tư xây mới hoặc mở rộng khách sạn 3-5 sao, đầu tư nâng cấp các khách sạn có tiềm năng từ khách sạn hạng bình dân lên khách sạn cao cấp Vì vậy, trong những năm tiếp theo tình trạng thiếu phòng không xảy ra, đồng thời vẫn đảm bảo được cho các khách sạn hoạt động tốt với công suất sử dụng phòng tối ưu nhất Ngoài ra Sở cũng tổ chức nhiều hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch, khuyến mãi, kích cầu để thu hút du khách tới thành phố nhất là vào mùa thấp điểm Điều này góp phần lớn vào việc làm giảm sự tác động tiêu cực của tính thời vụ trong du lịch tới hiệu quả hoạt động của các khách sạn Xem phụ lục 4, ta thấy công suất sử dụng phòng của khách sạn 5 sao vào năm 2006 cũng chỉ tương đương năm 2013, nhưng trong năm 2013 không có thời điểm nào thiếu phòng khách sạn 5 sao

Với số phòng và các dịch vụ cung cấp bởi hệ thống khách sạn này, ngành du lịch thành phố, đặc biệt là loại hình du lịch MICE sẽ có triển vọng phát triển khá tốt,

Trang 11

11

có thể cạnh tranh với các điểm đến khác trong khu vực, đồng thời là một trong những nhân tố đóng góp tích cực vào việc tổ chức thành công các sự kiện quốc tế đăng cai tại Việt Nam cũng như tại thành phố Hồ Chí Minh

II.3.2 Khối cơ sở lưu trú du lịch hạng 2 sao trở xuống (bao gồm các cơ sở lưu trú đang hoạt động nhưng chưa phân loại, xếp hạng)

Trong số các khách sạn này, chỉ có một số ít tọa lạc tại các khu vực trung tâm

có nhiều khách quốc tế, đáp ứng được tiêu chuẩn hạng sao tương ứng về các tiêu chí: thiết kế, kiến trúc, cơ sở vật chất, nhân sự, dịch vụ ăn uống, nên nhìn chung hoạt động tương đối hiệu quả Còn lại phần lớn phân bổ ở các quận, huyện ngoại thành, trong đó

có một số cơ sở có quy mô phòng ít, có cấu trúc xây dựng là nhà ở hoặc nhà trọ, phòng cho thuê chuyển đổi công năng thành khách sạn

Từ năm 2007 đến hết 2013, lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố tăng bình quân hàng năm là 8,3%, khách nội địa có sử dụng dịch vụ lưu trú tăng khoảng 7-8% Trong khi đó số lượng phòng khối này tăng bình quân 12,3%/năm Chính vì vậy, hiện nay công suất sử dụng phòng của các cơ sở thuộc khối này rất thấp, nhất là các

khách sạn 1 sao và cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn (Phụ lục 5: Công suất sử dụng

phòng khối khách sạn 1 sao, 2 sao và cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch) Do phải cạnh tranh với các loại nhà trọ, phòng cho thuê và với cả các

khách sạn quy mô nhỏ nên giá phòng bán rẻ và đối tượng chủ yếu là khách thuê ngắn hạn (giờ), khách du lịch hoặc khách công tác nghỉ qua đêm chiếm tỉ lệ thấp Trong quá trình kinh doanh, một số khách sạn có quy mô nhỏ loại này không duy trì được tiêu chuẩn hạng sao đã được công nhận, để cơ sở vật chất xuống cấp, đặc biệt có sự biến động nhân sự thường xuyên nên nhiều cơ sở lưu trú du lịch không đảm bảo được đủ số lượng quản lý, nhân viên phục vụ có trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, không đáp ứng được yêu cầu phục vụ khách, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dịch vụ

và uy tín hạng sao đã được công nhận

Theo số liệu khảo sát của các quận, huyện cung cấp vào thời điểm năm 2013, đối chiếu với số cơ sở lưu trú du lịch đã được phân loại, xếp hạng thì thành phố hiện còn khoảng 1.350 cơ sở lưu trú bao gồm cả nhà nghỉ, nhà trọ, phòng cho thuê,…với tổng số 18.454 phòng (trung bình 13,7 phòng/ 1 cơ sở) đã đi vào hoạt động nhưng

Trang 12

12

chưa đăng ký xếp hạng theo quy định Các cơ sở này tập trung nhiều ở các quận vùng ven nên công suất sử dụng phòng chỉ khoảng 18%, nếu tính cả khách thuê giờ thì đạt khoảng 65% Hiệu quả kinh doanh và tình trạng hoạt động của khối này cũng tương tự, còn có phần kém hơn khối 2 sao, 1 sao và đạt tiêu chuẩn

Để hình dung công suất phòng của riêng các khách sạn 1 sao và cơ sở lưu trú du

lịch đạt tiêu chuẩn, ta xem phụ lục 6: Sự phân bố cơ sở lưu trú hạng 1 sao trở xuống

trên địa bàn thành phố năm 2013

Nhìn vào bảng ta thấy quận 3 là một trong những quận trung tâm của thành phố, hàng năm đón được rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước tới lưu trú Quận có 1.127 phòng loại từ 1 sao trở xuống (chiếm 2,57% toàn thành phố) với công suất sử dụng phòng hiện nay chỉ khoảng 42% Trong khi đó, các quận 7, 10, Tân Bình, …và đặc biệt là các quận, huyện xa trung tâm như Quận 12, Bình Chánh, Bình Tân, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Phú, … vốn không có nhiều sản phẩm du lịch có khả năng thu hút khách tới tham quan và lưu trú nhưng lại có số lượng phòng vượt trội so với quận

3 Vì vậy, công suất sử dụng phòng của các cơ sở lưu trú tại những khu vực này càng thấp hơn

Sở dĩ có hiện tượng các cơ sở lưu trú loại, hạng này tăng quá nhanh, làm cung – cầu mất cân đối nghiêm trọng là do:

 Khác với chủ đầu tư khối khách sạn 3-5 sao, các chủ đầu tư loại hình cơ sở lưu trú này thường không chuyên nghiệp, họ thiếu kiến thức về thị trường Trong suy nghĩ của hầu hết chủ đầu tư thì việc kinh doanh cơ sở lưu trú quy mô nhỏ là ngành kinh doanh dễ, không cần nhiều vốn, kinh nghiệm, nghiệp vụ cũng như công nghệ Ngoài ra họ kinh doanh cũng với mục đích tạo công ăn việc làm cho người trong gia đình

 Do tập quán của người Việt Nam hay tích trữ, để dành bằng việc mua bất động sản, và rất nhiều trong số đó được đầu tư, cải tạo thành những cơ sở lưu trú với quy

mô nhỏ (trong đó có nhiều cơ sở được xây dựng từ khá lâu theo mô hình phòng cho thuê, nhà trọ bình dân nhưng sau đó thành phố hạn chế cấp mới đăng ký kinh doanh)

 Có nhiều cơ sở dù biết tình hình khó khăn nhưng vẫn quyết định đầu tư bởi họ nhắm đến đối tượng khách người địa phương thuê ngắn thời gian, thuê giờ, thậm chí còn tiếp tay cho các tệ nạn xã hội

Trang 13

13

 Việc nhận định, xác định tình hình cung cầu trên thị trường, hiệu quả kinh doanh của các khách sạn đang hoạt động là điều rất khó khăn Khác với các ngành kinh doanh khác, đặc thù của ngành lưu trú là nếu chỉ quan sát bên ngoài thì rất khó

để biết được hiệu quả kinh doanh thực sự của cơ sở lưu trú đó Ngay cả các cơ quan quản lý nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn trong việc theo dõi, đánh giá tình hình hoạt động bởi các cơ sở thường không báo cáo thật các số liệu kinh doanh của mình Điều này cũng làm hạn chế cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc cung cấp thông tin định hướng cho nhà đầu tư

Do phát triển quá nhanh so với tốc độ tăng của du khách nên số lượng phòng khách sạn 1 sao và cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn thừa nhiều dẫn đến hiệu quả kinh

doanh thấp Điều này làm phát sinh một số hậu quả như sau:

a Cho khách thuê theo giờ, thậm chí có không ít cơ sở tiếp tay chứa chấp các tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và môi trường văn hóa của xã hội Khách thuê theo giờ là thị trường khách rất dồi dào và tồn tại ở bất cứ khu vực nào có hoặc gần nơi cư dân sinh sống Nguồn cung sẽ tăng vọt mỗi khi giá được hạ xuống Đây là khách không thuộc đối tượng phục vụ của ngành du lịch và cần phải hạn chế ớ mức thấp nhất có thể

b Cạnh tranh quyết liệt bằng cách giảm giá đi kèm với giảm chất lượng dịch vụ Thậm chí nhiều khách sạn 1 sao không thể triển khai hoặc có triển khai nhưng không duy trì đầy đủ dịch vụ ăn uống theo đúng tiêu chuẩn quy định Từ năm 2001 đến nay, giá thuê phòng của khối này liên tục hạ trong khi các loại chi phí đều tăng Có những khu vực giá chỉ còn 160.000 đồng/ngày và 30.000 đồng/giờ

c Không có khả năng thu hút nguồn nhân lực có chất lượng tương ứng với cấp hạng được cấp, đa số cơ sở có quy mô nhỏ vẫn quản lý theo kiểu hộ kinh doanh gia đình, thiếu tính chuyên nghiệp Hiện nay khối này có 1.658 cơ sở với 25.423 phòng, trung bình khoảng 15,3 phòng/1 cơ sở

d Không có khả năng tài chính để duy trì và nâng cấp cơ sở vật chất vốn đang ngày càng xuống cấp

Thực tế tình hình dư thừa phòng khách sạn 1 sao (hoặc tương đương) và cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu chuẩn (gồm khách sạn và nhà nghỉ du lịch) đã bắt đầu có từ

Trang 14

2013, bình quân tăng 46,9%/năm

Các hiện tượng đã nêu ở mục a, b, c, d (trang …)

 Qua thực tế kiểm tra, thẩm định các cơ sở lưu trú

 Tình hình và giá cả mua bán, cho thuê, sang nhượng các cơ sở lưu trú: Có rất nhiều cơ sở lưu trú muốn bán hoặc cho thuê, sang nhượng quyền thuê nhưng rất khó tìm khách

Trang 15

15

PHẦN III

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CƠ SỞ LƯU TRÚ

DU LỊCH ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN 2030

III.1 SỐ LƯỢNG PHÒNG LƯU TRÚ DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ CẦN CÓ

ĐẾN NĂM 2020 VÀ 2025

III.1.1.CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU PHÒNG

III.1.1.1.Dự báo lượng khách đến thành phố

a Khách quốc tế

Dự án quy hoạch phát triển du lịch TP.HCM đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 đề xuất 3 phương án tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến TP.HCM như sau:

PA IIII 3.100 4.993 - 5.224 8.413 - 9.206 13.549 -

15.512

20.847 - 24.983

 Phương án 1 (phương án thấp): được xây dựng dựa trên những cơ sở sau:

Thứ nhất, dựa trên những dự báo tình hình kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, khách du lịch đến Việt Nam và thành phố tăng trưởng chậm

Thứ hai, căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số

Trang 16

16

201/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2013: mục tiêu thu hút lượng khách du lịch quốc

tế đến Việt Nam đến năm 2015 là 7,5 triệu lượt người, năm 2020 là 10,5 triệu, năm

2025 là 14 triệu và năm 2030 là 18 triệu Tốc độ tăng bình quân khách du lịch quốc tế giai đoạn 2011 – 2015 đạt 8,45%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 đạt bình quân 6,96%/năm, giai đoạn 2021 – 2025 đạt bình quân 5,92%/năm và giai đoạn 2026 –

2030 đạt bình quân 5,15%/năm

Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Vùng Đông Nam bộ đến năm 2020đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 943/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2012, khách du lịch quốc tế đến Vùng Đông Nam bộ vào năm

2015 đạt 4 triệu lượt người, năm 2020 đạt 5 triệu lượt

Tuy nhiên, so với mục tiêu Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Vùng Đông Nam bộ đến năm 2020 thì khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2013

đã đạt mục tiêu quy hoạch đến năm 2015 Tương tự, khách du lịch quốc tế đến TP.HCM năm 2013 đã đạt mục tiêu của Vùng Đông Nam bộ năm 2015 Cụ thể, khách

du lịch quốc tế đến Việt Nam trong 11 tháng năm 2013 là 6.850 triệu lượt người, trong đó tháng 11 đạt 731 ngàn lượt người Nếu trong tháng 12 lượng khách du lịch đến tương đương tháng 11 thì sẽ đã vượt mức chỉ tiêu của cả nước vào năm 2015 So với mục tiêu đề ra của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Vùng Đông Nam bộ đến năm 2020, khách du lịch quốc tế đến TP.HCM năm 2013 đạt 4,1 triệu lượt người,

đã vượt mức chỉ tiêu của cả Vùng Đông Nam bộ vào năm 2015 Điều này cho thấy mục tiêu đề ra của 2 dự án quy hoạch trên về khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và Vùng Đông Nam bộ là tương đối thấp Ngoài ra, trong những năm qua khách du lịch quốc tế đến TP.HCM đạt tốc độ tăng trưởng cao Giai đoạn 2001 – 2012 khách du lịch quốc tế đến TP.HCM tăng bình quân 10,88%/năm (cả nước tăng 10,18%/năm) Du lịch TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung có dấu hiệu hồi phục trong giai đoạn

2011 – 2013 Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế trên địa bàn TP.HCM giai đoạn

2011 – 2013 là 9,8%/năm trong khi giai đoạn 2006 – 2010 chỉ tăng 9,2%/năm Tương tự, tốc độ tăng khách du lịch quốc tế cả nước giai đoạn 2011 – 2013 đạt bình quân 14,5%/năm trong khi giai đoạn 2006 – 2010 chỉ tăng bình quân 7,6%/năm Bên cạnh đó, Tổng cục Du lịch đặt ra mục tiêu thu hút 8 triệu lượt khách du lịch quốc tế trong năm 2014

Trang 17

17

Tóm lại, phương án I về khách du lịch quốc tế đến TP.HCM là thấp so với tiềm năng của thành phố và thực tế thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và TP.HCM

 Phương án II (phương án trung bình):

Phương án II được xây dựng trên cơ sở những dự báo khả quan về sự hồi phục kinh tế thế giới và trong nước có tác động tích cực đến phát triển du lịch TP.HCM Phương án này cũng được xây dựng trên cơ sở tăng trưởng khách du lịch quốc tế cả nước và TP.HCM có dấu hiệu hồi phục trong giai đoạn 2011 – 2013, đồng thời những

nổ lực của cả nước và TP.HCM nhằm đưa ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Lượng khách du lịch quốc tế đến TP.HCM vào năm 2030 theo phương án II cũng chỉ bằng khách du lịch quốc tế đến Singapore vào năm 2013 Phương án II tương đối phù hợp với những tiềm năng và lợi thế của thành phố về du lịch, trong bối cảnh kinh tế thế giới dần hồi phục

 Phương án III (phương án cao):

Phương án này được xây dựng trên cơ sở dự báo tình hình kinh tế thế giới và cả nước phục hồi nhanh chóng, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời thành phố khai thác có hiệu quả những tiềm năng và lợi thế của thành phố để phát triển du lịch Để đạt được mức tăng trưởng cao trong một thời gian dài nêu trên, ngoài những thuận lợi từ các yếu tố khách quan, đòi hỏi Thành phố phải nỗ lực rất lớn về mọi mặt, đặc biệt là công tác quảng bá xúc tiến du lịch, phát triển cơ

sở hạ tầng, cơ sở vật chất ngành du lịch, cải thiện môi trường du lịch,… Đây là phương án phấn đấu

Lựa chọn phương án:

Phương án I là phương án phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của cả nước, phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được phê duyệt Tuy nhiên, so với điều kiện của TP.HCM thì phương án này tăng trưởng thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch như một ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần nghị quyết các kỳ Đại hội đảng bộ thành phố và chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Vì vậy, phương án này mang tinh chất dự phòng trong trường hợp kinh tế thành phố và cả nước tăng trưởng thấp hơn mục tiêu đề ra, tình hình kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn,

Trang 18

Phương án III phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam và TP.HCM phát triển mang tính đột phá, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng nhanh Phương án này chỉ mang tính dự phòng trong trường hợp kinh tế phát triển thuận lợi Ngoài ra phương án này khó khả thi do:

- Tình hình kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng còn nhiều khó khăn

- Tình hình chính trị ở khu vực Đông Nam Á cũng như châu Á – Thái Bình Dương chưa ổn định và có thể có những diễn biến bất lợi cho du lịch

- Các quốc gia điểm đến trong khu vực Đông Nam Á, đối thủ cạnh tranh trực tiếp của du lịch Việt Nam ngày càng đầu tư mạnh mẽ cho du lịch nhất là Singapore, Malaysia, Thái Lan, Campuchia và tương lai gần là Myanmar

- Trong vài năm gần đây, một số cảng hàng không khu vực phía Nam đã được đầu

tư nâng cấp thành cảng hàng không quốc tế như cảng hàng không Phú Quốc, cảng hàng không Cần Thơ, cảng hàng không Cam Ranh Việc đầu tư nâng cấp này còn được tiếp tục trong tương lai sẽ làm giảm vai trò của Thành phố Hồ Chí Minh là trạm trung chuyển khách tới các tỉnh phía Nam Số liệu thống kê từ năm

2010 cho thấy tốc độ tăng trưởng khách quốc tế đến Thành phố thấp hơn nhiều so với cả nước, không còn cao hơn nhiều như hầu hết các năm trước

- Du lịch Thành phố có rất nhiều tiềm năng nhưng để khai thác hiệu quả thì cần một nguồn vốn rất lớn Trong bối cảnh tình hình kinh tế, địa chính trị ở khu vực

và trên thế giới như hiện nay thì việc huy động nguồn vốn này là rất khó khăn, nhất là môi trường du lịch TP.HCM còn nhiều hạn chế, dự báo sẽ còn ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển du lịch thành phố Ô nhiễm môi trường diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước Tình trạng ngập lụt ngày càng gia tăng An ninh trật tự không được đảm bảo, tình trạng kẹt

xe ngày càng nghiêm trọng

Trang 19

19

Trong ba phương án trên, phương án II là phương án chọn

b Khách nội địa:

Chỉ tiêu phát triển du lịch nội địa TP.HCM trong thời kỳ quy hoạch dựa trên những yếu tố sau:

- Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, khách du lịch nội địa đến năm 2015 đạt 37 triệu lượt khách, đến năm

2020 đạt 47,5 triệu lượt khách, đến năm 2025 đạt 58 triệu lượt khách, đến năm 2030 đạt 71 triệu lượt khách Tỷ trọng khách du lịch nội địa TP.HCM so với cả nước đến năm 2015 đạt 47 – 48,6%, đến năm 2020 đạt 53,8 – 55,8%, đến năm 2025 đạt 61,8 – 62,1% và đến năm 2030 đạt 64,4 – 64,8%

- Quan điểm phát triển du lịch thành phố là đẩy mạnh phát triển du lịch nội địa trong bối cảnh du lịch quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, đồng thời phát triển du lịch thành phố trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Khách du lịch nội địa đến TP.HCM chiếm tỷ trọng ngày càng cao so với khách du lịch nội địa cả nước Tỷ trọng này là phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM trong thời kỳ quy hoạch Nhiều công trình đầu tư quy mô lớn dự báo sẽ được đưa vào khai thác sẽ thu hút khách

du lịch nội địa đến TP.HCM, bao gồm khu đô thị mới Thủ Thiêm, các tuyến metro, các tuyến đường vành đai và các tuyến đường cao tốc kết nối với các tỉnh; các sản phẩm du lịch hấp dẫn, bao gồm Sở thú Sài Gòn Safari, du lịch đường thủy, khu du lịch Cần Giờ, các trung tâm mua sắm, vui chơi giải trí, lễ hội,…

- Mức sống dân cư TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung ngày càng tăng, tác động tích cực đến việc thu hút khách du lịch nội địa đến thành phố

Khách du lịch nội địa đến TP.HCM tăng nhanh qua các năm, mục đích của chuyến đi bao gồm du lịch tham quan, du lịch mua sắm, du lịch ẩm thực, vui chơi giải trí, thăm người thân, hội nghị hội thảo, khám chữa bệnh,… TP.HCM là đô thị đặc biệt, có trình độ phát triển cao, tập trung nhiều tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, nhiều khu vui chơi giải trí hiện đại, các trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn và cao ốc văn phòng nên có sức hấp dẫn lớn đối với người dân trong cả nước Mức sống dân cư Việt Nam được cải thiện nên nhu cầu du lịch ngày càng gia tăng Ngoài

ra, TP.HCM là nơi tập trung dân cư trên khắp cả nước đến sinh sống và làm việc nên hàng năm thu hút một lượng lớn thân nhân, bạn bè đến TP.HCM tham quan, mua sắm, giải trí,… Bên cạnh đó, ngày làm việc đối với các cơ quan nhà nước giảm xuống từ 6

Trang 20

2020 đạt 22-24 triệu lượt người, đến 2025 đạt 28-30 triệu lượt người, đến năm 2030 đạt 33-35 triệu lượt người

III.1.1.2 Dự báo sự thay đổi độ dài ngày lưu trú của khách

Các số liệu thống kê cho thấy trong năm 2013, độ dài ngày lưu trú bình quân của 1 khách là 2,43 ngày đối với khách quốc tế và 1,5 ngày đối với khách nội địa Muốn kéo dài số ngày lưu trú của khách đòi hỏi ngành du lịch thành phố phải có sự thay đổi có tính đột phá Có nghĩa là thành phố phải có thêm các sản phẩm du lịch hấp dẫn với nhiều dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm… để lưu khách ở lại lâu hơn Với tình hình kinh tế còn đang gặp nhiều khó khăn cùng với sự cạnh tranh quyết liệt từ các điểm đến của các quốc gia láng giềng nên từ nay đến năm 2020 sự thay đổi này

là không đáng kể (từ năm 2006 đến 2013, độ dài ngày lưu trú của khách quốc tế giảm) Tuy nhiên chúng ta cũng có thể hy vọng có một chút tích cực từ sự tăng trưởng của khách du lịch MICE Dự đoán từ 2015-2020 độ dài ngày lưu trú của khách tăng bình quân khoảng 0,5%/năm, từ 2020 - 2025 tăng bình quân 1,3% /năm và từ 2025 đến năm 2030 tăng 0,8%/năm

III.1.1.3 Dự báo sự thay đổi số khách bình quân lưu trú trong một phòng

Lượng khách trung bình ở trong một phòng năm 2013 là 1,3 người/phòng đối với khách quốc tế và 1,61 người/phòng đối với khách nội địa Với kỳ vọng về sự tăng trưởng của khách du lịch MICE, khách thương nhân nên có thể dự báo từ nay đến năm 2020 cả hai chỉ số này đều giảm bình quân 0,2%/năm, từ 2021-2025 giảm 0,5%/năm và từ 2026-2030 giảm 0,3%/năm

III.1.2 DỰ BÁO NHU CẦU PHÒNG LƯU TRÚ DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ

TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2030

Trang 21

21

Trong những năm qua công tác xúc tiến của ngành được thực hiện rất tốt với mục tiêu là thu hút lượng khách tới thành phố đi kèm với chính sách khuyến mãi đặc biệt tập trung vào mùa thấp điểm Trên cơ sở đó hoàn toàn có thể hy vọng vào việc nâng công suất sử dụng phòng bình quân của cả khối lên mức 72% mà không sợ thiếu phòng vào mùa cao điểm

Trên cơ sở công suất sử dụng phòng được giả định ở mức 72%, kết hợp với các yếu tố đã được nêu ở phần trên cùng với các số liệu về công suất sử dụng phòng, số lượng phòng đang có ở hiện tại, ta tính được số lượng phòng cần có trong các năm kế tiếp như sau:

Khách sạn 5 sao:

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH QUỐC TẾ TỚI

THÀNH PHỐ

9,25% 9,25% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 8,75% 7,75%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH NỘI ĐỊA TỚI

THÀNH PHỐ

8,85% 8,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 4,75% 3,25%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH TỚI KHÁCH

SẠN (A)

9,22% 9,22% 9,29% 9,29% 9,29% 9,29% 9,29% 8,43% 7,39%

TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SỐ

NGÀY PHÒNG KHÁCH

SẠN BÁN ĐƯỢC (B)

Trang 22

22

Khách sạn 4 sao:

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH QUỐC TẾ TỚI

THÀNH PHỐ

9,25% 9,25% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 8,75% 7,75%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH NỘI ĐỊA TỚI

THÀNH PHỐ

8,85% 8,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 4,75% 3,25%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH TỚI KHÁCH

SẠN

9,17% 9,17% 8,97% 8,97% 8,97% 8,97% 8,97% 7,95% 6,85%

TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SỐ

NGÀY PHÒNG KHÁCH

SẠN BÁN ĐƯỢC

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH QUỐC TẾ TỚI

THÀNH PHỐ

9,25% 9,25% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 8,75% 7,75%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH NỘI ĐỊA TỚI

THÀNH PHỐ

8,85% 8,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 4,75% 3,25%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH TỚI KHÁCH

SẠN

9,12% 9,12% 8,65% 8,65% 8,65% 8,65% 8,65% 7,47% 6,31%

TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SỐ

NGÀY PHÒNG KHÁCH

SẠN BÁN ĐƯỢC

Trang 23

23

Khách sạn 2 sao:

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH QUỐC TẾ TỚI

THÀNH PHỐ

9,25% 9,25% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 8,75% 7,75%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH NỘI ĐỊA TỚI

THÀNH PHỐ

8,85% 8,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 4,75% 3,25%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH TỚI KHÁCH

SẠN

9,04% 9,04% 8,12% 8,12% 8,12% 8,12% 8,12% 6,67% 5,41%

TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SỐ

NGÀY PHÒNG KHÁCH

SẠN BÁN ĐƯỢC

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH QUỐC TẾ TỚI

THÀNH PHỐ

9,25% 9,25% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 8,75% 7,75%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH NỘI ĐỊA TỚI

THÀNH PHỐ

8,85% 8,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 4,75% 3,25%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH TỚI CƠ SỞ

8,91% 8,91% 7,22% 7,22% 7,22% 7,22% 7,22% 5,31% 3,88%

TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SỐ

NGÀY PHÒNG CƠ SỞ

 Ghi chú: Khối cơ sở lưu trú này đón 14% ngày phòng khách quốc tế và 86%

ngày phòng khách nội địa

Trang 24

24

Cơ sở lưu trú đang hoạt động nhưng chưa phân loại, xếp hạng:

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH QUỐC TẾ TỚI

RTHA2NH PHỐ

9,25% 9,25% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 9,50% 8,75% 7,75%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH NỘI ĐỊA

8,85% 8,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 6,85% 4,75% 3,25%

TỐC ĐỘ TĂNG LƯỢT

KHÁCH TỚI CƠ SỞ

 Ghi chú: Khối cơ sở lưu trú này đón 8% ngày phòng khách quốc tế và 92%

ngày phòng khách nội địa

Phụ lục 7: Bảng tổng hợp nhu cầu phòng lưu trú du lịch tại Thành phố từ năm 2015 đến năm 2030

Tình hình cung – cầu trên thị trường đối với hoạt động của các khách sạn 3-5 sao hiện nay tương đối cân bằng, tuy có thiếu phòng chút ít đối với loại 4 sao và ngược lại

với loại 3 sao Nhìn vào bảng ta thấy tới năm 2020, thành phố cần có thêm 9.730

phòng khách sạn từ 3-5 sao Trong đó 3.952 phòng 5 sao, 2.490 phòng 4 sao và 3.288 phòng 3 sao

Đối với các cơ sở lưu trú du lịch hạng 2 sao trở xuống và cơ sở lưu trú đang hoạt động nhưng chưa phân loại, xếp hạng: Giả sử năm 2013, công suất sử dụng phòng của khối này đạt 72% thì số lượng phòng dư thừa là 31.745 phòng Tất nhiên mức độ dư thừa này còn phụ thuộc vào các khu vực khác nhau của thành phố

Nếu từ năm 2013 không có thêm khách sạn 2 sao nào đi vào hoạt động thì đến

năm 2017 cung – cầu đối với khách sạn 2 sao sẽ cân bằng và đến năm 2020 thành phố

cần có thêm 1.987 phòng khách sạn 2 sao

Đến năm 2020, thành phố vẫn còn dư thừa 20.087 phòng của các khách sạn 1

sao, cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch và các cơ sở đang hoạt

Trang 25

2009 và thời kỳ 2005-2007 làm đột ngột thay đổi trạng thái cung- cầu Các nguyên nhân khác tác động làm thay đổi lượng khách thường diễn ra từ từ theo đúng quy luật phát triển và đều có dấu hiệu báo trước, bởi du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, nó có quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ với tất cả các ngành kinh tế khác Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành kinh tế du lịch nói riêng đã hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới và đều phải theo các nguyên tắc, các quy ước đã thỏa thuận Đối với các nhà đầu tư khách sạn 3-5 sao, họ có đủ kiến thức và các công cụ nguyên cứu thị trường cùng với sự hỗ trợ về cơ chế của các cơ quan quản lý nhà nước để điều chỉnh

kế hoạch đầu tư theo diễn biến của thị trường, đảm bảo cung – cầu luôn giữ được ở trạng thái tối ưu nhất Với các nhà đầu tư thuộc khối khách sạn từ 2 sao trở xuống thì tình hình không được như vậy và thường xảy ra tình trạng dư thừa phòng trong quá trình phát triển Bởi đâu có cầu thì ở đó ắt sẽ có cung ngay lập tức và sau một thời gian thì lượng cung sẽ áp đảo Đó là quy luật Bởi vậy nên cần phải có sự tác động quyết liệt của các cơ quan quản lý nhà nước bằng các thông tin định hướng đầu tư thậm chí nếu cần thiết có thể can thiệp bằng các biện pháp hành chính có tính chất bắt buộc để đảm bảo sự cân bằng của cung-cầu, tạo điều kiện cho các cơ sở lưu trú phát triển lành mạnh, hiệu quả

III.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH ĐẾN NĂM

2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

III.2.1 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO TỪNG LOẠI HÌNH LƯU TRÚ DU LỊCH

Trang 26

26

Định hướng phát triển cơ sở lưu trú du lịch theo Quy hoạch tổng thể phát triển

du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là“Mở rộng và nâng cao chất lượng cơ sở lưu trú du lịch, trong đó chú trọng loại hình lưu trú nghỉ dưỡng chất lượng cao với đa dạng dịch vụ bổ sung, nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách”

Theo tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch, hiện nay có 08 loại hình cơ sở lưu trú du lịch: khách sạn, biệt thự du lịch, bãi cắm trại du lịch, làng du lịch, căn hộ du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và tàu thủy lưu trú du lịch Trong đó, khách sạn là loại hình phổ biến nhất

Định hướng phát triển từng loại hình cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành

phố được đề xuất như sau:

a Khách sạn:

- Khách sạn 3-5 sao: Tiếp tục đầu tư xây dựng khách sạn 3-5 sao Ưu tiên khuyến

khích đầu tư khách sạn 5 sao có quy mô rất lớn, đa dạng về dịch vụ nhất là dịch

vụ vui chơi giải trí để phục vụ cho đối tượng khách du lịch hạng sang, đặc biệt là khách du lịch MICE dự kiến tăng mạnh trong thời gian tới

- Khách sạn 2 sao: Chỉ cấp mới đăng ký kinh doanh cho các khách sạn đạt tiêu

chuẩn 2 sao trở lên ở các quận 1, 3, 4, 5,10 (là những quận trung tâm và giáp trung tâm) Các quận, huyện còn lại: Chỉ cấp mới đăng ký kinh doanh cho các cơ

sở có vị trí nằm ở mặt tiền đường lớn hoặc trong các khu dân cư được quy hoạch mới Bởi các vị trí khác như trong đường hẻm, hoặc xa trung tâm quận… thì giá đất còn tương đối rẻ, chủ đầu tư có thể bỏ ra một số vốn không lớn lắm để tiếp tục đầu tư kinh doanh khách sạn 2 sao phục vụ cho đối tượng khách thuê giờ

- Khách sạn 1 sao: Chỉ cấp mới đăng ký kinh doanh cho các cơ sở nằm ở trung

tâm thành phố, cụ thể là các phường Bến Thành, Bến Nghé, Phạm Ngũ Lão thuộc Quận 1, vì đây là những khu vực tập trung nhiều khách quốc tế và cũng phù hợp với đề án phát triển khu phố Tây của thành phố

- Các cơ sở lưu trú đang hoạt động mà không đủ tiêu chuẩn để xếp hạng sao, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ghi ngành nghề “khách sạn” và được cấp

Trang 27

- Boutique Hotel (khách sạn theo phong cách cổ điển): Đây là loại hình khách sạn

tương đối mới mẻ tại thành phố cũng như Việt Nam, và hiện tại cũng chưa có tiêu chuẩn xếp hạng đối với loại hình này Tuy nhiên, định hướng sắp tới cần khuyến khích phát triển vì đây là “cơ sở lưu trú du lịch được cải tạo từ tòa nhà

cổ hoặc xây mới theo phong cách cổ, được thiết kế và trang trí đảm bảo tính sang trọng, độc đáo, nhưng thường quy mô nhỏ, đặc biệt chú trọng tới chất lượng dịch vụ phục vụ khách” (theo định nghĩa trong TCVN 9506:2012)

- Khách sạn nghỉ dưỡng (resort hotel): Khuyến khích phát triển loại đạt tiêu chuẩn xếp hạng 4-5 sao

b Nhà nghỉ kinh doanh du lịch (tourist guest house):

Tiếp tục không cấp mới đăng ký kinh doanh

c Nhà có phòng cho khách du lịch thuê (homestay):

Do tình hình an ninh trật tự, điều kiện hạ tầng, vệ sinh, môi trường, tập quán sinh hoạt của cư dân chưa phù hợp để phát triển loại hình này ở các quận nội thành Mặt khác, nếu phát triển loại hình này sẽ dễ biến tướng thành cơ sở cho khách thuê giờ Vì vậy chỉ nên phát triển ở những vùng ngoại vi thành phố, nơi có phong cảnh đẹp, có trang trại, làng nghề truyền thống… Đặc biệt cần khuyến khích phát triển ở huyện Cần Giờ, nơi có tính thời vụ du lịch cao để phần nào khắc phục tình trạng thiếu phòng lưu trú vào những mùa du lịch cao điểm

d Biệt thự du lịch, căn hộ du lịch:

Cấp mới đăng ký kinh doanh hạng cao cấp Riêng Quận 2, Quận 9, huyện Cần Giờ, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè có thể xem xét cấp mới hạng đạt tiêu chuẩn

c Làng du lịch, bãi cắm trại du lịch:

Khuyến khích phát triển những dự án có quy mô lớn với nhiều dịch vụ vui chơi giải trí có khả năng thu hút khách du lịch, ở những vùng gần gũi với thiên nhiên, có cảnh quan thiên nhiên đẹp, đặc biệt là nằm dọc bờ sông Sài Gòn và kết nối với tuyến

Trang 28

III.2.2 CÁC GIẢI PHÁP ĐIỀU CHỈNH GIẢM SỐ PHÒNG DƯ THỪA

Đến cuối năm 2013 trên toàn thành phố có 3.008 cơ sở lưu trú du lịch hạng từ 1 sao trở xuống với 43.877 phòng (bình quân 14,6 phòng/ 1 cơ sở; chiếm 68,5% tổng số phòng của thành phố) với công suất sử dụng phòng chỉ khoảng 23,22% Lượng phòng

dư thừa của khối này là 29.729 phòng, tương đương với 2.059 cơ sở Đó là một sự lãng phí rất lớn:

2.059 cơ sở x 6.000.000.000 đồng/cơ sở = 12.354.000.000.000 đồng (tương đương 588 triệu USD) Ngoài ra hàng tháng phải tốn thêm 51,5 tỷ đồng để duy trì và vận hành các cơ sở này Nếu tính thêm tiền sử dụng đất thì riêng khoản tiền này đã là 6.398 tỷ đồng (tương đương 305 triệu USD)

Vì vậy việc làm cho cung – cầu sớm cân bằng, làm giảm số lượng phòng hạng từ

1 sao trở xuống là một công việc hết sức cấp thiết Có thể có những giải pháp sau đây:

a Giải pháp về hành chính:

 Vận động các cơ sở chuyển qua cho thuê phòng dài hạn Tuy giá cho thuê không cao nhưng rủi ro thấp bởi đây là một thị trường rất lớn do nguồn lao động nhập cư đến

sinh sống và làm việc ở thành phố và cả người thành phố nhưng chưa có nhà ở

 Yêu cầu ngưng kinh doanh đối với các cơ sở chưa có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nếu có)

 Kiểm tra, xử phạt và yêu cầu tạm ngưng kinh doanh đối với các cơ sở:

 Không thể hoặc có điều kiện nhưng không tiến hành làm thủ tục phân loại, xếp hạng theo tiêu chuẩn được quy định trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Trang 29

29

 Đã được phân loại, hạng nhưng không duy trì được chất lượng

 Không đảm bảo các điều kiện về an toàn phòng cháy chữa cháy, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường … nhất là nước thải Hiện nay hầu hết các cơ sở lưu trú du lịch nhỏ đều không có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn Việc đầu tư hệ thống này rất tốn kém (khoảng 400 – 500 triệu đồng/cơ sở)

 Kiểm tra, xử phạt nặng, thậm chí thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các cơ sở chứa chấp tệ nạn xã hội

 Kiểm tra thường xuyên, nghiêm ngặt việc đăng ký khách vào sổ lưu trú, việc khai báo và thực hiện các nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước của các cơ sở

b Giải pháp về kinh tế:

- Có chính sách ưu đãi về thuế trong thời gian đầu đối với các cơ sở chuyển đổi ngành nghề kinh doanh

- Dịch chuyển dòng vốn đầu tư:

So với các thành phố khác trong cả nước cũng như trong khu vực, du lịch thành phố Hồ Chí Minh có nhiều tiềm năng phát triển nhưng hiện nay sự đầu tư, nhất là đầu

tư nội lực từ các nhà đầu tư trong nước cũng như của nhà nước chưa tương xứng Nguồn vốn đầu tư vừa yếu và mất cân đối nghiêm trọng trong tỷ trọng đầu tư Đó là:

 Mất cân đối trong nội ngành lưu trú: Tỷ lệ đầu tư vào các cơ sở từ 1 sao trở xuống quá cao (chiếm 68,5% số lượng phòng toàn thành phố)

 Mất cân đối giữa việc đầu tư các cơ sở lưu trú với việc đầu tư cải tạo môi trường du lịch, nâng cao chất lượng các sản phẩm và tạo ra các sản phẩm mới để thu hút khách tới thành phố: Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, đặc biệt là các cơ sở hạng từ 1 sao trở xuống có thể nói là một nghề kinh doanh thụ động (trừ loại hình lưu trú resort hotel, khách sạn có dịch vụ đánh bạc) Có nghĩa là sự phát triển của các cơ sở lưu trú không phải là nguyên nhân chính làm tăng lượng khách đến thành phố và hiệu quả hoạt động của ngành phụ thuộc hoàn toàn vào lượng khách đến Thành phố đang thừa các cơ sở lưu trú cho khách tới nhưng lại thiếu những sản phẩm du lịch để vì đó

mà họ tới

Vậy có thể có các phương án như sau:

Trang 30

30

 Dịch chuyển vốn đầu tư trong nội ngành lưu trú: Các khách sạn 3-5 sao hiện nay đang hoạt động hiệu quả và dự báo tới năm 2020 thành phố cần có thêm 9.730 phòng loại hạng này Vậy có thể Ủy ban nhân dân thành phố ưu đãi cho thuê một số khu đất xây khách sạn Cử một doanh nghiệp làm nòng cốt, có sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan kiểm toán để triển khai và vận hành dự án khi đi vào hoạt động Dự án này sẽ được cổ phần để thu hút vốn xây dựng Các cơ

sở hạng từ 1 sao trở xuống ngưng kinh doanh sẽ được mua cổ phần với giá ưu đãi so với giá vốn đầu tư (có thể kèm theo điều kiện vể thời gian tối thiểu nắm giữ cổ phần) Hoặc có thể thực hiện bằng cách cổ phần hóa một số khách sạn của nhà nước, nhất là các khách sạn đang có nhu cầu về vốn để nâng cấp lên hạng 3-5 sao hoặc khách sạn 3-

5 sao có nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh

 Dịch chuyển vốn sang đầu tư các sản phẩm du lịch khác: Dịch chuyển sang đầu

tư các sản phẩm có khả năng trực tiếp thu hút khách du lịch tới thành phố như đầu cho sản phẩm du lịch đường thủy, các dịch vụ vui chơi giải trí đa dạng và có chất lượng… Thậm chí đầu tư tạo ra những sản phẩm có tính đột phá làm thay đổi hoàn toàn du lịch thành phố, làm cho các ngành liên quan tới du lịch cùng phát triển mạnh cũng không phải là ngoài tầm nếu việc dịch chuyển dòng đầu tư này thành công Các công viên giải trí chuyên đề ở các nước lân cận như Everland (Hàn Quốc), Disneyland, Ocean Park (Hồng Kông – Trung Quốc), Legoland (Malaysia), Universal Studios (Singapore)… hàng năm thu hút từ 2 đến 10 triệu lượt khách với doanh số bán vé hàng năm lên đến vài trăm triệu USD cho mỗi công viên Thành phố Hồ Chí Minh không thiếu những khu vực có cảnh quan đẹp để có thể triển khai loại hình này, đặc biệt là tại bán đảo Thanh Đa (Quận Bình Thạnh và cù lao Long Phước (Quận 9)

Trang 31

31

PHẦN IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

IV.1 SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

 Thông tin rộng rãi, công khai về nội dung quy hoạch trên các phương tiện truyền thông của Sở

 Phối hợp với các Sở, Ban, Ngành có liên quan để triển khai và thực hiện các nội dung của dự án quy hoạch

 Hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện quy hoạch của các quận, huyện theo định hướng quy hoạch chung của thành phố về phát triển cơ sở lưu trú du lịch đến

năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025

 Thường xuyên phối hợp, kiểm tra, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch của quận, huyện

 Thường xuyên đánh giá hiện trạng phát triển cũng như tình hình hoạt động của

hệ thống cơ sở lưu trú du lịch đối với từng loại, hạng ở các khu vực khác nhau trên địa bàn thành phố

 Theo dõi sự vận động của cung - cầu, dự báo sự thay đổi độ dài ngày lưu trú bình quân của khách,… sự thay đổi lượng khách đến thành phố ngoài dự kiến để kịp thời cung cấp thông tin định hướng cho các nhà đầu tư và tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố ban hành các chủ trương, chính sách phù hợp, nếu cần có thể đề xuất điều chỉnh quy hoạch

 Phối hợp với Cục thuế tham mưu giúp Ủy ban nhân dân thành phố có kiến nghị với Trung ương ban hành cơ chế thuế ưu đãi nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư vào các loại hình lưu trú có khả năng độc lập thu hút khách tới thành phố

Trang 32

32

 Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố thu xếp những khu đất đẹp để phát triển các khách sạn 5 sao phục vụ khách du lịch MICE dự kiến sẽ tăng mạnh

 Phối hợp với Sở Quy hoạch – Kiến trúc, Sở Xây dựng giúp thông báo nội dung của quy hoạch

 Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo đẩy nhanh tốc độ thẩm định dự án, cấp giấy phép quy hoạch, giấy phép xây dựng đối với các dự án đầu tư cơ sở lưu trú du lịch, đặc biệt đối với các dự án thuộc diện khuyến khích phát triển hoặc các dự án cần hoàn thiện nhanh khi tình hình thị trường có diễn biến thuận lợi

 Kiến nghị với Tổng cục du lịch, phối hợp với Cục Thống kê thành phố để từng bước hoàn thiện hệ thống thống kê các số liệu trong ngành du lịch nói chung và ngành lưu trú du lịch nói riêng với độ chính xác cao hơn

 Định kỳ hàng năm báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố, Tổng cục Du lịch tình hình thực hiện quy hoạch

IV.2 ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC QUẬN, HUYỆN

 Thông tin rộng rãi, công khai về nội dung quy hoạch trên các phương tiện truyền thông của quận, huyện

 Trên cơ sở quy hoạch chung của thành phố, các quận, huyện xây dựng quy hoạch trên địa bàn

 Phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm tra việc thực hiện quy hoạch và đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch

 Phối hợp với các Sở, Ban, Ngành liên quan thực hiện các giải pháp nhằm làm giảm số lượng phòng lưu trú du lịch hiện đang dư thừa trên địa bàn

Trang 33

33

PHẦN V KẾT LUẬN

Trong thời gian qua, sự phát triển của các cơ sở lưu trú du lịch đã đóng góp rất lớn vào sư phát triển chung của ngành du lịch thành phố Tuy nhiên sự phát triển này cũng bộc lộ nhiều yếu kém như đã trình bày Lượng phòng dư thừa quá lớn ở các cơ sở lưu trú du lịch loại cấp thấp làm lãng phí tiền đầu tư và gây nên những hệ lụy xấu cho

xã hội

Việc dự báo số lượng phòng cần có trong thời kỳ quy hoạch thường được tính theo công thức:

Số phòng cần thiết =

(Lượng khách lưu trú trong khách sạn) x (Độ dài ngày

lưu trú được dự báo)

365 ngày x (Công suất sử dụng buồng phòng trung bình dự báo) x (Lượng khách trung bình/phòng) Tuy nhiên vì nhiều lý do khách quan mà việc thống kê các số liệu của ngành du lịch nói chung và nhất là ngành lưu trú nói riêng gặp rất nhiều khó khăn nên việc áp dụng công thức trên đưa đến kết quả có độ sai số đáng kể

Vì vậy quy hoạch phát triển cơ sở lưu trú du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được xây dựng theo các bước:

 Nguyên cứu quá trình vận động của cung – cầu, đánh giá hiệu quả kinh doanh, công suất sử dụng phòng của từng loại, hạng trong suốt quá trình

 Tính toán số lượng phòng cần có và chỉ nên có ở hiện tại đối với từng loại, hạng

ở mỗi khu vực, từ đó xác định số lượng phòng dư thừa

 Dự báo tỷ lệ tăng trưởng của khách tới thành phố

 Dự báo tỷ lệ thay đổi độ dài ngày lưu trú của khách và số khách bình quân lưu trú trong một phòng

 Tính toán số lượng phòng cần thiết đối với từng loại, hạng cơ sở lưu trú cho từng năm trong suốt thời gian từ đây cho tới năm 2020, 2030

Trang 34

* Cơ sở lưu trú du lich (không tính làng du lịch) từ hạng 1 sao trở xuống:

Không cần xây thêm vì với số phòng hiện đang có đến năm 2020 vẫn còn dư 20.087 phòng

Cùng với sự quan tâm sâu sát và chỉ đạo chặt chẽ của Ủy ban nhân dân thành phố, sự phối hợp đồng bộ của các Sở ngành trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, quy hoạch phát triển cơ sở lưu trú du lịch tới năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

sẽ đạt được các mục đích đề ra, đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành du lịch thành phố

Trang 35

35

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1:

BẢNG THỐNG KÊ CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH ĐƯỢC XẾP HẠNG

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006-2013

Trang 36

36

PHỤ LỤC 2:

SO SÁNH SỐ CƠ SỞ VÀ SỐ PHÒNG LƯU TRÚ CỦA TP.HCM

VỚI CẢ NƯỚC NĂM 2013

Tỉ lệ TPHCM

so với cả nước

Số cơ sở Số phòng Số cơ sở Số phòng Số cơ sở Số phòng

Trang 37

37

PHỤ LỤC 3:

BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG SỐ PHÒNG CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH

ĐÃ ĐƯỢC XẾP HẠNG TẠI TP.HCM GIAI ĐOẠN 2006-2013

Trang 38

38

PHỤ LỤC 4:

SO SÁNH TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN THÀNH PHỐ

VÀ SỐ PHÒNG CƠ SỞ LƯU TRÚ GIAI ĐOẠN 2006-2013

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Tốc độ tăng

Từ 2007 đến

2013

Bình quân hàng năm KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN THÀNH PHỐ (ngàn lượt)

Tốc độ tăng trưởng hàng năm

SỐ LƯỢNG PHÒNG KS 3-5 SAO

Tốc độ tăng hàng năm

Công suất sử dụng phòng

Trong đó:

-Khách sạn 5 sao

Tốc độ tăng hàng năm

Công suất sử dụng phòng

-Khách sạn 4 sao

Tốc độ tăng hàng năm

Công suất sử dụng phòng

-Khách sạn 3 sao

Tốc độ tăng hàng năm

Công suất sử dụng phòng

Trang 39

39

SỐ LƯỢNG PHÒNG KHÁCH SẠN 1-2 SAO VÀ

CƠ SỞ LƯU TRÚ ĐẠT TIÊU CHUẨN KINH

DOANH LƯU TRÚ DU LỊCH

Tốc độ tăng hàng năm

Trong đó:

-Khách sạn 2 sao

Tốc độ tăng hàng năm

-Khách sạn 1 sao

Tốc độ tăng hàng năm

-Cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn kinh doanh LTDL

Tốc độ tăng hàng năm

TỔNG SỐ PHÒNG ĐÃ ĐƯỢC XẾP HẠNG

Tốc độ tăng hàng năm

*Khách nội địa có sử dụng dịch vụ lưu trú tăng hàng năm khoảng 7-8%

Trang 40

40

PHỤ LỤC 5:

CÔNG SUẤT SỬ DỤNG PHÒNG CỦA KHỐI KHÁCH SẠN 1 SAO, 2 SAO VÀ CƠ SỞ LƯU TRÚ

ĐẠT TIÊU CHUẨN KINH DOANH LƯU TRÚ DU LỊCH

LOẠI CƠ SỞ

LƯU TRÚ

CÔNG SUẤT SỬ DỤNG PHÒNG

Khu vực trung tâm thành phố P.Bến Thành, Bến Nghé &

Quận 2, 8, 9, 12, Bình Tân, Củ Chi, Bình Chánh, Tân Phú, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Thạnh, Hóc Môn, Cần Giờ

Toàn Thành phố

Không bao gồm khách thuê giờ

Bao gồm khách thuê giờ

Không bao gồm khách thuê giờ

Bao gồm khách thuê giờ

Không bao gồm khách thuê giờ

Bao gồm khách thuê giờ

Không bao gồm khách thuê giờ

Bao gồm khách thuê giờ

Không bao gồm khách thuê giờ

Bao gồm khách thuê giờ

KHÁCH SẠN 1 SAO

VÀ CƠ SỞ LƯU TRÚ

ĐẠT TIÊU CHUẨN

Ngày đăng: 24/06/2020, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w