Và như một sự tự nhiên tất yếu, bên cạnh sự xích lại, hợp tác về các mặt quân sự, ngoại giao, quốc phòng, giáo dục.…giữa các quốc gia, các dân tộc trên thế giới với nhau thì trong lĩnh v
Trang 1Đàm phán chuẩn bị xuất khẩu tôm với đối tác mỹ
• LỜI MỞ ĐẦU
u thế toàn cầu hóa, mở cửa nền kinh tế thế giới đã và đang có những tác động sâu, rộng đến hầu hết các quốc gia trên toàn cầu Sự xích lại, gắn bó và mật thiết trong quan hệ giữa cá quốc gia đã dần xóa nhòa đi những biên giới về địa lí Cùng với sự phát triển của khoa học
kỷ thuật trong những thập niên cuối của thế kỉ trước, đặc biệt là lĩnh vực thương mại điện tử, với sự phát triển như vũ bão của Internet ngày nay, thế giới đang tiến đến một “cộng đồng chung” không
sự phân cách Và như một sự tự nhiên tất yếu, bên cạnh sự xích lại, hợp tác về các mặt quân sự, ngoại giao, quốc phòng, giáo dục.…giữa các quốc gia, các dân tộc trên thế giới với nhau thì trong lĩnh vực kinh
tế, việc các nước đặt quan hệ, cùng nhau bắt tay, “chào đón” nhau là điều không thể tránh khỏi Khi mà nền kinh tế của một quốc gia mở cửa, điều đó đồng nghĩa với việc sẻ có rất nhiều cơ hội và thách thức cho tất cả các Doanh nghiệp trong nước Mở ra trước “mắt” các Doanh nghiệp đó là cả một thị trường hoàn toàn mới, với những đối tác mới, những con người mang đến cho họ những hợp đồng “béo bở” nhưng cũng đầy “cạm bẫy”.Vạn sự khởi đầu nan – cái mới bắt đầu khi nào cũng khó khăn Việc làm sao
để cho các Doanh nghiệp trong nước “chân ướt chân ráo” có thể tìm được những hợp đồng ngoại thương, tiến hành đàm phán, kí kết mà không phải thiệt thòi thực sự rất quan trọng Với đề tài: “Các bước chuẩn
bị đàm phán xuất khẩu tôm với đối tác Mỹ” Bài tiểu luận này của chúng tôi cũng không nằm ngoài mục đích trên Thông qua tiểu luận chúng tôi muốn truyền tải tới quý bạn đọc những bước và kỷ năng cơ bản nhất giúp bạn đọc có thể có được những bước chuẩn bị tốt nhất cho cuộc gặp gỡ, đàm phán với một đối tác Mỹ về một hợp đồng ngoại thương Cổ nhân xưa có dạy “biết mình biết ta, bách chiến bách thắng” Khi gặp một đối tác mới, việc làm sao hiểu người hiểu mình hiểu người, cùng với sự chuẩn bị chu đáo ban đầu, đây chính là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công cho những người tiên phong nhưng sáng suốt
X
I Đánh giá tình hình:
1 Thu thập thông tin thị trường:
1.1 Văn hóa kinh doanh:
Nếu bạn muốn đàm phán thương mại với đối tác người Mỹ thì ít nhất cũng phải nắm bắt được những mong muốn của họ: người Mỹ rất thực tế, họ đánh giá cao trình độ của những thương nhân chuyên nghiệp, lắng nghe các ý kiến đóng góp, phê bình Nghệ thuật đàm phán của người Mỹ trong các cuộc thương thảo được đánh giá là rất cao và chuẩn mực Khi người Mỹ muốn được gặp đối tác, trong tay họ
đã có sẵn chương trình thực hiện chứ không phải là bản thảo dự án nữa Sau đây là tổng hợp một số lưu ý khi người Việt Nam tham gia đàm phán với đối tác Mỹ:
- Người Mỹ không e ngại phải làm việc với người lạ
- Người Mỹ nổi tiếng là những người có tác phong giao tiếp cởi mở, thân thiện Sau màn chào hỏi
xã giao lấy lệ, người Mỹ thường "vào cuộc" ngay Người Mỹ ưa cách xưng hô thoải mái theo tên và ít khi
để ý đến điệu bộ trên gương mặt của người đối thoại Cởi bỏ áo khoát, họ tìm cho mình một tư thế ngồi thoải mái nhất và nhanh chóng đi vào những vấn đề chính của câu chuyện
- Người Mỹ đánh giá cao sự thân mật và bình đẳng trong quan hệ giữa người với người
Trang 2- Người Mỹ rất tự tin.
- Không có thói quen sử dụng ngọai ngữ khi đàm phán
- Đi thẳng vào vấn đề một cách trực diện không quanh co: các cuộc tiếp xã giao thường kéo dài 30 – 45 phút và hiếm khi quá 1 tiếng) và không ngại ngùng chủ động kết thúc khi hết giờ
- Người Mỹ thường tách vấn đề ra thành nhiều phần nhỏ rồi tiến hành tấn công từng phần một
- Kiểm tra an ninh tại nơi làm việc: Sau sự kiện khủng bố 11/9, việc kiểm tra an ninh được thực hiện rất nghiêm ngặt
- Thông tin thường xuyên: Giữ liên hệ và thông tin thường xuyên với bạn hàng Hoa Kỳ là rất quan trọng Các nhà kinh doanh Hoa Kỳ nổi tiếng là không kiên nhẫn và rất ghét sự im lặng Họ muốn được thông tin thường xuyên về những diễn biến trong kinh doanh bất kể là tốt hoặc xấu
- Giờ làm việc và ngày nghỉ
Giờ làm việc hàng ngày phổ biến nhất là từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, trong đó có khoảng nửa đến một tiếng ăn trưa Các ngân hàng thường mở cửa từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều Nhiều nơi có thể bắt đầu và kết thúc ngày làm việc sớm hơn Các công ty kinh doanh thường làm việc nhiều giờ hơn và kết thúc ngày làm việc muộn hơn
+ Ở Hoa Kỳ không có qui định ngày nghỉ thống nhất trong cả nước Về nguyên tắc, những ngày nghỉ liên bang chỉ áp dụng với thủ đô Washington DC và các nhân viên thuộc các cơ quan liên bang Chính quyền các bang quyết định các ngày nghỉ trong bang mình Nhìn chung, các bang đều nghỉ theo các ngày nghỉ liên bang ở Hoa Kỳ có 10 ngày nghỉ chính trong năm là: Tết Dương lịch; Ngày Martin Luther King; Ngày Tổng thống ; Ngày Tưởng nhớ:; Ngày Độc lập; Ngày Lao động; Ngày Columbus; Ngày Cựu chiến binh; Ngày Tạ ơn; Ngày Nô en
+ Khi những ngày nghỉ lễ này rơi vào thứ Năm hoặc thứ Ba, thông thường các công ty cho nghỉ luôn một mạch cho đến hết tuần hoặc hết ngày lễ Nếu không phải vì những công việc cấp thiết thì các nhà kinh doanh nước ngoài không nên đến Hoa Kỳ để bàn chuyện kinh doanh vào tuần trước Nô en và tuần sau Tết dương lịch Nhiều người ở Hoa Kỳ nghỉ làm từ Nô en đến hết Tết dương lịch; vì vậy, họ thường bận rộn vào dịp trước và sau đó
- Sự khác biệt giữa khâu phân phối hàng hóa ở Hoa Kỳ và khâu phân phối hàng hóa tại Việt Nam là: Nếu bán hàng với số lượng nhỏ như ở Việt Nam thì không cần hệ thống phân phối nhưng nếu muôn bán hàng ở thị trường Hoa Kỳ bắt buộc phải dùng hệ thống phân phối hàng qua các công ty thu mua hoặc đại lý thu mua của các hãng lớn Để hàng hóa Việt Nam có thể thâm nhập hệ thống phân phối hàng hóa tại Hoa Kỳ cần phải qua các công ty tư vấn, công ty tiếp thị sản phẩm
- Hoa Kỳ không có quy định chung về việc thành lập doanh nghiệp áp dụng cho tất cả các bang Quy định này ở mỗi bang, mỗi khác Luật của các bang về các loại hình doanh nghiệp có thể không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên, ở tất cả các bang đều tồn tại bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản; Doanh nghiệp tư nhân một chủ; Doanh nghiệp hợp danh; công ty cổ phần; công ty trách nhiệm hữu hạn
- Về mặt pháp lý, ở Hoa Kỳ, không có loại hình văn phòng đại diện như ở Việt Nam Hầu hết các bang đều không yêu cầu vốn tối thiểu để thành lập doanh nghiệp Thủ tục thành lập doanh nghiệp ở các bang đều đơn giản và nhanh chóng Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều tiết của pháp luật giống như các công ty trong nước Loại hình doanh nghiệp cổ phần bình thường là loại hình phù hợp nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam muốn thành lập công ty chi nhánh ở Hoa Kỳ
1.2 Đặc điểm của nhu cầu thị trường Mỹ và thế giới:
Trang 3a Nhu cầu tôm trên thế giới: Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu tôm sang 92 thị trường với tổng giá trị là 2,24 tỷ đồng Trong đó, 5 thị trường chủ lực là Nhật, Mỹ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc đã chiếm 83% kim ngạch xuất khẩu
Thị trường nhập khẩu tôm của Việt Nam năm 2012 (triệu USD)
Tình hình xuất khẩu chung của cả nước từ đầu năm đến nay gặp nhiều khó khăn, nhưng mặt hàng tôm lại
có những bứt phá đầy ấn tượng
- Tình hình chung cho xuất khẩu tôm trong năm 2013 sang các thị trường chính như Nhật Bản,
EU, Mỹ cũng được các chuyên gia dự báo sẽ không tăng… do tôm sang các thị trường này đang vấp phải rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm, như chất kháng sinh ethoxyquin đối với con tôm xuất khẩu vào Nhật Bản, EU, Mỹ Hoặc việc Liên minh Khai thác tôm Mỹ (COGSI) đã đệ đơn kiện lên Bộ Thương mại
Mỹ đối với tôm nước ấm nhập khẩu từ 7 nước, trong đó có Việt Nam do nghi ngờ ngành tôm của những nước này nhận được các khoản trợ cấp từ chính phủ, trong khi Mỹ là thị trường nhập khẩu tôm lớn thứ 2 của Việt Nam Tuy nhiên:
+ Tính đến hết tháng 7, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt gần 1,4 tỷ USD, chiếm gần 40% tỷ trọng xuất khẩu thủy sản, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2012 Riêng tháng 7, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt
291 triệu USD, tăng 45,3% so với tháng 7/2012 và tăng 21,7% so với tháng trước Với tốc độ tăng trưởng này, dự kiến xuất khẩu tôm năm 2013 sẽ đạt trên 2,4 tỷ USD, vượt qua mức kỷ lục 2,396 tỷ USD năm 2011
+ Xuất khẩu tôm tăng, nguyên nhân chủ yếu là nhờ sự tăng trưởng xuất khẩu tôm thẻ chân trắng Trước đây, giá trị xuất khẩu trong cả năm và trong từng tháng của tôm thẻ chân trắng đều thấp hơn so với
Trang 4tôm sú Nhưng từ tháng 6, lần đầu tiên giá trị xuất khẩu tôm thẻ chân trắng đã vượt qua tôm sú khi đạt 123,6 triệu USD (tôm sú 100 triệu USD) Đến tháng 7, tôm thẻ chân trắng tiếp tục bỏ xa tôm sú khi đạt trên 153 triệu USD, cao hơn tới giá trị của tôm sú tới 35 triệu USD Như vậy mà trong 7 tháng đầu năm nay, giá trị xuất khẩu tôm thẻ chân trắng đã gần bằng tôm sú (tôm thẻ 609,2 triệu USD, tôm sú 679,7 triệu USD)
+ Cũng theo VASEP, trong 7 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Hoa
Kỳ vẫn ổn định đạt mức 337,6 triệu USD, chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm 1,4 tỷ USD Trong khi đó xuất khẩu tôm sang các thị trường khác đang có mức gia tăng đáng kể, giá trị xuất khẩu tôm vào thị trường Nhật Bản tăng 11%, thị trường EU tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái
Kim ngạch xuất khẩu tôm sang các thị trường 7 tháng đầu năm 2013
chiếm trên 46% tổng giá trị XK tôm Tiếp tục xu hướng này, trong quý 4 năm nay giá tôm được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh
+ Hiện nay, nguồn cung tôm sú trên thị trường rất ít do các nước sản xuất tôm lớn trên thế giới đều tập trung phát triển tôm thẻ chân trắng Trong bối cảnh này, XK tôm thẻ chân trắng sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong những tháng cuối năm Cụ thể ở các thị trường như sau:
TRƯỜNG
GT (USD)
Tỷ lệ GT (%)
Trung Quốc và HK 180.606.211 12,95
3,02
1,17
5,47
Trang 5+ Với mức tăng mạnh XK tôm sang Mỹ tháng 8/2013, Mỹ đã vượt qua Nhật Bản để trở thành thị
trường lớn nhất tiêu thụ tôm của Việt Nam XK tôm sang Mỹ bắt đầu phục hồi từ quý II/2013 sau khi giảm 18,6% năm 2012 và giảm 6,3% trong quý I Tám tháng đầu năm 2013, XK tôm sang Mỹ đạt trên 445,6 triệu USD, tăng 52,4% so với cùng kỳ năm 2012 Mặc dù phải đối mặt với rào cản mới từ thị trường này như mức thuế chống trợ cấp 4,52% do Bộ Thương mại Mỹ mới công bố, tôm Việt Nam XK sang Mỹ cũng gặp một số thuận lợi, đó là nguồn cung từ Thái Lan giảm mạnh và giá tôm tăng cao Ngày 10/9/2013, DOC đã công bố kết quả cuối cùng mức thuế chống bán phá giá 0% đối với 33 công ty XK tôm Việt Nam giai đoạn từ 1/2/2011 đến 31/1/2012 (POR7) đã tạo thêm niềm tin cho các DN nỗ lực duy trì XK tôm sang thị trường này
+ Suy thoái kinh tế tại EU đã kéo nhu cầu NK và tiêu thụ tôm tại EU xuống thấp Tuy nhiên, khu
vực này được cho là đã thoát khỏi tình trạng suy thoái kinh tế nghiêm trọng và nhu cầu về tôm đang được cải thiện, nhất là với tôm cỡ lớn, trong khi nguồn cung từ Argentina và Thái Lan giảm đã tạo cơ hội cho tôm Việt Nam Tháng 8/2013, XK tôm sang EU tăng 54,5% Nguồn cung giảm trong khi nhu cầu gia tăng khiến giá tôm tại EU tăng, đặc biệt là giá tôm chân trắng Tôm chân trắng nguyên con cỡ 40/50 trên thị trường EU đã tăng từ 7,40 USD/kg trong tháng 1 lên 10,10 USD/kg vào tháng 9
+ Canada – thị trường tiềm năng: Đứng thứ 7 về NK tôm Việt Nam nhưng Canada lại là thị
trường có sức tiêu thụ tốt XK tôm sang Canada 8 tháng đầu năm tăng 42,3%, đạt trên 63,6 triệu USD và
từ tháng 4 đến nay luôn tăng trưởng khả quan, trong đó tháng 4 tăng tới 130%, các tháng còn lại tăng từ
22 – 92%
b Nhu cầu tôm tại thị trường Mỹ: Không có gì phải nghi ngờ khi nói rằng, Mỹ là thị trường hấp dẫn nhất đối với các nhà xuất khẩu tôm trên thế giới Song, thị trường Mỹ mang lại lợi nhuận lớn cho các nhà xuất khẩu nhưng cũng đầy những rào cản và cạnh tranh khốc liệt
+ Theo khảo sát của Hiệp hội Thủy sản quốc gia Mỹ (NFI), trong top 10 loài thủy sản được ưa chuộng nhất tại Mỹ năm 2011, tôm xếp vị trí số 1 với mức tiêu thụ bình quân lên tới 4,20 pound/người/năm (khoảng 1,9 kg), chiếm 28% trong tổng số 15,0 pound tiêu thụ thủy sản bình quân mỗi năm của một người Mỹ
+ Số liệu của Cục Nghề cá Biển Quốc gia Mỹ (NMFS) cho thấy, khối lượng nhập khẩu tôm của
Mỹ không ngừng tăng lên từ 429.298 năm 2002 lên 590.299 tấn năm 2006 Năm 2006 cũng là năm tỷ lệ tiêu thụ tôm bình quân ở Mỹ đạt mức cao nhất với 4,40 pound/người/năm Từ 2007 đến nay, lượng tôm nhập khẩu của Mỹ tương đối bình ổn và có xu hướng giảm nhẹ trong năm 2012 Cụ thể, năm 2012, Mỹ đã nhập khẩu 533.498 tấn, giảm 7,23% so với 575.113 tấn trong năm 2011
+ Trong năm 2012, giá trị nhập khẩu thủy sản của Mỹ đạt hơn 12,6 tỷ USD, trong đó tôm (chủ yếu là tôm tươi và đông lạnh) vẫn giữ vị trí hàng đầu khi chiếm đến 28% về giá trị, tương đương hơn 3,5
tỷ USD
+ Năm 2012, các sản phẩm tôm nhập khẩu vào Mỹ đến từ hơn 50 quốc gia trên thế giới, trong đó 90% đến từ các nước châu Á và châu Mỹ La tinh Điều này đủ để thấy sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung cấp tôm vào thị trường Mỹ
+ Trong top 10 quốc gia cung cấp tôm vào Mỹ năm 2012, riêng 5 quốc gia Thái Lan, Ecuador, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam đã chiếm đến 74,5% tổng khối lượng Về vị trí, Thái Lan vẫn luôn dẫn đầu từ nhiều năm nay, các vị trí còn lại đều có sự thay đổi Ecuador từ vị trí thứ 5 năm 2002 đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu tôm lớn thứ 2 vào Mỹ trong năm 2012 Trung Quốc và Việt Nam tụt xuống vị trí thứ 6 và 5 tương ứng thay vì 2 và 3 năm 2002
+ Sự xuất hiện của tôm ngoại giá rẻ khiến ngành công nghiệp tôm Mỹ chịu tổn thất nặng nề do không cạnh tranh nổi Tôm nuôi tại Mỹ có kích cỡ lớn nhất là 21/25 do nước quá mặn Giá bán lẻ tôm nuôi của Mỹ dao động trong khoảng 10 USD/pound, cao hơn nhiều so với mức giá 6 USD/1,5 pound tôm nhập khẩu Đây chính là lý do vì sao các nước xuất khẩu tôm vào thị trường Mỹ luôn phải chịu nhiều áp lực kiện cáo từ ngành công nghiệp tôm nuôi nội địa của Mỹ Vụ kiện gần đây nhất là kiện chống trợ cấp
do Liên minh Công nghiệp tôm vùng Vịnh (COGSI) đệ đơn khởi kiện đối với tôm nước ấm nhập khẩu từ
7 nước gồm Trung Quốc, Ấn độ, Ecuador, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam
Trang 6năm 2012, NK tôm từ 5 nước này chiếm tới 74,5% tổng NK tôm vào Mỹ.
+ Số liệu mới nhất của NMFS cho thấy 6 tháng đầu năm
2013, Mỹ đã nhập khẩu 223.293 tấn tôm, giảm nhẹ so với 293.206 tấn cùng kỳ năm 2012, trong đó, Thái Lan vẫn là nhà cung cấp hàng đầu với 40.803 tấn Tuy nhiên Ấn Độ, Peru và Việt Nam
là 3 nguồn cung chính tăng XK tôm sang Mỹ trong 6 tháng đầu năm nay Phần lớn các nguồn cung lớn khác đều giảm
Nhập khẩu tôm vào Mỹ, tấn
Xuất xứ Tháng
1-6/2013
Thị phần 2013 (%)
Tháng 1-6/2012
Tăng, giảm 2013/2012 (%)
Trung
Xuất khẩu tôm các nước sang Mỹ năm 2012 và dự báo 2013, tấn
Nước
XK
Tổng XK
năm 2012
XK sang
Mỹ năm 2012
Dự báo XK sang Mỹ năm 2013
Lượng dự trữ đầu năm 2013
Ecuador 245.220 154.445 178.896 20.517
Indonesia 167.090 121.150 118.370 9.559
Thái Lan 401.753 225.722 214.069 111.013
Tổng 1.148.594 650.891 668.251 197.069
Trang 7Guyana 4.752 2,1 6.060 -21,6
43 nước
+ Theo VASEP, trong 7 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ vẫn ổn định đạt mức 337,6 triệu USD, chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm 1,4 tỷ USD Thống kê
NK tôm vào Mỹ 7 tháng đầu năm 2013 cho thấy, NK tôm từ Thái Lan, chiếm ¼ tổng NK tôm vào Mỹ, giảm 36,4% so với năm 2012
1.3 Các loại thuế và chi phí và tiêu chuẩn chất lượng:
Ngày 10/9/2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ra Quyết định cuối cùng về mức thuế chống bán phá giá (CBPG) tôm nước ấm đông lạnh Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ giai đoạn từ ngày 1/2/2011 đến 31/1/2012 , DOC đã công nhận toàn bộ 33 doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam tham gia đợt xem xét hành chính lần thứ 7 này (POR7) đều không bán phá giá tôm trên trên thị trường Hoa Kỳ Do đó,
33 doanh nghiệp đều nhận mức thuế 0%.Đó là tin vui cho nghành tôm của VN
Tuy nhiên ngày 12/8/2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã chính thức áp thuế chống trợ cấp lên các doanh nghiệp sản xuất, XK tôm của Việt Nam với mức thuế suất toàn quốc dành cho các doanh nghiệp ngoài 2 bị đơn bắt buộc là 4,52% Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất của người nông dân và doanh nghiệp XK cho dù XK tôm sang Mỹ tháng 7/2013 tăng ở mức kỷ lục trong nhiều tháng gần đây, tăng 101,8% so với cùng kỳ năm ngoái
- Thị trường Mỹ cũng là một thị trường khá khắt khe Thị trường Mỹ tuy rộng lớn nhưng nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ lại rất cao Nếu không có đủ tất cả các yêu cầu trên thì sản phẩm đó sẽ bị các sản phẩm của các hãng khác cạnh tranh loại bỏ, hoặc bị chính người tiêu dùng Mỹ tẩy chay, khả năng tồn tại
và phát triển của sản phẩm đó là rất khó khăn Đó là về phía những người tiêu dùng còn về phía Chính phủ Mỹ cũng có rất nhiều những qui định đặt ra cho các sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu
- Luật hiện tại của Mỹ coi "giá trị giao dịch" là cơ sở để xác định giá trị của hàng nhập khẩu Nhìn chung, giá trị giao dịch là mức giá thực tế đã trả hoặc phải trả cho hàng nhập khẩu đó, với một số chi phí
bổ sung không bao gồm trong giá đó nhiều loại thuế của Mỹ đánh theo tỷ lệ trên giá trị hàng hoá, tức là
Trang 8mức thuế được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng nhập khẩu, mức thuế suất biến động từ 1-40%, trong đó mức thông thường từ 2-7% giá trị hàng nhập khẩu
- Một số hàng nhập khẩu, thường là nông sản và các loại hàng chế biến khác, là đối tượng chịu
"thuế theo số lượng" - đó là một loại thuế ấn định đối với một số lượng nhất định Một số sản phẩm phải chịu thuế gộp, loại kết hợp thuế theo tỷ lệ trên giá trị và thuế theo số lượng
- Hầu hết các đối tác thương mại của Mỹ đều được hưởng quy chế đối xử thương mại bình thường(NTR) Hàng hoá của các nước thuộc diện NTR khi xuất khẩu vào Mỹ chỉ phải chịu mức thuế thấp hơn nhiều so với hàng hoá của các nước không có NTR của Mỹ Hiện nay, các nước tham gia WTO đều được hưởng NTR của Mỹ
(Mức thuế tối huệ quốc (MFN ) hầu hết các mặt hàng VN chịu mức thuế 6,4%.) Các nước đang được hưởng NTR của Mỹ phải đáp ứng hai điều kiện cơ bản: đã ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ và phải tuân thủ các điều kiện Jacson-Vanik trong luật thuơng mại năm 1974 của Mỹ Vì thế mà việc ký kết Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đã mở ra cánh cửa cho hàng hoá của Việt Nam như thuỷ sản thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ Tuy nhiên, hiện vẫn còn có nhiều rào cản đối với việc tăng cường mở rộng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này Hoa Kỳ đặt ra các tiêu chuẩn
kỹ thuật trong thương mại có liên quan tới thực trạng kinh tế – chính trị của họ
Hiện nay một số lượng đáng kể các sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam đã bị trả lại ngay từ khi được nhập tại các cảng của Mỹ bởi vì chúng không phù hợp với các quy định của Mỹ về yếu tố môi trường, an toàn thực phẩm v.v…
* Các rào cản kỹ thuật trong thương mại của Mỹ
+Tổng quan về các rào cản phi thuế quan (NTBs): Hoa Kỳ đã áp dụng các rào cản phi thuế quan để thay thế cho các quy định cắt giảm thuế quan của WTO.Như : Các quy định và thủ tục hảI quan ; Các hạn chế về định lượng nhập khẩu ;Các công cụ bảo hộ thương mại (chống bán phá giá, thuế đối kháng, quyền tự vệ) ; Các quy định của thị trường trong nước
+ Rào cản kỹ thuật (TBTs): Hàng rào kỹ thuật trong thương mại có thể được chia làm 3 nhóm:
• Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa kỳ (FDA) là một cơ quan của Bộ Y tế (DHHS) và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng (PHS) Tất cả các thực phẩm phải được sản xuất phù hợp với các tiêu chuẩn của Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa kỳ ( tiêu chuẩn HACCP ) FDA có nhiệm vụ đảm bảo rằng các thực phẩm nhập vào Mỹ phải là các sản phẩm an toàn, sạch, không độc hại, đúng nhãn mác với đầy đủ các thông tin về sản phẩm
• Cục Hải quan Mỹ là một cơ quan trực thuộc Bộ tài chính Mỹ chịu trách nhiệm đánh giá và thu thuế nhập khẩu, kiểm soát hàng hoá và các đối tượng nhập vào hoặc xuất
ra khỏi nước Mỹ
• Cơ quan thuỷ, hải sản quốc gia Mỹ (NMFS) trực thuộc Vụ Hải dương quốc gia, Bộ Thương mại Mỹ: Các sản phẩm hải sản nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu của cơ quan này và của cả Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Mỹ.: Một sản phẩm thuỷ sản
Trang 9phải đạt tiêu chuẩn về mẫu mã, chất lượng, độ an toàn thực phẩm và hàm lượng chất dinh dưỡng
d Các nhân tố luật pháp, chính trị và xã hội:
- Quy mô nhập khẩu của thị trưởng Hoa Kỳ, mỗi năm khoảng 1.800 tỷ USD với đầy đủ các chủng loại hàng hóa thuộc các phẩm cấp khác nhau, là thị trường có sức mua cao, mở ra nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh cho các đối tác Tuy nhiên đâyy cũng là thị trường có tính cạnh tranh gay gắt và nhạy cảm, và rất khắt khe, người tiêu dùng được bảo vệ bằng một hệ thống pháp luật vô cùng chặt chẽ Với 50 bang, 50 Luật, đôi khi Luật của mỗi bang lại vượt cả quy định của Luật Liên bang Vì vậy, để thâm nhập và khẳng định vị thế trên thị trường này, hơn bất cứ ở thị trường nào, các doanh nghiệp Việt Nam cần đặc biệt lưu-ý tìm hiểu kỹ đối tác, luật lệ cũng như tập quán kinh doanh của thị trường này
- Theo bà Đinh Thị Mỹ Loan, Cục trưởng Cục Quản lý Cạnh tranh cho biết, luật pháp chi phối môi trường kinh doanh ở Hoa Kỳ và các doanh nghiệp thường có thói quen kiện tụng, đưa nhau ra tòa
để giải quyết các tranh chấp thương mại Do vậy, khi ký hợp đồng với đối tác Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam nên ký hợp đồng ngắn hạn, đảm bảo hợp đồng có thể tái ký kết và được sửa đổi điều khoản; xác định chọn luật nào, trọng tài nào để xử lý trong trường hợp có tranh chấp
- Khi đưa sản phẩm thuỷ sản vào thị trường Mỹ, chúng ta phải quan tâm và hiểu được hệ thống pháp luật của Mỹ Hệ thống luật của Mỹ khá phức tạp, chặt chẽ và mới lạ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam Vì vậy nếu không nghiên cứu tìm hiểu rõ thì các doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu những thua thiệt nặng nề trong kinh doanh Có thể đơn cử một số luật sau:
• Luật chống độc quyền đưa ra các chế tài hình sự khá nặng đối với những hành vi độc quyền hoặc cạch tranh không lành mạnh trong kinh doanh, cụ thể là phạt tiền đến 1 triệu USD đối với các công ty,100.000 USD hoặc tù 3 năm đối với cá nhân
• Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm, theo đó người tiêu dùng bị thiệt hại có thể kiện nhà sản xuất về mức bồi thường thiệt hại quy định gấp nhiều lần thiệt hại thực tế
• Luật liên bang và các tiểu bang của Mỹ được áp dụng cùng một lúc trong lĩnh vực thuế kinh doanh đòi hỏi ngoài việc nắm vững luật của tiểu bang mà các doanh nghiệp có quan hệ kinh doanh còn phải nắm vững luật của Liên bang nữa
Vì vậy có thể nói chưa có sự phù hợp cao giữa việc xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam nói chung , nghành tôm nói riêng với yêu cầu nhập khẩu của thị trường Mỹ
2 Thu thập thông tin về tôm:
Tôm là sản phẩm chiến lược trong cơ cấu XK thủy sản nói riêng và XK của Việt Nam nói chung Giá trị XK tôm Việt Nam mỗi năm đạt khoảng 2,3 - 2,5 tỷ USD (chiếm 37 - 40% tổng giá trị XK thủy sản), đóng góp hơn 2% tổng giá trị XK của Việt Nam Năm 2013, nhờ XK tôm tăng trưởng khả quan nên đã bù đắp cho sự sụt giảm XK nhiều mặt hàng thủy sản khác như cá tra, nhuyễn thể và cá ngừ Bảy tháng đầu năm
2013, XK tôm đạt gần 1,4 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm ngoái trong khi XK các mặt hàng khác như cá tra giảm 0,6%, cá ngừ giảm 2,1% và nhuyển thể giảm 17,3%
2.1 Đặc tính, tình hình :
a Tại Việt Nam:
Trang 10- Bờ biển Việt Nam trải dài 3.260km suốt từ Bắc vào Nam là tiềm năng to lớn cho nuôi trồng tôm nước mặn và nước lợ Miền Trung có mực nước ven bờ sâu, nền đáy cát và có ít sông lớn, nước biển trong và ít bị ô nhiễm.=> thuận lợi để nuôi tôm diện tích lớn: Cuối năm 2012, cả nước có 185 cơ sở sản xuất giống tôm chân trắng, sản xuất được gần 30 tỷ con Sang năm 2013 (tính đến hết tháng 5), cả nước
có 103 cơ sở sản xuất giống tôm chân trắng, cung cấp cho thị trường 3,5 tỷ con Số trại sản xuất tôm chân trắng và tôm sú chủ yếu tập trung tại các tỉnh Nam Trung Bộ, trong đó Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hoà và Phú Yên chiếm khoảng 40% trong tổng số trại sản xuất giống tôm của cả nước (tương đương với
623 trại) Sản lượng giống tôm nước lợ ở khu vực này chiếm khoảng 70% tổng sản lượng giống tôm của
cả nước Bên cạnh đó, các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang cũng là những địa phương sản xuất giống tôm chân trắng cung cấp lượng lớn tôm giống cho thị trường
- Tuy nhiên nuôi tôm tai VIỆT NAM vẫn mang tính tự phát thiếu quy hoạch, chạy theo lợi ích trước mắt Nuôi tôm manh mún, kỹ thuật nuôi thấp Chất lượng tôm còn nhiều bất cập và là một rào cản lớn đối với hoạt động xuất khẩu tôm Đơn cử năm 2011, sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản được coi là vấn đề nóng nhất của ngành thủy sản sau khi nhiều lô tôm xuất khẩu sang Nhật Bản bị cảnh báo vượt mức giới hạn cho phép Đáng chú ý, thiệt hại do hàng bị trả về là rất lớn và doanh nghiệp là người gánh chịu tất cả doanh nghiệp xuất khẩu tôm sẽ bị mất uy tín
- Chất lượng tôm giống thấp: Hiện tại, chưa có cơ sở nào ở Việt Nam được đầu tư đúng mức để nghiên cứu gia hóa, chọn lọc di truyền và sản xuất tôm bố mẹ chất lượng cao, sạch bệnh (SPF) phục vụ cho sản xuất
- Dịch bệnh và thiếu vốn tiếp tục gây bất ổn nguồn cung nguyên liệu: Tôm chết loạt do dịch bệnh
từ năm 2012 khiến nhiều hộ nuôi tôm kiệt quệ, không còn đủ vốn để thả nuôi tiếp: Năm 2012, nuôi tôm nước lợ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh Hội chứng tôm chết sớm (EMS) trên diện rộng Năm
2012, cả nước có trên 100 nghìn ha diện tích nuôi tôm nước lợ bị thiệt hại do dịch bệnh Thống kê của Tổng Cục Thủy sản cho thấy, 6 tháng đầu năm 2013, diện tích nuôi tôm bị thiệt hại khoảng 23.938 ha, giảm 35% so với cùng kỳ năm 2012
- Trong tình hình đó, hiện nay nghành tôm còn phải đối mặt với thưc trạng thương lái Trung Quốc
ồ ạt mua tôm nguyên liệu tại nhiều tỉnh tại ĐBSCL với giá cao, số lượng lớn nhưng không hề có giấy
phép, phá rối thị trường trước mắt làm giá tôm biến động thất thường và gây thiệt hại lâu dài cho ngành tôm khi các DN không thể cạnh tranh trong thu mua tôm nguyên liệu với thương lái đã khiến nhiều DN
“mắc kẹt” với những hợp đồng đã ký với nhà NK vì trước đây DN có thể thu mua 100 tấn tôm nguyên liệu mỗi tháng, nay chỉ còn thu mua được khoảng 20 tấn
-Như vậy các DN VN phải tăng mạnh nhập khẩu tôm nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu thị trường,
tạo công ăn việc làm và sự ổn định thu nhập cho người lao động, các doanh nghiệp tôm đã phải nhập khẩu tôm từ nước ngoài về gia công để xuất khẩu.Cụ thể năm 2012, ước tính Việt Nam nhập khẩu tôm trị giá khoảng 170 triệu USD, trong đó tôm chân trắng khoảng 105 triệu USD, tôm sú 33 triệu USD, chủ yếu nhập khẩu từ Thái Lan, Ấn Độ, Canada, Malaysia, Anh, Trung Quốc, Mỹ
- Trong tháng 7/2013 đã có những cải thiện đáng kể do dịch bệnh trên tôm từng bước được khống chế, hoạt động nuôi tôm hồi phục trên phạm vi cả nước: