1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh thông qua sử dụng bài tập hóa học chương Anđehit Xeton Axit cacboxylic hóa học lớp 11

16 226 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 572,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu các biện pháp sử dụng bài tập hóa học chương Anđehit Xeton Axit cacboxylic Hóa học lớp 11 nhằm phát triển năng lực này cho học sinh trung học phổ thông. Bài báo cũng tập trung phân tích kĩ các biểu hiện, mức độ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh qua những ví dụ cụ thể của các biện pháp sử dụng bài tập hóa học để việc phát triển năng lực này của học sinh đạt hiệu quả hơn

Trang 1

162

HNUE JOURNAL OF SCIENCE DOI: 10.18173/2354-1075.2018-0016 Educational Sciences 2018, Vol 63, Iss 2, pp 162-177

This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN

CHO HỌC SINH THÔNG QUA SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC

CHƯƠNG ANĐEHIT - XETON - AXIT CACBOXYLIC HÓA HỌC LỚP 11

Lê Lan Hương1, Đặng Thị Oanh2

1Phòng Tạp chí & Thông tin Khoa học công nghệ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tóm tắt Năng lực (NL) vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn (TT) giúp HS có thể

tồn tại, phát triển, hội nhập trong xã hội hiện đại và giải quyết được nhiều vấn đề TT nảy sinh trong cuộc sống Phát triển NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn (VDKTVTT) cho học sinh (HS) có ý nghĩa quan trọng trong dạy học theo định hướng đổi mới hiện nay Bài báo

nghiên cứu các biện pháp sử dụng bài tập hóa học (BTHH) TT Chương Anđehit - Xeton -

Axit cacboxylic Hóa học lớp 11 nhằm phát triển NL này cho HS trung học phổ thông Bài báo

cũng tập trung phân tích kĩ các biểu hiện, mức độ đánh giá NL VDKTVTT của HS qua những ví dụ cụ thể của các biện pháp sử dụng BTHH để việc phát triển NL này của HS đạt hiệu quả hơn

Từ khóa: Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, bài tập hóa học thực tiễn, sử dụng bài tập,

hóa học

1 Mở đầu

Việt Nam đã và đang tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Vấn đề toàn cầu hóa đã tác động trực tiếp đến kinh tế, xã hội, giáo dục cũng như thị trường lao động của nước ta Vì vậy giáo dục cần phải đổi mới nhằm đào tạo con người đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội và thị trường lao động đặt ra Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu, rộng về nhiều mặt cùng với sự tụt hậu của nền giáo dục nước nhà so với thế giới, Đảng

và Nhà nước đã ban hành Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại Hội

nghị Trung ương 8 khóa XI: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp Đổi mới giáo dục từ tiếp cập nội dung sang tiếp cận năng lực” [1]

Hiện nay trên thế giới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực đã trở thành xu hướng giáo dục tất yếu Xu hướng này cũng chú trọng đến việc phát triển năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới

căn bản, toàn diện giáo dục đã chỉ rõ điều này: “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền

Ngày nhận bài: 8/9/2017 Ngày sửa bài: 1/10 /2017 Ngày nhận đăng: 2/ 11/2017

Liên hệ: Lê Lan Hương, địa chỉ e-mail: huongtapchi@gmail.com

Trang 2

thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [1] Đại hội Đảng Toàn Quốc lần thứ XII tiếp tục nhấn mạnh “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân ” [2]

Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào TT là một trong những NL tìm hiểu tự nhiên thuộc

NL chuyên môn cần được phát triển ở HS BTHH TT nếu được GV sử dụng một cách hiệu quả

và tích cực sẽ là công cụ rất hữu hiệu nhằm phát triển NL này cho HS NL VDKTVTT của HS đã được các tổ chức, nhà giáo dục học và nhiều nhà nghiên cứu khác quan tâm thể hiện trong các lí thuyết, PPDH, trong các tài liệu bổ trợ kiến thức, bài báo khoa học, luận án, luận văn Một số luận án tiến sĩ của các tác giả trong các tài liệu [3-6] đã đề cặp đến NL VDKTVTT nhưng chưa quan tâm đến việc sử dụng BTHH nhằm phát triển NL này Gần đây một số tác giả đã nghiên cứu

về NL VDKTVTT cho HS thông qua sử dụng bài tập Các tác giả đã tuyển chọn, xây dựng một

số BBTT Chương Nhóm Oxi - Hóa học 10 nâng cao [7], Hóa học Phi kim - Hóa học 11 [8], phần Hóa Hữu cơ lớp 11 [9] và đưa ra một số biểu hiện, công cụ đánh giá NL VDKTVTT cho HS Các

tác giả này có đưa ra một số biện pháp sử dụng bài tập nhưng chưa phân tích kĩ các biểu hiện và mức độ đánh giá NL VDKTVTT qua từng ví dụ của các biện pháp sử dụng bài tập đó Tác giả trong tài liệu [10] đã xây dựng một số bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong đó có các bài tập ở Chương

Anđehit - Xeton - Axit cacboxylic lớp 11 và đã đưa ra hướng dẫn chấm điểm ở mỗi bài tập với

từng mức độ yêu cầu cần đạt được ở HS và các biện pháp sử dụng bài tập theo hướng tiếp cận PISA để phát triển năng lực cho HS nhưng không đề cặp đến phát triển NL VDKTVTT cho HS Một số bài báo đã công bố có nghiên cứu về phát triển NL VDKTVTT cho HS thông qua sử

dụng BTTT nhưng tập trung ở phần Hóa học Hữu cơ lớp 12 [11] Một số bài báo khác có đề cặp

đến phát triển NL VDKTVTT nhưng chưa quan tâm đến sử dụng bài tập [12, 13] Ngoài ra còn một số tài liệu liên quan khác nhưng các tài liệu chưa quan tâm nhiều đến việc phân tích các biện pháp sử dụng BTTT nhằm phát triển NL VDKTVTT cho học sinh hoặc có đề cặp đến biện pháp

sử dụng bài tập nhưng chưa phân tích kĩ các biểu hiện, mức độ đánh giá NL này qua những ví dụ

cụ thể của các biện pháp sử dụng bài tập Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh thông qua sử dụng bài tập hóa học Chương Anđehit - Xeton - Axit cacboxylic, Hóa học lớp 11

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Khái quát về năng lực và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Chương trình GD phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh (2014) [14] và gần đây là Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông Chương trình tổng thể mới (27/7/2017) của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở HS là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm và 10 NL cốt lõi (những NL mà ai cũng cần có để

sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm những NL chung được tất cả các môn học và hoạt

động giáo dục (GD) góp phần hình thành, phát triển đó là: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và

hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo và những NL chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định như: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ, NL thể chất Bên

cạnh việc hình thành, phát triển các NL cốt lõi, chương trình GD phổ thông còn góp phần phát

Trang 3

164

hiện, bồi dưỡng NL đặc biệt (năng khiếu) của HS NL tìm hiểu tự nhiên (ở các môn KH Tự nhiên

như Lí, Hóa, Sinh, ) gồm: NL hiểu biết kiến thức khoa học; NL tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên; NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường

Năng lực được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau Trong bài báo chúng tôi sử dụng

quan niệm sau: “NL là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp,

xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [15; tr 68]

“NL chung là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các NL chung của

HS” NL chung gồm có: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo [14]

Những NL chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt

động GD nhất định như: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ và NL thể chất NL tìm hiểu tự nhiên gồm: NL hiểu biết kiến thức khoa học; NL tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên; NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử

với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường

Từ khái niệm về năng lực, chúng tôi cho rằng: Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào TT là khả năng chủ thể vận dụng tổng hợp những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú,

để giải quyết có hiệu quả các vấn đề của TT có liên quan đến hóa học

Đối với môn Hóa học, VDKTVTT thể hiện ở các mặt: TT đời sống (sử dụng khoa học, hợp lí các thành tựu của hóa học hướng đến mục tiêu an toàn, tiết kiệm và hiệu quả), TT sản xuất (áp dụng các nguyên lí, định luật…hóa học vào sản xuất để tạo ra công cụ, của cải, vật chất, phục

vụ và nâng cao chất lượng đời sống con người), TT nghiên cứu và sáng tạo (sử dụng những thành tựu đã có của Hóa học và các khoa học khác để sáng tạo ra các giá trị mới có nghĩa đối với nhân loại) Việc phát triển NL VDKTVTT rất cần thiết cho HS vì nó giúp HS có thể tồn tại, phát triển, hội nhập trong xã hội hiện đại và giải quyết được nhiều vấn đề TT nảy sinh trong cuộc sống NL VDKTVTT có những biểu hiện chính sau: Phân loại, hệ thống hóa kiến thức; Phân tích tổng hợp các kiến thức hóa học vận dụng vào TT; Phát hiện các nội dung kiến thức hóa học được ứng dụng trong các vấn đề và các lĩnh vực khác nhau; Phát hiện các vấn đề trong TT và sử dụng kiến thức

hóa học để giải thích các vấn đề đó; Độc lập sáng tạo trong việc xử lí các vấn đề TT

2.2 Bài tập hóa học thực tiễn

BTHH là một nhiệm vụ gồm câu hỏi hay BT liên quan đến HH được lựa chọn một cách phù hợp với nội dung rõ ràng, cụ thể mà HS cần phải hoàn thành nhằm đạt được những kiến thức, kĩ năng hay NL nhất định Muốn giải được những BT này HS phải biết suy luận logic dựa vào những kiến thức đã học và sử dụng những hiện tượng HH, những khái niệm, những định luật, học thuyết, những phép toán, để tìm ra hướng giải có hiệu quả

Bài tập hoá học thực tiễn là những bài tập có nội dung hoá học (những điều kiện và yêu cầu) xuất phát từ thực tiễn đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức, kĩ năng hóa học cùng với các kiến

Trang 4

thức của các môn học khác kết hợp với kinh nghiệm, kĩ năng sống để giải quyết một số vấn đề đặt

ra từ những bối cảnh và tình huống nảy sinh từ TT [16]

BTHH TT cũng được phân loại tương tự cách phân loại BTHH nói chung [16], đó là dựa vào tính chất của bài tập, lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập và mức độ nhận thức của

HS BTHH TT có ý nghĩa xây dựng cho HS thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, tinh thần ham học, ham hiểu biết và rèn luyện các NL tự học, NL vận dụng kiến thức vào TT, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, Bên cạnh đó BTHH TT còn phát triển kĩ năng nghiên cứu TT, kĩ năng tư duy để giải thích các hiện tượng TT từ đó luôn chủ động trong cuộc sống và giáo dục cho HS ý thức bảo vệ môi trường thông qua đó rèn luyện văn hóa lao động, giáo dục trí dục kết hợp với giáo dục thẫm mĩ, giáo dục phẩm chất đạo đức và ý thức tự tôn dân tộc Nhằm phát triển năng lực VDKTVTT cho HS GV có thể sử dụng BTTT khi giảng bài mới thông qua các câu hỏi, cách đặt vấn đề, hay một bài tập nhỏ hoặc GV cung cấp thông tin cho HS; GV cũng có thể đưa vào trong các giờ ôn tập, củng cố, luyện tập hay đưa vào đề kiểm tra với một dung lượng nhất định Đặc biệt là GV có thể đưa các BTTT vào các hoạt động mở rộng kiến thức, hoạt động tự học hay trong các hoạt động ngoại khóa như ở các cuộc thi, các câu lạc bộ hóa học, hoạt động trải nghiệm

Nguyên tắc khi sử dụng bài tập nhằm phát triển NL VDKTVTT cho HS là: lựa chọn các BTTT đảm bảo sát mục tiêu, nội dung bài học; đảm bảo tính chính xác, khoa học hiện đại; đảm bảo tính vừa sức, khả thi, hiệu quả và phát triển NL VDKTVTT không thể tách rời với việc phát triển một số NL khác

2.3 Bộ công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS

Bộ công cụ đánh giá NL VDKTVTT cần phải đa dạng để thu được nhiều thông tin từ HS

(kiến thức, kĩ năng, hành vi, thái độ) trước mỗi phán xét, quyết định đối với công cụ đó Mỗi một công cụ phải thể hiện sự chính xác, khách quan, mang tính đặc thù bộ môn và phải có tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể để có thể đánh giá được mục tiêu về NL VDKTVTT của HS Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã thiết kế và sử dụng các công cụ đánh giá như: bài kiểm tra, bảng kiểm quan sát, phiếu hỏi, phiếu đánh giá, phiếu đánh giá đồng đẳng, phỏng vấn, bài báo cáo, bản trình bày tóm tắt và sản phẩm nghiên cứu của HS

Qua nghiên cứu chúng tôi đưa ra 15 tiêu chí (biểu hiện) với 3 mức độ để đánh giá NL VDKTVTT như sau:

- 15 tiêu chí:1 Phát hiện các tình huống TT; 2 Xác định mục tiêu và lập kế hoạch giải quyết tình huống TT; 3 Phân loại kiến thức hóa học; 4 Hệ thống hóa kiến thức; hiểu được nội dung kiến thức cần vận dụng; lựa chọn kiến thức HH tương ứng với mỗi hiện tượng, tình huống xảy ra

cụ thể trong TT; 5 Định hướng một cách tổng hợp các kiến thức/kĩ năng HH cần được vận dụng vào tình huống cụ thể trong TT; 6 Biết, hiểu về loại kiến thức/kĩ năng HH được ứng dụng vào các lĩnh vực, ngành nghề nào đó trong TT; 7 Phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của HH trong các vấn đề/lĩnh vực khác nhau; 8 Vận dụng kiến thức HH đúng lĩnh vực để giải thích tình huống/vấn đề trong TT; 9 Phát hiện và tìm mối liên hệ giữa kiến thức HH/các môn học khác với các tình huống/vấn đề trong TT; 10 Vận dụng kiến thức HH/kiến thức liên môn để giải thích các hiện tượng tự nhiên và ứng dụng của HH trong cuộc sống; 11 Đề xuất PP giải quyết vấn đề và chủ động, sáng tạo lựa chọn PP giải quyết vấn đề tối ưu; 12 Có NL hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn đề HH liên quan đến cuộc sống và bước đầu tham gia nghiên cứu khoa học để

Trang 5

166

giải quyết các vấn đề đó; 13 Tìm hiểu mở rộng kiến thức từ tình huống TT; 14 Đánh giá vấn đề (VĐ) từ tình huống TT; 15 Tìm hiểu, nghiên cứu thêm các chủ đề khác từ tình huống TT

- 3 mức độ: (1) chưa thực hiện được; (2) thực hiện được nhưng chưa đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc,

hợp lí hoặc chưa nhiệt tình, vận dụng chưa phù hợp; (3) thực hiện được đầy đủ, rõ ràng, chính xác, sâu sắc, hợp lí, nhiệt tình, vận dụng phù hợp

GV có thể đánh giá NL VDKTVTT của HS qua một số hay đầy đủ các biểu hiện tùy thuộc vào từng bài tập/tình huống thực tiễn đưa ra nhằm phản ánh kết quả đánh giá một cách chính xác, khoa học

2.4 Các biện pháp sử dụng bài tập hóa học Chương Anđehit - Xeton - Axit

cacboxylic Hóa học lớp 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực

tiễn cho HS

2.4.1 Sử dụng bài tập thực tiễn khi hình thành kiến thức mới

* Hoạt động khởi động (tạo tình huống có vấn đề)

Gây hứng thú và tạo động cơ nghiên cứu khi bắt đầu dạy bài mới cho HS là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học giúp HS tích cực, tự giác và chủ động hơn Các tình huống hay BTTT có thể thúc đẩy mạnh mẽ động cơ muốn nghiên cứu kiến thức mới của HS BTTT sử dụng trong hoạt động này thường là những bài gắn với những hiện tượng trong cuộc sống mà HS chưa biết hay chưa biết đầy đủ hoặc đã biết nhưng chưa giải thích được nguyên nhân hay hậu quả của

sự việc, những hiện tượng tự nhiên lí thú, những mâu thuẫn với những kiến thức đã có của HS nhằm kích thích HS có hứng thú tìm hiểu và tạo động cơ muốn nghiên cứu kiến thức mới

➢ Ví dụ 1 GV có thể khởi động và kiểm tra kiến thức cũ trước khi dạy Bài Andehit và Xeton trong thời gian 10 phút

- GV tạo tình huống có vấn đề qua câu chuyện sau: Đã từ lâu, rượu được coi là đồ uống không thể thiếu trong mỗi dịp liên hoan, cưới hỏi, lễ Tết nhưng đã có nhiều người phải nhập viện vì bị

ngộ độc rượu Theo báo Trí Thức Trẻ 28/2/2017 Anh Lê Văn Tiến, sinh năm 1969, quê Hà Tĩnh

trú tại Phúc Thọ, Hà Nội nhập viện ngày 27/2 Các bác sĩ ở Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai cho rằng bệnh nhân Tiến bị ngộ độc rượu rất nặng, khi vào viện bệnh nhân có hiện tượng không nhìn thấy rõ Trong cùng ngày hôm đó đã có 7 bệnh nhân điều trị ngộ độc rượu tại bệnh viện Bạch Mai Họ đều trong tình trạng nhiễm toan chuyển hóa rất nặng, đa phần bệnh nhân có biểu hiện mờ mắt, giảm thị lực hoặc mù, hôn mê, tụt huyết áp, thậm chí có bệnh nhân đã ngừng tuần hoàn 1 lần

- GV hỏi: Em hãy cho biết những chất nào trong rượu có thể gây ngộ độc, làm thế nào để tránh ngộ độc rượu và giải thích tại sao

- HS suy nghĩ và trả lời (làm việc cá nhân) GV gợi ý, nhận xét và kết luận Sau đó GV nêu vấn đề tìm hiểu về ứng dụng và tác hại của anđehit

➢ Phân tích các biểu hiện và mức độ đánh giá năng lực VDKTVTT của HS qua Ví dụ 1

Biểu hiện NL thành phần và mức độ đánh giá NL VDKTVTT

- Phân loại kiến thức hóa học

+ Mức 3 HS cần phân loại được các kiến thức liên quan như: ancol, etanol, rượu uống, chất

có thể gây ngộ độc rượu, cách phòng tránh ngộ độc rượu, lí do tại sao lại sử dụng các biện pháp phòng tránh đó (6 đơn vị kiến thức)

Trang 6

+ Mức 2 HS phân loại được 4/6 đơn vị kiến thức trên

+ Mức 1 HS chỉ phân loại được 1 hoặc 2 đơn vị kiến thức trên

Chú ý: Có thể phân thành những chỉ báo nhỏ hơn trong từng mức độ trên tùy vào khả năng

của HS ở mỗi điều kiện lớp học để đánh giá cho phù hợp

- Hệ thống hóa và lựa chọn kiến thức hóa học phù hợp để tìm hiểu hiện tượng TT

+ Mức 3: HS hệ thống hóa và lựa chọn các kiến thức như: khái niệm ancol; ancol nào được dùng

làm rượu uống; điều chế etanol trong công nghiệp; tại sao uống rượu nấu thủ công lại không an toàn; ancol nào trong rượu có thể gây ngộ độc rượu; ngoài ra còn những chất nào khác có thể gây ngộ độc rượu; các biện pháp phòng tránh ngộ độc rượu, yêu cầu HS tìm hiểu thông tin để giải thích các biện pháp đó (có 7 ý)

+ Mức 2 HS chỉ hệ thống và lựa chọn được 3 - 6 ý ở trên

+ Mức 1 HS chỉ chọn được 1 - 2 ý ở trên

- Phân tích, tổng hợp các kiến thức hóa học để tìm hiểu hiện tượng TT

+ Mức 3 HS phân tích, tổng hợp được các kiến thức như sau: ancol là hợp chất hữu cơ mà

phân tử có nhóm OH liên kết trực tiếp với nguyên tứ C no; etanol được dùng làm rượu uống khi

là sản phẩm của quá trình lên men rượu từ các sản phẩm nông nghiệp như gạo, ngô, lúa mạch, nho; điều chế etanol trong CN: hiđrat hóa etilen, xúc tác axit và lên men tinh bột; rượu nấu thủ công không thu được rượu tinh khiết mà vẫn còn một số chất độc; ancol gây ngộ độc là metanol, izobutanol, một số chất khác gây ngộ độc như andehit axetic, etyl axetat, axit axetic,

axit xianhidric, furfurol và một số ion kim loại nặng như chì, đồng, kẽm,…; cách phòng tránh

ngộ độc rượu: biết chọn loại rượu uống đảm bảo an toàn, độ tuổi được phép uống, liều lượng rượu cho phép

+ Mức 2 HS phân tích, tổng hợp và định hướng được các kiến thức cần giải thích như ở mức 3 nhưng chưa đầy đủ

+ Mức 1 HS chưa định hướng được các kiến thức cần thiết để giải thích

- Phát hiện nội dung kiến thức để tìm hiểu hiện tượng TT

+ Mức 3 HS phát hiện được nội dung kiến thức như sau: Ngoài metanol và một số chất độc hại

khác, andehit cũng có thể gây ngộ độc rượu Không nên uống loại rượu sản xuất bằng cách nấu thủ công hoặc chưa biết rõ nguồn gốc, không nên uống khi dưới 18 tuổi hay uống quá mức cho phép HS giải thích được lí do sử dụng các biện pháp phòng tránh ngộ độc rượu

+ Mức 2 HS phát hiện được nội dung kiến thức cần thiết để giải thích hiện tượng TT như ở mức 3 nhưng chưa đầy đủ và hợp lí

+ Mức 1 HS chưa phát hiện và hiểu được các nội dung cần giải thích

- Phát hiện các vấn đề nảy sinh từ tình huống TT và sử dụng kiến thức liên môn để giải thích tình huống TT

+ Mức 3 HS có thể phát hiện nhiều vấn đề nảy sinh ví dụ như: anđehit nào có trong rượu uống gây ngộ độc; cách/biện pháp loại bỏ anđehit trong quá trình sản xuất rượu, tại sao rượu có thể gây ngộ độc nhưng con người vẫn sản xuất và tiêu thụ nhiều trên thế giới HS có thể sử dụng thêm kiến thức của môn Sinh học để giải thích những tác hại của ngộ độc rượu đối với

cơ thể người

Trang 7

168

+ Mức 2 HS phát hiện được vấn đề nảy sinh nhưng chưa rõ ràng và có sử dụng kiến thức liên môn nhưng chưa giải thích được đầy đủ hiện tượng TT

+ Mức 1 HS chưa phát hiện được vấn đề nảy sinh và chưa sử dụng được kiến thức liên môn

để giải thích hiện tượng TT

Công cụ đánh giá: Sử dụng bảng kiểm quan sát với các biểu hiện NL thành phần và các

mức độ đánh giá NL VDKTVTT như đã trình bày ở trên

Chú ý: Do hoạt động khởi động diễn ra trong thời gian ngắn nên GV chỉ có thể đánh giá trên

lớp được một nhóm HS tham gia trực tiếp trả lời câu hỏi cùng với việc quan sát thái độ, ý thức của HS trên lớp Để phát triển NL này cho nhiều HS hơn, GV nên gợi ý hoặc nhận xét từng mức trả lời của HS và dẫn dắt HS trả lời lần lượt như đã trình bày ở 5 biểu hiện trên

* Hoạt động hình thành kiến thức mới

Trong hoạt động hình thành kiến thức mới GV có thể sử dụng bài tập tình huống, bài tập giải quyết vấn đề có nội dung TT hoặc mô tả tình huống TT nhằm giúp HS tích cực kiến tạo tri thức mới GV nên lựa chọn các bài tập có nội dung TT giúp HS dễ dàng liên tưởng đến các kiến thức khoa học để từ đó có thể tự mình tìm ra kiến thức mới hoặc chọn các bài tập TT là nguồn KT để

HS tìm tòi phát triển KT, rèn luyện kĩ năng đồng thời nâng cao hứng thú học tập của HS

➢ Ví dụ 2 Tìm hiểu tính chất hóa học của axit cacboxylic trong Bài Axit cacboxylic: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng

Khi cho HS nghiên cứu kiến thức mới là tính chất hóa học của axit cacboxylic, GV thường tiến hành các phương pháp dạy học như sử dụng thí nghiệm kết hợp với dạy học nêu và giải quyết vấn đề hoặc dạy học theo góc, dạy học theo hợp đồng Mặt khác GV cũng có thể sử dụng BTTT ở hoạt động này nhằm phát triển NL VDKTVTT cho HS Vì HS đã được nghiên cứu tính chất hóa học của axit axetic ở lớp 9 nên GV có thể giao cho HS bài tập TT kèm với những yêu cầu khác tự nghiên cứu ở nhà trước khi dạy bài này nhằm vừa phát triển NL tự học vừa phát triển NL VDKTVTT cho HS

✓ Bài tập giao về nhà theo nhóm:

- Dựa vào những tính chất hóa học của axit axetic đã được học ở lớp 9, em hãy tìm hiểu các hiện tượng trong thực tiễn có thể giải thích được từ kiến thức về tính chất hóa học của axit cacboxylic

- Nghiên cứu và rút ra kết luận chung về tính chất hóa học của axit cacboxylic

✓ Hoạt động trên lớp (20 phút)

- Đại diện nhóm trình bày

- Các nhóm nhận xét và rút ra kết luận về tính chất hóa học của axit cacboxylic

- GV nhận xét và tổng kết

✓ Một số hiện tượng trong thực tiễn giải thích từ tính chất hóa học của axit cacboxylic

- Axit làm đổi màu chỉ thị

+ Hiện tượng: Khi vắt chanh vào nước rau muống, nước rau muống sẽ chuyển màu

+ Giải thích: Nước chanh chứa lượng axit hữu cơ chủ yếu là axit citric nên khi vắt chanh sẽ làm

thay đổi độ axit của nước rau Trong nước rau muống có chứa một số chất như chỉ thị màu làm cho nước rau muống bị chuyển màu ở môi trường axit

- Axit tác dụng với bazơ

+ Hiện tượng: Khi bị ong hoặc kiến đốt nếu bôi vôi vào chỗ đau sẽ đỡ đau hơn

Trang 8

+ Giải thích: Trong nọc ong, kiến hay nhện và một số côn trùng khác có axit hữu cơ là axit

fomic (HCOOH) Vôi (Ca(OH)2) là chất bazơ nên trung hòa axit làm đỡ đau

2HCOOH + Ca(OH)2 → (HCOO)2Ca + 2H2O

- Axit tác dụng với oxit bazơ

+ Hiện tượng: Một số đồ dùng bằng sắt, nhôm, đồng bị gỉ có thể được lau sạch hết vết gỉ bằng

giấm, chanh

+ Giải thích: Vết gỉ đó có thể là các oxit kim loại như Fe3O4, Al2O3 CuO Giấm (axit axetic 5%), chanh (axit citric) phản ứng được với các oxit đó nên đồ dùng sẽ hết gỉ

6CH3COOH + Al2O3 → 2(CH3COO)3Al + 3H2O

- Axit tác dụng với muối

+ Hiện tượng: Khi vắt chanh hay quất vào mắm tôm có hiện tượng sủi bọt khí

+ Giải thích: Trong mắm tôm chứa vỏ tôm có thành phần là CaCO3 tác dụng với axit citric có trong chanh Phản ứng này sinh ra khí CO2 nên tạo bọt khí

2CH3COOH + CaCO3 → (CH3COO)2Ca + H2O + CO2

- Axit tác dụng với kim loại

+ Hiện tượng: Dùng nồi nhôm nấu canh dưa chua hay các đồ ăn có sử dụng giấm lâu ngày thì nồi

nhôm nhanh bị hỏng và có hại cho cơ thể

+ Giải thích: Giấm hay một số axit hữu cơ khác trong chất chua có thể tác dụng với lớp oxit nhôm

bảo vệ bên ngoài sau đó tác dụng tiếp với nhôm làm nồi nhôm nhanh bị hỏng Hợp chất của nhôm hòa tan trong thức ăn đi vào cơ thể nếu tích tụ nhiều sẽ ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, hệ thần kinh và có thể gây ung thư

6CH3COOH + Al2O3 → 2(CH3COO)3Al + 3H2O 6CH3COOH + 2Al → 2(CH3COO)3Al + 3H2

- Axit tác dụng với ancol

➢ Phân tích các biểu hiện và mức độ đánh giá năng lực VDKTVTT của HS qua ví dụ 2

GV có thể sử dụng công cụ đánh giá là bảng kiểm quan sát kèm theo các tiêu chí đánh giá cụ thể

và phiếu đánh giá sản phẩm, đánh giá đồng đẳng do đây là hoạt động theo nhóm và có sản phẩm trình bày của HS Dưới đây là các tiêu chí (biểu hiện) cụ thể

- Hệ thống hóa, phân loại kiến thức hóa học đã học liên quan đến tình huống thực tiễn

+ Mức 3 Trong các kiến thức hóa hữu cơ đã học ở lóp 9, HS nhớ lại được đầy đủ tính chất hóa học của axit axetic (6 tính chất: làm đổi màu chỉ thị, tác dụng với bazơ, tác dụng với oxit bazơ, tác dụng với kim loại, tác dụng với muối, tác dụng với rượu etylic)

+ Mức 2 HS nhớ được 4/6 tính chất hóa học của axit axetic

+ Mức 1 HS không nhớ hoặc nhớ được 1 tính chất hóa học của axit axetic

- Phân tích, tổng hợp, lựa chọn kiến thức hóa học phù hợp để tìm hiểu hiện tượng TT

+ Mức 3 Từ những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày hoặc từ những kiến thức đã tìm hiểu, HS biết lựa chọn đúng 6 hiện tượng TT có thể giải thích được qua 6 tính chất HH của axit axetic nói riêng và axit hữu cơ nói chung

+ Mức 2 HS chưa tìm được đầy đủ 6 hiện tượng thực tiễn trên hoặc tìm được các hiện tượng thực tiễn khác liên quan đến axit hữu cơ mà không gắn với tính chất hóa học của axit hữu cơ

Trang 9

170

+ Mức 1 HS không tìm được hiện tượng TT nào liên quan đến tính chất HH của axit hữu cơ

- Phát hiện nội dung kiến thức có thể giải thích được hiện tượng thực tiễn

+ Mức 3 HS giải thích được đầy đủ 6 hiện tượng thực tiễn đã tìm thấy ở trên qua 6 tính chất hóa học tương ứng của axit hữu cơ Ví dụ: Hiện tượng 1 là vắt chanh vào canh rau muống liên quan đến tính chất làm đổi màu chỉ thị, hiện tượng 2 là vắt chanh vào mắm tôm thấy xuất hiện bọt khí liên quan đến tính chất axit tác dụng với muối cacbonat,…

+ Mức 2 HS chỉ giải thích được đầy đủ 4/6 hiện tượng thực tiễn qua 4 tính chất hóa học tương ứng của axit hữu cơ

+ Mức 1 HS chỉ giải thích được 1, 2 hiện tượng hoặc không giải thích được hiện tượng TT nào

- Phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ tình huống thực tiễn

+ Mức 3 HS phát hiện và giải thích thêm những hiện tượng thực tiễn khác gần với hiện tượng

đã tìm hiểu mà có thể có hoặc không liên quan đến axit hữu cơ HS đặt những câu hỏi nhờ GV giải đáp, giúp đỡ hay tự giải quyết được tình huống phát sinh đó Ví dụ: HS phát hiện tình huống

nảy sinh: Vitamin C là axit hữu cơ Tại sao cho viên thuốc UPSA C vào cốc nước lại có hiện tượng sủi bọt khí? Giải thích: Thành phần chính của viên UPSA C là vitamin C (axit ascorbic) và

natri hidrocacbonat (NaHCO3) Khi ở trạng thái rắn, hai chất này không tác dụng với nhau Nhưng khi viên UPSA C được cho vào nước, axit ascorbic và NaHCO3 tan ra tạo thành dung dịch và phản ứng với nhau, tạo ra CO2 dưới dạng bọt khí thoát ra

+ Mức 2 HS chưa phát hiện thêm những hiện tượng thực tiễn khác nhưng đã đặt được câu hỏi

mở rộng hơn về axit hữu cơ hoặc đã phát hiện thêm tình huống thực tiễn khác nhưng chưa giải

thích được Ví dụ: HS có thể đặt câu hỏi: Cho axit salixylic phản ứng với anhiđrit axetic thu được axit axetylsalixylic dùng làm thuốc cảm (aspirin) hay cho axit salixylic phản ứng với metanol (có xúc tác H 2 SO 4 ) tạo metyl salyxilat dùng làm thuốc xoa bóp giảm đau Các phản ứng này có phải

là phản ứng este hóa không?

+ Mức 1 HS chưa phát hiện được tình huống thực tiễn khác hoặc chưa đưa ra những câu hỏi

liên quan từ tình huống thực tiễn ban đầu về axit hữu cơ

* Hoạt động củng cố, vận dụng kiến thức

Nhằm mục đích hệ thống hóa, tổng hợp, khắc sâu kiến thức vừa học đồng thời tăng cường khả năng VDKTVTT cho HS, GV nên lựa chọn các BTTT gần gũi với HS, giải đáp được những hiện tượng thiết thực, lí thú trong cuộc sống liên quan đến kiến thức chủ yếu cần nhấn mạnh để HS cảm thấy hứng thú với bài học và môn học đồng thời nhớ được kiến thức lâu một cách có chủ đích Hoạt động củng cố, vận dụng kiến thức có thể được tiến hành vào cuối buổi học hoặc trong giờ học ngay sau khi dạy xong một phần kiến thức mới BTTT nên được tăng cường sử dụng trong hoạt động này, giảm nhẹ các bài tập vận dụng tính toán hay lí thuyết thông thường nhằm thực hiện đúng định hướng đổi mới dạy học chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang phát triển NL

2.4.2 Sử dụng bài tập thực tiễn trong các giờ luyện tập và kiểm tra

* Hoạt động ôn tập, luyện tập

Trong giờ ôn tập, luyện tập HS có nhiều thời gian ôn lại những kiến thức đã học cũng như rèn luyện các kĩ năng đồng thời vận dụng các kiến thức đã học để giải các bài tập nâng cao và bài tập thực tiễn, vì vậy GV có thể kết hợp nhiều phương pháp dạy học tích cực để tổ chức các hoạt động học tập đa dạng cho HS sao cho vừa đảm bảo đạt được yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cần rèn luyện vừa phát triển được các NL cần thiết cho HS Sử dụng BTTT trong hoạt động này không

Trang 10

chỉ nhằm tái hiện kiến thức cho HS mà quan trọng hơn là cần giúp cho HS biết sử dụng linh hoạt, phối hợp các kiến thức với nhau một cách nhuần nhuyễn để HS không những nhớ, hiểu các kiến thức đã học mà còn biết vận dụng kiến thức đã học đó để giải quyết các tình huống trong thực tiễn

* Hoạt động tìm tòi, mở rộng kiến thức

Hoạt động này khuyến khích HS tiếp tục tìm hiểu thêm để mở rộng kiến thức, nhằm giúp HS hiểu rằng ngoài kiến thức đã học trong nhà trường còn rất nhiều điều cần phải tiếp tục học hỏi, khám phá GV có thể giao cho HS các BTTT nhằm bổ sung kiến thức và hướng dẫn các em tìm những nguồn tài liệu khác đồng thời cung cấp nguồn sách tham khảo và nguồn tài liệu trên mạng

để HS tìm hiểu thêm Phương thức hoạt động là làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, chủ yếu làm ở nhà sau đó GV dành một khoảng thời gian trong giờ học, giờ luyện tập hay các tiết ngoại khóa,

bổ trợ để xem xét kết quả và tư vấn, giúp đỡ HS giải đáp những vướng mắc mà HS gặp phải khi thực hiện tìm tòi, mở rộng kiến thức về các chủ để khác nhau ở nhà GV có thể đưa ra các tình huống hay BTTT mà kiến thức vừa học chỉ giải thích được một phần hoặc chưa dầy đủ, cần phải tìm hiểu thêm từ nhiều nguồn thông tin khác hay các tình huống gây kích thích sự ham muốn tìm tòi, khám phá tri thức của HS qua đó vừa phát triển NL VDKTVTT vừa phát triển NL tự học, tự nghiên cứu cho HS BTTT GV đưa ra có thể là các bài tập mở có nhiều đáp án hoặc hướng suy nghĩ khác nhau để khuyến khích HS tìm tòi mở rộng theo sở thích và khả năng của mình Mặc dù với mục đích mở rộng kiến thức nhưng GV nên lựa chọn các yêu cầu về BTTT sao cho phù hợp với trình độ của HS, điều kiện của trường, lớp học và thời gian cho phép để HS vừa có hứng thú tìm hiểu kiến thức thực tế, say mê nghiên cứu, yêu thích bộ môn Hóa học vừa phát triển NL VDKTVTT một cách hiệu quả

* Hoạt động kiểm tra, đánh giá

Sử dụng BTTT trong hoạt động kiểm tra, đánh giá có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức như thường xuyên đưa vào các bài kiểm tra hay xen vào các giờ học, các hoạt động có lồng ghép việc kiểm tra, đánh giá HS Các BTTT đưa ra vừa phải đảm bảo yêu cầu về nội dung, hình thức kiểm tra vừa phải phù hợp với trình độ NL của HS Các BTTT trong bài kiểm tra nhằm mục đích củng cố, kiểm tra NL VDKTVTT của HS mà chủ yếu HS đã được rèn luyện, phát triển trong các

giờ học và các quá trình tự nghiên cứu trước đó GV có thể sử dụng các câu hỏi BTTT trong các

bài kiểm tra 15 phút hoặc 45 phút Với bài kiểm tra 45 phút, GV chú ý tăng cường câu hỏi vận dụng trong đó có VDKTVTT nhằm đánh giá NL này của HS từ đó giúp HS có thói quen tìm hiểu những câu hỏi/tình huống TT và rèn luyện phát triển NL này trong quá trình học tập trên lớp cũng như tự học ở nhà

➢ Ví dụ 3 Một số BTTT trong bài KT 45 phút

Câu 1 Chất nào dưới đây được sử dụng để tẩy rửa sơn móng tay, tẩy keo siêu dính, tẩy trên

các đồ gốm sứ, thủy tinh đồng thời được sử dụng trong các thuốc, kĩ thuật làm đẹp như lột da bằng hóa chất (trị mụn trứng cá hay làm đẹp da mặt), là phụ gia thực phẩm và dùng để đóng gói, bảo quản thực phẩm?

A HCHO B CH3COCH3 C CH3COOH D CH3CHO

Câu 2 Nhôm axetat được dùng trong CN nhuộm vải, hồ giấy, thuộc da, vì lý do nào sau đây?

A Phân tử nhôm axetat bám vào bề mặt sợi nên bảo vệ được vải

B Nhôm axetat phản ứng với thuốc mầu làm cho vải bền mầu

C Phân tử nhôm axetat phản ứng với sợi vải làm cho vải bề hơn

D Nhôm axetat bị thuỷ phân tạo ra nhôm hyđroxit có khả năng hấp phụ chất tạo mầu và thấm vào mao quản sợi vải nên mầu của vải được bền

Ngày đăng: 24/06/2020, 15:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w