1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng bài tập ở các học phần chuyên môn sư phạm nhằm phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên ngành Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

12 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 578,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này trình bày những cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc xây dựng bài tập phát triển năng lực sư phạm ở các học phần chuyên môn sư phạm cho sinh viên ngành Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp, đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.

Trang 1

Xây dựng bài tập ở các học phần chuyên môn sư phạm nhằm phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên ngành Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Designing exercises in the pedagogical modules to develop the Pedagogical

Competency of students at Ho Chi Minh City Agriculture

and Sylvicultyre University

ThS Phạm Quỳnh Trang, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

Pham Quynh Trang, M.A.,

Ho Chi Minh City Agriculture and Sylvicultyre University

Tóm tắt

Phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên là một nhiệm vụ quan trọng của công tác đào tạo giáo viên Một trong những phương pháp giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động này là sử dụng bài tập trong các học phần chuyên môn sư phạm Hoạt động giải quyết bài tập ở các học phần chuyên môn sư phạm không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức lý luận mà còn giúp sinh viên phát triển các năng lực sư phạm, đồng thời nâng cao tình cảm đối với nghề nghiệp tương lai Bài viết này trình bày những cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc xây dựng bài tập phát triển năng lực sư phạm ở các học phần chuyên môn

sư phạm cho sinh viên ngành Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp, đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Từ khóa: bài tập, năng lực sư phạm, học phần chuyên môn sư phạm

Abstract

Developing pedagogical competency for students is an important task of teacher training One of the ways to improve the efficiency of this activity is to use exercises in the pedagogical subjects Solving-problem exercises in the pedagogical subjects help students not only master their theoretical knowledge but also develop their pedagogical abilities and enhance their feelings for future careers This article focuses on the theoretical and practical basis for the design of exercises in the pedagogical modules in order to develop the pedagogical competency of students majoring Education of Agricultural Technology at Nong Lam University, Ho Chi Minh city

Keywords: exercises, pedagogical competency, pedagogical subjects

1 Đặt vấn đề

Công tác rèn luyện năng lực sư phạm

cho sinh viên các trường đại học có đào tạo

giáo viên hiện nay cần đổi mới theo hướng

phát triển năng lực nghề nghiệp Một trong những giải pháp để thực hiện được định hướng trên là thiết kế và sử dụng các bài tập phù hợp với nội dung từng học phần

Trang 2

chuyên môn sư phạm như (Tâm lý học;

Giáo dục học; Phương pháp dạy học; Phân

tích chương trình môn học; Ứng dụng công

nghệ thông tin trong dạy học…) được cho

là quan trọng và hiệu quả Tuy nhiên, hiện

nay tại Bộ môn Sư phạm Kỹ thuật Nông

nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm

TP.HCM, hoạt động rèn luyện năng lực sư

phạm thông qua việc giải quyết nhiệm vụ

học tập từ các bài tập của sinh viên chưa

được tiến hành thường xuyên, thiếu tính hệ

thống, và các bài tập chưa được xây dựng

trên một cơ sở khoa học rõ ràng Vì vậy,

việc nghiên cứu thiết kế bài tập ở các học

phần chuyên môn sư phạm nhằm phát triển

năng lực sư phạm cho sinh viên ngành Sư

phạm Kỹ thuật Nông nghiệp là một việc

làm vô cùng cần thiết

2 Thực trạng của hệ thống bài tập

các học phần chuyên môn sư phạm

Bộ môn Sư phạm Kỹ thuật Nông

nghiệp, trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

được thành lập từ năm 2002 với mục tiêu

đào tạo: Cử nhân Sư phạm Kỹ thuật Nông

nghiệp hệ chính quy Để thực hiện được

mục tiêu đào tạo này thì sinh viên ngành

Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp được trang

bị kiến thức và kỹ năng của 2 lĩnh vực, đó

là: lĩnh vực khoa học Nông nghiệp và lĩnh vực khoa học Giáo dục Nhiệm vụ của các học phần chuyên môn thuộc lĩnh vực khoa học Giáo dục là rèn luyện cho sinh viên những năng lực dạy học và giáo dục cơ bản, cần thiết để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng thực tiễn giảng dạy môn Công nghệ ở trường phổ thông

Sau đây là thực trạng về việc xây dựng

và sử dụng hệ thống bài tập trong các học phần chuyên môn Sư phạm của Bộ môn Sư phạm Kỹ thuật Nông Nghiệp Chúng tôi tiến hành chọn mẫu điều tra là 5 giảng viên của bộ môn Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp và 182 sinh viên của 2 lớp DH13SP

và DH14SP Phương pháp khảo sát chủ yếu là sử dụng bảng hỏi với hệ thống các câu hỏi kín, đáp án trả lời gồm 5 mức độ lựa chọn, ứng với điểm từ 5 đến 1, trong đó khách thể nghiên cứu chỉ có một lựa chọn duy nhất

2.1 Thực trạng các dạng bài tập được giảng viên thiết kế và sử dụng

để phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên

(5 - Rất thường xuyên; 4 - Thường xuyên; 3 - Thỉnh thoảng; 2 - Ít khi; 1- Không bao giờ)

Bảng 1: Mức độ thiết kế và sử dụng các dạng bài tập

5 4 3 2 1

4 Bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn 0 0 2 3 0

Nguồn: Thống kê của người nghiên cứu

Trang 3

Nhìn vào bảng thống kê ở trên cho ta

thấy, dạng bài tập mà các giảng viên

thường xuyên thiết kế và sử dụng hơn cả

là dạng bài tập vận dụng Đây cũng là một

tín hiệu đáng mừng vì việc giảng viên sử

dụng bài tập ở cấp độ vận dụng sẽ tạo cho

sinh viên có nhiều cơ hội được vận dụng

những kiến thức, kỹ năng đã học, qua đó

tránh được sự rập khuôn, máy móc và

tăng cường tính đa dạng, phong phú

Cũng qua bảng trên ta thấy, dạng bài tập

thứ 3 và thứ 4 có số lượng giảng viên

thiết kế và sử dụng không nhiều, mặc dù

đây là dạng bài tập có tác dụng rất lớn

trong việc hình thành và phát triển năng

lực nghề nghiệp của sinh viên Lý do có

thể kể ra đây là: để thiết kế được dạng bài

tập này đòi hỏi giảng viên là những người

có kiến thức chuyên môn sâu rộng và kinh

nghiệm thực tiễn nhiều Mặt khác, để giải quyết dạng bài tập này đòi hỏi sinh viên cũng phải có sự hiểu biết về lý thuyết, thực tiễn giáo dục nhất định và ngoài ra còn phải có kỹ năng giải bài tập nữa Một

số giảng viên khi được hỏi lý do đã cho biết: việc sử dụng các tình huống gắn với thực tiễn giáo dục phổ thông vẫn rất khiêm tốn vì thực tế là kinh nghiệm thực tiễn giáo dục của chính bản thân các giảng viên vẫn còn hạn chế và việc thu thập những tình huống này cũng còn tương đối khó khăn

2.2 Thực trạng khó khăn mà giảng viên gặp phải khi xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong các học phần chuyên môn sư phạm (5- Rất đồng ý; 4 – Đồng ý;

3 – Phân vân; 4 – Không đồng ý; 1 – Rất không đồng ý)

Bảng 2: Những khó khăn mà giảng viên gặp phải khi xây dựng và sử dụng bài tập

5 4 3 2 1

1 Thiếu thời gian nên ảnh hưởng đến tiến trình dạy học 0 2 1 2 0

2 Một số nội dung môn học trừu tượng nên khó thiết kế

bài tập

0 2 1 2 0

3 Nguồn tài liệu để thiết kế và giải bài tập hạn chế 1 3 1 0 0

4 Hiểu biết thực tiễn giáo dục của sinh viên còn hạn chế 2 2 1 0 0

5 Nhiều sinh viên còn chưa tích cực, chủ động trong việc

giải quyết bài tập

0 2 2 1 0

6 Kỹ năng giải bài tập của sinh viên còn hạn chế 0 3 2 0 0

7 Tốn thời gian và công sức của giảng viên 4 1 0 0 0

8 Khó khăn khác (kinh phí, cơ sở vật chất…) 3 2 0 0 0

Nguồn: Thống kê của người nghiên cứu

Số liệu ở bảng trên cho thấy, việc xây

dựng và sử dụng bài tập trong các học phần

chuyên môn sư phạm cũng gặp không ít

khó khăn Khó khăn mà các giảng viên của

bộ môn Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp

đồng tình với số lượng cao nhất là “Tốn

thời gian và công sức của giảng viên Sau

đó là tới khó khăn “Khó khăn khác (kinh

Trang 4

phí, cơ sở vật chất…)”; tiếp theo là khó

khăn “Hiểu biết thực tiễn giáo dục của

sinh viên còn hạn chế”và “Kỹ năng giải

bài tập của sinh viên còn hạn chế” Như

vậy, qua kết quả này có thể khẳng định: để

xây dựng bài tập trong các học phần

chuyên môn sư phạm đòi hỏi giảng viên

phải dành rất nhiều thời gian, công sức,

kinh phí và một số yếu tố liên quan đến cơ

sở vật chất của nhà trường để có thể thực

hiện được Vì vậy, việc nghiên cứu xây

dựng bài tập trong các học phần chuyên môn sư phạm nhằm góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực

sư phạm cho sinh viên là một viêc làm hết sức cần thiết

2.3 Thực trạng khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình giải quyết các bài tập

(5- Rất đồng ý; 4 – Đồng ý; 3 – Phân vân; 4 – Không đồng ý; 1 – Rất không đồng ý)

Bảng 3: Những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình giải quyết bài tập Khó khăn mà sinh viên gặp phải khi trong quá

trình giải quyết bài tập 5 Mức độ (số lượng) 4 3 2 1 X

Hiểu biết về thực tiễn giáo dục hạn chế 39 131 12 0 0 4,15

Kỹ năng giải quyết bài tập còn hạn chế 13 90 65 14 0 3,17 Kiến thức lý thuyết môn học trừu tượng, khó hiểu 31 119 22 10 0 3,72 Nguồn tài liệu hỗ trợ giải quyết bài tập còn hạn chế 48 107 27 0 0 4,21 Thiếu thời gian làm bài tập 42 61 63 16 0 4,03 Tính tích cực, chủ động chưa cao 0 31 82 63 6 2,75 Khả năng làm việc nhóm, hợp tác chưa tốt 0 25 65 86 6 2,6 Cách tổ chức giải quyết bài tập của giáo viên chưa

tích cực, hấp dẫn

0 12 53 107 10 2,36

Nguồn: Thống kê của người nghiên cứu

Cùng với những khó khăn của giảng

viên, chúng tôi tiến hành tìm hiểu những

khó khăn mà sinh viên gặp phải khi hoạt

động với bài tập Kết quả từ bảng số liệu

trên cho chúng ta thấy: Khi được giảng

viên giao cho giải quyết những bài tập

trong các học phần chuyên môn sư phạm

thì sinh viên cũng gặp khá nhiều khó

khăn, trong đó phải kể đến những khó

khăn sau: “Nguồn tài liệu hỗ trợ giải

quyết bài tập còn hạn chế” với X= 4,21;

“Hiểu biết về thực tiễn giáo dục còn hạn

chế”với X= 4,15; “Thiếu thời gian làm

bài tập” với X= 4,03; “Kiến thức lý thuyết môn học trừu tượng, khó” với X= 3,72

Nói chung, những khó khăn này chủ yếu mang tính khách quan, cho nên hiệu quả của việc sử dụng bài tập trong các học phần chuyên môn sư phạm sẽ phụ thuộc khá nhiều vào cách tổ chức và hỗ trợ của giảng viên

2.4 Đánh giá của giảng viên và sinh viên về mức độ hiệu quả sử dụng bài tập trong các học phần chuyên môn

sư phạm (5 – Rất cao; 4 – Cao; 3 – Trung

bình; 2: Thấp; 1: Rất thấp)

Trang 5

Bảng 4: Hiệu quả sử dụng bài tập trong các học phần chuyên môn sư phạm Yếu tố đánh giá

Mức độ hiệu quả

GV SV GV SV GV SV GV SV GV SV SV Hoạt động lĩnh hội kiến

thức của sinh viên 1 26 4 119 0 25 0 12 0 0 3,95 Thái độ, hứng thú của sinh

viên trong học tập 0 38 4 121 1 20 0 3 0 0 4,06 Hoạt động rèn luyện các

kỹ năng sư phạm cơ bản 0 4 2 21 2 116 1 39 0 2 2,92 Hình thành kỹ năng tư

duy, giải quyết vấn đề,

hợp tác

0 4 2 35 2 128 1 12 0 3 3,13

Gắn lý thuyết với thực tiễn

Tính chủ động, tích cực,

Nguồn: Thống kê của người nghiên cứu

Nhìn vào bảng trên ta thấy, theo ý kiến

đánh giá của giảng viên: mức độ hiệu quả

được đánh giá ở mức cao nhất là yếu tố:”

Hoạt động lĩnh hội kiến thức của sinh

viên”; tiếp theo là tới “Thái độ, hứng thú

của sinh viên trong học tập”; Yếu tố được

đánh giá có mức độ hiệu quả thấp nhất là

“Gắn lý thuyết với thực tiễn giáo dục”

Từ đánh giá của sinh viên, chúng tôi

thu được kết quả về mức độ hiệu quả như

sau: Thái độ, hứng thú của sinh viên trong

học tập với X= 4,06; Hoạt động lĩnh hội

kiến thức của SV với X= 3,95; Tính chủ

động, tích cực, sáng tạo với X= 3,62; Hình

thành kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề,

hợp tác với X= 3,13; Hoạt động rèn luyện

các kỹ năng sư phạm cơ bản với X= 2,92

và Gắn lý thuyết với thực tiễn giáo dục với

X= 2,62

Như vậy, từ số liệu trên ta thấy, ý kiến

đánh giá của giảng viên và sinh viên có

một số điểm tương đối thống nhất, đó là

việc giáo viên tổ chức cho sinh viên sử dụng bài tập trong các học phần chuyên môn sư phạm đã đem lại hiệu quả cao ở một số mặt như: giúp sinh viên lĩnh hội kiến thức môn học tốt hơn, làm tăng hứng thú, tính tích cực Tuy nhiên, thực tế việc

sử dụng bài tập nhằm rèn luyện các năng lực sư phạm cơ bản hay gắn lý thuyết với thực tiễn giáo dục vẫn chưa đem lại hiệu

quả như mong muốn

3 Cơ sở lý thuyết về thiết kế bài tập phát triển năng lực sư phạm ở các học phần chuyên môn sư phạm

3.1 Cơ sở lý thuyết về phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên

3.1.1 Khái niệm về năng lực sư phạm

Năng lực sư phạm là một năng lực chuyên biệt đặc trưng của nghề dạy học nói chung Trên cơ sở những quan điểm về năng lực khác nhau dẫn tới những quan điểm về năng lực sư phạm cũng khác nhau, như:

Trang 6

Theo Phạm Minh Hạc: “Năng lực sư

phạm là tổ hợp những đặc điểm tâm lý của

nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu của

hoạt động sư phạm và quyết định sự thành

công của hoạt động ấy” (Trích dẫn bởi

Trương Đại Đức - 2011)

Theo Nguyễn Đức Vũ (2012): “Năng

lực sư phạm là khả năng của giáo viên

thực hiện có kết quả các hoạt động dạy

học và giáo dục nhằm đạt được các mục

tiêu đề ra”

Theo Nguyễn Thị Tình (2016): “Năng

lực sư phạm là sự thực hiện có hiệu quả và

có trách nhiệm các hành động, giải quyết

các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề

sư phạm (dạy học và giáo dục) trong những

tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết,

kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như

sự sẵn sàng hành động

Nói tóm lại: chúng tôi đồng tình với

quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Y

(2017) cho rằng: Năng lực sư phạm là năng

lực người giáo viên thực hiện hiệu quả hoạt

động dạy học, giáo dục học sinh được tạo

bởi ba thành tố cơ bản là thái độ, kiến thức

và kỹ năng sư phạm

3.1.2 Hoạt động rèn luyện năng lực sư

phạm cho sinh viên ở các trường sư phạm

Trong năng lực nghề nghiệp của giáo

viên, ngoài trình độ kiến thức khoa học

chuyên ngành, cần có hệ thống năng lực sư

phạm Năng lực sư phạm là những thuộc

tính riêng của người làm nghề dạy học và

giáo dục nói chung, nó vừa là điều kiện để

giáo viên thực hiện có hiệu quả việc dạy

học và giáo dục, đồng thời là hình tượng

quan trọng tác động đến việc hình thành và

phát triển nhân cách người học

Các nhà tâm lý học đã chứng minh,

năng lực của mỗi cá nhân không chỉ là bẩm

sinh mà chủ yếu nó được hình thành và

phát triển trong quá trình con người hoạt

động và giao lưu Do đó, nhiều nhà nghiên

cứu Giáo dục học đã khẳng định: năng lực

sư phạm của giáo viên không chỉ được cấu thành từ yếu tố bẩm sinh di truyền mà chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện và thực tiễn hoạt động nghề nghiệp sư phạm của giáo viên Những năng lực sư phạm nếu không được tổ chức rèn luyện thích hợp, cùng với

sự nỗ lực rèn luyện thì năng lực sư phạm

có thể bị thui chột hoặc chậm phát triển

Vì vậy, việc hình thành và phát triển năng lực cho sinh viên vừa là mục tiêu trọng yếu, vừa là cái đích của quá trình đào tạo giáo viên Công tác rèn luyện năng lực

sư phạm cho sinh viên không chỉ có nhiệm

vụ trang bị cho sinh viên hệ thống năng lực

sư phạm vững vàng mà còn giáo dục họ lòng yêu nghề, say mê lao động, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc (Nguyễn Thị Thế Bình, 2016)

Hiện nay, công tác đào tạo năng lực sư phạm cho sinh viên ở các cơ sở đào tạo giáo viên thường gồm hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Trang bị cho sinh viên

hệ thống tri thức khoa học cơ bản về chuyên ngành khoa học Giáo dục thông qua các môn học nghiệp vụ sư phạm

- Giai đoạn 2: Tổ chức cho sinh viên vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào các hoạt động thực tiễn dạy học và giáo dục thông qua các hoạt động như: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; kiến tập và thực tập sư phạm

Mỗi giai đoạn trên đều có một vị trí, vai trò nhất định nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình đào tạo năng lực sư phạm cho sinh viên Giai đoạn 1 được xem là cơ sở, nền tảng, có tính chất định hướng cho nghề nghiệp Giai đoạn 2 giúp sinh viên hình thành những phẩm chất và năng lực sư phạm một cách tổng hợp, từng bước vươn lên trở thành người giáo viên

Trang 7

Tại trường Đại học Nông Lâm TP.HCM,

trong giai đoạn 1 của chương trình đào tạo

ngành Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp,

sinh viên được học các môn thuộc khối

kiến thức nghiệp vụ sư phạm như: Tâm lý

học, Giáo dục học, tâm lý học lứa tuổi và

sư phạm, Lý luận dạy học, Nghiên cứu

khoa học giáo dục, Đo lường và đánh giá

trong giáo dục, Ứng dụng Công nghệ thông

tin trong dạy học, Công nghệ dạy học,

Phương pháp dạy học kỹ thuật nông

nghiệp, Tập giảng dạy môn Kỹ thuật nông

nghiệp, Phân tích chương trình môn

Công nghệ 10

Các môn học này thể hiện trực tiếp đặc

trưng nghề nghiệp, đặt cơ sở quan trọng về

mặt nghiệp vụ cho việc đào tạo giáo viên,

trang bị cho sinh viên những lý luận cơ

bản, hiện đại về hoạt động dạy học và giáo

dục, hình thành cho sinh viên những năng

lực sư phạm cơ bản để sau khi ra trường họ

có thể tiến hành tốt các hoạt động dạy học

và giáo dục ở trường phổ thông, thích ứng

với những yêu cầu ngày càng cao của thực

tiễn giáo dục Việt Nam

3.1.3 Định hướng công tác rèn luyện

năng lực sư phạm cho sinh viên ở các

trường cơ sở đào tạo giáo viên

Phát triển năng lực công dân và năng

lực học tập được coi là chiến lược phát

triển con người, phát triển giáo dục và đào

tạo của các quốc gia trên toàn thế giới và

Việt Nam chúng ta không phải là ngoại lệ

Ngày 13/12/2014, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT

đã phê duyệt Chương trình “Phát triển

ngành Sư phạm và các trường sư phạm từ

năm 2011 đến năm 2020” khẳng định:

Hoạt động đào tạo năng lực nghiệp vụ sư

phạm cho sinh viên trong các trường đại

học sư phạm và các cơ sở có đào tạo giáo

viên theo hướng tiếp cận phát triển năng

lực nghề nghiệp là một khâu then chốt

Làm rõ hơn định hướng này, tác giả

Đinh Quang Báo (2017) đã chỉ ra rằng: Mục tiêu đào tạo giáo viên là để xây dựng

ở người học năng lực thực hiện các hoạt động cơ bản trong thực tiễn nghề nghiệp chứ không phải những kiến thức, kỹ năng

và thái độ một cách cụ thể, riêng biệt Quan trọng hơn chính là ở điều kiện để học huy động một cách tổng hợp, linh hoạt những kiến thức, kỹ năng và thái độ đã được trang

bị vào giải quyết những tình huống thực trong bối cảnh cụ thể

Nói tóm lại, công tác rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên các trường sư phạm hiện nay cần đổi mới theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp gắn với thực tiễn giáo dục Một trong những giải pháp để thực hiện được định hướng trên là: đào tạo bằng phương thức tích hợp Biện pháp tổ chức đào tạo tích hợp rất đa dạng, phong phú; trong đó việc thiết kế các bài tập phù hợp với nội dung từng tín chỉ, từng học phần, từng mô đun là quan trọng và hiệu quả nhất (Đinh Quang Báo, 2017) Như vậy, việc sử dụng bài tập trong học phần chuyên môn sư phạm nhằm hình thành và phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên ngành sư phạm là một hướng đi hiệu quả và phù hợp với xu thế đào tạo giáo viên theo năng lực hiện nay

3.2 Cơ sở lý thuyết về thiết kế bài tập

3.2.1 Khái niệm bài tập

Bài tập là một thành tố quan trọng của quá trình dạy học Bài tập là phương tiện

để giáo viên tiến hành hoạt động dạy và người học tiến hành hoạt động học

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về bài tập như:

Tác giả Thái Duy Tuyên (2007) cho rằng: Bài tập là một hệ thống thông tin xác định, bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ

và tác động qua lại với nhau đó là: những điều kiện và những yêu cầu

Theo Nguyễn Thị Kim Liên (2011):

Trang 8

Bài tập là những nhiệm vụ GV đặt ra cho

SV thực hiện, được trình bày dưới dạng

câu hỏi hoặc yêu cầu hoạt động, tạo điều

kiện cho SV luyện tập nhằm nhận thức,

củng cố, đào sâu hệ thống tri thức đã học,

vận dụng vào thực tiễn và rèn luyện kỹ

năng, kỹ xảo và phẩm chất nhân cách

nghề nghiệp

Như vậy, có thể hiểu bài tập là các vấn

đề, câu hỏi, tình huống…chứa đựng mâu

thuẫn cần giải quyết thông qua việc vận

dụng kiến thức, kỹ năng đã học được (Đinh

Quang Báo, 2017)

3.2.2 Các loại bài tập trong dạy học

Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa

chọn cách phân chia của tác giả Bernd

Meier - Nguyễn Văn Cường (2016), dựa

trên các bậc nhận thức và chú ý đến đặc

điểm của học tập định hướng năng lực,

gồm các dạng bài tập như sau:

- Bài tập tái hiện: yêu cầu sự hiểu và

tái hiện tri thức

Sau đây là ví dụ về dạng bài tập tái hiện

mà chúng tôi đã nghiên cứu thiết kế ở học

phần Giáo dục học: Anh, chị hãy quan sát

và phân biệt hiện tượng Mèo dạy con bắt

chuột và Chị dạy em “chào bà”, từ đó rút ra

kết luận sư phạm qua hai hiện tượng này?

Mục tiêu của bài tập này nhằm rèn

luyện cho sinh viên khả năng phân biệt

được hiện tượng giáo dục của loài người

với hiện tượng mang tính chất bản năng ở

loài vật Để giải quyết bài tập này sinh viên

chỉ cần tái hiện lại những kiến thức liên

quan đến bản chất của hoạt động giáo dục

của con người, từ đó tìm ra điểm khác biệt

mang tính bản chất của hai hiện tượng trên

- Bài tập vận dụng: Các bài tập ở

dạng này đòi hỏi người học vận dụng

những kiến thức trong tình huống không

thay đổi Các bài tập này nhằm củng cố

kiến thức và rèn luyện kỹ năng cơ bản,

chưa đòi hỏi sự sáng tạo

Ví dụ về dạng bài tập vận dụng ở học phần Ứng dụng Công nghệ thông tin trong

dạy học: “Anh, chị hãy sử dụng phần mềm

Powerpoint để thiết kế bài giảng điện tử cho một bài học bất kỳ trong SGK Công nghệ 10”

Mục tiêu của bài tập này nhằm rèn luyện cho sinh viên kỹ năng sử dụng các phần mềm dạy học vào trong hoạt động soạn giáo án Để giải quyết bài tập bài tập này, sinh viên sẽ vận dụng những kiến thức

về phần mềm Powerpoint và những kiến thức liên quan khác để thiết kế được bài giảng điện tử có tính thẩm mỹ, khoa học và

có tính tương tác cao

- Bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết vấn đề Dạng bài tập này yêu cầu sự sáng tạo của người học

Ví dụ ở học phần Phương pháp dạy

học Kỹ thuật Nông nghiệp là bài tập: Sau

khi xem xong đoạn băng giờ giảng của một giáo viên dạy môn Công nghệ 10, sinh viên lớp DH14SP đã phân chia làm 2 nhóm, họ tranh luận với nhau về phương pháp dạy học chủ yếu mà giáo viên sử dụng trong bài giảng đó Môt nhóm cho rằng giáo viên

đó đã sử dụng phương pháp Thảo luận nhóm, nhóm còn lại thì cho rằng đó là phương pháp Giải quyết vấn đề Anh, chị hãy xem lại đoạn băng bài giảng và xác định chính xác phương pháp dạy học mà giáo viên sử dụng? Theo anh, chị: phương pháp dạy học mà giáo viên sử dụng có phù hợp và hiệu quả không? Tại sao? Nếu không thì hãy đề xuất cách khắc phục hoặc lựa chọn PPDH khác phù hợp hơn?

Mục tiêu của bài tập này nhằm rèn luyện kỹ năng nhận diện, lựa chọn phương pháp dạy học Để giải quyết bài tập này, trước hết sinh viên phải dựa vào

Trang 9

các lý thuyết liên quan đến: đặc điểm của

mỗi phương pháp dạy học, cơ sở lựa chọn

phương pháp dạy học và các tiêu chí sử

dụng phương pháp dạy học hiệu quả, từ

đó vận dụng để gọi tên chính xác phương

pháp dạy học chủ yếu mà giáo viên sử

dụng trong đoạn băng, đồng thời phân

tích, đánh giá xem phương pháp dạy học

đó có phù hợp và hiệu quả hay không?

Nếu không thì sinh viên phải để xuất

cách khắc phục hoặc phải lựa chọn và sử

dụng phương pháp day học khác phù hợp

hơn Đến đây tính sáng tạo của sinh viên

sẽ thể hiện

- Bài tập gắn với bối cảnh, tình

huống thực tiễn: Các bài tập này cần chú ý

gắn vấn đề với các bối cảnh và tình huống

thực tiễn Những bài tập này là những bài

tập mở, tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận,

nhiều con đường giải quyết khác nhau

Ví dụ về bài tập gắn với bối cảnh, tình

huống thực tiễn ở học phần Phân tích

chương trình môn học: “Giả sử anh, chị

được phân công giảng dạy tại một trường

THPT thuộc khu vực nông thôn có môi

trường học tập và sinh sống gắn liền với

hoạt động sản xuất nông nghiệp Anh chị

hãy xây dựng mục tiêu cụ thể cho các

chương thuộc phần Nông lâm ngư nghiệp

theo định hướng chung của chương trình

công nghệ 10 Đề xuất các nội dung gắn

liền với thực tế sản xuất nông nghiệp của

địa phương sẽ lồng ghép vào giảng dạy

Lưu ý: Anh, chị có thể lựa chọn 1 khu vực

có đặc điểm như yêu cầu bài tập đề ra để

tìm hiểu”

Mục tiêu của bài tập này là: Phát

triển kỹ năng phân tích mục tiêu dựa trên

sự thay đổi của bối cảnh thực tế có liên

quan và các yêu cầu chung của môn học

Để giải quyết bài tập này, sinh viên căn

cứ trên mục tiêu cụ thể của chương trình

môn Công nghệ 10, điều kiện thực tế gặp

phải mà xác định lại mục tiêu cụ thể của các chương trong SGK Công nghệ 10 theo hướng gắn liền hoàn cảnh thực tế tại địa phương, đẩy mạnh vận dụng kiến thức học được của học sinh vào thực tế cuộc sống nhằm tăng hiệu quả chung của môn học Sinh viên cần tìm hiểu rõ bối cảnh thực tế ở những lĩnh vực liên quan, phân tích những nội dung nào phù hợp,

đề xuất và xây dựng các nội dung để đưa vào bài giảng Khuyến khích có mô tả rõ ràng về cơ cấu ngành nghề, sản xuất tại địa phương

Như vậy, mỗi dạng bài tập sẽ có đặc điểm, vai trò và mục tiêu khác nhau Do

đó, điều quan trọng là giáo viên cần sử dụng các loại bài tập một cách linh hoạt và phối hợp chúng với nhau để đảm bảo sinh viên nắm vững kiến thức, từ đó hình thành

và phát triển các kỹ năng sư phạm

3.2.3 Nguyên tắc thiết kế bài tập ở

các học phần chuyên môn sư phạm

Để đem lại hiệu quả giáo dục cao thì các bài tập được thiết kế phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc này cũng chính là những tiêu chí để đánh giá bài tập có đạt yêu cầu hay không Sau đây là một số nguyên tắc chủ yếu trong việc xây dựng bài tập phát triển năng lực sư phạm mà chúng tôi đề ra trên

cơ sở phân tích, tổng hợp các nguyên tắc từ những nghiên cứu của các tác giả đi trước

- Bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu học tập môn học Nguyên tắc này đòi bài tập được xây dựng không chỉ giúp sinh viên nắm vững tri thức lý luận giáo dục mà còn phải biết vận dụng tri thức đó

để hình thành năng lực sư phạm Đây là nguyên tắc bao trùm việc xây dựng các bài tập ở các học phần chuyên môn sư phạm

- Bài tập phát triển năng lực sư phạm vừa phải phù hợp với trình độ của sinh viên, vừa phải đảm bảo tính đa dạng,

Trang 10

phong phú

- Bài tập phải được xây dựng một

cách đa dạng, phong phú Việc tiếp cận và

tham gia giải nhiều loại bài tập, sinh viên

sẽ càng có cơ hội tìm hiểu sâu sắc tri thức

đã học, rèn luyện nhiều dạng kĩ năng

chuyên biệt, nhờ đó mà làm quen với nhiều

tình huống, hoàn cảnh, môi trường, hoạt

động giáo dục khác nhau

- Bài tập phải đảm bảo tính vừa sức

đối với trình độ, khả năng và đặc điểm của

sinh viên

- Bài tập cần phản ánh thực tiễn hoạt

động nghề nghiệp của giáo viên ở trường

phổ thông Bài tập cần được gắn liền với

thực tiễn công tác dạy học và giáo dục ở

các trường phổ thông hiện nay

- Bài tập phải được thiết kế dưới dạng

hoạt động học tập cho chính người học

Bởi vì năng lực chỉ được hình thành và

phát triển thông qua các hoạt động, do đó

nếu càng tích cực, chủ động trong hoạt

động học tập thì người học càng có cơ hội

phát triển năng lực

- Bài tập phải tích hợp được kiến thức,

kỹ năng, thái độ của người học Kiến thức,

kỹ năng và thái độ là những thành tố cơ bản trong cấu trúc của năng lực và khi giải quyết bài tập người học cần kết hợp linh hoạt kiến thức, kỹ năng mới có thể giải quyết có hiệu quả vấn đề đặt ra

3.2.4 Quy trình xây dựng bài tập ở các học phần chuyên môn sư phạm

Quy trình xây dựng bài tập thực hành

là một tiến trình bao gồm các giai đoạn, các khâu, các bước, các thao tác được sắp xếp theo một trình tự logic nhất định có mối liên hệ chặt chẽ với nhau để xây dựng bài tập của môn học (Trần Thị Hương (2011)

Trên cơ sở tổng hợp các quy trình xây dựng bài tập của nhiều tác giả, chúng tôi đề xuất quy trình thiết kế bài tập phát triển năng lực sư phạm trong các học phần chuyên môn sư phạm theo trình tự các giai đoạn như sau:

Ngày đăng: 24/06/2020, 12:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w