1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Quản Lý Khai Thái Hệ Thống Công Trình Của Công Ty TNHH Một Thành Viên

110 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý khai thác các công trình thủy lợi b Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Dựa trên lý luận khoa học và thực tiễn v

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả

Lê Thành Công

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập ở trường Đại học Thủy lợi, tác giả muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy cô trong trường đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích về khoa học công nghệ, kỹ thuật và xã hội

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kinh tế và Quản lý đã truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành và giúp đỡ tác giả tận tình trong suốt thời gian theo học cũng như thời gian làm luận văn

Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS.Đặng Ngọc Hạnh – Viện kinh

tế và Quản lý thủy lợi đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng tới Công ty TNHH MTV đầu tư và phát triển thủy lợi Hà Nội đã cung cấp những tư liệu và hỗ trợ tác giả hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH ẢNH viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ, KHAI THÁC HỆ THÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 5

1.1 Một số khái niệm 5

1.1.1 Hệ thống công trình thủy lợi 5

1.1.2 Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi 5

1.1.3 Năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi 6

1.2 Các yếu tố thể hiện năng lực quản lý khai thác các công trình thủy lợi 7

1.3 Nội dung công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi 8

1.3.1 Các mô hình quản lý 8

1.3.2 Công tác quản lý công trình 9

1.3.3 Công tác quản lý nước 10

1.3.4 Công tác quản lý kinh doanh 11

1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi 11

1.4.1 Tổ chức bộ máy 11

1.4.2 Mức độ hoàn thiện của các kế hoạch 12

1.4.3 Mức độ lãnh đạo thực hiện hoàn thành kế hoạch 13

1.4.4 Mức độ kiểm soát các quá trình 14

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý khai thác các công trình thủy lợi 15

1.5.1 Nhóm nhân tố chủ quan 15

1.5.2 Nhóm nhân tố khách quan 18

1.6 Tổng quan về hệ thống tổ chức quản lý công trình thủy lợi ở nước ta trong thời gian qua 19

1.6.1 Về quản lý nhà nước 19

Trang 4

1.6.2 Về mô hình tổ chức quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 25

1.6.3 Về nội dung quản lý 29

1.7 Bài học kinh nghiệm trong công tác nâng cao năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi 32

1.7.1 Những kinh nghiệm 32

1.7.2 Những bài học rút ra 35

Kết luận chương 1 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ, KHAI THÁC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THỦY LỢI HÀ NỘI 37

2.1 Giới thiệu về Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 37

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 41

2.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội trong thời gian qua 45

2.2 Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi do Công ty quản lý 48

2.2.1 Thực trạng các công trình thủy lợi 48

2.2.2 Một số nguyên nhân dẫn tới xuống cấp của các công trình thủy lợi trên địa bàn Công ty được phân công quản lý 50

2.2.3 Tình hình duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp các công trình thủy lợi do Công ty TNHH MTV đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội quản lý 51

2.3 Thực trạng công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội 54

2.3.1 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý khai thác của Công ty 54

2.3.2 Phân tích tình hình quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi của Công ty 55

2 4 Đánh giá chung về năng lực quản lý, khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư và phát triển thủy lợi Hà Nội 60

2.4.1 Những kết quả đạt được 60

2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 61

Kết luận chương 2 69

Trang 5

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ, KHAI THÁC

HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN ĐẦU TƯ VÀ

PHÁT TRIỂN THỦY LỢI HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020 70

3.1 Định hướng công tác quản lý, khai thác hệ thống công trình của Công ty trong thời gian tới 70

3.2 Đánh giá những cơ hội và thách thức trong quản lý, khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư và phát triển thủy lợi Hà Nội 72

3.2.1 Những cơ hội 72

3.2.2 Những thách thức 73

3.3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực quản lý, khai t hác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư và phát triển thủy lợi Hà Nội 74

3.3.1 Giải pháp về hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý khai thác hệ thống của Công ty 74

3.3.2 Giải pháp về hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh 77

3.3.3 Tăng cường công tác giám sát và đánh giá công tác quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi 79

3.3.4 Giải pháp tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý khai thác 81

3.3.5 Giải pháp trong công tác quản lý công trình 83

3.3.6 Giải pháp quản lý nước 89

3.3.7 Giải pháp trong công tác quản lý kinh doanh 92

Kết luận chương 3 95

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ

1 BĐKH : Biến đổi khí hậu

2 BNN&PTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

3 CNH-HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa

4 CTTL : Công trình thủy lợi

5 HTCTTL : Hệ thống công trình thủy lợi

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Nhân lực của chi cục quản lý về thủy lợi của các tỉnh 20

Bảng 1.2: Nhân lực của bộ máy quản lý thủy lợi cấp huyện 23

Bảng 1.3: Các Loại hình doanh nghiệp quản lý 26

Bảng 1.4: Các loại hình tổ chức dùng nước 27

Bảng 1.5: Số lượng lao động bình quân của một TCHTDN 27

Bảng 1.6: Cơ cấu về trình độ lao động bình quân trong các TCHTDN 27

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 46

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Mô hình tổ chức và quản lý hệ thống thủy nông tỉnh 20

Hình 2.1 : Bản đồ hệ thống công t

rình thủy lợi Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội 33

Hình 2.2 : Sơ đồ bộ máy tổ chức công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội 44

Hình 2.3: Sơ đồ về nguyên nhân công trình thủy lợi xuống cấp 51

Hình 2.4: Sơ đồ Bộ máy quản lý, khai thác công trình thủy lợi 55

Hình 3.1: Sơ đồ Quy trình lập kế hoạch 79

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam từ lâu nay vẫn được biết đến là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu với một số sản phẩm nông nghiệp có chất lượng trên thị trường quốc tế Nông nghiệp không đơn giản chỉ là phục vụ nhu cầu ăn uống của con người mà còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Hội nhập quốc tế đã dẫn tới một xu hướng tất yếu là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Để phù hợp với xu thế đó Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm giảm tỉ trọng nông nghiệp theo hướng bền vững Có nghĩa là chú trọng vào mặt chất lượng và nâng nông nghiệp lên một tầm cao mới, là điểm tựa vững chắc cho các ngành kinh tế khác phát triển

Trong các biện pháp được áp dụng thì thủy lợi là biện pháp có tầm quan trọng bậc nhất tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển Hệ thống các công trình thủy lợi có nhiệm vụ cung cấp nước và tiêu úng khi cần thiết Nước đối với nông nghiệp là vô cùng quan trọng Trong dân gian đến nay vẫn còn lưu truyền câu nói: ''Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống'' Và chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói rằng: “Nước cũng có thể làm lợi, nhưng cũng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”

Do đó, trong phát triển nông nghiệp, thủy lợi cần đi trước một bước để tạo tiền đề vững chắc cho việc nâng cao năng suất, hiệu quả cây trồng

Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội là một trong những đơn vị đại diện cho Nhà nước quản lý một số công trình thủy lợi đầu mối, công trình trọng điểm của thành phố Hà Nội Trong những năm qua, hệ thống các công trình thủy lợi đã góp phần to lớn trong việc nâng cao năng suất cây trồng, phục vụ dân sinh và các ngành kinh tế khác Tuy nhiên hiện nay công tác quản lý khai thác các công trình

Trang 10

của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội còn tồn tại những bất cập, hạn chế, chưa đạt hiệu quả cao, chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra Chính vì vậy, để có thể phát huy hết năng lực của các công trình thủy lợi thì vấn đề đặt ra là cần làm gì để nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Nhằm góp phần vào việc nghiên cứu đáp ứng yêu cầu vừa thiết thực, vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài đối với vấn đề nâng cao năng lực quản lý, khai thác hệ thống công trình của Công ty khai thác công trình thủy lợi nói chung và Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội nói riêng là lý do chủ yếu của

việc chọn đề tài Luận văn “Giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thác hệ thống

công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý, khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội trong thời gian qua, từ đó đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý, khai thác các công trình thủy lợi trên địa bàn do Công ty quản lý trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý khai thác các công trình thủy lợi

b) Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Dựa trên lý luận khoa học và thực tiễn về năng lực quản lý để phân tích, đánh giá thực trạng năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội trong những năm qua, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý hệ thống công trình của Công ty trong giai đoạn tới;

- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, thu thập số liệu của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội ;

- Về thời gian: Số liệu thống kê và các vấn đề liên quan được sử dụng từ năm 2013 đến năm 2017, các số liệu về định hướng phát triển, cơ hội và thách thức về quản lý công trình thủy lợi đến năm 2022

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo hoàn thành các nội dung và giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác gỉả đề xuất sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp kế thừa có chọn lọc

Thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan từ các cơ quan, sở ban ngành cũng như các báo cáo, các công trình nghiên cứu, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Ứng dụng các kết quả nghiên cứu để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội

- Phương pháp so sánh, đánh giá

Căn cứ vào các đánh giá thu được qua bảng hỏi cộng với các số liệu nói chung có liên quan và các số liệu có tiêu chí đánh giá, để từ đó phân tích được sự hiệu quả cũng như chưa đạt yêu cầu qua các thời kỳ khác nhau của năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Sử dụng trong quá trình hoàn thành chuyên đề Kết quả từ các mô hình xử lý dữ liệu sẽ được diễn giải, phân tích nhằm nêu lên thực trạng quản lý, khai thác hệ thống công trình của các Công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi Các biện pháp và qui trình quản lý cũng sẽ được đề xuất dựa trên những kết quả phân tích và tổng hợp

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

a) Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu lựa chọn phương pháp nghiên cứu phân tích đánh giá ảnh hưởng của năng lực quản lý, khai thác đến hoạt động của các Công ty khai thác công trình thủy lợi Dựa trên lý luận và thực tiễn để phân tích đánh giá năng lực quản lý, khai thác hệ thống công trình của Công ty khai thác công trình thủy lợi Nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Kết quả nghiên cứu

Trang 12

sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình tại các Công ty quản lý công trình thủy lợi

b) Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được sử dụng trong thực tiễn phân tích ảnh hưởng của năng lực quản lý, khai thác đến hoạt động của các Công ty quản lý công trình thủy lợi, các giải pháp đề xuất sẽ là những gợi ý cho các nhà đầu tư, nhà tư vấn, những người làm công tác quản lý công trình thủy lợi nói chung và Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội nói riêng

6 Kết quả dự kiến đạt được

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý khai thác các công trình thủy lợi

- Đánh giá thực trạng quản lý, khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội

- Phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý khai thác các công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội

- Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội

7 Nội dung của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, luận văn được bố cục với 3 chương, nội dung chính như sau:

Chương 1: Tổng quan về quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Chương 2: Thực trạng năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình của Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình tại Công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội đến năm 2022

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ, KHAI THÁC HỆ THÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Hệ thống công trình thủy lợi

Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Ngoài ra, thủy lợi còn có tác dụng chống lại sự cố kết đất Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thoát nước, hệ thống này có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước dưới đất của một khu vực cụ thể

Thủy lợi theo nghĩa chung nhất là những biện pháp nhằm khai thác tài nguyên nước một cách hợp lý nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng Những biện pháp khai thác nước bao gồm: khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua các hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy Sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý có nghĩa là tận dụng những đặc tính hữu ích mà nó mang lại, mặt khác đấu tranh phòng chống và hạn chế những thiệt hại do nước gây ra đối với sản xuất và đời sống Những lợi ích mà nguồn nước đem lại vô cùng to lớn và có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển kinh tế, phục vụ đời sống dân sinh, bao gồm nước dùng cho phát triển nông nghiệp (trồng trọt, nuôi trồng thủy sản…), phát triển tiểu – thủ công nghiệp, phục vụ sinh hoạt, tạo cảnh quan phát triển du lịch, cải tạo môi trường sinh thái…

Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại

Hệ thống công trình thủy lợi: Bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định

1.1.2 Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Trang 14

Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có,

nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát

Khai thác là tổng hợp những hoạt động để những sản vật có sẵn trong tự nhiên, những đối tượng nhân tạo được sử dụng một cách hợp lý nhằm tận dụng hết khả năng tiềm tàng vào phục vụ mục đích của con người

Vậy Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi là bao gồm những công việc sau:

- Lập kế hoạch: Là một hoạt động của quá trình quản lý mà con người cần hướng vào mục tiêu để đạt được mục đích chung của công trình thủy lợi

- Tổ chức: Là quá trình hoạt động liên quan đến mục tiêu, kế hoạch và xác định trao trách nhiệm quyền quản lý cho các tổ chức cá nhân để có hiệu quả nhất

- Điều hành: Là những hoạt động để xác định phạm vi, quyền hạn ra quyết định, phân

bổ và sử dụng các nguồn lực hợp lý, tăng cường quản lý có sự tham gia của cộng đồng

và đảm bảo đúng mức độ, mục đích phục vụ của các công trình thủy lợi

- Động cơ thúc đẩy: Nhằm tìm ra được những mặt lợi để thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý sử dụng các công trình thủy lợi có hiệu quả nhất

- Kiểm soát và theo dõi: Là một quá trình theo dõi và đánh giá các kết quả đạt được

từ các công trình thủy lợi

1.1.3 Năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Năng lực là tổ chức các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả Năng lực hình thành và bộc lộ trong hoạt động gắn với một hoạt động cụ thể và chịu

sự chi phối của môi trường, tính chất hoạt động, và khả năng của cá nhân

Năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi là khả năng tổ chức, chỉ đạo, triển khai thực hiện, thanh tra kiểm soát hoạt động khai thác các công trình thủy lợi nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân, tổ chức và xã hội

Trang 15

1.2 Các yếu tố thể hiện năng lực quản lý khai thác các công trình thủy lợi

a Yếu tố tổ chức quản lý và sử dụng:

Là hình thức tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi dưới hình thức hợp tác xã dùng nước hay nhóm hộ dùng nước, sự kết hợp giữa quản lý của chính quyền địa phương với cộng đồng, sự đồng nhất giữa người quản lý và người sử dụng công trình Các bộ phận chuyên môn trong đơn vị quản lý (phòng)

Trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý và trình độ nhận thức của nông dân, cụ thể

Một là: Cộng đồng trực tiếp hưởng lợi từ các công trình không được trao quyền quản

lý và sử dụng một cách chính thức Mặc dù trong những năm gần đây, mô hình chuyển giao quyền quản lý công trình thủy nông đặc biệt là các công trình thủy nông vừa và nhỏ

Hai là: Quy chế huy động cộng đồng có vai trò quan trọng của cộng đồng ngay từ giai đoạn khảo sát thiết kế cho đến khi kết thúc và đi vào sử dụng công trình Bên cạnh đó không có sự tham gia đầy đủ, không phát huy được tính tự giác của cộng đồng trong việc quản lý và sử dụng công trình:

- Khảo sát thiết kế: Cán bộ thiết kế chưa nghiên cứu kỹ càng địa chất tại các công trình

và không có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại địa điểm công trình được xây dựng Do tác động của nước tới công trình nên khi công trình hoàn thiện đưa vào sử dụng đã xẩy ra tình trạng vỡ lở ở hệ thống kênh bê tông Từ đó làm hạn chế hiệu quả

sử dụng của công trình Trong giai đoạn khảo sát thiết kế, cho phép khai thác các hiểu biết bản địa thì sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi là rất quan trọng, làm cơ sở cho các giải pháp kỹ thuật của công trình

- Yếu tố kỹ thuật: Kỹ thuật có tác động rất lớn đến việc quản lý và sử dụng các công trình thủy nông Muốn nâng cấp và làm mới công trình cần phải áp dụng các công nghệ làm sao cho phù hợp với điều kiện làm việc cụ thể của từng công trình từ đó việc nâng cấp, xây mới phục vụ hiệu quả và lâu dài hơn như việc phục vụ tưới tiêu tự chảy, bơm đẩy, tưới tràn

Trang 16

- Quản lý chất lượng: Như đã phân tích ở trên thì yếu tố này cũng làm giảm hiệu quả quản lý và sử dụng công trình thủy nông một cách rõ rệt

Ba là: Sự tham gia và ý thức bảo vệ công trình của cộng đồng hưởng lợi

Đây là một trong những yếu tố thể hiện năng lực quản lý và sử dụng các công trình, bởi vì cộng đồng là những người trực tiếp hưởng lợi từ các công trình Nếu phát huy được những mô hình tổ chức thủy nông cơ sở phù hợp với từng vùng, miền và giải pháp để phát triển bền vững cùng với sự phối hợp quản lý và sử dụng của cộng đồng hưởng lợi thì hiệu quả công trình sẽ được nâng cao

c Trang thiết bị, máy móc:

Để nâng cao công tác quản lý, theo dõi, vận hành các công trình đạt hiệu quả cao cần phải được đầu tư nâng cấp, hoàn thiện hệ thống và các trang thiết bị quan trắc, công nghệ để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm về lũ, hạn, mặn, v.v tăng cường năng lực điều hành hệ thống thủy lợi bằng trang thiết bị hiện đại, đồng bộ bảo đảm an toàn công trình, giảm thiểu thiệt hại nhất là thời đại công nghệ 4.0 như: Công nghệ không gian, ảnh vệ tinh, viễn thám, trạm quan trắc, máy tính, phần mềm

1.3 Nội dung công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi

1.3.1 Các mô hình quản lý

Theo số liệu của Tổng Cục Thuỷ lợi, hiện nay cả nước có 96 Công ty khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các Công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số tổ chức sự nghiệp và hàng vạn Tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN) Trong những năm qua, tiếp tục thực hiện lộ trình sắp

Trang 17

xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp các địa phương tiếp tục đổi mới, kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và củng cố tổ chức hoạt động của các

tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Thừa Thiên Huế, Hà Giang, Bắc Cạn, Phú Yên đã thành lập các Chi cục Thuỷ lợi hoặc kiện toàn về tổ chức như Quảng Ngãi Các địa phương khác chưa có Chi cục Thuỷ lợi cũng đang trong quá trình xây dựng Đề án thành lập Chi cục Thuỷ lợi Các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi (KTCTTL) thường xuyên chịu tác động của các chủ trương, chính sách mới, dẫn đến việc thường xuyên đưa vào diện được xem xét tách, nhập, tổ chức lại Một số tỉnh đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp KTCTTL (nay chủ yếu chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV thủy lợi) trong tỉnh như TP.Hà Nội sau khi sáp nhập còn 5 doanh nghiệp KTCTTL liên huyện: Sông Đáy, Sông Tích, Sông Nhuệ, Mê Linh và Hà Nội; tỉnh Hải Dương sát nhập các Công ty KTCTTL huyện thành Công ty KTCTTL tỉnh

1.3.2 Công tác quản lý công trình

Quản lý công trình: Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố trong hệ thống công trình thủy lợi, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài Cụ thể:

- Sử dụng công trình: Dựa vào tình hình và đặc điểm công trình, điều kiện dự báo khí tượng thủy văn và nhu cầu nước trong hệ thống bộ phận quản lý phải xây dựng kế hoạch lợi dụng nguồn nước Trong quá trình lợi dụng tổng hợp cần phải có tài liệu dự báo khí tượng thủy văn chính xác để nắm vững tình hình và xử lý linh hoạt nhằm đảm bảo công trình làm việc an toàn;

- Công tác quan trắc: Cần tiến hành quan trắc thường xuyên, toàn diện Nắm vững quy luật làm việc và những diễn biến của công trình đồng thời dự kiến các khả năng có thể xảy ra Kết quả quan trắc phải thường xuyên đối chiếu với tài liệu thiết kế công trình để nghiên cứu và xử lý;

- Công tác bảo dưỡng: Cần thực hiện chế độ bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ thật tốt để công trình luôn làm việc trong trạng thái an toàn và tốt nhất Hạn chế mức

Trang 18

độ hư hỏng các bộ phân công trình;

- Công tác sửa chữa: Phải sửa chữa kịp thời các bộ phận công trình hư hỏng, không

để hư hỏng mở rộng, đồng thời sửa chữa thường xuyên, định kỳ;

- Công tác phòng chống lũ lụt, hạn hán: Trong mùa mưa, bão hay mùa hè cần tổ chức phòng chống, chuẩn bị đầy đủ các nguyên vật liệu cần thiết và chuẩn bị các phương án ứng cứu đối phó kịp thời với các sự cố xảy ra

1.3.3 Công tác quản lý nước

Điều hòa phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý trong hệ thống công trình thủy lợi, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác

Cần có một kế hoạch dùng nước cụ thể để đảm bảo công trình làm việc đúng theo chỉ tiêu thiết kế, an toàn và kéo dài thời gian phục vụ, đồng thời gắn việc sử dụng nước với công tác quản lý hệ thống công trình vào nề nếp, tạo dựng tác phong làm việc kiểu công nghiệp Bên cạnh xây dựng kế hoạch dùng nước còn cần phải thực hiện ký kết hợp đồng giữa đơn vị cấp nước và đơn vị, cá nhân nhận nước, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ môi trường nước

Các đơn vị quản lý khai thác hệ thống tưới - tiêu nhận đặt hàng, giao kế hoạch là “diện tích (ha) hoặc mét khối (m3) được tưới nước, tiêu nước và cấp nước” Để xác định chính xác đã tưới/tiêu bao nhiêu m3 nước cần phải xây dựng các công trình kiểm soát,

đo đạc nguồn nước trong hệ thống tưới tiêu đầy đủ, đồng bộ và chuẩn hóa Hiện nay nhiều hệ thống còn dùng phao để đo lưu lượng, đa số các hệ thống đều chưa hoàn thiện quy trình quản lý vận hành, việc hướng dẫn, quy định cho công tác quan trắc và kiểm soát nguồn nước còn chưa thật chặt chẽ Ví dụ: theo yêu cầu kỹ thuật cần bố trí công trình đo nước, thiết bị đo nước tại “Thượng, hạ lưu cống lấy nước vào hệ thống, cống đập điều tiết (đầu mối và trên kênh), công trình phân phối nước cho từng hộ dùng nước”, dễ gây hiểu không chính xác, vì số lượng bố trí công trình này trên hệ thống có thể rất nhiều hoặc rất ít, không tạo thuận lợi cho việc áp dụng Ngoài ra, việc quản lý, theo dõi, sổ sách ghi chép, số liệu quan trắc, phân phối nước trên hệ thống không được làm đầy đủ và thường xuyên: các số liệu về nước được đo đạc tại các Cụm, Trạm, ghi chép và lưu trữ ngay tại Cụm, Trạm và báo cáo về công ty hàng ngày, nhưng các số

Trang 19

liệu này mới được lưu trữ ở dạng văn bản ghi chép, chưa có các hướng dẫn hay quy định để các đơn vị quản lý tổng hợp, phân tích, số hóa, tính toán hay sử dụng để xây dựng kế hoạch sản xuất, đánh giá hiệu quả quản lý và vận hành của các cụm trạm, hiệu quả hoạt động của đơn vị…Từ đó hoạt động Quản lý nước tưới tiêu không phản ánh được hiện trạng sử dụng và nhu cầu nâng cao mức thâm canh, hiện trạng cấp nước và hiệu quả sử dụng nước của hệ thống Công tác theo dõi, đánh giá không phản ánh được

sự thỏa mãn nhu cầu sử dụng nước, tính kịp thời, công bằng, năng lực phân phối nước trực tiếp tới mặt ruộng/năng lực của hệ thống kênh mương

1.3.4 Công tác quản lý kinh doanh

Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản

và mọi nguồn lực được giao nhằm thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ khai thác, bảo

vệ công trình thủy lợi, kinh doanh tổng hợp theo quy định của pháp luật

Mô hình tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi bao gồm hai khối: Nhà nước và Nhân dân được phân chia thành ba cấp: Nhà nước (Công ty TNHH MTV nhà nước sở hữu 100% vốn, các công ty khác), tập thể (tổ chức hợp tác dùng nước), các hộ nông dân

1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi

1.4.1 Tổ chức bộ máy

Hiệu quả của tổ chức bộ máy được xác định bởi hai yếu tố:

- Tổ chức bộ máy khoa học

- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

 Tính khoa học của tổ chức bộ máy được thể hiện qua các đặc tính:

- Khách quan: tính pháp lý của tổ chức bộ máy

- Hợp lý: cơ cấu tổ chức bộ máy

- Đồng bộ: mối tương quan giữa yêu cầu chức năng, nhiệm vụ với việc bố trí lao động

- Hiệu quả

Để đạt được những yêu cầu trên, một trong những yếu tố quan trọng là phải xác định

Trang 20

được chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bộ máy, xác định số phòng ban, biên chế cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên cơ sở tiêu chuẩn hoá theo chức danh đối với cán bộ công chức Mỗi cán bộ, công chức phải có trình độ chuyên môn,

lý luận chính trị, ngoại ngữ tương ứng để đảm nhận công việc mà bộ máy tổ chức yêu cầu Việc xác định chức danh cán bộ, công chức thực chất là phân công cán bộ, công chức theo vị trí lao động trong bộ máy và xác định trách nhiệm, thẩm quyền trước bộ máy và pháp luật

 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:

Trong thực tiễn ngành nào, đơn vị nào quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức

có phẩm chất tốt, đủ năng lực hoạt động thì ngành đó, đơn vị đó hoạt động hiệu quả Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phải được tiến hành chặt chẽ: đánh giá đúng thực trạng trình độ, năng lực cán bộ, công chức đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức mà cán bộ đang yếu, đang thiếu

1.4.2 Mức độ hoàn thiện của các kế hoạch

Trên thực tế, khái niệm tiêu chí thường được sử dụng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng, bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng tuân thủ các quy tắc và quy định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó Khái niệm “tiêu chí” còn được sử dụng làm căn cứ để đánh giá, xếp loại, phân loại một

sự vật, hiện tượng nào đó

Mỗi tiêu chí có thể bao gồm một hoặc nhiều chỉ số kiểm định, đánh giá để xác định được kết quả định lượng cụ thể thông qua các cấp độ chất lượng từ thấp đến cao của tiêu chí cụ thể Tiêu chí luôn được xác định trước làm cơ sở khi tiến hành đánh giá, xếp loại hay phân loại một sự vật, hiện tượng Tiêu chí được sử dụng hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, tùy thuộc vào mục đích, tính chất của việc đánh giá, phân loại mà việc xây dựng tiêu chí được quy định theo các bước khác nhau

Trong hoạt động quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng, khái niệm “đánh giá” được hiểu là việc xem xét theo định kỳ một cách hệ thống và khách quan kết quả đạt được của đối tượng đánh giá, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chí đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp

Trang 21

để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động Như vậy, đánh giá không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng Vì thế, đánh giá được xem là một khâu rất quan trọng, đan xen với các khâu kế hoạch và triển khai Đánh giá còn là xem xét tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, ảnh hưởng và tính bền vững của đối tượng được đánh giá Mục đích của việc đánh giá là để xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thành của kết quả đạt được so với các mục tiêu, tính hiệu quả, những tác động khác của kết quả Quá trình đánh giá cần cung cấp thông tin trung thực, khách quan và hữu ích, cho phép lồng ghép những bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của chủ thể quản lý

và đối tượng quản lý

Ngân hàng thế giới đã đưa ra một quan niệm về đánh giá khá rõ ràng, theo đó “Đánh giá là hoạt động đánh giá một cách có hệ thống và khách quan về một dự án, chương trình hay chính sách đang triển khai hoặc đã hoàn thành, bao gồm đánh giá thiết kế, việc thực hiện và kết quả Mục đích đánh giá là tính phù hợp và việc thực hiện các mục tiêu, hiệu suất phát triển, hiệu quả, tác động và sự bền vững Một hoạt động đánh giá cần phải đem lại những thông tin đáng tin cậy và hữu dụng, giúp tổng hợp các bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định…”

Như vậy, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện kế hoạch có thể hiểu là nội dung yêu cầu được xác định trước làm căn cứ, cơ sở để xem xét theo định kỳ một cách hệ thống và khách quan về khả năng đáp ứng của kết quả đối với yêu cầu cần đạt được

Để đánh giá mức độ hoàn thiện kế hoạch của công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi thì nên theo 2 tiêu chí phần trăm hoàn thành và chất lượng hoàn thành kế hoạch đề ra Phần trăm hoàn thành được dùng để đánh giá lượng còn chất lượng hoàn thành để đánh giá chất Nếu thiếu một trong hai tiêu chí này thì việc đánh giá cũng không đạt hiệu quả, bởi nếu làm chỉ chú trọng về tăng lượng nước phục vụ cho người dân, mà không để ý đến chất lượng nguồn nước, chất lượng công trình thủy lợi thì kế hoạch cũng được đánh giá là thất bại

1.4.3 Mức độ lãnh đạo thực hiện hoàn thành kế hoạch

và sử dụng các nguồn lực hợp lý, tăng cường quản lý có sự tham gia của cộng đồng

Trang 22

và đảm bảo đúng mức độ, mục đích phục vụ của các công trình thủy lợi

Mức độ lãnh đạo thực hiện được đánh giá qua mức độ hoàn thành các tiêu chí sau:

- Thiết lập tầm nhìn cho tổ chức: Thông thường nhân tố này bị xem là mông lung, song thực tế cho thấy tầm nhìn chính là ngọn hải đăng chỉ đường cho mỗi tổ chức Không có tổ chức nào có tầm nhìn kém, không có tầm nhìn rõ ràng hay thậm chí không có tầm nhìn lại thành công trong thực tế

- Tập hợp quần chúng: Mức độ tập hợp được quần chúng, mức độ làm cho họ thấu hiểu, thích thú, đam mê và tin tưởng Quần chúng trong trường hợp nào cũng là nền tảng cho thành công

- Cổ vũ, động viên toàn bộ đội ngũ: Công việc quản lý thường làm cho các thành viên

bị ức chế và cảm thấy mất động lực hành động Chính vì vậy sự cổ vũ, động viên của lãnh đạo lại càng cần thiết

- Xây dựng chiến lược cho tổ chức: Đây là công việc hay bị bỏ qua song lại rất cần thiết

- Ra quyết định: Là bước quan trọng nhất, song lại chỉ là kết quả của cả một quá trình

- Tạo ra những sự thay đổi: Tình hình bên ngoài luôn có những biến động; bao gồm

cả môi trường toàn cầu, biến động kinh tế toàn cầu đến tình hình quốc gia, tình hình của cả ngành kinh doanh đó Kết hợp với thay đổi của các nhân tố nội tại công ty đòi hỏi có sự thay đổi và lãnh đạo cần phải là người tạo ra thay đổi đó

- Tạo dựng môi trường làm việc lành mạnh: Cần hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ Có vô số công ty đã thành công trong kinh doanh Song các thành công không tính đến các nhân tố phát triển bền vững sẽ đều phải trả giá sớm muộn

1.4.4 Mức độ kiểm soát các quá trình

Kiểm soát: Là một quá trình theo dõi và đánh giá các kết quả đạt được từ các công trình thủy lợi

Hoạt động kiểm soát cần được thực hiện thường xuyên để phát hiện kịp thời quá trình quản lý khai thác công trình thủy lợi đạt kết quả tốt nhằm khen thưởng động viên kịp thời, ngược lại nhanh chóng đưa ra các giải pháp cải thiện, nâng cao hiệu quả

Trang 23

Tiêu chí đánh giá mức độ kiểm soát các quá trình:

- Mức độ thường xuyên nắm bắt tình hình, thu thập thông tin và thông báo kịp thời, đầy đủ và chính xác cho lãnh đạo để ra quyết định

- Thực hiện báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo, ban ngành liên quan về tình hình, kết quả hoạt động kinh doanh, vấn đề tài chính của tổ chức và việc thực hiện các nhiệm vụ được giao

- Mức độ chủ động báo cáo và khuyến nghị kịp thời tới lãnh đạo về những sai phạm, những hoạt động bất thường, trái với pháp luật và các quy định; Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành công việc kinh doanh của công ty

có hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý khai thác các công trình thủy lợi

để cấp nước sạch nông thôn, cấp và tiêu thoát nước đô thị, công nghiệp, dịch vụ cũng như cho nông nghiệp công nghệ cao nhưng đã không được tận dụng triệt để Phương thức hoạt động như vậy dẫn tới cơ chế tài chính thiếu bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Đồng thời, cơ chế bao cấp đã hạn chế thu hút đầu tư từ khu vực

tư nhân, hạn chế cơ chế cạnh tranh cho đầu tư xây dựng, quản lý khai thác công trình b) Quản lý thủy nông cơ sở chưa phát huy được vai trò chủ thể và quyết định của

Trang 24

người dân, sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương

Việc thành lập và hoạt động của tổ chức thủy nông cơ sở còn mang nặng tính áp đặt, thiếu sự tham gia chủ động, tích cực của người dân Đây là nguyên nhân quan trọng,

cơ bản nhất khiến nhiều tổ chức thiếu bền vững

Chưa làm rõ chủ trương miễn, giảm thủy lợi phí của nhà nước làm cho một bộ phận cán

bộ, người dân coi công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi là nhiệm vụ của nhà nước dẫn tới tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, sử dụng nước lãng phí

Việc hỗ trợ người dân thông qua chính sách miễn, giảm thủy lợi phí là cần thiết nhưng phương thức chi trả theo hình thức gián tiếp (phần lớn cấp bù qua doanh nghiệp), nên chưa gắn kết được trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ với người hưởng lợi, giảm tiếng nói, vai trò giám sát của người dân trong dịch vụ cung cấp nước đồng thời tạo tâm lý sử dụng nước lãng phí

Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý bất cập hiện nay đã hạn chế sự tham gia của các thành phần kinh tế và người hưởng lợi trong quản lý khai thác công trình thủy lợi Các

tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là người dân chưa được tạo điều kiện, cơ chế để tham gia

Chính quyền cấp xã và các tổ chức đoàn thể cơ sở chưa quan tâm đến quản lý công trình thủy lợi, mà coi đó là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn Nhiều công trình thủy lợi phân cấp cho xã quản lý nhưng không có chủ quản lý thực sự

c) Khoa học công nghệ chưa bám sát yêu cầu sản xuất, thiếu động lực áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nguồn nhân lực còn hạn chế

Khoa học công nghệ mặc dù được quan tâm đầu tư rất nhiều bằng nguồn lực trong nước và quốc tế nhưng việc áp dụng và hiệu quả hạn chế: Khoa học công nghệ chưa bám sát hoặc dự báo đúng nhu cầu thực tế, chậm áp dụng công nghệ tiên tiến trong dự báo hạn, úng, xâm nhập mặn, hỗ trợ ra quyết định trong phòng chống thiên tai; nguồn lực phân tán, dàn trải, năng lực công nghệ không được nâng cao, không được đơn vị sản xuất chấp nhận Số lượng đề tài khoa học công nghệ có kết quả ứng dụng vào sản

Trang 25

xuất rất thấp (20-30%), hoặc chỉ được áp dụng trong phạm vi hẹp, không có tác động lớn cho phát triển thủy lợi; còn nặng về công nghệ, xem nhẹ nghiên cứu nâng cao năng lực thể chế, làm luận cứ cho xây dựng cơ chế, chính sách Hiệu quả hợp tác quốc tế trong việc ứng dụng, học tập kinh nghiệm quốc tế về quản lý khai thác công trình thủy lợi còn thấp

Cơ chế quản lý không tạo được động lực và nhiều lúc còn là rào cản cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là các dự án đầu tư công Việc nghiên cứu cơ chế, chính sách tạo động lực, đổi mới công tác quản lý khai thác, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành công trình thủy lợi chưa được quan tâm đúng mức, nhất là kỹ thuật sử dụng nước tiết kiệm

d) Cải cách thể chế, cải cách hành chính chậm, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao

Quản lý khai thác công trình thủy lợi chủ yếu vẫn thực hiện theo cơ chế bao cấp, với hình thức giao kế hoạch, theo cơ chế cấp phát - thanh toán không gắn với số lượng, chất lượng sản phẩm nên việc hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức, gây nên sự trì trệ, yếu kém trong quản lý khai thác công trình thủy lợi Vai trò của các cơ quan chuyên ngành mờ nhạt trong khi cơ quan cấp phát không chịu trách nhiệm đến kết quả cuối cùng, chưa tạo sự chủ động cho tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi Phân phối lương không dựa vào kết quả làm bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp

Thiếu cơ chế chính sách tạo động lực để người dân tham gia xây dựng, quản lý khai thác công trình thủy lợi nội đồng Thiếu cơ chế, động lực để thu hút nguồn nhân lực có trình

độ, chất lượng cao Thiếu thể chế ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm của người đứng đầu với hiệu quả sử dụng tiền vốn, tài sản, lao động của nhà nước

Phân giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cơ quan chuyên ngành và các cơ quan phối hợp trong quản lý tài nguyên nước, quản lý khai thác công trình thủy lợi thiếu tính khoa học và chưa phù hợp với xu hướng đổi mới quản lý dịch vụ công theo cơ chế thị trường

Trang 26

Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi chưa phù hợp, nên hiệu lực và hiệu quả chưa cao

e) Nhận thức về quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi còn hạn chế

Nhận thức của một số lãnh đạo quản lý và người dân chưa đúng, chưa đủ về các chính sách hiện hành trong quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đặc biệt là chính sách miễn, giảm thủy lợi phí Phần lớn hiểu chính sách miễn, giảm thủy lợi phí là bỏ thủy lợi phí, trong khi đó thực chất đây là hỗ trợ của Nhà nước nhằm giảm gánh nặng chi phí sản xuất nông nghiệp cho người dân và có nguồn kinh phí để tu sửa, chống xuống cấp công trình Do vậy, đã không phát huy được sự tham gia của người dân trong quản lý khai thác công trình thủy lợi, đặc biệt là công trình thủy lợi nội đồng Ở một số địa phương, người dân không nộp thủy lợi phí nội đồng, coi công tác thủy lợi là trách nhiệm của Nhà nước Tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước vẫn còn nặng nề, đặt nặng vấn đề đầu tư xây dựng công trình, xem nhẹ quản lý, chưa khơi dậy và huy động được sức mạnh toàn dân, toàn xã hội tham gia vào xây dựng, quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

f) Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng chưa được coi trọng

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đòi hỏi yêu cầu cao hơn về thủy lợi; yêu cầu tiêu, thoát nước của nhiều khu vực tăng lên nhiều so với trước đây, nhu cầu nước cho sinh hoạt, công nghiệp từ hệ thống công trình thủy lợi tăng, mức đảm bảo an toàn tăng

Tổ chức sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả sản xuất thấp khiến nông dân chưa quan tâm nhiều đến thủy lợi

Trang 27

1.6 Tổng quan về hệ thống tổ chức quản lý công trình thủy lợi ở nước ta trong thời gian qua

1.6.1 Về quản lý nhà nước

Để quản lý, khai thác và sử dụng công trình thủy lợi, trong nhiều năm qua Nhà nước

và các địa phương đã quan tâm xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý, thể chế và chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống công trình thủy lợi, đáp ứng yêu cầu nước cho các ngành kinh tế, xã hội và môi trường

Kết quả điều tra đến hết năm 2011, hiện trạng mô hình quản lý, khai thác công trình thủy lợi trên phạm vi cả nước khá đa dạng với nhiều loại mô hình khác nhau UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý ngành

về thủy lợi các cấp trên địa bàn như sau:

a Tổ chức bộ máy cấp tỉnh

Tất cả các tỉnh điều tra trên cả nước đều có mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước quản lý thủy lợi là các Chi cục thủy lợi, hoặc ở một số tỉnh là Chi cục thủy lợi và phòng chống lụt bão, Chi cục Thủy lợi và Thủy sản (tỉnh Gia Lai); có tỉnh thành lập Phòng thủy lợi thuộc sở (tỉnh Đồng Nai) Trong tổng số 63 tỉnh thành trên cả nước có: 24 tỉnh thành lập Chi cục Thủy lợi và phòng, chống lụt, bão; 22 tỉnh thành lập Chi cục Thủy lợi; 15 tỉnh thành lập Chi cục Thủy lợi và Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão; 01 tỉnh thành lập Chi cục Thủy lợi – Thủy sản (tỉnh Gia Lai); 01 tỉnh không thành lập Chi cục chuyên ngành thủy lợi mà chỉ có Phòng Thủy lợi thuộc sở Nông nghiệp và PTNT (tỉnh

Đồng Nai)

Trang 28

Hình 1.1: Mô hình tổ chức và quản lý hệ thống thủy nông tỉnh

Nguồn: Trung tâm Tư vấn & Chuyển giao Công nghệ Thủy lợi

Số lượng và trình độ nhân lực của chi cục quản lý về thủy lợi của các tỉnh trên cả nước như ở bảng sau

Bảng 1.1: Nhân lực của chi cục quản lý về thủy lợi của các tỉnh

đẳng

Trung cấp

1 Vùng Miền núi phía Bắc 219 132 6 19 62

PHÒNG NÔNG NGHIỆP

TỔ THỦY LỢI

UBND XÃ

CÔNG TY THỦY NÔNG TỈNH (Quản lý từ kênh cấp I đến điểm nhận nước của Hội dùng nước)

Tổ chức dùng

Tổ chức dùng

Tổ chức dùng

Trang 29

 Đánh giá những mặt mạnh, yếu của tổ chức quản lý nhà nước cấp tỉnh trong vùng:

 Điểm mạnh

- Đội ngũ nhân sự của chi cục quản lý thủy lợi nhìn chung đang được trẻ hóa, nhiệt tình làm việc Hầu hết đều là con em địa phương nên hiểu rất rõ địa hình, đặc điểm công trình thủy lợi ở địa phương

 Điểm yếu

- Đội ngũ nhân sự của chi cục hầu hết còn trẻ nên rất thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý CTTL Bên cạnh đó, đa số là con em đồng bào dân tộc nên trình độ và năng lực chưa cao

- Thu nhập của chuyên viên chi cục thủy lợi chỉ có từ lương ngân sách nhà nước nên không thu hút được nguồn năng lực có trình độ cao về làm việc

- Các công trình thủy lợi của vùng miền núi, vùng sâu thường là nhỏ lẻ, manh mún và

có số lượng công trình rất lớn trong khi nguồn nhân sự của chi cục mỏng nên Chi cục thủy lợi gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý

Mặt khác, các công trình thủy lợi nhỏ hầu hết đều do người dân tự làm nên không có

hồ sơ thiết kế, một số công trình có hồ sơ thiết kế nhưng được xây dựng từ rất lâu nên

bị thất lạc trong lũ lụt và chiến tranh

- Các Chi cục thủy lợi chưa thực sự quan tâm đến công tác tăng cường năng lực, phát huy sự tham gia của cộng đồng trong công tác QLKT CTTL

- Trang thiết bị, phương tiện đi lại phục vụ cho hoạt động của các Chi cục chưa đầy

Trang 30

- Mối quan hệ giữa các cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp & PTNT trong quản lý nhà nước, sự nghiệp công và doanh nghiệp công ích về thủy lợi chưa rõ, làm hạn chế vai trò, hiệu lực của các tổ chức này Cơ cấu tổ chức ngành thủy lợi có tỉnh được phân ra thành cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lý đầu tư xây dựng công trình riêng biệt, cả ở cấp tỉnh và cấp huyện Mối quan hệ giữa hai nhóm

cơ quan này thiếu chặt chẽ, ảnh hưởng nhiều đến việc quản lý, đánh giá chất lượng công trình sau đầu tư cũng như việc bàn giao quản lý, sử dụng công trình

b Tổ chức bộ máy cấp huyện

Ở cấp huyện, hiện không có phòng chuyên trách về thủy lợi, đê điều Theo Nghị định

số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008, Phòng Nông nghiệp & PTNT ở các huyện và Phòng Kinh tế ở các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, tham mưu, giúp ủy ban cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương về: Nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi, thủy sản, phát triển nông thôn, phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề ở nông thôn và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật, bảo đảm thống nhất quản lý của ngành, lĩnh vực công tác ở địa phương Như vậy nhiệm vụ quản lý về nước sạch nông thôn ở cấp huyện không rõ, chưa có và thực tế hiện nay chưa có huyện nào có tổ chức quản lý nhà nước về lĩnh vực này Phòng NN & PTNT, phòng kinh tế thực hiện quản lý kỹ thuật về thuỷ lợi trên địa bàn huyện, giám sát hiệu quả hoạt động quản lý công trình thủy lợi của các tổ chức dùng nước

- Hướng dẫn kỹ thuật vận hành bảo dưỡng CTTL cho các tổ chức dùng nước

- Kiểm tra, hỗ trợ công tác phòng chống lụt bão đảm bảo an toàn hồ đập

- Theo kết quả điều tra, số lượng và trình độ nhân lực quản lý thủy lợi của phòng nông nghiệp, kinh tế quản lý về thủy lợi của các tỉnh như ở Bảng 1.2

Trang 31

Bảng 1.2: Nhân lực của bộ máy quản lý thủy lợi cấp huyện

1 Vùng Miền núi phía Bắc 186 122 7 41 16

Nguồn: Trung tâm Tư vấn & Chuyển giao Công nghệ Thủy lợi

Từ bảng trên cũng cho thấy số lượng nhân sự của bộ máy quản lý thủy lợi cấp huyện là rất khác nhau tại các tỉnh Hầu hết các tỉnh nguồn nhân lực quản lý thủy lợi cấp huyện còn rất mỏng, mỗi huyện chỉ có từ 1-2 cán bộ quản lý thủy lợi

Nhìn chung, nguồn nhân sự quản lý ở cấp huyện của đa số các tỉnh còn thiếu nên chưa thể đáp ứng yêu cầu cơ bản về công tác quản lý CTTL ở huyện Trình độ đại học có chuyên môn về thủy lợi ở các huyện còn ít, số nhân sự có trình độ trung cấp và không

có chuyên môn về thủy lợi hiện nay tại các huyện chiếm khoảng 30,8%

 Đánh giá tình hình chung của tổ chức quản lý nhà nước cấp huyện

Đại đa số các phòng nông nghiệp huyện chưa phối hợp chặt chẽ với các ban chuyên môn cấp xã (nông nghiệp, giao thông - thủy lợi xã) nên hầu như không nắm được các thông tin về CTTL và tổ chức quản lý ở cấp xã

Nhân lực quản lý thủy lợi ở các phòng nông nghiệp huyện còn thiếu và yếu, trong khi các công trình thủy lợi ở một số tỉnh như miền núi lại nhỏ lẻ, manh mún và có số lượng công trình rất lớn nên gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý công trình thủy lợi ở các huyện

Trang 32

Các phòng nông nghiệp hầu hết chỉ quan tâm đến công tác mùa vụ, phòng chống lụt bão, hạn hán, mà ít quản tâm thực hiện quản lý kỹ thuật về thủy lợi và giám sát, tăng cường hoạt động quản lý CTTL của TCDN

Do biên chế phòng Nông nghiệp hoặc Phòng Kinh tế của các huyện chỉ có khoảng

7-10 cán bộ, phụ trách nhiều lĩnh vực, nên việc bố trí cán bộ chuyên trách có chuyên môn về thủy lợi còn bất cập và phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm của lãnh đạo UBND huyện Hiện nay, số cán bộ phụ trách về thủy lợi có chuyên ngành về thủy lợi rất ít, có tỉnh không có cán bộ chuyên ngành thủy lợi (Đà Nẵng, Đắk Nông)

c Tổ chức bộ máy cấp xã

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thủy lợi ở cấp xã là UBND xã, UBND xã chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước và bảo vệ các công trình trên địa bàn xã, nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Quyết định củng cố, thành lập các Tổ chức dùng nước quản lý công trình có quy mô phục vụ tưới, tiêu cho 1 thôn, liên thôn

- Quản lý, giám sát tổ chức và hoạt động của các TCDN

- Phối hợp, giải quyết các vướng mắc cản trở đến việc tổ chức và hoạt động của TCDN

- Giải quyết tranh chấp về nước giữa các hộ dùng nước, xử lý các trường hợp vi phạm trong công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi

Đối với các tỉnh vùng miền núi phía Bắc, mỗi tỉnh có khoảng 200 xã, phường có CTTL Mỗi xã thường có một cán bộ chuyên trách về thủy lợi hoặc phụ trách về giao thông thủy lợi Mỗi tỉnh chỉ có khoảng 1-2 cán bộ ở cấp xã có trình độ đại học về chuyên môn thủy lợi, còn lại hầu hết có trình độ trung cấp về thủy lợi hoặc về kinh tế

Bộ máy quản lý thủy lợi cấp xã các tỉnh vùng ĐBSCL hầu như không có chuyên môn về thủy lợi và đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm Nhiều xã không có cán bộ quản lý thủy lợi, ở các xã có cán bộ phụ trách thủy lợi, bình quân mỗi xã có 01 cán bộ quản lý trực tiếp các HTX dịch vụ thủy lợi và các Tổ hợp tác dùng nước trên địa bàn Hoạt động

Trang 33

của các tổ chức này chịu sự quản lý của các UBND xã

Tổ chức quản lý, vận hành công trình thủy lợi trên địa bàn xã có các tổ chức hợp tác dùng nước tham gia quản lý, khai thác công trình thủy lợi nội đồng Theo số liệu điều tra hiện nay cả nước có 13.935 tổ chức hợp tác dùng nước (Hợp tác xã nông nghiệp, ban quản lý thủy nông, tổ đường nước, hội dùng nước) và 9.159 các tổ đội nhỏ lẻ khác

Do điều kiện kinh tế xã hội và dân sinh, nhiều huyện xã miền núi ở các tỉnh không thành lập được mô hình hợp tác xã, UBND xã phải cử cán bộ trực tiếp phụ trách hoặc

có địa phương Phòng Nông nghiệp & PTNT phải trực tiếp cử cán bộ kiêm nghiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi

1.6.2 Về mô hình tổ chức quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

a Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi

Theo kết quả điều tra của dự án, công tác tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi trên toàn quốc hiện nay bao gồm 4 mô hình như sau:

+ Mô hình Công ty quản lý khai thác cấp tỉnh: Hiện có 49/63 tỉnh tồn tại mô hình Doanh nghiệp QLKT CTTL cấp tỉnh, các Doanh nghiệp hoạt động theo mô hình Công

ty TNHH MTV khai thác CTTL, chỉ riêng có 2 tỉnh là Sơn La và tỉnh Sóc Trăng là mô hình công ty Cổ phần thủy lợi

+ Mô hình Chi cục thủy lợi kiêm luôn quản lý khai thác: Hiện có 3/63 tỉnh tồn tại mô hình Chi cục thủy lợi vừa làm công tác quản lý nhà nước vừa làm công tác quản lý khai thác CTTL (Cà Mau, Hậu Giang, Kiên Giang) đối với mô hình này các Chi cục có thêm phòng QLKT CTTL hoặc giao hạt đê điều (ở Kiên Giang) và chia ra làm các đội quản lý

ở cấp cơ sở để trực tiếp thực hiện quản lý vận hành các CTTL

+ Mô hình Trung tâm QLKT, Ban Quản lý khai thác: Hiện nay có 4/63 tỉnh tồn tại mô hình trung tâm QLKT CTTL cấp tỉnh (Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Long An), đối với mô hình này các Trung tâm hoạt động theo nhiệm vụ của đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc Sở NN&PTNT thực hiện quản lý vận hành hệ thống CTTL được giao

Trang 34

+ Mô hình Ban Quản lý khai thác: Hiện nay có 3/63 tỉnh tồn tại mô hình Ban QLKT cấp tỉnh (Tuyên Quang, Kon Tum, An Giang), đối với mô hình này các Ban hoạt động theo nhiệm vụ của đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc Sở NN&PTNT thực hiện quản lý vận hành HTCTTL được giao

Theo điều tra, hiện nay toàn quốc có 93 doanh nghiệp Công ty TNHH MTV quản lý khai thác (trong đó có 3 công ty Bộ Quản lý là Công ty Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải

và Dầu Tiếng), 02 công ty cổ phần khai thác, 03 Ban quản lý khai thác tỉnh và 04 Trung tâm quản lý khai thác tỉnh Chi tiết mô hình quản lý doanh nghiệp ở các địa phương thể hiện Bảng 1.3

Bảng 1.3: Các Loại hình doanh nghiệp quản lý

Ban QLKT thuộc tỉnh

Trung tâm

KT thuộc tỉnh

1 Đồng bằng sông Hồng 2 0 37 0 0

2 Trung du và miền núi phía bắc 0 1 16 1 0

3 Bắc Trung Bộ và duyên hải

Nguồn: Trung tâm Tư vấn & Chuyển giao Công nghệ Thủy lợi

b Loại hình tổ chức thủy nông cơ sở

- Theo kết quả điều tra hiện nay trên cả nước tồn tại ba mô hình chủ yếu quản lý thủy lợi cơ sở đó là:

+ Loại hình hợp tác xã nông nghiệp làm dịch vụ thủy thủy lợi

+ Loại hình hợp tác xã làm dịch vụ thủy lợi

+ Loại hình các Tổ chức hợp tác dùng nước: Ban quản lý thủy nông, Tổ đường nước, Hội dùng nước

Ngoài ra còn nhiều tư nhân tự bơm tát phục vụ sản xuất của gia đình và cung cung cấp dịch vụ bơm tát cho một số hộ bên cạnh

Trang 35

Bảng 1.4: Các loại hình tổ chức dùng nước

STT Tên vùng

Tổ hợp tác dùng nước UBND xã HTXNN Ban quản lý

thủy nông

Tổ đường nước

Hội dùng nước

Nguồn: Trung tâm Tư vấn & Chuyển giao Công nghệ Thủy lợi

Kết quả điều tra cho thấy số lượng lao động bình quân của 1 tổ chức hợp tác dùng nước các vùng như Bảng 1.5

Bảng 1.5: Số lượng lao động bình quân của một TCHTDN

đơn vị

Thành viên ban quản trị

Thủy nông viên

Lao động khác

1 Đồng bằng sông Hồng Người 16 4 11 1

2 Trung du và miền núi phía bắc Người 10 2 7 -

3 Bắc Trung Bộ và duyên hải MT Người 13 3 9 1

6 Đồng bằng sông Cửu Long Người 13 5 9 0

Nguồn: Trung tâm Tư vấn & Chuyển giao Công nghệ Thủy lợi

Bảng 1.6: Cơ cấu về trình độ lao động bình quân trong các TCHTDN

vị Đại học Cao đẳng

Trung cấp Sơ cấp

Đào tạo khác

Chưa qua đào tạo

Trang 36

Những khó khăn tồn tại của các tổ chức hợp tác dùng nước

- Một số loại hình tổ hợp tác không đủ tư cách pháp nhân (không có con dấu, tài khoản) và quy chế hoạt động nên không nhận được tiền cấp bù thủy lợi phí

- UBDN xã là đơn vị quản lý nhà nước về công trình thủy lợi, không phải là đơn vị quản lý khai thác CTTL

- Hiệu quả hoạt động và sự bền vững của các Tổ chức Hợp tác dùng nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm: thể chế, chính sách, sự quan tâm của các ngành các cấp, đặc biệt là chính quyền địa phương, nguồn nhân lực và 51 năng lực của chính Tổ chức Hợp tác dùng nước, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và loại hình và đặc thù công trình thủy lợi

- Do tính đa dạng của Tổ chức Hợp tác dùng nước nên rất khó áp dụng một cách đồng

bộ cơ chế chính sách hiện hành trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi cho các loại hình Tổ chức Hợp tác dùng nước, đặc biệt đối với những tổ chức không có tư cách pháp nhân Vì vậy, song song với việc củng cố, tăng cường, và phát triển mô hình tổ chức phù hợp cần ban hành chính sách tương ứng đi kèm để đảm bảo các mô hình Tổ chức Hợp tác dùng nước hoạt động hiệu quả, bền vững

- Đối với những Tổ chức Hợp tác dùng nước hoàn chỉnh (có tư cách pháp nhân, tài khoản và con dấu, có trụ sở làm việc) như Hợp tác xã nông nghiệp, Hợp tác xã dùng nước, Ban quản lý thủy nông, việc hoạt động thuận lợi trong công tác quản lý, sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí Ngược lại những Tổ chức Hợp tác dùng nước chưa hoàn chỉnh (không có tư cách pháp nhân, tài khoản và con dấu) như Tổ hợp tác, việc hoạt động khó khăn xuất phát từ việc khó triển khai và quản lý nguồn cấp bù thủy lợi phí

- Việc quy định thu TLP nội đồng ở một số địa phương thấp, chưa phù hợp với tình hình thực tế Thậm chí nhiều địa phương còn chưa có quy định mức trần thủy lợi phí nội đồng (Gia Lai, Lâm Đồng…) Vì vậy, nguồn thu không đủ để các Tổ chức Hợp tác dùng nước bảo dưỡng, nạo vét kênh mương, chi trả tiền công dẫn nước Điều này làm cho công trình nhanh xuống cấp, hư hỏng và không phát huy hiệu quả theo thiết kế Nhiều Tổ chức Hợp tác dùng nước có nguy cơ tan rã

Trang 37

- Việc một số địa phương miễn thu TLP đến mặt ruộng cho người dân, trong khi người dân ở một số địa phương cho rằng Chính phủ miễn hoàn toàn thủy lợi phí cho sản xuất nông nghiệp nên không nộp TLP nội đồng Điều này đã ảnh hưởng không tốt đến nguồn thu và qua đó tác động tiêu cực đến hoạt động làm tăng nguy cơ tan rã của các

Tổ chức Hợp tác dùng nước tại một số địa phương như Lâm Đồng

- Một số Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoạt động còn kém hiệu quả, ngoài những nguyên nhân trên còn do việc chưa thực sự đổi mới về tổ chức, quản lý và hoạt động theo đúng nguyên tắc của Hợp tác xã Nhận thức của đội ngũ cán bộ chủ chốt của Hợp tác xã còn hạn chế nên thiếu động lực phát triển.Ý thức của người dân chưa cao, chưa phát huy được vai trò trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các Tổ chức Hợp tác dùng nước còn nghèo nàn, trình độ công nghệ thấp chưa phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý khai thác Nhiều Tổ chức Hợp tác dùng nước đặc biệt là các Tổ chức hợp tác thậm chí còn chưa

có trụ sở làm việc

1.6.3 Về nội dung quản lý

Quản lý công trình thủy lợi là một nghệ thuật điều hành xây dựng hệ thống hoạt động nghiên cứu triển khai, thiết kế, duy tu bảo dưỡng công trình thủy lợi và kết hợp tổng thể các nguồn nhân lực với các nguồn vật chất thông qua một chu trình khép kín của công trình, bằng việc sử dụng các kỹ năng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu như thiết

kế ban đầu và mục đích phục vụ của công trình, đồng thời nhằm bảo đảm phát huy hết năng lực và công suất làm việc của các công trình thủy lợi

Các công trình thủy lợi cần được quản lý theo pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Cần phải ban hành các luật cụ thể về khai thác sử dụng các công trình thủy lợi để hướng các cá nhân, các công ty, doanh nghiệp có các hoạt động kinh doanh sản xuất phù hợp với mục đích bảo vệ công trình Công trình thủy lợi cần phải giao cho các tổ chức của địa phương đặc biệt quan tâm tới cộng đồng quản lý dưới các hình thức ban tự quản và nhóm sử dụng nước Mặt khác, phải điều tra hiện trạng các công trình thủy lợi, lên quy hoạch duy tu bảo dưỡng, sửa chữa và bảo vệ công trình Khẩn

Trang 38

trương tiến hành các chương trình dự án duy tu, sữa chữa, nâng cấp và làm mới các công trình để đảm bảo cho sự phát triển

Việc quản lý các công trình thủy lợi bao gồm các nội dung sau:

Sử dụng công trình: Cần có một kế hoạch dùng nước cụ thể để đảm bảo công trình

làm việc đúng theo chỉ tiêu thiết kế, an toàn và kéo dài thời gian phục vụ, đồng thời gắn việc sử dụng nước với công tác quản lý hệ thống công trình vào nề nếp, tạo dựng tác phong làm việc theo kiểu công nghiệp và nâng cao nghiệp vụ quản lý cán bộ Bên cạnh xây dựng kế hoạch dùng nước phải có phương án bảo vệ công trình thủy lợi và thực hiện ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp Nhà nước khai thác công trình thủy lợi, tổ chức hợp tác dùng nước, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ môi trường

nước

Quan trắc: Cần tiến hành quan trắc thường xuyên, toàn diện Nắm vững quy luật làm

việc và những diễn biến của công trình đồng thời dự kiến các khả năng có thể xảy ra Kết quả quan trắc phải thường xuyên đối chiếu với tài liệu thiết kế công trình để

nghiên cứu và xử lý

Bảo dưỡng: Cần thực hiện chế độ bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ thật tốt để

công trình luôn làm việc trong trạng thái an toàn và tốt nhất Hạn chế mức độ hư hỏng

các bộ phận công trình

Sửa chữa: Phải sữa chữa kịp thời các bộ phận công trình hư hỏng, không để hư hỏng

mở rộng, đồng thời sửa chữa thường xuyên, định kỳ

Phòng chống lũ lụt: Trong mùa mưa, bão, cần tổ chức phòng chống, chuẩn bị đầy đủ các nguyên vật liệu cần thiết và chuẩn bị các phương án ứng cứu đối phó kịp thời với

các sự cố xảy ra

Tưới nước và tiêu nước: Cần có kế hoạch tưới tiêu hợp lý theo từng mùa vụ trong năm để đảm bảo duy tu và vận hành hệ thống thủy lợi một cách tốt nhất

Quản lý tài chính: Bao gồm quản lý nguồn thu và quản lý các khoản chi trong hoạt

động QLKT Hàng năm căn cứ và quy định và huớng dẫn của cơ quan quyết định

Trang 39

thành lập doanh nghiệp và các cơ quan tài chính các đơn vị QLKT CTTL lập dự toán thu chi tài chính báo cáo cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan tài

chính cung cấp Nguồn thu của đơn vị QLKT CTTL bao gồm:

+ Doanh thu từ dịch vụ tưới, tiêu: Chủ yếu là khoản thu từ cấp bù thủy lợi phí được cấp

+ Kinh phí thu từ hoạt động kinh doanh khai thác tổng hợp CTTL như: Nuôi bắt thủy sản, cho thuê âu thuyền, kinh doanh du lịch, phát điện, cấp nước cho công nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh khác

+ Kinh phí từ các khoản cấp bù, hỗ trợ của nhà nước theo quy định

+ Doanh thu khác như khoản nợ khó đòi đã xóa nợ nay lại thu được, khoản thu thanh

lý, nhượng bán tài sản, liên doanh liên kết, cho thuê tài chính và các khoản thu khác + Nguồn cấp phát các khoản hỗ trợ tài chính của đơn vị QLKT CTTL được chủ tịch UBND thành phố quyết định cấp từ ngân sách địa phương

- Các khoản chi của đơn vị QLKT CTTL bao bồm:

+ Tiền lương và phụ cấp lương + Các khoản nộp theo lương như BHXH, BHYT + Khấu hao cơ bản

+ Nguyên vật liệu để vận hành, bảo dưỡng công trình

+ Sữa chữa lớn TSCĐ

+ Sửa chữa thường xuyên TSCĐ

+ Chi phí tiền điện bơm nước tưới tiêu

+ Chi trả tạo nguồn

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp

+ Chi phí cho công tác thu thủy lợi phí

+ Chi phí cho hoạt động khác như các chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ khó đòi

Trang 40

đã được xóa nợ, chi phí thanh lý tài sản

1.7 Bài học kinh nghiệm trong công tác nâng cao năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi

1.7.1 Những kinh nghiệm

1.7.1.1 Kinh nghiệm về quản lý khai thác các công trình thủy lợi trên thế giới

Để phát triển sản xuất nông nghiệp, hầu hết Chính phủ các nước trên thế giới đều rất chú trọng đến công tác thủy lợi cả về đầu tư xây dựng hệ thống các công trình thủy lợi,

cả về quản lý, khai thác các công trình Tùy theo điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước mà Chính phủ quan tâm, đầu tư cho công tác thủy lợi theo các mức độ khác nhau

Công tác quản lý, khai thác các công trình thủy lợi ngày càng được hoàn thiện đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực khác kịp thời, hiệu quả Hình thức

tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi rất đa dạng, phong phú như: các Công ty Nhà nước trực tiếp quản lý, các Hợp tác xã, Tổ chức hợp tác dùng nước… Mô hình quản lý, khai thác phổ biến và có hiệu quả cao nhất ở đại đa số các nước là sự kết hợp giữa Nhà nước với các tổ chức của người dân

Một xu hướng chung gần đây trong tổ chức quản lý, khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp là khuyến khích sự tham gia của cộng đồng những người hưởng lợi trực tiếp từ các công trình thủy lợi Người dân được huy động ngay từ khâu thiết kế tới thi công, quản lý, sử dụng và bảo vệ công trình thủy lợi

* Kinh nghiệm ở Nhật Bản

Mô hình quản lý thủy nông Nhật Bản rất nổi tiếng trên thế giới bởi tính bền vững và hiệu quả của nó Ngày nay, tổ chức quản lý hệ thống thủy nông và cải tạo đất chủ yếu

ở Nhật Bản là hội cải tạo đất (LID)

Thành viên của LID là toàn bộ nông dân canh tác đất đai trên phạm vi hệ thống Tổ chức quyền lực cao nhất của LID là đại hội đại biểu Cơ quan điều hành là ban giám đốc và ban thanh tra do hội đồng đại biểu bầu ra Hoạt động của LID do các bộ phận chuyên ngành đảm nhiệm, mỗi bộ phận do một hoặc vài giám đốc điều hành LID là

Ngày đăng: 24/06/2020, 11:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w