Phật giáo với tư cách là một tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, vìvậy, trong giai đoạn hiện nay khi vấn đề toàn cầu hóa đang ngày càng mởrộng, đặt ra những thách thức đối với sự đổi m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=== *** ===
NGUYỄN THỊ HỒNG
VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VĂN HÓA PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Thị Kim Oanh
Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong các côngtrình khác
Các số liệu, tài liệu được trích dẫn, sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung nghiên cứu của đề tài
Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên và sâu sắc của tôi xin được dành gửi tới Cô giáoPGS TS Trần Thị Kim Oanh - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thànhluận văn Nhờ sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình và những lời động viên của Cô đãgiúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo Khoa Triết học, TrườngĐại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, đã quantâm tạo điều kiện thuận lợi, dành nhiều công sức giảng dạy, hướng dẫn tôitrong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến những người thântrong gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi có thể hoànthành tốt nhiệm vụ học tập trong thời gian qua
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài, songkhông thể tránh khỏi những sai sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự cảmthông và đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô giáo, các bạn đồng nghiệp vànhững người quan tâm đến các vấn đề được trình bày trong luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ VỊ TRÍ CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM 9
1.1 Văn hóa Phật giáo và biểu hiện của Văn hóa Phật giáo 9
1.1.1 Khái niệm “Văn hóa Phật giáo” 9
1.1.2 Biểu hiện của Văn hóa Phật giáo 14
1.2 Vị trí của Văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam 33
1.2.1 Văn hóa Phật giáo với văn hóa truyền thống Việt Nam 34
1.2.2 Văn hóa Phật giáo với văn hóa tín ngưỡng Việt Nam 39
CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ BẢO TỒN VĂN HÓA PHẬT GIẢO VIỆT NAM HIỆN NAY 48
2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn văn hóa Phật giáo 49
2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn văn hóa Phật giáo 49
2.1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn văn hóa Phật giáo 53
2.2 Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với bảo tồn văn hóa Phật giáo 61
2.2.1 Nét đặc trưng của Giáo hội Phật giáo 61
2.2.2 Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với bảo tồn văn hóa Phật giáo 66
2.3 Một số giải pháp bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay 74
2.3.1 Giải pháp bảo tồn những giá trị văn hóa vật thể của Phật giáo 75
2.3.2 Giải pháp bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể của Phật giáo 80
2.3.3 Một số kiến nghị 85
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 99
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới (cùng với đạo Kitô
và đạo Hồi), ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên
Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (đầu Công nguyên), Phật giáo đã nhanhchóng hòa mình cùng dòng chảy của văn hóa dân tộc Việt Nam, gần gũi vàthấm sâu trong tâm thức của người dân Việt, dung hợp với tín ngưỡng bảnđịa, tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, thổi vào văn hóaViệt Nam một làn gió văn hóa mới, đó chính là văn hóa Phật giáo Trải quahơn 2.000 năm du nhập và phát triển ở Việt Nam, Phật giáo đã chứng tỏ được
vị thế của mình, gắn bó cùng dân tộc, hòa quyện với văn hóa dân tộc, nhữngthành tố văn hóa dân tộc Việt Nam như: ngôn ngữ, niềm tin, tập quán, vănhọc, nghệ thuật… không đâu là không có dấu ấn của văn hóa Phật giáo Giáo
lý, đạo đức Phật giáo với sự đề cao tính nhân ái, vị tha, khuyên răn con ngườitránh điều ác, làm điều thiện, tất cả đều gần gũi với tư duy, lối sống và vănhóa của con người Việt Nam Phật giáo đã đóng góp những giá trị văn hóa củamình để làm giàu và phong phú hơn cho kho tàng văn hóa Việt Nam Chínhbởi vậy, văn hóa Phật giáo được xem như một thành tố không thể thiếu củanền văn hóa dân tộc Việt Nam
Phật giáo với tư cách là một tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, vìvậy, trong giai đoạn hiện nay khi vấn đề toàn cầu hóa đang ngày càng mởrộng, đặt ra những thách thức đối với sự đổi mới và phát triển văn hóa, conngười Việt Nam thì văn hóa Phật giáo với những giá trị của mình sẽ ảnhhưởng trực tiếp và đóng vai trò là một chủ thể quan trọng để trở thành cầu nốicho văn hóa Việt Nam sánh bước phát triển cùng với nhiều nền văn hóa kháctrên thế giới Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, khi hiện tượng xâm lăng vănhóa, những làn sóng văn hóa ngoại lai đang trở thành rào cản, làm mất đi
Trang 7những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc ta thì việc nghiên cứu vềvăn hóa Phật giáo và bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam với mục đích gìn giữ
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc lại càng trở nên ý nghĩa và thiết thực
Trên tinh thần của nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm, Ban chấp hành
Trung Ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời xuất phát từ những suy nghĩ như
trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Văn hóa Phật giáo và vấn đề bảo tồn
văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay” làm luận văn của mình Với đề tài này,
chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn hóa Phật giáo,đồng thời nhận định rõ hơn vị thế của văn hóa Phật giáo trong xã hội Việt Namhiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy những tinh hoa củavăn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa hiện nay, vấn đề khai thác và pháthuy những giá trị văn hóa truyền thống được coi là nhiệm vụ chiến lược củaĐảng và Nhà nước ta Văn hóa Phật giáo với tư cách là một nhân tố cấu thànhtrong văn hóa Việt Nam nên không thể thiếu vào việc tham gia và đóng góptrong tiến trình xây dựng nền văn hóa dân tộc Do vậy, nghiên cứu văn hóa Phậtgiáo và vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam ngày càng được quan tâm,chú trọng hơn
Tuy nhiên, những nghiên cứu về văn hóa Phật giáo và bảo tồn văn hóaPhật giáo Việt Nam vẫn chưa có nhiều công trình khai thác chuyên sâu Trongphạm vi liên quan đến đề tài này, chúng tôi tạm chia ra các mảng như sau:
Các công trình trình sách nghiên cứu về Phật giáo và văn hóa Phật giáogồm có:
- Về Phật giáo: Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh,
1999; Việt Nam Phật giáo sử luận I - II - III của Nguyễn Lang, 2000; Lịch sử
Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát (gồm tập I, II, III xuất bản năm
1999, 2001 và 2002); Khái lược Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Cao Thanh,
Trang 82008; Mấy vấn đề về Phật giáo trong lịch sử Việt Nam của Nguyễn Đức Sự và
Lê Tâm Đắc, 2010… Đây là một số công trình nghiên cứu khái quát về quá trình
du nhập và phát triển của Phật giáo vào Việt Nam, qua đó giúp người đọc hiểu rõhơn về tiến trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam qua hơn 2.000năm lịch sử, Phật giáo đã gắn bó và bám rễ, thấm sâu trong đời sống tinh thần,sinh hoạt văn hóa, tập quán, tín ngưỡng của ngườ i Việt Nam
- Về văn hóa Phật giáo có những công trình kể đến như: Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ của Nguyễn Thị Bảy, 1997; Phật Giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, 1999;
Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam của Minh Chi, 2003… Nhìn
chung, các công trình nghiên cứu đều chỉ ra vai trò cũng như những đóng gópcủa Phật giáo và văn hóa Phật giáo đối với nền văn hóa Việt Nam, qua đó khẳngđịnh Phật giáo và văn hóa Phật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xãhội, đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần
Ngoài ra, văn hóa Phật giáo cũng thể hiện được sức hút của mình khi một
số học giả đã lấy đề tài này để nghiên cứu chuyên sâu trong các luận văn Thạc sĩ
và luận án Tiến sĩ của họ Trong số đó, có thể kể đến một số công trình nghiêncứu như:
Luận án Tiến sĩ Triết học của tác giả Lê Hữu Tuấn (1998) với đề tài “Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam” Trong luận án, tác giả đã chỉ ra quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở
Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của conngười và định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Namtrong tương lai
Tiếp đến, công trình luận văn Thạc sĩ Triết học của tác giả Phan Nhật
Huân (2008) với đề tài “Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa
Việt Nam (thời Lý - Trần)” Trong luận văn của mình, tác giả đã làm sáng tỏ
ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam thời kỳ Lý
Trang 9-Trần (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV) trên một số lĩnh vực cụ thể của văn hóanhư văn học, kiến trúc… Qua đó đề ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và pháthuy những giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần trong bối cảnhhiện nay.
Công trình luận văn Thạc sĩ Triết học của Phan Thị Lan (2010) “Đạo
đức Phật giáo trong đời sống đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay ”, với đề tài
này, tác giả đã đưa ra quan niệm, phạm trù đạo đức Phật giáo, phân tích ảnhhưởng của đạo đức Phật giáo đến nhân cách của người Việt Nam Đồng thời,kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnhhưởng tiêu cực của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiệnnay
Song song với những công trình về văn hóa Phật giáo thì đề tài về bảotồn văn hóa Phật giáo cũng rất được chú trọng Trong đó phải kể đến những
đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và hội thảo khoa học như:
- Đề tài cấp nhà nước của tác giả Đặng Văn Bài (2010) “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội và hội nhập quốc tế ” Nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến
thông qua công trình nghiên cứu của mình là đánh giá những tác động phứctạp của bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa với việc bảo tồn và phát huyvăn hóa Phật giáo Phân tích thực trạng và hoạt động bảo tồn, phát huy di sảnvăn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay Qua đó giúp người đọc nhận thức đượcvai trò của việc phát huy di sản văn hóa Phật giáo đối với quá trình phát triểnkinh tế xã hội ở nước ta
- Hội thảo khoa học quốc tế “Một số vấn đề về văn hóa tôn giáo và
bảo tồn di sản văn hóa tôn giáo trong giai đoạn hiện nay”, hội thảo xoay
quanh về sự tác động của xu thế toàn cầu hóa đối với tôn giáo, đặc biệt là tác
động với mối quan hệ giữa văn hóa và tôn giáo, đưa ra cái nhìn bao quát về sựchuyển biến các giá trị văn hóa tôn giáo trong đó có văn hóa Phật giáo
Trang 10Trên các báo, tạp chí chuyên ngành cũng có nhiều bài viết tập trung nghiên cứu vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo như:
- Nguyễn Quế Hương và Nguyễn Ngọc Quỳnh (2005) “Về công tác
bảo tồn và phát huy giá trị di tích Phật giáo trong những năm gần đây”, tạp
chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1, tr 69 - 78.
- Đặng Văn Bài (2008) “Nhận diện để phát huy giá trị di sản văn hóa
Phật giáo Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 5, tr 16 - 22.
- Nguyễn Hữu Oanh (2009) “Bảo vệ, phát huy văn hóa Phật giáo một
nhiệm vụ quan trọng & cấp thiết”, tạp chí Di sản văn hóa, số 1.
Các bài viết trên đều thống nhất về quan điểm bảo tồn văn hóa Phậtgiáo một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, ở các mức độ và khía cạnh khác nhau,từng bước nhận diện và đánh giá sự cấp thiết trong việc gìn giữ, phát huynhững giá trị của văn hóa Phật giáo Ngoài ra, trên các tạp chí nghiên cứukhác như: tạp chí nghiên cứu Phật học, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật… cũng cónhiều bài viết liên quan đến vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo mà chúng tôichưa có điều kiện thống kê hết trong tình hình nghiên cứu của luận văn
Do yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển xã hội nên việc nghiêncứu về văn hóa Phật giáo và vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam hiệnnay vẫn luôn là một trong những đề tài mang tính thiết thực và cần thiết Theohướng nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa kết quả nghiên cứu của các côngtrình đi trước, trên cơ sở đó thực hiện đề tài của mình Trong luận văn nghiêncứu về đề tài này, chúng tôi tiếp tục làm rõ vị trí và vai trò của văn hóa Phậtgiáo trong văn hóa Việt Nam Đồng thời, đối với vấn đề bảo tồn văn hóa Phậtgiáo, chúng tôi sẽ đưa ra một số quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước,Giáo hội Phật giáo Việt Nam để thấy được những vấn đề đặt ra đối với cáccấp quản lý trong hoạt động bảo tồn và phát huy những giá trị của văn hóaPhật giáo Việt Nam hiện nay
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khái quát về văn hóa Phật giáo và
vị trí của văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam, luận văn tập trung phântích, làm sáng tỏ vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay Qua đóđưa ra một số giải pháp để bảo tồn văn hóa Phật giáo nhằm góp phần xâydựng và phát triển văn hóa Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn có ba nhiệm vụ
Thứ nhất, phân tích khái niệm và biểu hiện của văn hóa Phật giáo; làm
rõ vị trí của văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam
Thứ hai, trình bày một số tư tưởng của Hồ Chí Minh; quan điểm, chính
sách của Đảng, Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với vấn đề bảotồn văn hóa Phật giáo Việt Nam hiện nay
Thứ ba, đưa ra một số giải pháp đối với vấn đề bảo tồn văn hóa Phật
giáo Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa Phật giáo và vấn đề bảo tồn văn
hóa Phật giáo
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu văn hóa Phật
giáo Việt Nam (khảo cứu một số chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ) và vấn đề bảotồn văn hóa Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn từ sau đổi mới (1986) đếnnay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước vềtôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên
cứu tôn giáo học, đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụthể như: phân tích và tổng hợp; sự thống nhất giữa lôgíc và lịch sử; cácphương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa; xử lý tư liệu…
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích khái quát về văn hóa Phật giáo và những biểu hiệncủa văn hóa Phật giáo; luận văn làm rõ vai trò và vị trí của văn hóa Phật giáotrong văn hóa Việt Nam Từ đó, luận văn đưa ra những quan điểm để bảo tồnvăn hóa Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, trình bàymột số giải pháp đối với bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam nhằm gìn giữ vàphát huy những giá trị văn hóa Phật giáo trong bối cảnh hội nhập, toàn cầuhóa văn hóa
7 Ý nghĩa của luận văn
7.1 Về mặt lý luận: Luận văn góp phần vào việc tìm hiểu và làm sáng
tỏ những giá trị và vị trí của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam
7.2 Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu về tôn giáo; cho việc hoạch địnhchính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước, nhất là với vấn đề bảo tồnvăn hóa tôn giáo nói chung và văn hóa Phật giáo nói riêng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm có 2 chương và 5 tiết
Trang 13CHƯƠNG 1 VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ VỊ TRÍ CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO
TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM.
1.1 Văn hóa Phật giáo và biểu hiện của Văn hóa Phật giáo
1.1.1 Khái niệm “Văn hóa Phật giáo”
Phật giáo đã trải qua hơn 2.000 năm lịch sử du nhập và phát triển ở ViệtNam Bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng,bác ái, cứu khổ, cứu nạn… gần gũi với người dân, gắn kết với truyền thốngvăn hóa tín ngưỡng bản địa, đã tạo nên những nét đặc sắc riêng của Phật giáotrong nền văn hóa dân tộc Từ việc đóng góp những giá trị của mình trongdòng chảy văn hóa Việt Nam, Phật giáo và văn hóa Phật giáo thực sự đã trởthành một phần quan trọng của văn hóa Việt Nam
Vì văn hóa Phật giáo với tư cách là thành tố cơ bản của văn hóa nêncũng mang những nét đặc trưng của văn hóa Do vậy, trước khi tìm hiểu kháiniệm “văn hóa Phật giáo” thì cần phải hiểu về khái niệm “văn hóa” Thêm vào
đó, việc nghiên cứu một vài nét khái quát về Phật giáo và văn hóa sẽ góp phầnlàm sáng tỏ hơn khái niệm “văn hóa Phật giáo”
* Một số khái niệm về văn hóa
Có thể nói, văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cáchhiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của conngười, do vậy rất khó để đưa ra một định nghĩa chính xác về văn hóa
Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh
"Cultus" với nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là
"gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự
Thomas Hobbes (1588 - 1679): "Lao động dành cho đất gọi là sự gieo trồng
và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần" [94]
Trang 14Tuy khái niệm văn hóa được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưngthường có thể hiểu theo hai cách: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiềurộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóađược xem là những giá trị tinh hoa (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật…).Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từnglĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh…) Giới hạn theo không gianvăn hóa, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng, miền(văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây…) Giới hạn theo thời gian, vănhóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa cổ đại, vănhóa hiện đại…)
Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là bao gồm tất cả những gì
do con người sáng tạo ra Chính với cách hiểu rộng này, văn hóa đã trở thành
đối tượng của văn hóa học (culturology, culture studies, science of culture)
-khoa học nghiên cứu về văn hóa
Trong lĩnh vực này, nhà nhân học người Anh, Edward Burnett Tylor làngười đầu tiên trình bày định nghĩa về văn hóa như một đối tượng nghiên cứukhoa học trong công trình “Văn hóa nguyên thủy” (Primitiveculture) xuất bản
ở Luân Đôn, năm 1871, trong đó E B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay
văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”
[71, tr 13] Theo định nghĩa như vậy thì văn hóa và văn minh là một; nó baogồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tínngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa nàymang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo củacon người [10, tr 39]
Trang 15Trường phái nhân học Mỹ nghiên cứu lĩnh vực văn hóa với khuynhhướng khẳng định tính không phân chia của tri thức, tính thống nhất quanniệm nghiên cứu về con người với tư cách là một thực thể sinh học, đồng thời
là một thực thể văn hóa trên cơ sở dân tộc học là chính, tiêu biểu là định nghĩa
văn hóa của F Boas “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và
những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [6, tr 149] Như vậy,
mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hìnhthành văn hóa của con người
Năm 1952, nhà nhân học người Mỹ A.L Kroeber và C Kluckhohn
xuất bản cuốn sách “Culture, a critical review of concept and definitions”
(Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa), tácgiả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra
ở nhiều nước khác nhau Trong đó, họ cũng định nghĩa về văn hóa như sau:
“Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt
dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người…
Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo” … [35, tr 357].
Ở Việt Nam, một trong những khái niệm văn hóa thường được đề cập
đến nhiều nhất là định nghĩa của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về văn hóa: “Vì lẽ
sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [46, tr 431] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do
con người sáng tạo và phát minh ra
Trang 16Có thể thấy rằng, các định nghĩa về văn hóa được đưa ra dưới nhiềucách tiếp cận và phân loại khác nhau, nhưng chúng tôi đồng ý với quan điểm
về văn hóa của UNESCO đưa ra năm 2002 như sau: “Văn hóa nên được đề
cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống,
hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [61].
Như vậy, văn hóa là một mẫu thức tập hợp kiến thức, tín ngưỡng vàthái độ ứng xử của con người Trong ý nghĩa chung, văn hóa bao gồm ngônngữ, tư tưởng, niềm tin, tập quán, luật lệ, lễ nghi, thể chế, công cụ, kỹ thuật,nghệ thuật và các thành tố liên hệ khác Sự phát triển văn hóa tùy thuộc vàokhả năng học tập và truyền đạt kiến thức từ thế hệ trước cho thế hệ sau Haytóm lại, văn hóa chính là tổng thể các giá trị đặc trưng được hình thành, tồn tại
và phát triển suốt quá trình lâu dài của đất nước, giá trị đặc trưng ấy mangtính bền vững, trường tồn Văn hóa bao gồm giá trị vật chất và tinh thần dolao động của con người làm ra và phục vụ lại cho chính con người
Trong dòng chảy của văn hóa, Phật giáo với tư cách là một trong nhữngthành tố của văn hóa Việt Nam đã trở thành mạch nguồn xuyên suốt và ngàycàng khẳng định vị trí của mình trong trong dòng chảy ấy Du nhập vào ViệtNam từ đầu Công nguyên theo hai con đường: đường thủy thông qua buônbán với thương gia Ấn Độ, đường bộ thông qua giao lưu văn hóa với TrungQuốc nên Phật giáo ở Việt Nam chính là sản phẩm của sự giao lưu, tiếp biến
và cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ hai nền văn minh kể trên Quá trình truyềngiáo và phát triển của đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam một mặt chịu sự tácđộng và chi phối của đặc trưng văn hóa, mặt khác nó tác động vào chính vănhóa Việt Nam mà kết quả là Phật giáo sẽ thích ứng chọn lọc, hội nhập với nềnvăn hóa, được làm phong phú và sâu sắc thêm bởi các giá trị văn hóa bản địa
Trang 17Nó không những tạo ra tư tưởng khoan hòa, nhân ái trong chính sách an dân trịquốc của các vương triều Lý - Trần thời văn hóa Đại Việt, mà còn góp phần rấtquan trọng trong việc định hình lối sống, phong tục, chuẩn mực giá trị văn hóaViệt Nam.
Phật giáo không phải chỉ là tôn giáo thuần thúy, mà Phật giáo còn là đạođức, là trí tuệ Phật giáo bổ sung cho văn hóa, thúc đẩy văn hóa phát triển, tạonên một luồng văn hóa mới - văn hóa Phật giáo Việt Nam, khác với Phật giáoTrung Quốc hay Ấn Độ cổ đại Ngay từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo vớibản chất hòa bình, bao dung, bình đẳng nên nhanh chóng được người Việt đónnhận và ghi dấu ấn trong tư tưởng, văn hóa của người Việt Nam
Phật giáo từng bước tạo được chỗ đứng trong tâm thức người dân Việtbằng truyền thuyết Man Nương kỳ bí và huyền ảo Sự dung hợp giữa Phật giáovới tín ngưỡng dân gian bản địa đã giúp cho Phật giáo gắn bó và đồng hành vớivăn hóa, con người Việt Nam Bởi văn hóa dân gian là sản phẩm sáng tạo củanhân dân, kết tinh trí tuệ, thể hiện khát vọng và tâm tư tình cảm của nhân dân.Với tư cách là một phương diện văn hóa, Phật giáo khẳng định được vị thế củamình trong nền văn hóa dân tộc Phật giáo có khả năng thâm nhập vào nhiều mặtcủa đời sống xã hội như: chính trị, văn học, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âmnhạc, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội…
Từ khi du nhập, cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam, Phậtgiáo đã trải qua một ngàn năm Bắc thuộc cho đến đời Đinh, Lê; bốn trăm nămcực thịnh trong đời Lý - Trần và phát triển không ngừng suốt sáu trăm năm chođến ngày nay Phật giáo đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam những thành quảvăn hóa vô cùng quý giá Phật giáo và văn hóa Phật giáo luôn giữ một vị thếquan trọng và không thể tách rời văn hoá dân tộc Có thể nói rằng, văn hóa ViệtNam một phần lớn là văn hóa Phật giáo và nếu như không xét văn hóa Phật giáotrong văn hóa Việt Nam thì chúng ta sẽ không thể có một nền văn hóa đa dạng
và phong phú như hiện nay
Trang 18Vậy văn hóa Phật giáo là gì?
Theo những quan niệm về văn hóa nêu trên và từ những giá trị Phật
giáo mang lại trong đời sống của con người, chúng tôi cho rằng: Văn hóa
Phật giáo là một bộ phận của văn hóa nhân loại, là sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa vật chất và tinh thần của đạo Phật chứa đựng trong đời sống của con người, được con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình Văn hóa Phật giáo chính là tổng thể các giá trị đặc trưng, là những thành tựu mà Phật giáo có được trong lịch sử tồn tại và phát triển.
Như vậy, văn hóa Phật giáo Việt Nam là văn hóa được xây dựng trênđất nước Việt Nam, cho con người Việt Nam, trong xã hội Việt Nam, tronglịch sử Việt Nam Cụ thể, nếu ta lấy sự truyền bá Phật giáo vào Việt Namcách đây hơn 2.000 năm thì đồng nghĩa với ta có chừng ấy năm văn hóa Phậtgiáo Việt Nam Qua thời gian văn hóa Phật giáo đã thấm sâu vào phong tụctập quán, lối sống, hình thành tư tưởng tình cảm của người Việt Nam Cóthể thấy, khái niệm “văn hóa Phật giáo” cũng rất mới mẻ, khi Phật giáo khôngdừng lại ở một tôn giáo hay triết học, mà phổ biến như một lối sống
Tóm lại, văn hóa Phật giáo không đứng ngoài, mà ở bên trong văn hóanhân loại Nó là cái thống nhất trong chỉnh thể của văn hóa nhân loại, nhưnglại có những giá trị đặc thù và đơn nhất của mình Hơn nữa, cũng như văn hóanói chung, văn hóa Phật giáo có chức năng nhất định của mình và thể hiện rõnhững chức năng đó qua việc tác động đến cộng đồng Phật tử cũng như cáccộng đồng khác
1.1.2 Biểu hiện của Văn hóa Phật giáo
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, là một tôn giáo có hệ thốnggiáo lý khá đồ sộ, sâu sắc và hoàn chỉnh, khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo
đã đưa lại một hệ thống các quan niệm về vũ trụ, nhân sinh cho cộng đồngngười Việt Phật giáo với tư tưởng bao dung và độ lượng, hiếu hòa
Trang 19và đoàn kết, do vậy, giáo lý của đạo Phật phù hợp với nguyện vọng của đại đa
số người dân Việt Phật giáo nhanh chóng được nhân dân ta tiếp nhận, hòaquyện với truyền thống văn hóa Việt Nam và được ví như “nước thấm vàolòng đất”, “sữa hòa với nước” “Thuyết nhân quả” trong đạo Phật phù hợp vớiquan niệm của dân gian “Ông Trời trừng phạt kẻ ác, cứu giúp người hiềnlành”, vì thế phương châm sống “ở hiền” để được “gặp lành”, tu thân, tíchđức được người dân đón nhận và thực hành theo
Trong suốt chiều dài lịch sử, từ buổi đầu du nhập cho đến nay, Phậtgiáo đã thực sự thâm nhập, ăn sâu vào trong tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống củadân tộc Việt Nam và trở thành một phần bản sắc dân tộc Những đặc điểm củaPhật giáo và văn hóa Phật giáo làm cho nền văn hóa Việt Nam càng trở nên
đa dạng Văn hóa Phật giáo đã để lại cho dân tộc nhiều di sản có giá trị đặcsắc Trong sự hình thành và phát triển của mình, văn hóa Phật giáo biểu hiệnhết sức phong phú với nhiều hình thức, được thể hiện dưới hai dạng cụ thể là:văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về văn hóavật thể và văn hóa phi vật thể của Phật giáo, trước hết, chúng tôi muốn đưa rakhái niệm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
* Văn hóa vật thể: “Một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời sống
tinh thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sángtạo biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sửdụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người Văn hóa vật thể quan tâmnhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên; đến hình dáng vậtchất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con ngườibiến thành những sản phẩm vật chất giúp cuộc sống của con người Trong vănhóa vật thể, người ta sử dụng nhiều kiểu phương tiện, tài nguyên năng lượng,dụng cụ lao động, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng
sinh sống của con người, phương tiện giao thông, truyền thông, nhà cửa, công
Trang 20trình xây dựng phục vụ nhu cầu ăn ở, làm việc và giá trị các phương tiện tiêukhiển, tiêu dùng, mối quan hệ kinh tế … Tóm lại, mọi loại giá trị vật chất đều
là kết quả lao động của con người.” [29, tr 816]
* Văn hóa phi vật thể: “một bộ phận của văn hoá nói chung, theo nghĩa
rộng, đó là toàn bộ kinh nghiệm tinh thần của nhân loại, của các hoạt động trítuệ cùng những kết quả của chúng, bảo đảm xây dựng con người với nhữngnhân cách, tác động dựa trên ý chí và sáng tạo Văn hóa phi vật thể tồn tạidưới nhiều hình thái Đó là những tục lệ, chuẩn mực, cách ứng xử… đã đượchình thành trong những điều kiện xã hội mang tính lịch sử cụ thể, những giátrị và lý tưởng đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ, xã hội, chính trị, hệ tư tưởng…Theo nghĩa hẹp, văn hóa phi vật thể được coi là một phần của nền văn hóa,gắn với cuộc sống tâm linh của con người, thể hiện những giá trị, lý tưởng,kiến thức.” [29, tr 813]
Từ việc đưa ra khái niệm về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ở
trên, chúng tôi cho rằng: văn hóa vật thể trong văn hóa Phật giáo là những
sản phẩm được tồn tại dưới dạng vật chất, khắc họa tiêu biểu thông qua hệthống kiến trúc: Chùa, Tháp như chùa Một Cột, chùa Thầy, chùa Dạm, chùaPhật Tích (Bắc Ninh), tháp Bình Sơn (Phú Thọ) hay các tác phẩm điêu khắc
về tượng thờ, đồ thờ cúng và những tác phẩm hội họa về Phật giáo
Văn hóa phi vật thể trong văn hóa Phật giáo chính là hệ thống tư
tưởng, các chuẩn mực, giáo lý của đạo Phật; các nghi lễ; phong tục, tập quán;nghệ thuật… của Phật giáo Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể văn hóaPhật giáo trên hai phương diện này
Trước hết, trên phương diện văn hóa vật thể, có thể thấy văn hóa Phật
giáo đã mang lại những giá trị văn hóa đặc sắc, đóng góp vào kho tàng vănhóa dân tộc Những thành tựu của văn hóa Phật giáo thể hiện khá rõ trong cáccông trình kiến trúc, điêu khắc và hội họa
Trang 21Về kiến trúc: Phật giáo truyền vào Việt Nam đã đem theo các kiểu
kiến trúc chùa tháp, lầu chuông, gác trống theo mô hình kiến trúc của Ấn Độ,Miến Điện và Trung Hoa Tuy nhiên cùng thời gian, tinh thần khai phóng củaPhật giáo phối hợp với lối tư duy tổng hợp của dân tộc Việt đã tạo ra một môhình kiến trúc rất riêng cho Phật giáo ở Việt Nam Kiến trúc chùa Việt Namnói chung và đồng bằng Bắc Bộ nói riêng không cao lớn, đồ sộ, không lộnglẫy như một số nước ở các vùng lân cận (Lào, Thái Lan, Campuchia…) Điềunày cũng dễ hiểu, bởi trước hết một phần là do điều kiện tự nhiên, phần khác
là do tư duy người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ vốn hài hòa, nên ngôi chùa Việtcũng mang phong cách hài hòa Chùa, Tháp ở Việt nam thường được xâydựng với lối kiến trúc đặc biệt, mái chùa ẩn dấu sau lũy tre làng, dưới gốc cây
đa hay ở một nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp hoặc thanh vắng Ngôi chùa cũngchính là nơi hội tụ các sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh của dân làng
Ở miền Bắc, chùa phổ biến có dạng chữ Đinh, chữ Công hay kiểu chữTam Chùa xây theo mô hình kiến trúc kiểu chữ “công”: bái đường và điệnPhật được nối nhau bằng Tòa thiêu hương tiêu biểu như chùa Diên Ứng (BắcNinh); kiêu chữ “Đinh”: trước; kiểu chữ “Tam”: có ba nếp nhà song song vớinhau tiêu biểu như chùa Thiên Phúc (Chùa Thầy); chùa Tây Phương (Hà Nội)
… hay kiểu “Nội công ngoại Quốc”: phía trước là tiền đường và điện Phật,sau là mảnh sân hình vuông trồng cây cảnh, đặt hòn non bộ, phía sau là nhàhậu tổ, hai bên là nhà Đông và nhà Tây như chùa Láng
Hệ thống Chùa, Tháp phong phú, được hình thành và phát triển qua cácgiai đoạn, đáng chú ý là kiến trúc Chùa, Tháp thời Lý - Trần Khâm phụcnhững thành tựu của văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần, sách vởTrung Hoa đời Minh truyền tụng nhiều về bốn công trình nghệ thuật lớn mà
họ gọi là An Nam tứ đại khí là tháp Báo Thiên (1057), chuông Quy Điền
(1080), vạc Phổ Minh (1262) và tượng Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm Mặc
Trang 22dù, “Tứ Đại Khí” này đều bị quân Minh xâm lược tàn phá ở thế kỷ XV nhưngnhững công trình nổi tiếng này vẫn được ghi chép và lưu truyền qua sử sách.
Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm: Chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều (Quảng
Ninh) được xây dựng vào khoảng thế kỷ XI, có pho tượng Di - Lặc bằngđồng Theo văn bia nay vẫn còn giữ được trong chùa thì tượng cao 6 trượng(xấp xỉ 24m), đặt trong một tòa Phật điện cao 7 trượng Đứng từ bến đò ĐôngTriều, cách xa 10 dặm vẫn còn trông thấy nóc điện
Tháp Báo Thiên: Gồm 12 tầng, cao 20 trượng, do vua Lý Thánh Tông
cho xây dựng vào năm 1057 trên khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phía tây hồLục Thủy (tức hồ Gươm, Hà Nội) bằng đá và gạch, riêng tầng thứ 12 đúcbằng đồng Tháp là đệ nhất danh thắng đế đô một thời Đến năm 1414, tháp bịquân Vương Thông tàn phá, nền tháp còn lại to như một quả đồi, có thời dùnglàm nơi họp chợ Thời Pháp, những gì còn sót lại đã bị phá hủy hoàn toàn đểxây nhà thờ lớn trên đất ấy
Chuông Quy Điền: Năm 1101, vua Lý Nhân Tông cho xuất kho hàng
vạn cân đồng để đúc quả chuông này và dự định treo tại chùa Diên Hựu (tiềnthân chùa Một Cột sau này), trong một tòa tháp bằng đá xanh cao 8 trượng.Nhưng chuông đúc xong to quá (tương truyền có đường kính 1,5 trượng (gần6m), cao 3 trượng (gần 12m), nặng tới vài vạn cân), không treo lên nổi đành
để ở ngoài ruộng Mùa nước ngập, rùa bò ra bò vào nên dân gian gọi làchuông Quy Điền (tức ruộng rùa)
Vạc Phổ Minh: Đúc bằng đồng vào thời Trần Nhân Tông, đặt tại sân
chùa Phổ Minh (tức Mạc, ngoại thành Nam Định) Vạc sâu 4 thước (gần1,6m), rộng 10 thước (gần 4m), nặng trên 7 tấn Vạc to tới mức có thể nấuđược cả một con bò mộng; trẻ con có thể chạy nô đùa trên thành miệng vạc.Đến nay vẫn còn 3 trụ đá kê chân vạc trước sân chùa [58, tr 483 – 484]
Trang 23Phật giáo cũng để lại nhiều quần thể kiến trúc độc đáo và danh lamthắng cảnh cho nước Việt, nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở miền Bắc với kiến trúc
đặc trưng, tạo nên dấu ấn của văn hóa Phật giáo như: chùa Một Cột, chùa
Thầy, chùa Dạm…
Trong đó nổi tiếng nhất là ngôi Chùa Một Cột với tên gọi khác là chùaDiên Hựu (tức kéo dài tuổi thọ), một tên gọi hết sức ý nghĩa ở vào thời điểmchúng ta mới thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc và bắt đầu bắttay vào xây dựng, củng cố một quốc gia độc lập thật sự Theo các tài liệu,chùa Diên Hựu được dựng trên hồ Linh Chiểu, ở vườn Tây Cấm trong kinhthành Thăng Long, với thiết kế đuôi mái cong lưỡng long triều nguyệt, vữngchãi trên một trụ đá như hoa sen thanh khiết vươn lên khỏi mặt hồ, biểu hiệnmột sự thanh cao, trong sạch, thấm đượm tinh thần của Phật giáo và cũng biểutrưng cho cốt cách tinh thần của người Việt Hình ảnh của ngôi chùa với kiếntrúc độc đáo đã trở thành biểu tượng của văn hóa Việt Nam
Ngoài chùa Một Cột, một trong những ngôi chùa khác được xây dựngvới kiến trúc được bố trí theo mô hình tiền Phật hậu Thánh rất linh thiêng đó
là chùa Thầy Trong đó kiến trúc chùa được gắn với cung Thánh nối vào phíasau tòa Tam bảo trên cùng một trục Cung Thánh là một không gian đóng kínvới diện tích nhỏ tạo nên sự huyền bí, linh thiêng Toàn bộ kiến trúc chùa trảidài, cao dần theo triền núi với bố cục kiểu “nội công ngoại quốc” Đây là kiểukiến trúc phổ biến nhất của kiến trúc Phật giáo thế kỷ XVII Khu Tam bảogồm cả tòa nhà Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện gắn kết theo kiểu chữCông Hai bên có hai dãy hành lang dài nối gác chuông, gác trống, nhà Hậutạo nên một khung chữ nhất làm cho chùa có một không gian thoáng bêntrong nhưng lại kín đáo bên ngoài
Ngoài không gian kiến trúc cảnh quan, chùa Thầy còn sử dụng tổnghợp các yếu tố sắp đặt kiến trúc không gian ánh sáng để chuyển tải giáo lýPhật giáo đến Phật tử Đó là yếu tố phong thủy với sự hòa hợp của con người,
Trang 24thiên nhiên và vạn vật Không gian yên tĩnh của ngôi chùa giúp con người tạm xa
sự ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống đời thường, tìm được sự tĩnh tâm, an lạc đểchiêm nghiệm và giác ngộ
Không chỉ dừng ở đó, kiến trúc của Phật giáo còn thể hiện khát vọng, ướcmuốn của người dân Việt, mỗi ngôi chùa lại được xây dựng theo lối kiến trúcriêng để truyền tải những mong muốn ấy Chẳng hạn như kiến trúc của chùaDạm (Bắc Ninh) lý giải cho những khát khao về cuộc sống no đủ, sinh sôi, ănsâu vào tâm thức của con người qua việc chọn cột đá khổng lồ nguyên khối đểlàm biểu tượng Linga (sinh thực khí), thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa, vạnvật phồn vinh, sinh sôi nảy nở theo tư duy của cư dân Việt chuyên canh lúanước Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy, chùađặt ở sườn núi phía Nam của dãy Lãm Sơn, chính giữa ngọn cao nhất Núi Rùalàm tiền án, ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có Thanh Long, bên hữu cóBạch Hổ chầu về Chùa dựa hẳn vào sườn núi và bốn lớp nền đá trườn theo sườnnúi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghiêm, hài hòa với cảnhquan thiên nhiên xung quanh
Như vậy, kiến trúc chùa Phật giáo đã phần nào thể hiện được nét đẹp vănhóa và chứa đựng những giá trị của văn hóa Phật giáo Hơn nữa, kiến trúc chùavới mục đích phục vụ nhu cầu tâm linh của người dân Việt nên lại càng làm chonét đẹp văn hóa đậm đà, phong phú
Về điêu khắc: Văn hóa Phật giáo không chỉ chuyển tải qua các công trình
kiến trúc mà còn được biểu hiện qua các sản phẩm điêu khắc Những tác phẩmđiêu khắc như tượng nghìn tay, nghìn mắt (Bút Tháp), các pho tượng La Hán -
Bồ Tát (Tây phương), tượng Phật A Di Đà… là những công trình nghệ thuật tiêubiểu, mang đến những giá trị thẩm mỹ độc đáo cho kho tàng văn hóa Việt Nam
Ngày nay có dịp tham quan viện bảo tàng lớn ở Việt Nam, chúng ta sẽthấy nhiều cốt tượng, phù điêu của Phật giáo được trưng bày, đó không những
là một niềm tự hào của nền văn hóa dân tộc Việt mà còn là dấu vết chứng
Trang 25minh sự ảnh hưởng của Phật giáo có mặt trong lĩnh vực này Tiêu biểu là cáctác phẩm như tượng Bồ tát Quan Âm nghìn mắt nghìn tay được thờ ở ChùaBút Tháp Ngoài pho tượng nghìn tay nghìn mắt kể trên, tại nhiều chùa chiềnViệt Nam, còn bảo lưu đến nay được nhiều pho tượng đủ kiểu, đủ thể tài rấtnổi tiếng khác Chẳng hạn: tượng Quan Âm thiên thủ, thiên nhãn ở chùa KimLiên sau này được đưa về thờ tại chùa Quán Sứ Hà Nội, tượng 18 vị La Hán;Tôn Giả ở chùa Tây Phương (Hà Nội), tượng Tuyết Sơn chùa Trăm Gian (HàNội), tượng đức Phật nhập Niết bàn ở chùa Phổ Minh (Nam Định), tượngPhật A Di Đà ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh), tượng Tây Thiên Đông Đô ViệtNam Lịch Đại Tổ tại chùa Bút Tháp (Bắc Ninh)… trong đó nhiều pho đượcliệt vào hàng tuyệt tác của nền nghệ thuật điêu khắc Việt Nam Tất cả đềumang nặng tính triết lý đạo Phật đi đôi với tính cách con người Việt và đượcngười Việt tôn thờ kính mến như nhà thơ Huy Cận đã mô tả và ca ngợi trongbài thơ “18 vị La Hán chùa Tây Phương” của ông.
Điêu khắc không chỉ thể hiện qua các bức tượng Phật mà còn quanhững chạm khắc tinh tế trên những đồ thờ tự hay trên những cánh cửa, cảnhquan xung quanh ngôi chùa Những đồ thờ tự trong Chùa như chân đèn, lưhương đều có chạm khắc hình học hay những động vật đã được cách điệukhá mỹ thuật, làm gia tăng thêm vẻ đẹp cũng như ý nghĩa của nó Ở thời Lý -Trần, những loại hình có liên quan đến Phật Giáo như lá bồ đề, hoa sen, vũ nữuốn mình theo điệu "Tribanga" của Ấn độ trở nên rất phổ biến trong nghệthuật trang trí Chùa, Tháp Tuy nhiên những nghệ nhân thời Lý - Trần đã biếtcách hóa một số loại trở thành những hình ảnh độc đáo không tìm thấy ởnhững nơi khác, chẳng hạn như hình lá bồ đề thì thường có con rồng bé nhỏnằm gọn trong chiếc lá, một kiểu hoa văn gần giống như chữ ký đời nhà Lý,hoa sen được thể hiện trong nhiều hình thái và thường cũng có hình củanhững con rồng nhỏ trong những cánh hoa này Chính những hình rồng đặc
Trang 26biệt của đời nhà Lý cũng là sự phối hợp hình rồng phương Bắc và hình rắncủa những dân tộc theo nền văn minh Ấn Độ.
Hình những vũ nữ múa biến cách thành những vũ nữ dâng hoa, chẳnghạn như hình ở những bậc đá trong Tháp đời nhà Lý ở Chương Sơn (Hà Nam)hay những thiếu nữ sùng bái Phật như hình khắc ở những chân cột của chùaPhật Tích Chúng ta còn thấy được những hoa văn hình đám mây đang xoắnchung quanh những nhân vật thần thoại, chẳng hạn như những bức chạm nổitại chùa Thái Lạc (Hải Dương) hay trên những cánh cửa của chùa Phổ Minh(Nam Định), những hoa văn hình sóng nước như ở nền Tháp Phổ Minh, hoavăn hình hoa cúc theo từng dây dài như mặt đá chạm nổi tìm thấy ở ThápChương Sơn Đây là những ví dụ điển hình của những công trình sáng tạo nổibật trong điêu khắc, trang trí của Phật giáo thời đại Lý - Trần còn tồn tại đếnngày nay
Về hội họa: Có thể thấy hội họa Phật giáo được ít người chú ý đến, bởi
các tác phẩm hội họa Phật giáo bị mai một và thất lạc, không lưu giữ đượcnhiều Tuy nhiên không vì thế mà sự phát triển của hội họa Phật giáo bị quênlãng Dựa vào các bức tranh chạm khắc trên đá, trên gỗ còn mãi mãi chứngtích về sự có mặt của các bức tranh từ thời Lý - Trần đến nay Đó là nhữngtranh chạm trên mặt lan can, hành lang chạy quanh hồ Linh Chiểu và Bích Trìthuộc chùa Một Cột (Hà Nội), những tượng đắp và hình vẽ ở chùa Báo Ân(Thanh Hóa), Rồng trong cánh sen bệ tường chùa Ngọc Khảm… hay trongcác kinh sách không thể thiếu những tranh, hình ảnh minh họa về đạo Phậtgiúp cho người đọc dễ hiểu Tranh tường là một phần không thể thiếu trong
mỹ thuật Phật giáo Những bức tranh tường chạy dài tiêu biểu như tranh được
vẽ trên tường chùa Quán Sứ (Hà Nội), có những bức tranh vẽ địa ngục và niếtbàn đã giải thích được luật nhân quả vốn trừu tượng, bày ra viễn cảnh giữacon đường đi tới cõi cực lạc và con đường dẫn xuống địa ngục để Phật tử
Trang 27trông thấy mà tự suy ngẫm Những tranh vẽ thường mang tính giáo dục,truyền tải tới người xem giáo lý, lời răn dạy của đức Phật tới Phật tử nhằmxây dựng con người có lòng vị tha, từ bi, hỷ xả Hội họa Phật giáo Việt Nam
từ những giai đoạn đầu đã được phát triển phong phú, muôn hình, muôn vẻ.Các nghệ sĩ Phật tử đưa thiên nhiên vào các tranh trang trí trên chùa, lựa chọnnhững nét bình dị, hiền hòa, thơ mộng của thiên nhiên như hoa cúc, hoa sen,con chim, con cá… và những em bé xinh xắn, thơ ngây… Tất cả đều là nhữnghình ảnh gần gũi và gắn liền với đời sống hàng ngày
Mái chùa cổ kính giữa núi non tĩnh mịch hay các lễ hội viếng chùangày đầu xuân hoặc tư tưởng độc đáo của triết học, của thiền học Phật giáoluôn là đề tài gây nhiều cảm hứng cho các nghệ nhân và họa sĩ Việt Nam.Nhiều tranh lụa, tranh màu nước, sơn dầu, sơn mài đề cập đến Phật giáo đãđược các họa sĩ, nghệ nhân tên tuổi ở Việt Nam thể hiện một cách sống động
và tinh tế qua các tác phẩm như “chùa Thầy” của Nguyễn Gia Trí sáng tácnăm 1938, “Lễ Chùa” của Nguyễn Siêu, “Đi Lễ Chùa” của Nguyên KhắcVịnh Đặc biệt từ thập niên tám mươi trở lại đây, có “Thiền Quán”, “Quan
Âm Thị Hiện”; “Bích Nhãn”, “Rừng Thiền” của họa sĩ Phượng Hồng, “HồiĐầu Thị Ngạn” của Huỳnh Tuần Bá; “Nhất Hoa Vạn Pháp” của Văn Quan Qua đó, hội họa Phật giáo đã thể hiện được những đặc trưng riêng, đánh dấu
sự thành công của nó trong nền mỹ thuật Việt Nam
Tóm lại, từ việc tìm hiểu văn hóa Phật giáo qua các công trình kiếntrúc, điêu khắc và hội họa… chúng ta có thể biết thêm những giá trị vật chấtcủa văn hóa Phật giáo để có sự nhìn nhận, đánh giá đúng đắn hơn vai trò vànhững đóng góp của văn hóa Phật giáo trong tiến trình phát triển văn hóa dântộc
Trên đây là những minh chứng tiêu biểu cho sự phong phú và đa dạngcủa văn hóa Phật giáo được biểu hiện qua cấu trúc văn hóa vật thể Tuy nhiên
Trang 28còn một phần không thể tách rời và cấu thành nên tổng thể văn hóa Phật giáo
chính là văn hóa phi vật thể của Phật giáo được thể hiện qua hệ thống tư
tưởng, các chuẩn mực, giáo lý của đạo Phật; các nghi lễ; phong tục, tập quán,nghệ thuật… của Phật giáo
Về tư tưởng, giáo lý: Trong tư tưởng Phật giáo, “Tứ diệu đế” được xem
là giáo lý cơ bản, lấy con người làm trung tâm và vì con người mà thực hiện.Đạo Phật là học thuyết về khổ và diệt khổ Bản chất của Phật giáo là từ bi, trítuệ; bản nguyện Phật giáo là giác ngộ, giải thoát; bản hạnh Phật giáo là hòabình, giáo dục và từ thiện Trước hết Phật giáo có một hệ thống tư tưởng - đạođức sâu sắc, coi trọng sự tu dưỡng nhân cách Muốn làm tín đồ hay theo Phậtgiáo phải biết Giới, Định, Tuệ Giới là những quy phạm ngăn cấm các tín đồlàm việc, nói và suy nghĩ không theo quy định (nhằm điều chỉnh hành vi củatín đồ và giữa tín đồ với xã hội) Định là giữ trạng thái tinh thần không xaođộng, Tuệ là sự thông suốt mọi sự
Những quan niệm về thiện - ác, về từ bi cũng thuộc phạm trù đạo đứcPhật giáo Thế nào là thiện, thế nào là ác, đó là vấn đề vô cùng phức tạp.Nhưng xét về khía cạnh nào đó, thì ở mỗi thời đại, dân tộc, nền văn hóa đều
có quan niệm thiện, ác khác nhau Nhà Nho cho rằng: cái gì phù hợp vớilương tri con người là thiện, ngược lại là ác Còn quan niệm thiện của Phậtgiáo đại thừa lại có hai ý nghĩa: Một là thuận theo và phù hợp với tư tưởng
“vô thường, vô ngã” (nghĩa là luôn luôn biên đổi và không có bản ngã); hai là
vì lợi ích chung của chúng sinh Đây chính là điều làm cho đạo đức Phật giáo
có tính thế tục
Nếu như Giới, Định, Tuệ về cơ bản là tự rèn luyện bản thân thì nhữngquan niệm từ bi là để giải quyết quan hệ giữa con người với con người, conngười với xã hội và thiên nhiên trên nguyên tắc có lợi cho người khác KinhQuán vô lượng thọ chỉ rõ người có tâm Phật là người đại từ bi "Từ là làm cho
Trang 29người ta lạc quan và bi là làm cho người ta thoát khỏi đau khổ" Từ - bi kếthợp với nhau tạo thành nguyên tắc vì lợi ích chúng sinh mà hành động Cácnhà triết học gọi đó là chủ nghĩa vị tha.
Giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hưởng
và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt Nam, được thể hiện vàbiến thành những câu ca dao, tục ngữ rất phổ biến như “lá lành đùm lá rách”,hay:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Cùng với đạo lý từ bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo
lý khác của đạo phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốcgia và ân chúng sinh Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợpvới bước phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt Tình thương ởmọi người bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đếntình thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê hươngđất nước Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnhhưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt
Ngoài ra, học thuyết “nhân quả báo ứng” của Phật giáo cũng tác độngvào xã hội Việt Nam sâu sắc Nó chỉ rõ xu hướng chuyển động tốt hay xấucủa đời người chính là do nghiệp quyết định Nghiệp mà con người lựa chọnđược phân biệt là thiện và ác Thiện nghiệp sẽ đưa đến thiện quả, ác nghiệpnhất định đưa tới ác quả Nhận thức về nhân quả báo ứng, nhân dân ta thườngnói: gieo gió thì gặt bão, đời cha ăn mặn đời con khát nước
Tư tưởng, giáo lý của đạo Phật đưa những giá trị tốt đẹp vào trong đờisống cộng đồng, giúp cho con người hướng thiện, đưa nếp sống sinh hoạt xãhội thành những ứng xử văn hóa có tầm, hướng đến một nền giáo dục đề caocác giá trị Chân - Thiện - Mỹ
Trang 30Về nghi lễ, lễ hội: Thông qua những nghi lễ Phật giáo, văn hóa Phật
giáo được thể hiện một cách cụ thể: lễ cúng rằm, mùng một và lễ chùa đều cóhình ảnh mang dấu ấn của văn hóa Phật giáo Theo đúng truyền thống tập tụccúng rằm, mùng một là tập tục cúng “Sóc Vọng” Sóc: là tên gọi ngày bắt đầumột tháng, là trước, mới, là bắt đầu, khởi đầu Vọng: là ngày rằm (tức ngày15) tháng âm lịch Vọng có nghĩa là trông xa, là ngày mặt trăng mặt trời đốixứng nhau ở hai cực Người xưa cho rằng vì thế mặt trời, mặt trăng nhìn rõnhau, thấu suốt ánh sáng cho nhau, soi chiếu vào mọi tâm hồn làm cho conngười trở nên sáng suốt, trong sạch, đẩy lùi được mọi đen tối, vẩn đục trongtâm hồn Người ta cho rằng, nhờ sự thông suốt của mặt trời, mặt trăng màthần thánh, ông bà, tổ tiên có thể liên lạc, thông thương với con người, sự cầunguyện sẽ đạt tới sự cảm ứng với các cõi giới khác và sự cảm thông sẽ đượcthiết lập là ngày trong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi của mình, gọi làngày Bố tát và ngày sám hối, người tín đồ về chùa để tham dự lễ sám hối, cầunguyện bỏ ác làm lành và sửa đổi thân tâm Quan niệm ngày Sóc Vọng lànhững ngày trưởng tịnh, sám hối, ăn chay xuất phát từ ảnh hưởng của Phậtgiáo Đại thừa Ngoài việc đi chùa sám hối, ở nhà vào ngày rằm và mùng một,
họ sắm đèn, nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo và tổ tiên ông bà, thểhiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá cố và cụ thể hóa hành vi tutâm dưỡng tính của họ
Bên cạnh việc đi chùa sám hối vào ngày rằm, mùng một, người ViệtNam còn có tập tục khác là đi viếng chùa, lễ Phật vào những ngày hội lớn nhưngày rằm tháng giêng, rằm tháng tư (Phật Đản) và rằm tháng bảy (lễ Vu Lan).Đây là một tập tục, một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống ngườiViệt Chính điều đó đã góp phần tạo nên bản sắc và nét đẹp văn hóa của dântộc
Trang 31Lễ hội Phật giáo là một phần không thể thiếu tạo nên những điểm riêngbiệt của văn hóa Phật giáo Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồngđặc biệt, bản thân nó là một kho lịch sử khổng lồ, tích tụ vô số những lớp phù
sa văn hóa, là bảo tàng sống về sinh hoạt văn hóa, chứa đựng các giá trị tinhthần sâu sắc Các lễ hội Phật giáo của Việt Nam thực sự đã làm phong phúcho đời sống văn hóa trong suốt quá trình hình thành và phát triển của văn hóanước nhà Những lễ hội Phật giáo cũng được tổ chức khá thường xuyên, như
lễ tắm Phật được thực hiện hàng năm, Nhân vương hội (hội tụng kinh Phậtthuyết Nhân vương Bát Nhã Ba La Mật kinh) được tổ chức nhiều lần trongCung, rồi việc rước các vị Phật Tứ pháp về kinh để cầu đảo cũng nhiều lầnđược sử sách ghi lại… đã tạo ra một diện mạo phong phú trong đời sống tinhthần của người dân thời Lý
Ngoài những ngày Sóc, Vọng thì còn có những ngày lễ lớn như: Lễ VuLan, Đại lễ Phật Đản, lễ hội Quán Thế Âm, lễ hội chùa Hương, …
Lễ Vu Lan: Vu lan, tiếng Phạn gọi là Ullambana, còn được biết đến như
là ngày lễ “Xá tội vong nhân” hay là ngày “Báo hiếu”, là một trong những lễhội Phật giáo quan trọng của tín đồ theo đạo Phật ở Á châu Theo truyềnthống Phật giáo Đại thừa thì lễ Vu Lan được tổ chức vào ngày Rằm tháng Bảy
âm lịch Lễ Vu Lan xuất xứ từ kinh Phật thuyết Vu Lan Bồn Theo kinh này
Phật có dạy ngài Mục Kiền Liên rằng: "Là đệ tử của Phật tu hành đạo hiếuthảo, các con phải thường nhớ nghĩ cúng dường cha mẹ mình Hàng nămnhằm ngày rằm tháng bảy các con phải sinh lòng hiếu thảo đối với cha mẹ đờinày cũng như cha mẹ trong bảy đời quá khứ mà cử hành pháp hội Vu - Lan,cúng dường chư Phật và chư Tăng để báo đáp ân đức mà cha mẹ đã nuôidưỡng mình." Ngài Mục Kiền Liên vâng theo lời Phật, thiết trai cúng dườngmười phương tăng chúng, hồi hướng công đức về cho mẹ mình ở dưới địangục, khiến bà được thoát thân ngạ quỷ, vãng sinh tịnh độ
Trang 32Ở Việt Nam, cùng với sự hồi sinh và phát triển của Phật giáo, lễ VuLan ngày càng được tổ chức quy mô và trọng thể hơn Ngày lễ Vu Lan đã trởthành “ngày hội hiếu” của tín đồ Phật tử Việt Nam, một số người không phải
là Phật tử cũng tham gia vào ngày hội này Cũng trong ý nghĩa báo hiếu công
ơn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cứu giúp cho các vong linh, người Phật tử ởnước ta thường đến chùa tụng kinh, cầu nguyện, cúng Tam bảo để hồi hướngcông đức cho ông bà, cha mẹ và cho pháp giới chúng sinh Có một nghi thứcrất đặc biệt, rất riêng, chỉ có người Việt mới tổ chức trong ngày lễ Vu Lan, đó
là nghi thức cài hoa hồng Việc cài hoa hồng này mới được cử hành khoảng
50 năm trở lại đây, nhưng đã tạo ấn tượng sâu sắc và vô cùng cảm động tronglòng người tham gia
Đây là một lễ hội rất có ý nghĩa, cần phải được bảo tồn và phát triển,phải làm sao để nó trở thành một ngày lễ hội của quần chúng, vượt qua ràocản của tôn giáo, tín ngưỡng, để cho tinh thần hiếu đạo được thấm nhuầntrong lòng mọi người, để cho con người trở nên thuần từ và trung hiếu hơn
Lễ Phật Đản: Lễ Phật đản là lễ trọng của đạo Phật để kỷ niệm ngày
xuất thế và tưởng nhớ Đức Thế Tôn - người khai sáng đạo Phật Trước đây,các nước Đông Á thường tổ chức lễ Phật Đản vào ngày 8 tháng 4 (âm lịch),đến Đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên tại Colombo, Sri – Lanka (ngày 25tháng 5 đến ngày 8 tháng 6 năm 1950), 26 nước thành viên đã thống nhất lấyngày Rằm tháng 4 (âm lịch) hàng năm làm ngày Phật giáo giáo quốc tế Giáohội Phật giáo Việt Nam cũng theo lệ chung của nhiều nước lấy ngày này làmngày lễ Phật đản Ở Việt Nam, lễ Phật đản từ lâu đã trở thành lễ hội lớn củadân tộc, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức một cách trang trọng.Nhiều người hay gọi ngày Phật đản là “Mùa Phật đản” để hòa chung niềm vuicùng mọi người trên khắp thế giới mừng ngày Đức Phật ra đời Đây cũng làdịp để khích lệ truyền thống văn hóa Phật giáo đối với công cuộc xây dựng và
Trang 33bảo vệ tổ quốc Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta nên được tổ chức long trọng, thu hút rất nhiều người tham gia,
kể cả những người không có tín ngưỡng Phật giáo
Nghi lễ, lễ hội văn hóa Phật giáo được coi là một thành tố văn hóamang giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu và còn là nơi tích hợp các mặt giá trịvăn hóa phi vật thể phong phú, đa dạng, bởi trong lễ hội Phật giáo, ngoài phầnnghi lễ, ta còn thấy nhiều hình thức văn hóa nghệ thuật độc đáo khác như:trình diễn các nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật chèo gắn với các Phật thoại,các vị tổ của Phật giáo Việt Nam, múa Phật giáo (Lục cúng hoa đăng), âmnhạc Phật giáo, các phẩm phục… Nghi lễ, lễ hội Phật giáo cũng đóng vai trò
là nơi giao lưu, cộng cảm và liên kết tình thân trong các cộng đồng Phật tử ởtừng đạo tràng nói riêng, cộng đồng cư dân làng xã, vùng miền nói chung
Về phong tục, tập quán: Văn hóa Phật giáo để lại dấu ấn qua các tập
tục như: ăn chay, thờ phật, phóng sinh và bố thí Hầu như tất cả người ViệtNam đều chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa này Ăn chay hay ăn lạt xuất phát
từ quan niệm từ bi của Phật giáo Vì khi đã trở về với phật pháp, mỗi ngườiPhật tử phải thọ giới và trì giới, trong đó giới căn bản là không sát sinh hạivật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài Ăn chay và thờ Phật là việc đi đôivới nhau của người Việt Nam Người Phật tử, người mộ đạo thờ Phật là mộtchuyện, nhiều người không phải là Phật tử cũng dùng tượng Phật hay tranhảnh có yếu tố Phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí cho cảnh nhà thêm đẹp
và trang nghiêm Theo quan niệm của họ, Phật giáo là một thành tựu về tưtưởng văn hóa của dân tộc và nhân loại
Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục lệ bố thí và phóngsinh đã thấm sâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng Đến ngày rằm vàmùng một, người Việt thường hay mua chim, cá, rùa… để đem về chùa chúnguyện rồi đi phóng sinh, giúp chúng thoát khỏi kiếp giam cầm Tiêu biểu
Trang 34nhất của tục phóng sinh - một phong tục đẹp và vẫn giữ nguyên giá trị vănhóa truyền thống là cứ vào dịp 23 tháng chạp gọi là ngày tết ông Công, ôngTáo, nhân gian tiễn Táo Quân về chầu trời Lễ cúng thường có đồ ăn, hoa quả,tùy theo gia chủ, nhưng phải có cá chép hoặc chim nhỏ Sau khi cúng lễ xong,người ta mang cá chép ra thả ở ao hồ hoặc sông suối Còn một số vùng quê,nhất là ở miền Nam người ta thường thả chim về với tự nhiên Điều đó thểhiện nét đẹp trong đạo lý Phật giáo với tư tưởng nhân văn cao cả, giáo dụcnhận thức cho con người trong việc đối xử với thiên nhiên, cái nôi đã sinh ranhân loại.
Người Việt cũng thích làm phước bố thí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèokhó, hoạn nạn, vào các ngày lễ hội lớn họ tập trung về chùa Tuy nhiên, trong
xã hội hiện đại những biểu hiện mang tính chất hình thức trên này càng bị thuhẹp Thay vào đó mọi người tham gia vào những đợt cứu trợ, tương tế cho cácđồng bào gặp thiên tai, hoàn cảnh sống gặp khó khăn đúng với truyền thốngđạo lý của dân tộc là “lá lành đùm lá rách”
Ngoài ra, những phong tục của người Việt Nam chịu ảnh hưởng Phậtgiáo và cũng tương đối phổ biến có thể kể đến như: Tập tục đốt vàng mã, tậptục coi ngày giờ hay một số tập tục khác như cúng sao hạn; xin xăm, bói quẻ,
ma chay, cưới hỏi… Nhìn chung, những phong tục này gắn liền và dung hợpvới tập quán của người Việt, chịu ảnh hưởng rõ rệt từ những nghi thức củaPhật giáo
Về nghệ thuật: Nói đến nghệ thuật trong văn hóa Phật giáo thì không
thể không nói đến những áng thơ ca, văn học, những điệu hát, múa… bởi đâycũng chính là sự độc đáo của văn hóa Phật giáo
Vào thời Lý - Trần, khi Phật giáo được coi là Quốc giáo thì ngoài kinhsách Phật giáo còn có nhiều tác phẩm thuộc thể loại văn học Phật giáo đặc
trưng, đó là thể Lục, gồm Tạp lục, Ngữ lục, Thiền lục Điều này cho thấy,
Trang 35kinh sách nhà chùa và văn học Phật giáo đã đạt thế thượng phong, áp đảohoàn toàn văn học nghệ thuật Trong kho tàng ca dao dân ca, chúng ta bắt gặpnhững hình ảnh gần gũi với người dân Việt Nam qua ngôi chùa làng “Đất vua,chùa làng, phong cảnh Bụt”, hình ảnh ông Bụt (theo cách gọi dân dã củangười Việt thay cho Phật) còn hiện lên trong các câu truyện cổ tích như “TấmCám”; “Cây tre trăm đốt”… khi gặp khó khăn người dân luôn trông đợi vào
sự giúp đỡ của Bụt, qua đó cho thấy một nếp nghĩ rất bình dị, phù hợp với lốisống của con người Việt Nam Người dân Việt Nam còn mượn ca dao để nhắcnhở, răn dạy con cháu phải hiếu kính với cha mẹ, phải lấy hiếu hạnh làm đầu:
“Tu đâu không bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu”; “Đêm đêm khấnnguyện Phật trời, cầu cho cha mẹ sống đời với con”…
Hình ảnh của ngôi chùa, tiếng chuông, ông Bụt hay những quan niệmhiếu hạnh, quan niệm nhân quả mang nhiều âm hưởng Phật giáo và thườngtrực xuất hiện trong kho tàng văn hóa của dân tộc, qua đó ta thấy sự ảnhhưởng sâu sắc của Phật giáo trong đời sống của người Việt Nam Bên cạnh cadao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà văn chúng tacũng thấy có nhiều bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng ít, nhiều của Phật giáo
Ở đây chúng tôi không đề cập đến dòng văn học chính thống của Phật giáo,những tác phẩm do chính các Tăng sĩ, thiền sư sáng tác trong quá trình tu tậpcủa mình, mà chỉ nói đến các thơ văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của tưtưởng Phật giáo, rõ nhất là trong thơ văn chữ Nôm, chữ Việt bắt đầu từ thế kỷthứ XVIII trở về sau
Phật giáo đề ra cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh, như tác phẩm chữNôm nổi tiếng trong thế kỷ XVIII là Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn GiaThiều (1741 - 1798) với thể song thất lục bát, dài 356 câu, là khúc ngâm củangười cung nữ bị vua ruồng bỏ, oán than về thân phận mình Nội dung tácphẩm chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo, nhất là triết lý ba pháp ấn Vô
Trang 36Thường, Khổ, Vô Ngã Cung Oán Ngâm Khúc là tác phẩm đầu tiên trong lịch
sử văn học dân tộc Việt đã sử dụng lối biểu diễn bằng cảm giác mà trong đó
tư tưởng triết lý đạo Phật đóng vai trò chủ đạo
Qua thế kỷ XIX, với thi hào Nguyễn Du (1765 - 1820) lại là một ángvăn bất hủ với Truyện Kiều, một truyện thơ nôm viết bằng thể lục bát dựatheo tác phẩm Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (TrungQuốc), gồm 3254 câu thơ Đây là một truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng củaPhật giáo, trong đó ta thấy nổi bật nhất là thuyết về Khổ Đế, một phần quantrọng của giáo lý Tứ Diệu Đế, kế đó là tinh thần về hiếu đạo, thuyết nhân quả
và nghiệp báo
Điểm qua một số thơ văn Việt nam có những ảnh hưởng của Phật giáonhư trên, có thể thấy tư tưởng, văn hóa Phật giáo đã để lại dấu ấn của mìnhsâu đậm trên diễn đàn tư tưởng của Việt Nam bởi những triết lý sâu xa củanhà Phật Với tư tưởng khoan dung, hòa bình, Phật giáo góp phần thức tỉnhlương tri con người, làm cho con người được sống trong hòa bình, nhân ái.Văn hóa đạo đức Phật giáo có khả năng điều chỉnh hành vi đạo đức conngười, định hình lối sống, phong tục, chuẩn mực giá trị văn hóa Việt Nam,nhờ đó góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho sựphát triển đất nước
Ngoài ra, văn hóa Phật giáo còn gắn liền với các loại hình nghệ thuậtsân khấu (Hát bội, hát chèo, kịch nói…) đặc biệt là nghệ thuật Chèo gắn vớicác tích Phật, tích truyện giàu tính nhân văn, múa Phật giáo (Lục cúng hoađăng)… Tính triết lý “nhân quả báo ứng” của Phật giáo đóng vai trò quantrọng trong các bài ca chèo, vở diễn phù hợp với đạo lý phương Đông và nếpsống truyền thống của dân tộc Đáng kể nhất là vở chèo “Quan Âm ThịKính”, mượn ngôn ngữ sân khấu chèo nhằm diễn lại sự tích Đức Phật Quan
Âm Thị Kính để công chúng thấm thía chữ Nhẫn, chữ Tâm và lòng từ bi, hỷ
Trang 37xả, sẵn sàng chịu nỗi oan nghịch cứu nhân độ thế để được thành Phật Hay vởchèo “Mục Liên Thanh Đề” cũng là một sự thành công trong mối quan hệgiữa nghệ thuật chèo và Phật giáo.
Nhìn lại, văn hóa Phật giáo Việt Nam với những giá trị văn hóa vật thể
và văn hóa phi vật thể đã góp phần không nhỏ tạo nên bản sắc riêng cho nềnvăn hóa dân tộc Văn hóa Phật giáo Việt Nam mang đậm nét văn hóa Việt vớinhững đặc trưng giản dị, hài hòa, cân đối, phù hợp và gần gũi với con ngườiViệt Nam
1.2 Vị trí của Văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam
Ra đời tại Ấn Độ từ thế kỷ VI trước Công nguyên, Phật giáo đã nhanhchóng lan toả sang nhiều nước trên thế giới, mang đến những giá trị nhân văncao cả, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống hàng ngày cho người dân, ViệtNam cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó Trải qua hơn 2.000 năm lịch
sử, kể từ buổi đầu du nhập vào Việt Nam, đến nay Phật giáo cũng đã cónhững đóng góp nhất định vào nền văn hoá Việt Nam, để lại những dấu ấn insâu trong từng triều đại, nhất là ở một số triều đại phong kiến hưng thịnh củanước nhà như triều đại Lý - Trần, Phật giáo đã trở thành quốc giáo và là hệ tưtưởng chính thống Lịch sử đã ghi nhận, Phật giáo đi vào lòng dân tộc, thời kỳnào nước nhà cường thịnh thì Phật giáo phồn vinh, đất nước bị nô lệ thì Phậtgiáo khó tránh khỏi suy tàn: “Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ mở mang”[47, tr 197] Phật giáo đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam những giá trị tinhthần, gắn bó với xã hội Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong mọi bước thăngtrầm của lịch sử dựng nước và giữ nước Chính vì vậy, Phật giáo đã thực sựhội nhập vào nền văn hóa Việt Nam, như một thành tố không thể chia cắt củanền văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Điều đó được thể hiện rõqua những nét tương đồng giữa văn hóa Phật giáo với văn hóa truyền thống
và văn hóa tín ngưỡng Việt Nam
Trang 381.2.1 Văn hóa Phật giáo với văn hóa truyền thống Việt Nam
Khái niệm văn hóa truyền thống hay giá trị văn hóa truyền thống có thểhiểu là “văn hóa và giá trị gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với vănhóa, giá trị văn hóa thời đại công nghiệp hóa Tất nhiên, khái niệm truyềnthống (Tradition) để chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bềnvững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không chỉ xã hộitiền công nghiệp mới có mà với cả xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa thìtruyền thống vẫn hình thành và định hình Hơn thế nữa, còn có sự kết nối giữatruyền thống tiền công nghiệp với truyền thống công nghiệp hoá thể hiệntrong từng hiện tượng hay giá trị văn hoá‟‟ [60, tr 21]
Như vậy, văn hóa truyền thống Việt Nam theo quan điểm ở đây chính
là những giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được hình thành tronglịch sử văn hóa Việt Nam Do đó, khi xem xét mối tương quan giữa văn hóaPhật giáo với văn hóa truyền thống Việt Nam, chúng tôi mong muốn làm rõnhững giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo đối với văn hóatruyền thống
Trước hết, sự tương tác giữa văn hóa Phật giáo với văn hóa truyềnthống thể hiện qua giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo được kếttinh trong không gian văn hóa truyền thống của ngôi chùa Phật - một thiết kếvăn hóa đặc thù Nếu như thiếu đi hình ảnh những ngôi chùa Phật giáo thì có
lẽ cũng sẽ thiếu đi những nét kiến trúc, điêu khắc độc đáo của Phật giáo mộtnhân tố làm đẹp và phong phú cho kho tàng văn hóa Việt Nam Chùa là nơicon người được san sẻ cả về tinh thần lẫn vật chất nên nó mang một ý nghĩa
từ ngữ cao đẹp, nhân văn “mái chùa che chở hồn dân tộc” Không gian củanhững ngôi chùa cổ xưa rõ ràng là nhỏ bé, chật hẹp hơn nhiều những ngôichùa mới xây dựng đồ sộ, khang trang như hiện nay, nhưng không gian vănhoá, lễ hội, ứng xử thì bao trùm hết không gian làng xã, cộng đồng, đi vào
Trang 39trong đời sống ứng xử để trở thành văn chương, nghệ thuật, thẩm mỹ, đạolý… Trong nhiều ngôi chùa đã hình thành nên những không gian văn hóatruyền thống điển hình, nơi diễn ra những sinh hoạt văn hóa Phật giáo, cácnghi thức tôn giáo như: lễ Vu Lan, lễ Phật đản, lễ hội Quán Thế Âm
Thêm vào đó, Việt Nam lại là một nước có truyền thống văn hóa nôngnghiệp trồng lúa nước, nên xét dưới góc độ triết lý âm dương thì đây là nềnvăn hóa trọng âm với những đặc trưng như con người sống nặng về tình cảm,sống hài hòa với thiên nhiên, môi trường xã hội bao dung Vì thế nên trongkiến trúc truyền thống Việt Nam cũng mang những đặc trưng của nền văn hóagốc nông nghiệp Nếu nhìn sang kiến trúc của đạo Phật cũng có thể thấynhững điểm tương đồng khi ảnh hưởng nhiều từ kiến trúc truyền thống củangười Việt, đặc điểm là phải hòa vào thiên nhiên, hòa vào trời đất Theo kiếntrúc truyền thống, một ngôi chùa hay đền, đình phải đạt chuẩn thông tam giới,theo quan điểm "nhất thể vũ trụ", "âm dương quân bình" và "thiên nhiên hợpnhất": với mái tượng trưng cho tầng trời, với đất - thân là nơi thần và ngườitiếp cận, cần được thông nhau Vì thế nền đất để mộc, hoặc có lát phải đểnhững mạch rộng hoặc dùng gạch bát thấm nước để thông âm dương; nhữngnơi đặt ban thờ thì gầm ban thờ lộ đất… để âm dương không bị cách trở
Trong các công trình kiến trúc đều khai thác tự nhiên như cây xanh,mặt nước, đá núi… mang đến cho con người cảm giác hòa mình với thiênnhiên, thoải mái khi có sự kết hợp giữa thiên nhiên và kiến trúc Triết lý âmdương chi phối rất lớn đến kiến trúc truyền thống Việt Nam và nhất là trongkiến trúc Chùa, Tháp ở vị trí, hướng xây dựng, cách liên kết theo lối ghép âm
- dương các bộ phận trong kiến trúc, vật liệu xây dựng với ngói âm dương;các biểu tượng âm dương có truyền thống lâu đời như biểu tượng vuông - trònnói đến sự hoàn thiện, chẳng hạn như chùa Một Cột đặt trên cột tròn và cộttròn lại đặt trên cái hồ vuông
Trang 40Ngôi chùa và những di vật trong chùa thực sự là những công trình nghệthuật có giá trị thẩm mỹ cao và có nội dung phong phú - không những giớithiệu giáo lý nhà Phật mà còn phản ánh quan niệm sống của con người, hướngvào phục vụ đời sống con người qua nhiều thế hệ Không gian văn hóa truyềnthống trong ngôi chùa hòa quyện và kết hợp với văn hóa truyền thống của dântộc đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa sắc hơn cho văn hóa dân tộc.
Không chỉ vậy, văn hóa Phật giáo còn thể hiện sự hòa quyện với vănhóa truyền thống khi ngay từ buổi đầu du nhập, Phật giáo luôn đồng hànhcùng dân tộc trong công cuộc dựng nước, giữ nước Cùng với Nho giáo, Phậtgiáo đã có nhiều đóng góp để xây dựng đất nước, nhất là trên lĩnh vực tưtưởng và chính trị Lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Namnói riêng đã chứng minh những đóng góp quan trọng vào công cuộc dựngnước, giữ nước và bảo vệ Tổ quốc của Phật giáo Từ trước thế kỷ X, trongcuộc đấu tranh giải phóng đất nước, Phật giáo đã đứng về phía những ngườiyêu nước Nhiều Tăng sĩ trong hoạt động tôn giáo của mình đã nhen nhómmột tinh thần tự chủ, và có những tín đồ Phật giáo đã trực tiếp cầm đầu nhândân đứng lên làm cuộc đấu tranh giải phóng Cuộc khởi nghĩa của Lý Phật tửcuối thế kỷ VI, đầu thế kỷ VII là ví dụ Qua nhiều triều đại phong kiến ở nước
ta, nhiều vị vua quan là Phật tử với sự hiểu biết Phật pháp nên đã vận dụngnhững tinh hoa trong tư tưởng, triết lý của đạo Phật phục vụ cho công cuộcxây dựng đất nước ngày càng cường thịnh Điểm lại lịch sử cho thấy, các triềuđại Đinh, Lê, Lý, Trần đã thể hiện tinh thần tự chủ, độc lập, anh dũng của dântộc; đồng thời khẳng định tinh thần gắn liền đạo pháp với dân tộc của Phậtgiáo Việt Nam Như vậy là Phật giáo Việt Nam, trong những bước phát triểnđầu tiên, đã hòa nhập vào dân tộc nên khi giành lại được nền độc lập, cácTăng sĩ vẫn mang một ý thức quốc gia mạnh mẽ Không ít các vị danh tăngViệt Nam đã được các triều đình phong kiến trọng dụng, thực sự tham gia