1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN biện pháp giúp HS lớp 1 giải toán có lời văn

33 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 367 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong môn học toán thì dạng “ Giải toán cólời văn” là loại toán riêng biệt là biểu hiện đặc trưng của trí tuệ, là một dạng toántheo suốt cả cuộc đời của các em, là mục tiêu của việc dạy

Trang 1

A: PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài.

Môn Toán lớp 1 là chặng đường đầu tiên dẫn dắt học sinh đến với thế giới diệu

kỳ của toán học, chuẩn bị cho các em hành trang để mai đây có thể trở thành nhữngnhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ, trở thành những người lao động sáng tạo Cuộcsống ngày càng phát triển, công nghệ thông tin đang được áp dụng vào mọi lĩnhvực của đời sống, những sản phẩm công nghệ như máy tính xách tay đang dần trởthành công cụ trợ giúp các em trong học tập, nhưng không bao giờ các em có thểquên những ngày đầu tiên đến trường học tập đếm và tập viết các số 1, 2, 3, họctừng phép tính cộng, tính trừ Đó là kỉ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thếnữa những con số, những phép tính đơn giản ấy theo suốt chặng đường đời của các

em Nhằm giúp các em biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rènluyện kỹ năng thực hành, với những yêu cầu thể hiện một cách đa dạng, phongphú Nhờ việc dạy học giúp cho học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển nănglực tư duy, rèn phương pháp suy luận Trong môn học toán thì dạng “ Giải toán cólời văn” là loại toán riêng biệt là biểu hiện đặc trưng của trí tuệ, là một dạng toántheo suốt cả cuộc đời của các em, là mục tiêu của việc dạy học toán ở tiểu học nóichung và giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 nói riêng Giải toán có lời văn đốivới học sinh lớp 1 là loại toán khó Do đó việc dạy loại toán này đạt kết quả chưacao

Đây không chỉ là vinh dự mà còn là trách nhiệm của một người giáo viên nóichung và giáo viên giảng dạy lớp 1 nói riêng Là người nhà giáo giảng dạy lớp 1lâu năm và chuẩn bị đến gần ngày nghỉ hưu không lúc nào tôi không day dứt, trăntrở về những điều mình đã truyền đạt cho học sinh, nhất là đối với môn Toán lớp 1

là phần bắt đầu của chương trình tiểu học Chương trình toán học mang tính kếthừa và phát triển, nên việc học tốt môn toán ở mỗi cấp đều vô cùng quan trọng

Trang 2

Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học giải toán ở bậc tiểu học nhất làkhối lớp 1, khối đầu cấp nên tôi chọn đề tài:

“Rèn kỹ năng giải toán có lời văn ở học sinh lớp 1”.

II MỤC TIÊU NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

1 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 1A ở trường Tiểu học

Lê Lợi Cư M’gar- Đăk Lăk

- Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của bài toán có lời văn

- Giải toán đơn về thêm (bớt ) bằng tranh minh họa và viết một phép tính cộng ( trừ)

- Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán

- Trình bày bài giải gồm: + câu lời giải: + phép tính: + đáp số

- Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau cho học sinh Lớp 1nói riêng, học sinh tiểu học nói chung ở trường Tiểu học Lê Lợi

2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tôi tự xác định cho mình những nhiệm

vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Áp dụng một số biện pháp rèn cách giải toán cho học sinh lớp 1, theo dõi vàkiểm tra kết quả đạt được

- So sánh, đối chiếu với kết quả ban đầu

- Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu,

Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu cách giải các bài toán có lời văn của học sinh Tiểu học thông qua môn

học toán cụ thể là học sinh lớp 1A trường Tiểu học Lê Lợi thị trấn Quảng Phú,

huyện CưMgar Đăk Lăk

Trang 3

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Do thời gian và điều kiện có hạn nên trong đề tài này tôi chỉ tập trung nghiêncứu trong 1 năm học 2014 - 2015 với 31 em học sinh Lớp 1A và dựa vào đề tài để tiếp tục thực hiện năm 2015 – 2016, 2016- 2017 của trường Tiểu học Lê LợiCưM’gar- Đăk Lăk

5 Phương pháp nghiên cứu.

Để nghiên cứu và thực nghiệm chuẩn kiến thức kĩ năng toán 1 và sử dụngmột số phương pháp

Trang 4

I.Cơ sở lý luận:

Năng lực vận dụng kiến thức của học sinh được phản ánh rõ ràng nhất thôngqua khả năng giải toán có lời văn của các em Để tìm hiểu về mặt nội dung kiếnthức học toán ta vận dụng vào giải toán kết hợp với kíên thức Tiếng Việt để giảiquyết vấn đề trong toán học Từ các ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa

ra cho học sinh đọc – tìm hiểu – nhận biết hướng giải đưa ra phép tính kèm câu trảlời và đáp số của bài toán

Trong điều kiện hiện nay, vai trò giáo dục của nhà trường đang được nâng caolên đáng kể bản thân tôi là giáo viên lớp một nhiều năm và với bao trăn trở vì mỗingày đến trường chưa thật sự là niềm vui của tôi Là người thực hiện nhiệm vụquan trọng và đầy trách nhiệm tôi phải làm sao để khi học sinh lĩnh hội được các môn học đặc biệt là môn toán, các em phải tính toán nhanh viết thạo để học và giảitốt các dạng toán có lời văn để “ mỗi ngày tôi đến trường là một niềm vui” cho các

em Xuất phát từ mục tiêu trên qua nhiều năm giảng dạy lớp một các em gặp rấtnhiều khó khăn trong môn học toán nhất là giải toán có lời văn Vì thế tôi phải tìm

ra phương pháp dạy học có hiệu quả giúp học sinh học tốt môn học toán

Đối với học sinh lớp 1, môn toán tuy dễ nhưng để học sinh đọc hiểu và nắmđược nội dung bài toán có lời văn quả là không dễ, vả lại việc viết lên một câu lờigiải của bài toán cho phù hợp cũng là một vấn đề không đơn giản đối với học sinhlớp 1 Bởi vậy nỗi băn khoăn của giáo viên giảng dạy lớp 1 là hoàn toàn chínhđáng

Vậy làm thế nào để giáo viên nói cho học sinh hiểu, để học sinh thực hành diễn đạt đúng yêu cầu của bài toán Đó là mục đích chính của đề tài này

Trang 5

-1.Thuận lợi – Khó khăn

Trong phạm vi cơ sở trường học và tình hình của địa phương nơi công tác, tôi

đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:

a/ Thuận lợi

- Được sự quan tâm của chính quyền các cấp, PGD, BĐDCMHS, đã đầu tư chotrường tiểu học Lê Lợi được một cơ sở khang trang, thoáng mát, cảnh quang sưphạm nhà trường xanh, sạch, đẹp tạo điều kiện cho việc dạy và học Xây dựng chocon em của mình đầy đủ bàn ghế đúng kích thước Bảng đã sử dụng bảng chốnglóa để học sinh ngồi có xa cũng dễ nhìn thấy Trang thiết bị máy chiếu và đồ dùnghọc tập tương đối đầy đủ thuận lợi cho việc giảng bài và giúp các em tiếp thu bàinhanh hơn

- Ban Giám Hiệu trường thường xuyên tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổchức những buổi học chuyên đề, đầu năm tổ chức các tiết dạy lấy học sinh làm trung tâm, thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề xuấtkinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy

- Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững vàng, lâu năm trong công tác, cónhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp

đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn vềphương pháp giảng dạy

- Phần lớn phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến việc học tập của con em mình,thường xuyên trao đổi tình hình học tập ở trường và nhắc nhở, kèm cặp cho con emhọc và làm bài ở nhà trước khi đến lớp

Trang 6

em đang còn mơ hồ Nói chung các em đang còn coi nhẹ môn học toán, không say

mê như môn tiếng việt ít suy nghĩ có nghĩ thì cũng mơ hồ chưa được chín chắn nhưcác lớp lớn Các em đọc bài toán đang còn ấp úng, đánh vần, chưa hiểu được nộidung bài toán

* Về phụ huynh: Một vài số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em

mình một cách chu đáo, việc kèm cặp ở nhà của phụ huynh cũng có phần hạn chế.Dẫn đến học sinh học trước quên sau Trí nhớ của một số em chưa thật sự bềnvững Có nhiều gia đình lo mải làm ăn nên chưa quan tâm tới việc học tập của các

em mà còn giao phó cho giáo viên chủ nhiệm, có gia đình thì quan tâm nhưngphương pháp hướng dẫn cho con em mình học còn mơ hồ

- Đồ dùng, tranh ảnh minh họa có sẵn cho môn Tiếng Việt, còn môn học toán thì

có phần hạn chế tranh ảnh phần đa là giáo viên tự làm nên ít sinh động hơn từ đótiết dạy chưa được sự chú ý của học sinh

Đèn chiếu, máy tính trang bị ở trong phòng học chưa có, mỗi lần dạy phải kếtnối mất nhiều thời gian

* Về giáo viên: Đang còn nói nhiều, làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự phát

hiện ra cách suy nghĩ và suy luận một bài toán của mình, trong giảng dạy chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp, đang rập khuôn, chưa quan tâm tới từng đối tượnghọc sinh

- Dạy môn toán cứ nghĩ rằng học sinh làm được các phép tính là được chứ chưachú ý đến việc đọc của các em

2 Thành công, hạn chế:

* Thành công: - Nhờ sự quan tâm của nhà trường cùng với các giáo viên bộ môn

và các bậc phụ huynh học sinh cùng với giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn và có cácbiện pháp để rèn học sinh cách giải toán Từ khi tôi áp dụng vào đề tài để thực hiệnđến nay tôi thấy lớp tôi chủ nhiệm các em có tiến bộ rất nhiều Các em đã làm

Trang 7

tương đối tốt các bài toán và viết lời giải cũng nhanh, gọn, sung túc , chính xáchơn, hiểu được nội dung của bài toán

- Khi học đến dạng bài toán có lời văn các em cũng đọc tốt và hiểu được nội dungbài toán hơn

- Các em đã xác định được nội dung của bài toán Biết cách tìm nhũng câu văn đểviết lời giải cho phù hợp với bài toán

* Hạn chế: - Các em mới ở mẫu giáo lên nên chưa tập trung vào học tập, một số

em phát âm chưa chuẩn, chưa nhớ hết các dấu nên khi đọc bài toán chưa hiểu đượcnội dung bài để viết tóm tắt và viết lời giải

- Một số em chưa hiểu được nghĩa của từ “thêm”, “bớt”, “cho đi”, “mua về”, “bayđi”, “chạy đến” và câu hỏi có “tất cả”, “còn lại” để thực hiện một bài toán giải cólời văn

- Một số em chưa tập trung vào việc học đang lười đọc, lười suy nghĩ đọc đang cònhay sai

- Trí nhớ của một số em chưa bền vững học trước quên sau nên nội dung bài đọckhông hiểu và nhớ được

3 Các nguyên nhân – Các yếu tố tác động

- Từ những thực trạng trên tôi thật sự băn khoăn lo lắng Từ đó tôi bắt đầu suy nghĩ phải tìm hiểu thực tế vì sao các em chưa giải được bài toán, viết chưa đúng lờivăn, khi thực hiện phép tính chưa được trọn vẹn và đúng với lời văn của bài toán

Qua quá trình đứng lớp trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy có những nguyên nhân chủ yếu sau đây :

a Nguyên nhân

* Nguyên nhân từ phía GV:

- Khi chuẩn bị bài dạy cho học sinh ở những bài trước Những bài quan sát hình

vẽ, viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như HS đều làm được 1cách dễ dàng nên GV tỏ ra chủ quan, mà chỉ tập trung vào dạy kĩ năng tính toán

Trang 8

của HS mà không chú ý rằng đó là những bài toán mở đầu để làm bước đệm củadạng bài toán có lời văn sau này Đối với GV dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn tranh

vẽ, viết phép tính thích hợp, Giáo viên giảng dạy chưa quan tâm đến dạng toánnày, đang dạy sơ sài, qua loa Mà cần cho HS quan sát kỹ bức tranh rồi sau đó tậpnêu bài toán đầy đủ các nội dung của bức tranh Có thể tập cho học sinh giỏi nêucâu trả lời đầy đủ cho sự kiện của bức tranh và sau đó cho những học sinh cònchậm tiếp tục nhắc lại Cứ như vậy trong một khoảng thời gian sau chuyển sangphần bài toán giải có lời văn HS sẽ không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếpthu, hiểu và giải toán đúng hơn

- Có một số giáo viên nghĩ rằng dạy môn toán là chỉ cần tính toán chưa quan tâmđến việc đọc của các em

- GV chưa yêu cầu học sinh đọc kỹ bài toán, xem bài toán cho biết gì? Bài toán hỏigì?

- Đồ dùng dạy học còn sơ sài, tạm bợ Đồ dùng trực quan chưa thu hút học sinhvào tiết học

- Khi giảng giáo viên chưa sử dụng nhiều phương pháp dạy học để học sinh nắmbắt và hiểu được các dạng toán

* Nguyên nhân từ phía HS:

Vào lớp 1 lần đầu tiên trẻ được tiếp xúc với toán học, rèn luyện với thao tác tư

trong khi các em đọc chưa thông, viết chưa thạo, nên khi đọc xong một bài toán rồinhưng các em không hiểu được nội dung của bài toán nói gì, thậm chí có một số

em nhiều lần mà vẫn chưa hiểu bài toán Từ đó dẫn đến các em viết và giải bàitoán còn sai lệch

- Chưa biết cách tóm tắt bài toán, còn lúng túng khi nêu câu lời giải, có một

số em còn viết lại toàn bộ câu hỏi của bài toán, không biết bài toán này yêu cầu

Trang 9

làm gì nên cộng hay trừ dẫn đến viết phép tính sai và viết sai luôn cả đơn vị kèm ởsau

- Ở môn học Tiếng việt các em đọc chưa thông, viết chưa thạo nên cũng dẫnđến việc giải bài toán sau này của các em rất khó khăn

Vậy làm thế nào để HS nắm được cách giải một bài toán có lời văn một cách chínhxác, chắc chắn ?

- Qua các nguyên nhân và thực trạng trên, tôi tiến hành khảo sát môn toán dạngbài “ Giải toán có lời văn ở lớp 1” Sau đây là kết quả khảo sát môn toán của nămhọc 2013 -2014

và giải bàicòn sai

Chưa biếtcách giải bàitoán

Viết còn sailời giải

Đã biết tómtắt và giảiđược bài toánTrước khi chưa

thực hiện đề tài

5em16%

413%

619%

1652%

Sau bao trăn trở suy nghĩ cùng với thực tế giảng dạy tôi đã mạnh dạn đề ramột số biện pháp giải quyết cụ thể giúp học sinh nắm được một cách chắc chắndạng “giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1”

III CÁC GIẢI PHÁP - BIỆN PHÁP

1 Mục tiêu của giải pháp

Phương pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 là giúp học sinh hoànthiện một bài toán giải có lời văn, là một vấn đề được các thầy cô giảng dạy lớp 1rất quan tâm

Để có thể làm được điều đó việc dạy giải toán có lời văn cần phải theo các trình

tự từ thấp đến cao Muốn được như vậy trước hết phải có sự chuẩn bị của giáo viên

và học sinh

Trang 10

- Đầu tiên tôi phải nghiên cứu kỹ bài và tìm xem đồ dùng nào phù hợp với bàidạy như nhóm đồ vật, mẫu hình vẽ, tranh vẽ.

Riêng học sinh nhắc nhở các em chuẩn bị đồ dùng học tập của mình đầy đủ nhất

là môn toán phải theo yêu cầu của giáo viên, để học sinh được rèn các thao tác trênnhóm đồ vật của mình Vì vậy việc rèn kỹ năng giải toán người giáo viên cần vậndụng tốt các phương pháp dạy học Hướng dẫn cho các em tính tích cực chủ động,thao tác các phương tiện trực quan Sử dụng đồ dùng đúng mức Nắm chắc cáckiến thức môn toán Từ đó tôi đã đúc rút ra được các bước giải toán có lời văn

2 NỘI DUNG VÀ CÁCH THỰC HIỆN GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP

a GIẢI PHÁP

- Tìm hiểu để biết rõ số học sinh trong lớp đi học mẫu giáo và số học sinhkhông đi học mẫu giáo, hoặc đi học không đều Tìm hiểu nguyên nhân, lý do vì saohọc sinh đó không đi học mẫu giáo

- Kiểm tra sự nắm bắt, mức độ nắm các số và sự thông hiểu của các em đã học

ở mẫu giáo Yêu cầu phụ huynh thường xuyên nhắc nhở việc học bài ở nhà của con

em mình, đồng thời hướng dẫn phụ huynh, khi hỏi học sinh hoặc học sinh trả lờithì phải đầy đủ nội dung để dễ thực hiện cách học của phần giải toán có lời văn dễdàng hơn, để phụ huynh nắm rõ cách dạy học hỗ trợ giáo viên kèm cặp con emmình ở nhà

Tham mưu với nhà trường để giáo viên có đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạyhọc, tự làm thêm tranh ảnh mô hình, sưu tầm thêm những mô hình vật thật để tiếtdạy vui, sinh động Đồng thời tăng cường vận dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, qua những hình ảnh động cũng góp phần gây hứng thú giúp các emhưng phấn trong học tập

Xây dựng đôi bạn cùng tiến giúp nhau trong học tập lúc ở trường cũng như ởnhà Giáo viên sắp xếp chỗ ngồi hợp lý cho học sinh có thể cho học sinh chậm tiến

Trang 11

bộ, đọc, viết đang còn chậm ngồi gần với học sinh học tốt đọc giỏi Bạn giỏi sẽgiúp bạn yếu khi học bài, và giúp bạn trong thao tác và các bước giải toán.

Bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh ngay từ đầu nămgiáo viên nên nắm vững trình độ học sinh trong lớp mình theo các mức học tốt, họckhá, Đối với các học sinh còn chậm về toán

Để chuẩn bị tốt cho phần học bài toán có lời văn học sinh phải trải qua các bướcsau:

+ Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán

Tìm hiểu nội dung bài toán thường thông qua việc đọc đề toán Dù bài toándưới dạng bài văn hoàn chỉnh, hoặc bằng dạng tóm tắt sơ đồ thì học sinh cũng phảiđọc kỹ, hiểu rõ bài toán cho biết gì? cho điều kiện gì? Bài toán hỏi gì? Khi đọc bàitoán học sinh phải hiểu được tình huống thông thường như “Thêm vào”, “nhảyvào” “bán đi”, “cho đi”, “bớt đi”, “lấy ra.”v v Nếu trong bài toán, học sinh màchưa hiểu rõ tôi phải hướng dẫn kỹ để học sinh hiểu rõ nội dung và ý nghĩa các từtrong bài toán như bài toán hỏi “tất cả”, bài toán hỏi “còn lại” Sau đó học sinhthuật lại vắn tắt bằng lời mà không cần đọc lại bài toán

+ Bước 2: Tìm cách giải toán

Muốn giải được bài toán thì các em phải nắm chắc được môn tiếng việt tức các

em phải đọc thông, viết thạo, đọc hiểu được nội dung của bài toán

Muốn tìm được cách giải bài toán thì trước hết phải hướng dẫn học sinh phântích dữ liệu, điều kiện và câu hỏi của bài toán, nhằm xác định được mối quan hệgiữa chúng và tìm được các phép tính thích hợp dựa trên câu hỏi của bài toán

+ Bước 3: Thực hiện các bước giải toán và kiểm tra cách giải toán

Trong chương trình toán 1 giai đoạn đầu học sinh đang còn học chữ nên đọcchưa thông, viết chưa thạo các con chữ và vần Bước vào tuần 21 học sinh mới học

“bài toán có lời văn” Với yêu cầu bước đầu hình thành nhận biết về bài toán có lời

Trang 12

văn và phải đến tuần 22 trở đi học sinh mới chính thức học cách giải “ Giải bàitoán có lời văn” Song để giúp các em học tốt phần này thì ngay từ đầu năm tôi đã thực hiện các biện pháp giảng dạy theo từng giai đoạn nâng cao dần mục đích cuốicùng để các em giải được các bài toán có lời văn dễ dàng.

b BIỆN PHÁP

Từ những thực trạng, nguyên nhân và trên cơ sở lý luận đã đưa ra, bản thân tôi

đã cố gắng cải tiến, áp dụng các phương pháp giảng dạy của mình với mục tiêu rèncho học sinh đọc thông, viết đúng, tính toán nhanh và giải nhanh được các bài toán.Qua quá trình nghiên cứu tôi đã tìm ra một số biện pháp rèn học sinh biết cách đểvận dụng vào giải các bài toán tốt hơn và thực tế hơn

Để chuẩn bị tốt cho phần học bài toán có lời văn học sinh phải trải qua các giaiđoạn sau:

* giai đoạn 1

a Ở giai đoạn này hình thành tốt cho học sinh kỹ năng:

- Quan sát tranh vẽ: Nêu bài toán; + Điền phép tính thích hợp với tình huốngtrong tranh

Mục tiêu của giai đoạn này : Ở học kỳ I học sinh được làm quen với các dạng bàitoán nhìn hình vẽ - viết phép tính Tôi hướng dẫn cho học sinh hiểu bài toán quahình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp Giai đoạn này là cho học sinh hìnhthành các phép cộng và trừ trong các phạm vi từ 2 đến 10

- Vậy qua giai đoạn này học sinh phải hình thành tốt kỹ năng khi làm dạngbài tập ở giai đoạn này như: + Xem tranh vẽ; + Điền phép tính thích hợp với tìnhhuống trong tranh; + Nêu bài toán bằng lời; + Trả lời câu hỏi phải đầy đủ nộidung để khi bước vào giải bài toán dễ dàng hơn

Sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 ô vuông cho họcsinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ Để giúp học sinh dễ dàng

Trang 13

thực hiện các phép tính, giáo viên sẽ cho học quan sát các hình vẽ từ đó đưa ra cácphép tính phù hợp.

VD: Bài 1 trang 45 ( Tiết Luyện tập)

Sau khi học sinh viết được phép tính giáo viên mới nêu câu hỏi gợi mở để

học sinh trả lời “ ví dụ: em làm thế nào mà viết được phép tính như thế này?

Giáo viên cho nhiều học sinh trả lời theo cách của minh nhưng phải phù hợp vớibức tranh

Nếu có học sinh khác viết được phép tính như

thế này thì giáo viên lại yêu cầu học sinh

cũng nêu lại bài theo cách của em khi em đã viết được phép tính khác bạn củamình Từ đó giáo viên nhấn mạnh vào từ “có, thêm, có tất cả” để học sinh dầnhiểu được rằng “ thêm” “ có tất cả” có nghĩa là cộng Nhưng qua đó tôi cũng không

áp đặt cho học sinh phải viết thế này, thế kia để theo ý của minh mà sau khi họcsinh viết được phép tính như vậy thì giáo viên phải yêu cầu học sinh hiểu được nộidung của mình viết

Ví dụ: Bài 4 trang 55 Viết phép tính thích hợp:

Trang 14

Tôi tiếp tục cho học sinh quan sát tiếp bức tranh và sau đó các em viết phéptính của mình vào bảng con và sau đó cũng yêu cầu các em nói lên nội dung củamình vừa viết và quan trọng nhất ở đây là những em đang còn rụt rè và chậm tiến

bộ nếu các em nói chưa đúng ý hoặc còn ấp úng thì tôi có thể bổ sung thêm để các

em hoàn hảo hơn phép tính bức tranh của mình đã viết là

“Như có 2 con gấu đang cùng đùa với nhau, 1 con gấu đã

bỏ đi Vậy còn lại 1 con gấu nữa”

là phép trừ để phù hợp với tình huống của bức tranh

phạm vi, bản thân tôi đều phải lấy ra từng ví dụ hợp lý để yêu cầu học sinh viếtphép tính sau đó nêu lại bài toán mà để đạt được yêu cầu và phù hợp với bài toán

và sau mỗi lần thực hiện để hoàn thành phép cộng hoặc phép trừ tôi đều gọi họcsinh khá giỏi nêu lên và sau đó tôi lại yêu cầu những học sinh mà nắm còn chậmchưa nắm được nhắc lại để các em có thể khắc sâu được hơn và cứ như vậy ở cáctiết luyện tập, luyện tập chung tôi đều hướng dẫn các em được hình thành và thựchành nhiều hơn

Giai đoạn 2: Khi học sinh đã làm quen với lời thay cho hình vẽ, dần dần các emthoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề giải bài toán Yêu cầu họcsinh phải đọc và hiểu được bài toán, biết diễn đạt bài toán bằng lời, chọn phép tínhthích hợp nhưng chưa cần viết lời giải

Ở giai đoạn này tuy tôi không yêu cầu cao với học sinh, nhưng tôi có thểđộng viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ một hình vẽhay một tình huống sách giáo khoa

Bắt đầu từ tuần 16 tiết 62: Ở giai đoạn này học sinh không quan sát tranh màđọc phần tóm tắt của bài toán để dựa vào tóm tắt đó mà viết phép tính thích hợp

Trang 15

với bài toán Giai đoạn 2 có cao hơn giai đoạn 1 nhưng các em cũng đã có phầnnắm và hiểu được hơn.

Ví dụ 1: Bài 5 trang 89: Viết phép tính thích hợp

(a) Có : 5 quả cam

Thêm : 3 quả cam

Với lần này tôi cho học sinh đọc kỹ phần tóm tắt ở trên và sau đó tôi lại nhấn

mạnh ở chỗ: Đầu tiên ta “có” từng đó, sau đó “ thêm “ hay “cho đi” hay “ bớt”và câu kết là “ Có tất cả” hay là “còn” để học sinh hiểu được mà thực hiện 1 phép tính “cộng” hay “ trừ “ để ghi vào ô trống

Khi học sinh đã ghi được phép tính thì tôi lại yêu cầu học sinh nêu lại cách

mà mình viết được 1 phép tính như vậy để học sinh làm quen với cách đọc kỹ tómtắt và nêu bài toán, câu trả lời bằng miệng để cho học sinh bước vào giai đoạn họcbài toán có lời văn dễ dàng hơn

Ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2 giáo viên cần động viên các em diễn đạt đầy

đủ, trình bày miệng ghi đúng phép tính

Nói chung giai đoạn này tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duyngôn ngữ của học sinh

Giai đoạn 3:

Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận với một đề bàitoán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện bài toán, HS từ quansát hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ, thành chữ viết Giải toán có lời văn ban đầuđược thực hiện bằng phép tính cộng là phù hợp với tư duy của HS

Trang 16

Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bàitoán , phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen.

Giáo viên cần cho học sinh nắm vững bài toán, thông qua việc tóm tắt bàitoán Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên dể giải bài toán có lời văn

Bài giải gồm 3 phần : câu lời giải, phép tính và đáp số

Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tómtắt cần được luyện kỹ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác Câu lờigiải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diều

kiện cho HS diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình Quy ước viết đơn vịcủa phép tính trong bài giải học sinh cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thành thạo giảibài toán có lời văn bằng phép tính cộng GV chỉ hướng dẫn cách làm tương tự,thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán ở lớp 1, học sinh chỉ giải toán vềthêm, bớt với 1 phép tính cộng hoặc trừ, mọi HS bình thường đều có thể hoànthành nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể

Từ tuần 21 (Tiết 84) đến hết chương trình học của lớp 1 Ở giai đoạn này bắt

đầu bước sang bài toán có lời văn và giải bài toán có lời văn

- Ở tiết 84 là bước đầu của phần bài toán có lời văn Phần này có 2 nội dung

- Bài 1,2: Viết số thích hợp vào dấu chấm để cho hoàn thiện 1 bài toán, học sinhquan sát tranh và điền số, sau đó yêu cầu học sinh đọc kỹ bài toán

- Bài 3,4: Viết tiếp câu hỏi để có bài toán: ( Dựa vào bài toán ở trên các em đã đọcthì với bài này còn thiếu nội dung gì? Để bài toán tiếp tục hoàn thiện ) học sinh tiếp tục quan sát tranh, sau khi học sinh đã tìm ra được nội dung yêu cầu của bàitoán thì tôi lại hướng dẫn học sinh dặt câu hỏi và cũng đọc kỹ bài toán

Dạy dạng toán này tôi phải xác định làm thế nào để các em điền đầy đủ cácthông tin dự kiện còn thiếu của bài toán để các em hiểu được bài toán có lời văn là

Ngày đăng: 24/06/2020, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w