Thậm chí một số giáo viên chấm không đủ bài Tập làm văn theo quy định.Hiệnnay có quá nhiều học sinh viết văn kém.Tình trạng đó chính là hậu quả của việcchấm bài chưa đầy đủ tinh thần trá
Trang 1MỤC LỤC
e.Kết quả khảo nghiệm và giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Trang 22
Trang 2Thậm chí một số giáo viên chấm không đủ bài Tập làm văn theo quy định.Hiệnnay có quá nhiều học sinh viết văn kém.Tình trạng đó chính là hậu quả của việcchấm bài chưa đầy đủ tinh thần trách nhiệm của giáo viên.
Đối với giáo viên chưa lo đến việc chấm bài thì phương pháp chấm cũng ít tácdụng đối với học sinh Giáo viên chưa yêu cầu học sinh tự chữa lỗi trong bài làmvăn của mình, chưa chú ý cân đối đến việc khích lệ những cố gắng và chỉ rõnhững sai sót về nội dung và hình thức diễn đạt trong bài làm của học sinh Giáoviên chưa thực hiện đúng yêu cầu quy định là cho học sinh làm bài vào vở (hoặclàm vào giấy rời thì đính vào từng tập) để giáo viên có thể theo dõi sát sựchuyển biến của học sinh qua từng bài làm”
Theo công văn hướng dẫn dạy- học môn Văn- Tiếng Việt đã nhấn mạnh: “Đối với phân môn Tập làm văn, giáo viên phải hình thành kĩ năng phân tích đề,tìm ý, lập dàn ý và kĩ năng hành văn cho học sinh Việc ra đề Tập làm văn phải
có đáp án, sát hợp với chương trình, làm sao đa số học sinh có học lực trungbình đều có thể làm được bài Việc chấm bài Tập làm văn phải được tiến hànhnghiêm túc, chú ý gạn đục, khơi trong, trân trọng những ý tưởng, những pháthiện mới lạ của học sinh Những bài làm hoàn chỉnh, hành văn lưu loát đáp ứngnhững yêu cầu của đề bài phải được cho điểm cao( thang điểm 9, 10) đề khuyếnkhích các em vươn lên trong học tập”
Qua quá trình giảng dạy, đã tiến hành dự giờ và tham khảo giáo án các đồngnghiệp tôi nhận thấy:
- Về giáo án, một số giáo viên ra đề Tập làm văn cho học sinh đáp án biểuđiểm chấm hết sức tùy tiện, qua loa đại khái(hình thức đối phó gọi là “có”) Từ
đó dẫn đến việc chấm bài một cách cảm tính, thiếu chính xác
- Về chấm bài, nhận xét, cho điểm qua loa đại khái thiếu tinh thần trách nhiệm:
+ Nhận xét chung chung không cụ thể: không sữa lỗi hoặc bỏ qua nhiềulỗi trong bài làm của học sinh, viết tắt, cẩu thả trong phần “lời phê”
+ Cho điểm: Chỉ tập trung điểm 4, 5, 6 ngại cho điểm 8 , 9, 10 làm chomột số học sinh có bài làm tốt thiệt thòi trong quá trình làm văn, góp phần làm
Trang 3cho tâm lí các em không thích học văn, vì cố gắng cũng chẳng bao giờ đạt điểmcao.
- Về trả bài: Tôi thấy một số thầy cô giáo chưa có sự chuẩn bị chu đáo để giờtrả bài thực sự có hiệu quả: Giáo án tiết trả bài sọan quá ngắn gọn với những lờinhận xét chung chung, bài nào cũng như bài nào, không có những nhận xét chonhững bài làm cụ thể Nên khi lên lớp giáo viên chưa có những nhận xét xácđáng, trả bài thiếu tính hệ thống, không có phần sữa lỗi trong bài làm của họcsinh
Do đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “ Bàn thêm về việc ra đề - chấm - trả bàitập làm văn” để giáo viên Ngữ Văn cùng nhau bàn bạc thấu đáo để công việcnày thực sự có hiệu quả hơn
1.2.Mục đích nghiên cứu:
- Mục đích của đề tài này là theo dõi sự tiến bộ của các em qua từng bàilàm, khắc phục những hạn chế trong bài làm của các em để điều chỉnh phươngpháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh.Giúp học sinh học sinh đúc rút kinhnghiệm, phân tích cái hay cái dở trong bài làm của mình, nêu phương hướngphấn đấu sửa chữa và vươn lên ở những bài sau.Từ đó phát huy tính tích cực chủđộng sáng tạo của các em góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữvăn ở bậc THCS
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh khối 6 đến khối 9 của Trường THCS Đăk Drô
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu các tiết tập làm văn trong SGK, SGV, sách chuẩn kiến thức
kĩ năng môn Ngữ văn từ khối 6 đến khối 9
Đọc, nghiên cứu tài liệu từ các nguồn: sách, báo, internet
- Thu thập dẫn chứng qua tiết dạy của bản thân và đồng nghiệp
- Nghiên cứu và thực nghiệm việc ra đề, chấm , trả bài qua các tiết tập làmvăn cụ thể
1.5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
Trang 4- Về môn Ngữ văn có rất nhiều vấn đề để nghiên cứu song ở đây tôi chỉchọn nghiên cứu việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn mà thôi.
2 NỘI DUNG:
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
Làm văn là giờ học mang tính thực hành tổng hợp ở trình độ cao của ba phânmôn : Tiếng Việt- Đọc văn và làm văn.Đây là gờ học giờ học thể hiện rõ nhấtkết quả dạy và học môn ngữ văn của thầy và trò Nó góp phần quan trọng trongviệc trực tiếp hình thành mục tiêu : Phát triển năng lực tạo lập văn bản với yêucầu không những đúng mà còn phải hay cho học sinh Làm văn không nhữngrèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu, thực hành và vận dụng những gì
đã học trong giờ Ngữ văn vào tạo lập một văn bản mà còn chứa đựng trong nó
cả nhận thức, tình cảm, cá tính, tâm hồn, năng lực tư duy của các em Mỗi bàiLàm văn là một sản phẩm tổng hợp về nhân cách cá tính của mỗi học sinh Do
đó ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn là khâu quan trọng để đánh giá khách quannhững sáng tạo nhỏ của các em học sinh, đánh khả năng tiếp thu bài học lýthuyết mà giáo viên truyền đạt cho để áp dụng vào thực hành Đây cũng là khâuquan trọng giúp cho học sinh nhận ra những ưu khuyết điểm trong bài làm củamình để rút kinh nghiệm cho những bài viết lần sau tốt hơn
Tuy nhiên trên thực tế, một số giáo viên còn coi nhẹ công tác ra đề - chấm- trảbài Tập làm văn Giáo viên ra đề chưa sát với đối tượng học sinh ở vùng miềnmình giảng dạy, chấm bài qua loa đại khái thiếu tâm huyết, tiết trả bài được thựchiên một cách đơn giản chưa có sự chuẩn bị chu đáo để giờ trả bài thực sự cóhiệu quả Giáo án tiết trả bài sọan quá ngắn gọn với những lời nhận xét chungchung, bài nào cũng như bài nào, không có những nhận xét cho những bài làm
cụ thể Do đó, khi lên lớp, giáo viên chưa có những nhận xét xác đáng, trả bàithiếu tính hệ thống, không có phần sữa lỗi trong bài làm của học sinh Từ đó,dẫn đến học sinh chưa ý thức đúng vai trò của tiết trả bài Chỉ mong ngóng mìnhđược bao nhiêu điểm để mà buồn mà vui thôi chứ chưa có ý thức phát huynhững mặt tốt và khắc phục những thiếu sót trong bài làm của mình
Trang 5Từ những vấn đề trên, để khắc phục những hạn chế của việc ra đề, chấm, trảbài Tập làm văn tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “ Bàn thêm về việc ra đề - chấm -trả bài Tập làm văn”.
2.2.Thực trạng của vấn đề:
Từ năm học 2008-2009, tôi được phân công về công tác tại trường THCS
Đăk Drô – xã Đăk Drô – huyện Krông Nô Từ đó đến nay, tôi đã được giảng dạymôn Ngữ văn từ khối 6 đến khối 9 Qua quá trình giảng dạy, tôi thấy thực trạngcủa việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn như sau:
a.Thuận lợi khó khăn:
a.1.Thuận lợi:
Hiện nay, tất cả bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đang thực hiện
đổi mới một cách toàn diện trong đó có đổi mới phương pháp dạy học Phươngpháp dạy học mới đòi hỏi: “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “phát huytính tích cực chủ động, sáng tạo của người học” Để thực hiện tốt công tác đổimới phương pháp dạy học trong môn Ngữ văn, Phòng Giáo dục huyện Krông
Nô, trường THCS Đăk Drô thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo chuyên đề
để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho giáo viên Qua các buổi tập huấnnày, tôi đã rút ra được nhiều bài học bổ ích phục vụ cho công tác giảng dạy mônNgữ văn cũng như thực hiện việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn
- Mặt khác, hiện nay công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, đây chính
là mảnh đất màu mỡ để tôi tự học hỏi, nghiên cứu khi thực hiện đề tài này
- Bên cạnh đó,ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quantâm, giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu nhà trường, các đồng nghiệp, các emhọc sinh đã tạo động lực to lớn cho tôi thực hiện đề tài này
a.2 Khó khăn:
- Học sinh yêu môn văn, học giỏi môn văn ngày ngày càng ít, giáo viêndạy văn không được học sinh hưởng ứng nhiều Chất lượng của các bài viết củahọc sinh chưa cao, chưa rèn luyện được kỹ năng hoàn thành một bài viết Bàiviết của học sinh mắc nhiều lỗi chính tả, không xác định được yêu cầu của đềbài, không biết triển khai bài viết theo hướng nào, cách dùng từ, đặt câu, dựng
Trang 6đoạn …thiếu trong sáng và không hợp lí Học sinh chưa thấy được những điểmmạnh, điểm yếu trong bài làm của mình Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đếnquá trình thực hiện đề tài.
b.2 Hạn chế:
Một số học sinh chưa ý thức hết tầm quan trọng của tiết trả bài nên chưa có ý
thức rút kinh nghiệm cho bài viết lần sau của mình Do đó trong các bài làm vẫncòn mắc nhiều lỗi như dùng từ, đặt câu, triển khai các ý lộn xộn , sắp xếp bố cụcbài làm chưa khoa học…
c Mặt mạnh, mặt yếu.
c.1 Mặt mạnh :
Là giáo viên được trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở tất cả các khối lớpcủa bậc THCS, tôi có điều kiện để nắm rõ những mặt được và chưa được trongbài làm của học sinh Từ đó tôi luôn luôn có ý thức học tập trau dồi kiến thức,tìm hiểu nắm bắt đối tượng học sinh của mình để thực hiện công tác ra đề -chấm - trả bài Tập làm văn một cách tốt nhất
c.2 Mặt yếu:
Tài liệu tham khảo bồi dưỡng về công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văncòn rất ít Công tác ra đề, chấm trả bài Tập làm văn hầu như không có một tàiliệu nào hướng dẫn cụ thể mà hầu hết giáo viên tự mày mò, tự học hỏi để thựchiện
d Các nguyên nhân, yếu tố tác động:
Trang 7Theo tác giả Lê Ngọc Trà, dạy văn tức là: “ khai trí, khai tâm”.Thật vậy, văn
có một tính chất đặc biệt, đó là tính toàn vẹn của nhận thức về thế giới, nó có cảnhận thức về lí trí và tình cảm Thực tế môn Ngữ văn có một vị trí quan trọngtrong nhà trường Học văn không chỉ học những tri thức về ngôn ngữ, về líluận ,về lịch sử văn chương mà cốt lõi của việc học văn là bồi dưỡng và pháthuy năng lực của mỗi con người: năng lực tư duy, năng lực cảm xúc và năng lựccảm thụ.Tầm quan trọng đó ai cũng biết Thế nhưng trên thực tế những năm gầnđây, học sinh yêu môn văn ngày càng ít đi Những giờ dạy văn không còn đượchọc sinh đón nhận một cách hứng thú say mê mà cảm thấy chán nản, gò bó.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do nhiều nguyên nhân nhưng theo tôi chủyếu là bắt nguồn từ giáo viên.Một số giáo viên chưa biết cách dẫn dắt, hướngdẫn học sinh cảm nhận một vấn đề văn chương hay có chăng cũng thực hiện mộtcách qua loa không đến nơi đến chốn, không có sự động viên, khích lệ dù đó là
sự sáng tạo,cảm thụ rất nhỏ bé của các em
Đặc biệt trong việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn , một số giáo viênchưa thực sự đầu tư và quan tâm đúng mức Hơn nữa, giáo viên không có tàiliệu soạn mẫu hay mô hình bài soạn để tham khảo, thậm chí ngay cả các đợt tậphuấn việc soạn giáo án tiết trả bài như thế nào cũng không thấy đề cập Chưa có
sự thống nhất về cách soạn giảng và chưa coi trọng đến mục tiêu và nhiệm vụcủa công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn Tiết trả bài ít khi được dựgiờ,đánh giá.Tổ chuyên môn chưa thực hiện đầy đủ vai trò, chức năng của mình.Mặt khác, học sinh có thói quen học vẹt bài văn mẫu mà không có kĩ năng viếtvăn Bài viết mắc nhiều lỗi chính tả, không xác định được yêu cầu của đề bài ,không biết triển khai bài viết theo hướng nào, cách dùng từ , đặt câu,dựng đoạn
…thiếu trong sáng và không hợp lí Học sinh chưa thấy được những điểmmạnh, điểm yếu trong bài làm của mình
Chính vì vậy công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn cần phải được nhìnnhận đúng và thực hiện một cách nghiêm túc để đạt hiệu quả tốt hơn
e Phân tích, đánh giá thực trạng:
Trang 8Theo khảo sát Ngữ văn năm 1991-1992 của sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nộicho thấy trong số 897 bài chỉ có 2% không có lỗi chính tả, 0,6% không có lỗi vềcâu và chỉ có 4,5% viết sạch sẽ không tẩy xóa
Còn bản thân tôi, khảo sát số học sinh trong hai năm học: 2011-2012,
2014-2015 thì: năm học 2011-2012: Trong 78 học sinh chỉ có 2,6% không có lỗichính tả, 0% không mắc lỗi về câu, 3,8% viết sạch đẹp không tẩy xóa Năm2014-2015: Trong 64 học sinh tôi khảo sát có 1,6% không có lỗi chính tả,1,6%không mắc lỗi về câu, 3,1% viết sạch đẹp không tẩy xóa Chất lượng của các bàiviết của học sinh chưa cao, chưa rèn luyện được kỹ năng hoàn thành một bàiviết Bài viết mắc nhiều lỗi chính tả, không xác định được yêu cầu của đề bài,không biết triển khai bài viết theo hướng nào, cách dùng từ , đặt câu, dựng đoạn
…thiếu trong sáng và không hợp lí Học sinh chưa thấy được những điểmmạnh, điểm yếu trong bài làm của mình
Trong thực tế, nhiều giáo viên chưa thật sự đầu tư thời gian và tâm sức vàoviệc ra đề, chấm và trả bài Tập làm văn
Để đỡ mất thời gian, giáo viên thường lấy những đề có sẵn trong sách giáokhoa, sách những bài văn mẫu và ở các tài liệu khác để ra cho học sinh màkhông cần quan tâm đến đối tượng học sinh của mình Đáp án, biểu điểm lập rarất sơ sài ,không khoa học mà để đối phó, để gọi là cho có
Bên cạnh đó việc chấm bài, giáo viên cũng thực hiện chấm qua loa và thiếuchuẩn xác:
- Chấm bài theo cảm tính, điểm thiếu chính xác, do không có đáp án vàbiểu điểm chấm bài cụ thể
- Chấm bài thiếu chính xác do không đọc kỹ, thiếu tôn trọng kết quả, côngsức làm bài của học sinh Có khi chỉ đọc mở bài, kết bài, liếc sơ qua phần thânbài rồi cho điểm
- Nhận xét bài làm của học sinh qua loa đại khái, đôi khi không nhận xétchỉ cho điểm Nhiều giáo viên còn viết tắt, viết láu trong phần lời phê và bỏ quaphần gạch lỗi trong bài làm của học sinh ( Đến lỗi chính tả cũng không gạchchân…)
Trang 9Giờ trả bài,so với các giờ khác, có lẽ giờ trả bài lại là giờ hiệu quả kémnhất, giáo viên thực hiện tùy tiện nhất, học sinh làm việc uể oải nhất Hầu nhưgiáo viên trả bài không theo một hệ thống nào cả, trúng bài nào nhận xét bài đó,
có giáo viên chỉ tập trung cho học sinh lập dàn ý mà không nhận xét một cách cụthể, không cho học sinh sửa lỗi, trong khi đó lời phê lại rất chung Kết quả làhọc sinh chẳng nắm được ưu, khuyết điểm cụ thể trong bài làm của mình là gì đểbiết hướng sửa chữa và tiến bộ Các em chỉ ngồi chờ giáo viên phát bài, xemmình được điểm mấy để mà buồn hoặc vui.Một số giáo viên cho học sinh làmbài trên giấy không chịu đính lại thành tập Còn có tình trạng học sinh xé bàilàm,vứt bài bị điểm xấu một cách vô thức Phần lớn là do giờ trả bài chưa làmtrọn yêu cầu của nó
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi mạnh dạn : Bàn thêm về việc ra đề chấm
-trả bài Tập làm văn như sau.
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
- Mục tiêu của đề tài này là theo dõi sự tiến bộ của các em qua từng bàilàm, khắc phục những hạn chế trong bài làm của các em để điều chỉnh phươngpháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh Giúp học sinh học sinh đúc rút kinhnghiêm, phân tích cái hay cái dở trong bài làm của mình, nêu phương hướngphấn đấu sửa chữa và vươn lên ở những bài sau.Từ đó phát huy tính tích cực chủđộng sáng tạo của các em góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữvăn ở bậc THCS
Để đạt được mục tiêu đó tôi đã thực hiện các giải pháp sau:
b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
b.1.Ra đề:
Trước đây, tất cả các giáo viên Ngữ văn đều phải ra đề, lập đáp án biểu điểmchấm mới thấy được cái khó của việc ra đề tập làm văn.Ra được một đề vănkhông có gì sai sót là việc đã khó rồi, tự mình lập một đáp án chính xác và lậpbiểu điểm chấm cho đúng với trình độ của học sinh mình lại càng khó hơn Đó
Trang 10là cái khó của một thời ít các loại sách dàn bài, sách những bài văn mẫu, các bộđề.
Ngày nay, các nhà sách bán nhan nhản các loại sách ra đề, có đáp án sẵn, giáoviên chỉ cần dựa vào đề và đáp án có sẵn để ra đề và đánh giá học sinh Làm nhưvậy rất thuận tiện cho giáo viên và đỡ được bao nhiêu công sức của giáo viên.Nhưng có lẽ chúng ta cần xem xét lại vì tôi thiết nghĩ: Việc giáo viên tự ra đềdựa trên thực tiễn học sinh của mình, dựa vào yêu cầu của chương trình, hoàncảnh dạy và học theo đúng hoàn cảnh vùng miền, từ tình hình chính trị, văn hóa
xã hội… Để ra một đề văn rồi xây dựng đáp án biểu điểm chấm thích hợp sẽ cótác dụng bổ ích về nhiều mặt cho giáo viên học sinh
Ví dụ:Thay vì những có sẵn về văn thuyết minh như: “Cây lúa Việt Nam”,
“Chiếc nón lá việt Nam” , “Tà áo dài Việt Nam”… Giáo viên huyện Krông Nô
có thể ra đề : “Cây cà phê trên quê hương Đăk Nông” thật gần gũi và bổ ích cho
cả giáo viên lẫn học sinh
Tiếc rằng đến nay số giáo viên tự ra đề Tập làm văn không nhiều Bởi hầu hếtchúng ta chỉ chú ý đến sự tiện lợi, đỡ mất thời gian trong khâu ra đề mà quênmất rằng : Ra đề là một thước đo năng lực văn chương, năng lực sư phạm vàtrình độ nhiều mặt khác của người giáo viên Ngữ văn” (Giáo sư Phan TrọngLuận)
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến trong hội nghị đổi mới phương pháp dạy họcvăn và những vấn đề bức thiết về dạy Tập làm văn ở bậc Trung học: “Đã đến lúcngười giáo viên cần nhận thức rõ : “Ra đề cho học sinh làm bài là một khâu hếtsức quan trọng cần được tiến hành một cách nghiêm túc và có tính toán kĩ”
b.2 Yêu cầu của việc ra đề Tập làm văn:
“Cần đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học, tính sư phạm và vừa sức , xuấtphát từ kiến thức trung bình trong sách giáo khoa và trình độ trung bình của họcsinh trong từng lớp.Tránh tình trạng ra đề mà nhiều học sinh bị điểm dưới trungbình.”
- Ra đề Ngữ văn phải kiểm tra được học sinh về các kĩ năng sau:
Trang 11+ Kĩ năng sử dụng ngôn từ: dùng từ, đặt câu, lựa chọn ngữ liệu, sử dụngdấu câu.
+ KĨ năng văn học: Bài làm của học sinh là kết quả cụ thể của việc học tậpvăn học ( các tiết văn bản) và ngôn ngữ ( các tiết tiếng Việt) của học sinh cũngchính là kết quả cuối cùng để đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn Muốnvậy, đề phải đạt những yêu cầu sau:
Thứ nhất: Đề Tập làm văn trước hết phải có tính tư tưởng:
Đề làm văn trước hết phải giáo dục cho học sinh một điều gì đó trong cuộcsống Đối với văn miêu tả, kể chuyện vấn đề không chỉ là tả cái gì, kể cái gì? Màquan trọng hơn là tả nhằm mục đích gì? Kể nhằm mục đích gì? Mục đích phảinằm ngay trong điều mà các em tả, trong câu chuyện mà các em kể Đối với vănnghị luận cũng vậy: Mục đích về tư tưởng phải nằm ngay trong vấn đề ra chocác em nghị luận
Muốn vậy cần ra những đề gắn liền với những sự việc, hiện tượng mà các emgần gũi, những câu chuyện mà các em thấy và nghe được; những vấn đề vănhọc, chính trị , xã hội có tính giáo dục các em về lòng yêu tổ quốc, yêu quêhương , yêu đồng bào, yêu bạn bè…
Lưu ý: Tính tư tưởng của bài phải phù hợp với nội dung cần tả, cần kể hoặc
cần nghị luận, không có tính chất gò ép
- Tính tư tưởng cũng cần gắn với đời sống của các em trong hoàn cảnh đấtnước hiện nay
Ví dụ: Ra đề miêu tả, mục đích miêu tả cần nằm ngay trong đối tượng được
lựa chọn miêu tả Thường là cảnh, vật, con người… tươi vui, đẹp đẽ, đáng yêu,đáng mến:
“Tả một người thầy(cô) giáo mà em yêu quý”
“Tả một người thân yêu trong gia đình”
“Tả cảnh ngôi trường em đang học”
“Tả cảnh bình minh trên quê hương em vào một buổi sáng đẹp trời”
Ra đề kể chuyện:
“Kể lại một việc làm tốt của em hoặc bạn em.”
Trang 12“Kể lại một buổi sinh hoạt lớp đầy ý nghĩa”.
“Kể lại niềm vui của em trong ngày khai trường”
Kể cả những chuyện tưởng tượng cũng cần lưu ý dến tính tư tưởng :
“Cái bàn tự kể lại cuộc đời phục vụ các bạn học sinh học tập tốt”
“Chiếc khăn quàng tự kể về cuộc đời mình”
Ra đề thuyết minh:
“Cây bút nhỏ bé mà thật tiện ích Hãy thuyết minh về cây bút”
“ Cây cà phê trên quê hương Đắk Nông”
Ra đề nghị luận:
“ Hãy phân tích một tác phẩm văn học mà em yêu thích”
“ Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc nhữngnơi công cộng làm ảnh hưởng tới môi trường Em hãy đặt một nhan đề cho hiệntượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình”
Thứ 2: Đề Tập làm văn phải có tính khoa học:
* Về nội dung:
Vấn đề mà đề bài nêu ra phải cụ thể , phạm vi giới hạn vấn đề phải rõ ràng.Ngoài ra, vấn đề của đề bài còn phải phù hợp với thể loại văn (Đối với đề miêu
tả cần phải nêu rõ tả cái gì? Ở đâu? Lúc nào? Đối với văn kể chuyện phải nêu rõ
kể việc gì? Của ai? Lúc nào? Ở đâu? Đối với văn thuyết minh : thuyết minh đốitượng nào? Yêu cầu thuyết minh là gì? Đối với văn Nghị luận phải nêu rõ: Nghịluận vấn đề gì? Phạm vi nghị luận (Vấn đề đưa ra nghị luận của tác giả nào?Ởsách nào hay ở đâu? Vấn đề nghị luận thuộc lĩnh vực nào trong đời sống? )
*Về hình thức:
Từ ngữ trong đề bài phải chọn lọc, trong sáng, dễ hiểu, tránh dùng những từngữ chung chung mơ hồ làm học sinh dễ bị hiểu lầm Kết cấu câu văn phải rõràng, đúng ngữ pháp và không được sai chính tả Nếu có xuất xứ (đối với bàivăn nghị luận ) thì phải tra cứu cẩn thận, không được ghi vào đề những điều màgiáo viên chỉ nhớ mang máng, thiếu xác thực
Thứ 3: Đề Tập làm văn phải có tính sư phạm và tính vừa sức:
Trang 13Đầu tiên, đề Tập làm văn phải gây hứng thú cho học sinh Điều đó thể hiệntrước hết trong nội dung đề bài Đó là nội dung vừa nâng cao vốn hiểu biết, vốnsống cho học sinh, vừa phát triển tư duy, giáo dục thẩm mĩ, tư tưởng cho các em Một đề văn có tính sư phạm cao còn thể hiện ở chỗ nó phù hợp với vốn hiểubiết, vốn sống, vốn ngôn ngữ sẵn có của học sinh.Trước đề bài học sinh tự thấynếu mình cố gắng làm bài thì có thể làm được bài hay.
Một đề văn vừa sức cần thể hiện: đúng trọng tâm chương trình, sát đối tượnghọc sinh, vừa với mức độ trung bình thực học của học sinh trong từng lớp, ởtừng thời gian cụ thể: Kết hợp kiểm tra hiểu biết với khả năng vận dụng kiếnthức, gắn với đời sống xã hội và tâm lí lứa tuổi…
Một đề văn vừa sức học sinh cũng là đề văn được diễn đạt sáng rõ, ngắn ,không thừa ý, thừa lời, không tạo sự hiểu lầm làm học sinh xa đề, lạc đề khi làmbài
Một đề văn có tính sư phạm còn thể hiện ở chỗ nó tạo điều kiện cho học sinhsáng tạo, thể hiện cá tính của mình chứ không phải chép nguyên văn bài văn đã
có sẵn
Không ra những đề quá tầm suy nghĩ của các em, khiến các em phải cónhững suy nghĩ già trước tuổi ( nhất là văn nghị luận)
b.3 Hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu đề, tìm ý để định hướng cho học sinh:
- Tìm hiểu đề: Trước hết phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu thể, loại văn
của đề Thường thường, người ra đề nêu yêu cầu về loại, thể một cách trực tiếpnhưng đôi khi người ra đề yêu cầu một cách gián tiếp, học sinh sẽ lúng túng nếukhông được hướng dẫn
Ví dụ: Với văn miêu tả không nhất thiết phải cứ nêu rõ: “Hãy tả lại ” mà “ Hãy
ghi lại những điều quan sát của em về cảnh vật trên”, hoặc “ Cảnh vật trên đãhấp dẫn em như thế nào?”
- Xác định nội dung cơ bản của đề: Đây là việc quan trọng nhất trong quátrình tìm hiểu đề Nội dung cơ bản của đề thường thể hiện trong một số từ ngữquan trọng, cần được đặc biệt chú ý Học sinh cần tự hỏi: Đề yêu cầu tả cái gì?