1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN giải pháp giúp học sinh học tốt luyện từ và câu lớp 3

13 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 110 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làm quen với các cách giải nghĩa từ thông thường: giải nghĩa bằng cách định nghĩa, bằng cách mô tả trực tiếp thông qua hình ảnh hoặc bằng lời mô tả, bằng cách tìm từ đồng nghĩa hoặc trái

Trang 1

Mẫu 02/MTSK-QLCN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Mã số:

1 Tên sáng kiến: “Giải pháp giúp học sinh học tốt Luyện từ và câu lớp 3”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến nhằm góp phần nâng cao chất lượng học Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 Góp phần giúp học sinh lớp 3 học tốt hơn nữa phân môn luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt Giúp học sinh có hứng thú học tập phân môn Luyện từ và câu, từ đó giúp các em học tốt các phân môn khác như phân môn Tập làm văn, Kể chuyện, Chính tả Và biết áp dụng vào thực tế cuộc sống

3 Mô tả bản chất của sáng kiến

3.1 Tình trạng giải pháp đã biết

Khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn chậm

Trang 2

Các từ, các thành ngữ, tục ngữ cần giải nghĩa, cần tìm có nghĩa gần giống nhau, khiến cho học sinh khó phân biệt nghĩa của chúng

Đầu năm học sinh của lớp kết quả học tập môn Tiếng Việt chưa cao nhất

là về kiến thức luyện từ và câu Một số em quên các kiến thức ở lớp 2 không thực hiện được các bài tập về đặt câu theo mẫu hoặc bài tập về chọn điền dấu câu thích hợp vào ô trống

Chính từ những lý do trên nên tôi chọn viết về đề tài “ Một vài biện pháp dạy tốt Luyện từ và câu lớp 31” nhằm khắc phục những hạn chế đã nêu trên

3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

3.2.1 Mục đích của giải pháp:

Giải pháp này nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt cho học sinh lớp 31 Góp phần giúp học sinh lớp 31 học tốt hơn nữa phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt Giúp học sinh có hứng thú học tập phân môn Luyện từ và câu, từ đó giúp các em học tốt các phân môn khác như phân môn Tập làm văn, Kể chuyện, Chính tả Và biết áp dụng vào thực tế cuộc sống

3.2.2.Nội dung giải pháp

Điểm khác biệt, tính mới của giải pháp: Hướng cho học sinh sử dụng tiếng mẹ đẻ như một công cụ giao tiếp Từ đó phát triển được ngôn ngữ, phát triển được lời nói

Trang 3

Học sinh học khoảng 400- 450 từ mới (kể cả thành ngữ và tục ngữ) thuộc các chủ điểm: Măng non, Mái ấm, Tới trường, Cộng đồng, Quê hương, Bắc-Trung-Nam, Anh em một nhà, Thành thị- Nông thôn, Bảo vệ Tổ quốc, Sáng tạo, Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất Thực chất vốn từ này bổ sung cho vốn từ về thế giới xung quanh gần với các

em nhằm mở rộng vốn hiểu biết của các em về tự nhiên, xã hội, đất nước và con người

Nhận biết nghĩa của một số thành ngữ và tục ngữ gắn vời chủ điểm Nhận biết một số biện pháp tu từ phổ biến: so sánh, nhân hoá

Nhận biết sâu hơn ý nghĩa chung của từng lớp từ đã học ở lớp 2

Làm quen với các cách giải nghĩa từ thông thường: giải nghĩa bằng cách định nghĩa, bằng cách mô tả trực tiếp (thông qua hình ảnh hoặc bằng lời

mô tả), bằng cách tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa…

Nội dung luyện câu tiếp tục những nội dung đã học ở lớp 2, chủ yếu yêu cầu học sinh nói và viết thành câu trên cơ sở những hiểu biết sơ giản câu:

Nhận biết câu trong lời nói, trong văn bản dựa trên tính tương đối trọn vẹn về ý nghĩa câu, dựa trên dấu hiệu mở đầu và kết thúc câu trong văn bản (viết hoa chữ cái đầu câu, dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than ở chỗ kết thúc câu)

Trang 4

Nhận biết các bộ phận chính trong các kiểu câu phổ biến có mô hình:

Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Qua việc đặt câu hỏi cho từng bộ phận chính của câu

Nhận biết các bộ phận phụ của câu trả lời cho các kiểu câu hỏi Khi nào? Ở đâu? Như thế nào? Vì sao? Để làm gì? Bằng gì? Trong những kiểu phổ biền nói trên

Nhận biết các dấu hiệu kết thúc câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm (dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than), nhận biết cách dùng dấu phẩy và dấu hai chấm ở giữa câu

Khi dạy giáo viên cần lưu ý:

- Những nội dung luyện từ và câu chủ yếu là bài tập, không có bài dạy khái niệm

- Những nội dung luyện từ và câu không những có trong môn học này

mà còn thể hiện qua các bài chính tả, một số bài tập đọc Điều này thể hiện quan điểm tích hợp nhằm giúp đỡ học sinh sử dựng kết quả học tập của Luyện từ và câu để giải quyết các nhiệm vụ nên trong bài tập Chính tả, Tập đọc

- Các bài tập về từ: Mở rộng vốn từ theo chủ điểm, nắm nghĩa từ, phân loại và luyện tập sử dụng từ

Trang 5

- Các bài tập về câu: Chọn dấu, tìm dấu, điền dấu thích hợp vào ô trống, ngắt câu

Đầu năm học sinh của các lớp kết quả học tập môn Tiếng Việt chưa cao nhất là về kiến thức luyện từ và câu, một số em quên các kiến thức ở lớp 2 không thực hiện được các bài tập về đặt câu theo mẫu hoặc bài tập về chọn điền dấu câu thích hợp vào ô trống

Thực tế giảng dạy cho thấy cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa sinh động vào các giờ luyện từ và câu ít và dường như không thấy học sinh chủ động học tập, tìm tòi tranh luận câu trả lời của các em không mang tính sáng tạo và kết quả học tập còn thấp Chính vì vậy cần vận dụng phương pháp tích cực để dạy luyện từ và câu nhằm khơi gợi, phát triển nguồn lực suy nghĩ, làm việc một cách tự chủ, năng động sáng tạo, của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học phân môn này

Tổ chức dạy học phân môn Luyện từ và câu theo hướng tích cực không

có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống mà cần phải kế thừa và phát triển những mặt tích cực trong hệ thống dạy học quen thuộc, đồng thời phải căn cứ vào từng loại bài học, từng nội dung dạy học để các phương pháp dạy học được chọn phát huy tối đa tác dụng đối với việc thực hiện mục tiêu môn học

Trang 6

Căn cứ vào đặc điểm nội dung dạy học, căn cứ vào đặc điểm nhận thức của học sinh, dạy Luyện từ và câu có thể sử dụng các phương pháp sau:

- Vận dụng phương pháp thực hành giao tiếp để tổ chức dạy học

+ Nội dung dạy luyện từ và câu được xây dựng qua hệ thống bài tập, không có phần lý thuyết nên tổ chức thực hiện tốt các bài tập luyện từ và câu

có vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học phân môn này để đảm bảo thành công cho các hoạt động thực hành, giáo viên phải giành thời gian chuẩn bị các nội dung thực hành, sao cho phù hợp với đối tượng học sinh, phải kiểm tra được các hoạt động thực hành của học sinh để tránh tình trạng học sinh làm bài sai từ đầu đến cuối hoặc không tham gia thực hành

+ Khi sử dụng phương pháp thực hành trong dạy học Luyện từ và câu, giáo viên cần sử dụng một số biện pháp và kỉ thuật sau: Liên hệ với thực tế

để biết mục đích của bài học, nêu rõ nhiệm vụ học sinh cần làm hướng dẫn học sinh huy động kiến thức đã học và kinh nghiệm của cá nhân để hình thành kiến thức và kĩ năng mới

- Phương pháp trò chơi học tập:

+ Trò chơi học tập là một trò chơi đặc biệt không chỉ nhằm giải trí mà còn góp phần củng cố tri thức, kĩ năng đã học

+ Nội dung của trò chơi học tập phải gắn với các tri thức và kĩ năng của môn học Trò chơi học tập cần có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực

Trang 7

hiện không đòi hỏi thời gian cho việc huấn luyện, phù hợp với trình độ của học sinh không quá khó Ví dụ: khi đặt câu theo mẫu, thi phân loại từ nhanh…

- Phương pháp học nhóm:

+ Dạy luyện từ và câu theo phương pháp hợp tác nhóm nhằm hình thành ở học sinh khả năng giao tiếp, khả năng hợp tác, thích ứng và khả năng độc lập suy nghĩ

+ Dạy luyện từ và câu theo phương pháp hợp tác nhóm phải đáp ứng yêu cầu: Đề tài đưa ra thảo luận có tác dụng kích thích suy nghĩ tò mò của các em học sinh hiểu được những gì được học thông qua thảo luận và khuyến khích học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận

+ Cần lưu ý rằng không nên lạm dụng hình thức thảo luận nếu không sẽ lãng phí thời gian cả lớp

- Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề trong tổ chức hoạt động: + Nhằm hình thành ở học sinh khả năng tư duy giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng, khả năng hợp tác trong đời sống đặc biệt trong giao tiếp

+ Khi dạy học Luyện từ và câu giáo viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách nêu mục đích hình thành kiến thức và kĩ năng mới, nêu nhu cầu cần biết kiến thức mới của bản năng học sinh, dự báo khả năng nắm kiến thức của học sinh

Trang 8

+ Các phương pháp giảng dạy trên cần được sử dụng phối hợp với một

số phương pháp khác như phương pháp vấn đáp, trực quan… nhằm góp phần làm phong phú, đa dạng, đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học Luyện từ

và câu tong chương trình mới

Các biện pháp dạy và học chủ yếu:

- Cách dạy các dạng bài

Dạy các bài tập rèn luyện về từ: Ở hầu hết các bài tập mở rộng vốn từ (theo chủ điểm, theo ý nghĩa khái quát- từ loại, theo quan hệ cấu tạo từ) bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ, bài tập hệ thống hoá và phân loại vốn từ… giáo viên đều có thể tổ chức cho học sinh tự khai thác và phát huy vốn Tiếng Việt thông qua việc thực hành luyện tập cá nhân hoặc theo cặp, nhóm; chuẩn bị các đồ dùng dạy học và phương tiện thích hợp (tranh ảnh, vật thật,

mô hình, băng đĩa…) để học sinh hướng thú tham gia thực hành một cách nhẹ nhàng như được tham gia các trò chơi, cuộc thi gần gũi với lứa tuổi Ví dụ: Để thực hiện bài tập 1 tiết Luyện từ và câu tuần 24 (tìm từ chỉ những người lao động nghệ thuật) giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thảo luận và ghi kết quả vào bảng nhóm hoặc chơi đố từ, thi tìm từ ngữ… dựa vào nhóm

từ ngữ học sinh tìm được (nhiều- ít, đúng- sai) giáo viên kịp thời xác nhận kết quả hay kịp thời điều chỉnh uốn nắn gợi ý bằng câu hỏi để học sinh tìm tòi,

bổ sung thêm vốn từ ngữ cho bản thân

Trang 9

Dạy các bài tập rèn luyện về câu:

- Đối với các bài tập đặt câu theo mẫu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? hoặc mở rộng câu trần thuật đơn bằng cách trả lời các câu hỏi Khi nào? Ở đâu? Như thế nào? Vì sao? Để làm gì? Bằng gì? Giáo viên cần giúp học sinh luyện tập thực hành theo mẫu là chủ yếu, chưa đòi hỏi các kiến thức

về kiến thức về kiểu câu và bộ phận của câu (sẽ học ở lớp 4 và lớp 5)

- Đối với các bài tập về dấu câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy) giáo viên cần cho học sinh luyện tập bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp nhằm khai thác sự cảm nhận về Tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu của học sinh về các mẫu câu hoặc trả lời cho các câu hỏi đã học Thông qua việc hướng dẫn học sinh làm mẫu (bằng cách thử đặt câu vào một

vị trí để xem xét – đúng sai hoặc đặt câu hỏi để xác định ý nghĩa trọn vẹn theo mẫu câu đã học khi đặt dấu chấm, xác định bộ phận cùng trả lời câu hỏi Ai? Làm gì? Khi nào? thế nào? Giáo viên giúp học sinh bước đầu nhận xét

về cách dùng dấu câu chữa lỗi về dấu câu… Từ đó biết sử dụng dấu câu cho đúng, góp phần phục vụ cho kĩ năng viết của các em

- Dạy các bài tập làm quen với các biện pháp so sánh, nhân hoá Giáo viên có thể sử dụng các bịên pháp gợi ý bằng các câu hỏi làm mẫu lập bảng hoặc kẻ sơ đồ… Giúp học sinh dễ hình dung được cấu trúc so sánh, cách nhân hóa

Trang 10

- Đối với học sinh học còn chậm của lớp, hạn chế về môn Tiếng Việt giáo viên cần giành nhiều thời gian để hướng dẫn học sinh làm tốt các bài tập vừa sức cố gắng đạt được yêu cầu tối thiểu Đối với các bài tập đồng dạng, giáo viên có thể chọn cho học sinh làm tại lớp một phần trong số các bài tập

ấy Ví dụ:

+ Bài tập 3 trang 33, Tiếng Việt 3 tập 1 Học sinh thực hiện các bài tập

a, b hoặc c, d

+ Bài tập 1, bài tập 4 trang 42, 43, Tiếng Việt 3 tập 1 Học sinh thực hiện một trong hai bài tập

+ Bài tập 4 trang 90 Tiếng Việt 3 tập 1 Học sinh đặt câu với 2 trong 4 cụm từ

- Đối với một số bài tập có thể thực hiện bằng cách nói hoặc viết giáo viên được chuyển yêu cầu thành nói Ví dụ: bài tập 2 trang 42 Tiếng Việt 3 tập 1 học sinh chỉ cần nêu các từ chỉ sự so sánh, không cần viết các từ ấy

Hướng dẫn học làm các bài tập

- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của các bài tập: Giáo viên cần gợi ý cho học sinh tìm xem bài tập yêu cầu các em nhận diện gì, hoặc tạo ra cái gì, dùng cái gì cho đúng qui tắc

- Học sinh tìm cách giải bài tập qua việc phân tích các chỉ dẫn trong đầu bài Giáo viên có thể hỏi học sinh nhận biết xem đề bài yêu cầu các em

Trang 11

những gì (nối hay điền, ngắt câu hay đặt dấu câu, tìm rồi viết lại hay chơi trò chơi, làm việc trong nhóm hay làm việc cá nhân) làm việc gì trước, làm việc

gì sau

- Giúp học sinh sửa một phần của bài tập để làm mẫu với những bài tập khó, học sinh quan sát hoạt động giải mẫu một phần bài tập của giáo viên

và từ đó giải tiếp

- Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài

- Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về tri thức: học sinh tự nhận xét đánh giá kết quả bài làm

để các em nhớ lại một lần nữa kiến thức, kĩ năng đã học, đã nêu trong bài tập

và rút ra những kinh nghiệm để làm bài tốt hơn Để học sinh có thể tự đánh giá giáo viên cần nêu tiêu chí để yêu cầu từng học sinh tự đánh giá bài của bạn theo tiêu chí

3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp

- Giải pháp này có thể áp dụng được cho giáo viên và học sinh lớp 3 ở

trong trường và các trường Tiểu học trong huyện

3.4 Hiệu quả lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp

Tiết học Luyện từ và câu trở nên tự nhiên, hiệu quả hơn

Trang 12

Chất lượng các tiết dạy được nâng lên rõ rệt Học sinh chủ động,sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức mới

Các em đã bộc lộ được trí tuệ, tài năng của mình trong khi làm các bài tập, dạng trò chơi, câu đố…

Vốn từ ngữ của học sinh trở nên phong phú hơn Khả năng diễn đạt khi nói và viết văn tốt hơn

Khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ đã tương đối thành thạo, các em rất tự nhiên trong giao tiếp đó là một trong những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống Bên cạnh đó giúp cho học sinh yêu quí tiếng mẹ đẻ, đồng thời phát triển được ngôn ngữ và lời nói

Kết quả sau kiểm tra cuối kì 1 môn Tiếng Việt năm học 2018 – 2019 của học sinh lớp 33 như sau:

- Hoàn thành tốt: 19 học sinh Tỉ lệ: 59,4 %

- Hoàn thành: 13 học sinh Tỉ lệ: 40,6 %

- Chưa hoàn thành: 0 học sinh Tỉ lệ: 0 %

3.5 Tài liệu kèm theo gồm: không

Phú Mỹ , ngày 14 tháng 01 năm 2019

Người viết

Trang 13

Trần Thị Bích Phượng

Ngày đăng: 24/06/2020, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w