A4 một mặt để in dấu bàn chân và cắt để so sánh độ dài ngắn của bàn chân vớitrẻ 4-6 tuổiCho trẻ đi trên các con đường bằng các vật liệu khác: Sỏi, cát, thảm cỏ… để trẻ nêu cảm nhận khi đ
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Cơ sở lý luận
Giáo dục mầm non chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân.Nhiệm vụ của giáo dục mầm non là xây dựng cơ sở chăm sóc giáo dục ban đầu,đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách đầu tiên của con người Do đó việcchăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc đời là mộtviệc làm hết sức quan trọng và vô vùng có ý nghĩa
Khám phá khoa học là một trong những nội dung quan trọng trong chươngtrình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non
Nhiệm vụ quan trọng của hoạt động khám phá khoa học là giúp trẻ mở rộng
sự nhận thức về bản thân, về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội xung quanhtrẻ
Giúp trẻ phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ có chủ định, rèn luyện tư duy,rèn khả năng so sánh, phân loại đồng thời mở rộng vốn từ cho trẻ, giúp trẻ diễnđạt ngôn ngữ mạch lạc hơn
Quá trình trẻ được khám phá trải nghiệm còn giúp cho trẻ tích luỹ kinhnghiệm sống, phát triển thẩm mĩ và các kĩ năng xã hội, khả năng làm việc nhóm
và tính độc lập trong công việc
2 Cơ sở thực tiễn:
Đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ mầm non, nhu cầu nhận biết và khám phá khoahọc về môi trường xung quanh của trẻ là vô cùng lớn trẻ luôn mong muốn đượckhám phá về môi trường xung quanh Song song với quá trình phát triển nhậnthức là quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ, trẻ thường đặt ra các câu hỏi: Cái
gì đây? Tại sao? Như thế nào? và mong muốn tìm được câu trả lời Điều nàychứng tỏ rằng nhu cầu khám phá về môi trường xung quanh trẻ là không có giớihạn
Việc tổ chức hoạt động khám phá cho trẻ là giáo viên đã tạo ra cho trẻ môitrường khám phá, tạo cho trẻ điều kiện để trẻ được khám phá, trải nghiệm nhằmthỏa mãm nhu cầu của trẻ Các hoạt động khám phá phù hợp sẽ giúp trẻ tiếp cânvới nền khoa học tiên tiến, thúc đẩy quá trình nhận thức của trẻ
Trên thực tế ở trường mầm nọn, hoạt động khám phá khoa học vẫn đangđược quan tâm phát triển hàng đầu bởi khám phá khoa học không chỉ giúp trẻphát triển về mặt nhận thức mà còn là phương tiện giáo dục trẻ toàn diện
Trang 2Song việc tổ chức các hoạt động khám phá chưa đem lại hiệu quả giáo dụctrẻ như mong muốn bởi các lý do sau:
Giáo viên còn ôm đồm nhiều kiến thức quá trong một hoạt động, cònnặng về vấn đề cung cấp kiến thức mà chưa trú trọng đến khả năng nhận thứccủa trẻ
Điều kiện cơ sở vật chất, nguyên vật liệu giúp trẻ hoạt động khám pháchưa phù hợp
Các hình thức tổ chức hoạt động chưa lôi cuốn được trẻ tham gia, chưa trútrọng đến việc lấy trẻ làm trung tâm
Môi trường cho trẻ hoạt động khám phá chưa phong phú
Bên cạnh đó, do trình độ nhận thức của phụ huynh về việc tạo cho trẻ môitrường khám phá còn hạn chế Đa số phụ huynh quan niệm rằng: Trẻ mầm noncòn bé, biết gì đâu mà khám phá do đó vấn đề kết hợp giũa phụ huynh và giáoviên còn nhiều hạn chế
Vậy làm thế nào để thỏa mãn được nhu cầu khám phá của trẻ , giúp trẻtham gia các hoạt động khám phá khoa học đạt hiệu quả luôn là vấn đề khiếnmỗi giáo viên mầm non cần tìm tòi và sáng tạo
Đó cũng chính là lí do khiến tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp trẻ mẫugiáo bé khám phá khoa học đạt hiệu quả” Để nghiên cứu và viết sáng kiến kinhnghiệm trong năm học 2016 - 2017 này
3 Mục đích của việc thực hiện đề tài:
Nhằm giúp cho giáo viên tìm ra một số biện pháp để tổ chức hoạt độngkhám phá khoa học đạt hiệu quả tốt nhất
Giúp trẻ có có điều kiện để tìm tòi, khám khá, trải nghiệm nhằm thỏa mãnnhu cầu được khám phá của trẻ
Giúp cho phụ huynh nhận thức đúng đắn hơn về nội dung chương trìnhchăm sóc giáo dục trẻ nói chung cũng như nội dung hoạt động khám phá khoahọc của trẻ nói riêng
4 Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp phát giúp trẻ mẫu giaó bé khám phá khoa học đạt hiệu quả
5.Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:
Lứa tuổi mẫu giáo bé 3-4 tuổi
6 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 3Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số nhóm phương pháp phù hợpvới đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ độ tuổi mầm non, đặc biệt là phù hợpvới trẻ lứa tuổi mẫu giáo bé 3-4 tuổi Chủ yếu là các nhóm phương pháp sau:
*Nhóm phương pháp trực quan; Quan sát, Xem tranh ảnh băng hình…Nét nổi
bật của nhóm phương pháp này là sử dụng các hình ảnh cụ thể tác động trực tiếphoặc dán tiếp đến hệ thống tín hiệu thứ nhất, tạo nên hình ảnh cụ thể của hiệnthực, giúp trẻ cụ thể hóa hơn các biểu tượng về thế giới xung quanh
đồng thời giúp trẻ phát triển khả năng cảm thụ tốt hơn
* Nhóm phương pháp dùng lời: Đọc sách, kể chuyện, miêu tả, giải thích, chỉ
dẫn, đàm thoại…Nét nổi bật của nhóm phương pháp này là sử dụng lời nóiphong phú, đa dạng tác động lên hề thống tín hiệu thứ 2 của trẻ, giúp trẻ tái tạogián tiếp trong khái niệm, trong tư duy và suy luận của trẻ, nhờ lời đọc, kể, lờinói diễn cảm giúp trẻ cảm thụ được tích cực và sâu sắc hơn các biểu tượng vềmôi trường xung quanh
* Nhóm phương pháp thực hành: Làm thí nghiệm, Luyện tập, trò chơi và thi
đua Nhóm phương pháp này giúp trẻ có điều kiện được trải nghiệm, tích lũykinh nghiệm, thực hành giao tiếp
7 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- Lớp MGB 3-4 tuổi
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2016 đến tháng 3/2017
- Phân loại các đề tài khám phá
- Tạo môi trường cho trẻ khám phá
- Chuẩn bị đồ dùng, học liệu giúp trẻ thực
Trang 4hiện các hoạt động khám phá.
01/10/2016 30/10/2016 - Đăng ký đề tài sáng kiến kinh nghiệm
- Xây dựng đề cương chi tiết
Tháng 11/2016 Tháng01/2017 - Thực hiện 1 số biện pháp rèn kĩ năng cho
trẻ theo đề cương đã xây dựng
- Ghi chép số liệu, lưu giữ hình ảnh
- Lưu giữ sản phẩm của trẻ
Tháng 3/2017 Tháng 3/2017 - Khảo sát sau khi thực hiện đề tài
- Đánh máy, in, đóng quyển SKKN
- Nộp bản SKKN hoàn chỉnh
1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
Môi trường xung quanh ta vô cùng rộng lớn, bao gồm môi trường tự nhiên vàmôi trường xã hội
Với môi trường xã hôi trẻ được khám phá thế giới đồ vật: Đồ dùng đồchơi, các phương tiện giao thông… trẻ còn được khám phá về cuộc sống xã hội:
về bản thân trẻ, về gia đinh, làng xóm, trường lớp mẫu giáo, Quê hương đấtnước…
Với môi trường thiên nhiên, trẻ được khám phá tìm hiểu về thế giới độngvật, thực vật, thiên nhiên vô sinh, các hiện tượng thiên nhiên…
Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã luôn mong muốn được khám phátìm hiểu về thế giới xung quanh, đó chính là môi trường sống giúp con người cóthể tồn tại và phát triển được Khi mới sinh ra trẻ đã đưa mắt nhìn ra các hướngxung quanh, khoảng 2 tháng trẻ đã nhìn theo các đồ vật có màu sắc sặc sỡ trướcmắt trẻ 5 tháng trẻ đã nhận biết được mẹ và người thân Càng lớn nhu cầukhám phá của trẻ càng tăng dần trẻ biết vận dụng hết các giác quan và khả năngcủa mình vào quá trình khám phá Trẻ 3 - 4 tuổi đã biết đặt câu hỏi cho những
Trang 5thắc mắc của mình: Tại sao có gió ? Tại sao quả bóng nổi mà hòn đá lại chìm?Tại sao cái cây lại mọc lên được…Do vậy tổ chức cho trẻ khám phá môi trườngxung quanh là quá trình giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu tìm tòi khám phá của trẻđồng thời phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ có chủ định, nhận biết phân biệt,phát triển khả năng so sánh, phân loại, Quá trình này giúp trẻ phát triển về nhậnthức Song song với quá trình phát triển nhận thức là quá trình phát triển ngônngữ của trẻ Hoạt động khám phá môi trường xung quanh giúp cung cấp và mởrộng vốn tử cho trẻ, giúp trẻ rèn luyện ngôn ngữ giao tiếp trong quá trình trẻ đặtcâu hỏi, tìm cách trả lời và nêu ý kiến của bản thân.
Quá trình trẻ khám phá còn giúp cho trẻ phát triển các kĩ năng vận độngtinh và giúp trẻ tích lũy được các kinh nghiệm sống, làm phong phú cho cuộcsống của trẻ mai sau
Ban giám hiệu nhà trường và bạn bè đồng nghiệp luôn ủng hộ việc thựchiện đề tài
Đa số phụ huynh nhiệt tình với lớp, quan tâm đến trẻ, đưa đón trẻ đúnggiờ, ủng hộ giáo viên thực hiện các phong trào của lớp
2.2 Khó khăn:
Đề tài còn rộng, dàn trải, chưa phù hợp với trẻ, chưa mang tính chất khámphá Nội dung khám phá còn thiếu thực tế, giáo viên chưa khai thác được hếtkhả năng của trẻ trong mỗi hoạt động Giáo viên còn làm thay trẻ nhiêu vàkhông tạo điều kiện cho trẻ được nêu ý kiến
Trang 6Chưa khai thác hết môi trường xung quanh trẻ, chưa có sự thay đổi môitrường hoạt động cho trẻ.
Đồ dùng để cho trẻ khám phá chưa đẹp, chưa phong phú đa dạng,hìnhthức tổ chức hoạt động cũng chưa thực sự lôi cuốn được trẻ tham gia hoạt động
Trẻ đang sống trong môi trường gia đình, được ông bà, bố mẹ yêu thươngchăm sóc, đến trường là nơi hoàn toàn mới mẻ xa lạ với trẻ, do đó trẻ chưa quenvới nề nếp, thói quen của lớp, còn dụt dè, nhút nhát ít tham gia hoạt động
Tuy phụ huynh có nhiệt tình nhưng chưa nhận thức được đúng đắn vềnhiệm vụ học tập của học sinh đa số phụ huynh cho rằng giáo viên chỉ cần chămsóc trẻ sạch sẽ ăn uống đầy đủ, tăng cân đều đặn là được vì vậy mà trẻ ít có điềukiện để trải nghiệm, để phát huy tính chủ động tích cực trong các hoạt động
Từ những thuận lợi và khó khăn đã nêu, dựa trên cơ sở thực tế bản thântôi đã đề ra một số biện pháp sau:
3 Các biện pháp thực hiện:
3.1 Biện pháp 1: Khảo sát trẻ
Để biết được trình độ nhận thức và khả năng của trẻ vào đầu năm học tôi
đã tiến hành khảo sát trẻ kết quả như sau:
Thời gian
khảo sát
Khả năngQuan sát
Khả năng sosánh phân loại
Thích tìm tòikhám phá
Kinh nghiệmtích lũy và khảnăng giao tiếp
3.2Biện pháp 2: Lựa chọn, sắp xếp các đề tài cho phù hợp.
Thay vì việc cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh qua các hoạt độnghọc ở trên lớp và các đề tài quá rộng, quá nhiều kiến thức như: Trường mầm noncủa bé, Tôi là ai? Bé cần gì để lớn lên và khỏe mạnh?, Bạn trai bạn gái (Chủ đềbản thân), Các phương tiện giao thông đường bộ, Bé vui tết trung thu, các loạirau ăn lá…Tôi đã lựa chọn các đề tài cụ thể hơn, phù hợp với trẻ của lớp mình,
và khả năng thực hiện dề tài cao hơn
Trang 7Bên cạnh việc lựa chọn đề tài tôi còn tổ chức cho trẻ khám phá môi trường quacác hoạt động khác: Hoạt động ngoài trời, hoạt động chơi…do dó đề tài cho trẻkhám phá là vô cùng phong phú, đa dạng.
Với đề tài: “Một số bộ phận trên cơ thể bé” Là một đề tài mà chúng tôi đã chọn
và dạy trong hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh trên tiếthọc.Bản thân tôi cũng thấy đề tài này rất rộng Trong một giờ hoạt động từ 15-20 phút trẻ chưa thể khám phá hết được những gì cần khám phá Vì vậy hoạtđộng chỉ dừng lại ở việc cô chủ động cung cấp cho trẻ kiến thức cần thiết về têngọi, đặc điểm, công dụng của các bộ phận trên cơ thể mà chưa trú trọng đến việclấy trẻ làm trung tâm, và bản thân trẻ cũng không có điều kiện để trải nghiệm, vìvậy mà hiệu quả của các hoạt đông khám phá môi trường xung quanh chưa cao
Thay vì chọn đề tài khó và rộng như vậy tôi đã chọn những đề tài dễ hơn,
cụ thể và có tính chất hẹp hợn như các đề tài: Khám phá đôi mắt, khám phá đôibàn chân, khám phá đôi bàn tay, khám phá cái mũi…
Ví dụ 2: Đê tài: Khám phá “Đôi bàn chân”
• Chuẩn bị: Các đồ dùng để trẻ chơi với đôi bán chân của mình: Màu, Bút vẽ,giấy, kéo…
• Cách thực hiện:
Cho trẻ ngâm chân vào chậu nước, cảm nhận sự mát dịu khi đôi chân ở trongnước, trẻ rửa từng phần của bàn chân: Các ngón chân, kẽ ngón chân, lòng bànchân, mu bàn chân, gót chân,,,
In dấu bàn chân ướt lên thảm, nhận biết bàn chân trái, bàn chân phải,bước chân, đo bước chân dài, bước chân ngắn… (Có thể dùng màu nước và giấy
Trang 8A4 một mặt để in dấu bàn chân và cắt để so sánh độ dài ngắn của bàn chân vớitrẻ 4-6 tuổi)
Cho trẻ đi trên các con đường bằng các vật liệu khác: Sỏi, cát, thảm cỏ…
để trẻ nêu cảm nhận khi được trải nghiệm
3.3Biện pháp 3: Tạo môi trường cho trẻ hoạt động:
Quá trình cho trẻ khám phá khoa học có đạt được hiệu quả hay không nó phụthuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố môi trường xung quanh trẻ là vô cùngquan trọng Môi trường xung quanh trẻ chứa đựng các phương tiện cần thiếtgiúp trẻ khám phá Trẻ mầm non hầu hết được sống trong môi trường gia đình
và môi trường lớp mẫu giáo vì vậy nếu môi trường không hấp dẫn trẻ, khôngđược đổi mới thường xuyên sẽ dẫn đến trẻ nhàm chán và kết quả hoạt độngkhông hiệu quả Muốn trẻ thực hiện tốt các hoạt động giáo dục thì việc đầu tiênphải gây hứng thú cho trẻ khi tới lớp học, trẻ có yêu thích đến lớp thì trẻ mới cóhứng thú tham gia các hoạt động khác Vì thế, lớp học đẹp, môi trường học tậpphong phú, gợi mở vừa để thoả mãn nhu cầu vui chơi, giao tiếp, nhận thức, nhucầu hoạt động cùng nhau của trẻ, vừa tạo cơ hội cho trẻ được chơi và hoạt độngtheo sở thích tích cực, độc lập, sáng tạo vận dụng những kỹ năng đã học vào cáchoạt động khác, các tình huống trong quá trình hoạt động Tôi nhận thấy việcxây dựng môi trường học tập phù hợp và hấp dẫn trẻ là vô cùng cần thiết
Sau khi nhận sự phân công của Ban giám hiệu, ngay từ đầu năm học, tôi đãtrang trí lớp theo các chủ đề đang học và đảm bảo: không gian thực tế của lớp,
an toàn, thẩm mỹ, các nhu cầu của trẻ Tôi sắp xếp các góc chơi hợp lý và tậndụng tối đa diện tích phòng học để bố trí không gian tổ chức các hoạt động họctập và vui chơi của trẻ Với mỗi chủ đề tôi luôn có sự thay đổi phù hợp, hướngdẫn trẻ tạo các sản phẩm trong hoạt động góc để cùng cô trang trí lớp học
Bên cạnh yếu tố môi trường thì đồ dùng, đồ chơi và địa điểm cho trẻ thựchiện các hoạt động khám phá là vô cùng quan trọng
Các vật dụng cho trẻ khám phá phải là vật thật, có nhiều ưu điểm nổi trội,giúp trẻ có khả năng trải nghiệm tối đa lại có khả năng dễ kiếm, phù hợp theomùa và địa phương
Ví dụ: “Các loại quả mùa hè”
Tôi chọn “Quả mít” bởi các lý do sau: Là loại quả quen thuộc trong mùa hè,hình dạng tròn, có mùi rất thơm, vỏ có nhiều gai, có sơ bao quanh các múi, cóhạt, trẻ dễ bóc múi, ăn có vị ngọt
Trang 9Với quả mít, khả năng thực thi đề tài cao vì đây là loại quả dễ kiếm Trẻđược vận dụng tối ưu các giác quan trong quá trình trải nghiệm khám phá: Nhìn,
sờ nắn, ngửi, bóc tách sơ và múi mít, bóc tách hạt bên trong múi mít, ăn và cảmnhận vị ngọt của múi mít Hạt mít có thể cho trẻ luộc, bóc vỏ và ăn hạt mít…
Với đề tài này tôi có thể chọn để dạy cho cả lớp, địa điểm trên lớp học
Sử dụng đồ dùng trực quan là một biện pháp vô cùng quan trọng trong hoạtđộng giáo dục Đồ dùng đồ chơi là phương tiện giúp trẻ khám phá, chính vì vậy
đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn, đa dạng phong phú mang tính chất sử dụng cao
sẽ làm cho hoạt động khám phá thêm sinh động khiến trẻ hứng thú hơn, đạt kếtquả cao hơn
Ví dụ với đề tài: Khám phá về khuôn mặt của trẻ
Tôi sử dụng đồ dùng là mỗi trẻ một chiếc gương, trẻ được trải nghiệmcách soi gương, được ngắm khuôn mặt của chính mình trong gương Với các bộphận trên khuôn mặt của mình, trẻ có thể khám phá đặc điểm, công dụng củatừng bộ phận như: Mặt cười, mặt mếu, mặt buồn, vui hoặc nhíu mắt, giả nhai, hámiệng, thè lưỡi, khịt mũi…Tất cả những điều này đều khiến cho trẻ thích thú.Khi sử dụng các loại đồ dùng phục vụ học tập của trẻ tôi luôn tuân thủ nguyêntắc: Bền chắc, không sắc nhọn, không gây tai nạn cho trẻ, đẹp, có hiệu quả ứngdụng cao Bên cạnh đó tôi còn trú trọng đến việc dạy trẻ các kĩ năng sử dụng đồdùng bảo đảm an toàn: Cầm gương phải nhẹ nhàng, cẩn thận, không làm rơi vỡ
3.4 Biện pháp 4: Một số phương pháp được sử dụng trong hoạt động tổ chức cho trẻ khám
• Phương pháp nâng cao khả năng quan sát, so sánh phân loại:
Một trong những phương pháp quan trọng và không thể thiếu đối với khámphá khoa học là quan sát, so sánh và phân loại
Với mỗi bài tuỳ thuộc vào đối tượng cho trẻ làm quen, tôi tìm những cáchvào bài khác nhau để gây sự chú ý, tò mò của trẻ có thể dùng câu đố, bài hát…
Để trẻ nhận biết đối tượng bằng tranh ảnh và đồ vật, vật thật và mô hình
Với mỗi đối tượng trẻ được làm quen, trẻ được quan sát thật kỹ, trẻ biết đưa
ra ý kiến nhận xét của mình, cùng với đó là câu hỏi gợi mở của cô, cứ mỗi lầnlàm quen như vậy tôi lồng ghép nội dung giáo dục vào bài Trẻ không nhữnghiểu về vật đó mà còn có cách ứng xử, hành động với chúng
Qua các buổi dạo chơi, thăm quan, hoạt động ngoài trời, dã ngoại … khi trẻquan sát tôi hướng trẻ sử dụng mọi giác quan để trẻ có thể chỉ ra chọn vẹn đối
Trang 10tượng đó Qua hoạt động cho trẻ quan sát cô đưa ra các câu hỏi đàm thoại để chotrẻ so sánh và phân loại từ đó sẽ phát huy khả năng sáng tạo và tư duy cho trẻ.
Ví dụ: Cô và trẻ quan sát vườn hoa của lớp có nhiều loại hoa khác nhau,hướng trẻ nhận biết màu sắc cánh hoa, cho trẻ sờ cánh hoa thấy mịn và nhẵn,ngửi hoa và cảm nhận mùi thơm của từng loại hoa
Trẻ được quan sát kỹ, có được đầy đủ các đặc điểm của đối tượng nên trẻ sosánh rất tốt và phân loại rất nhanh
Ảnh: Chăm vườn hoa
Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thếgiới xung quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệmôi trường Tôi cũng luôn chú ý kiến thức xã hội với trẻ về công việc của mỗingười, về mối quan hệ giữa con người với nhau, đặc biệt là giáo dục Bảo vệ môitrường Với trẻ mặc dù kiến thức rất đơn giản như tạo cho trẻ thói quen vứt rácđúng nơi quy định, chăm sóc vườn rau bắt sâu cho rau và ý thức bảo vệ môitrường xanh sạch đẹp
• Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan:
Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học chiếm một vị trí rất quan trọngtrong việc giúp trẻ tiếp thu những kiến thức Bởi lẽ trực quan trong dạy học huyđộng được tất cả các giác quan tham gia vào quá trình nhận thức của trẻ
Nhận thức rõ tầm quan trọng của đồ dùng trực quan đối với tiết khám phákhoa học cho nênngay từ đầu năm học tôi mạnh dạn đề xuất với ban giám hiệunhà trường trang bị thêm cho các lớp các thiết bị đồ dùng dạy học như ti vi,bảng, tranh ảnh lô tô, và một số các mô hình mô phỏng để phục vụ dạy học
Trang 11Khi lập kế hoạch cho mỗi tiết học tôi đã rất chú ý tới cách thức truyền tảikiến thức với trẻ đặc biệt đồ dùng trực quan vừa phải mang tính thẩm mỹ, tínhchính xác và sự sáng tạo từ đó kich thích được sự hứng thú, ham hiểu biết ở trẻPhương tiện trực quan trong các hoạt động dạy và học rất đa dạng như: Đồdùng trực quan bằng vật thật: cốc, chén, con cá, các loại rau-quả… Các loại môhình: Mô hình máy bay, Tàu hỏa Các loại tranh ảnh, lô tô.
Tôi luôn lưu ý tới việc sử dụng đồ đùng trực quan phải phù hợp với nội dungtừng tiết dạy ngay từ khi lập kế hoạch cho mỗi tiết khám phá khoa học tôi luônsuy nghĩ và lựa chọn những đồ dùng trực quan sao cho trẻ dễ hiểu và thích thúđối với những tiết chủ đề về môi trường xã hội thì tôi lựa chọn tranh, ảnh để dạytrẻ Đối với những đồ dùng trực quan là đồ chơi tôi đưa vào trong các tiết dạynhư: Đồ chơi của bé, phương tiện giao thông, con vật…Qua những đồ chơi đượclàm khéo léo giống với thực tế sẽ giúp trẻ chú ý quan sát đồ chơi, chơi với đồchơi để khám phá những kiến thức về đối tượng
Vì trẻ mẫu giáo bé có sự tưởng tượng chưa phong phú, kinh nghiệm sốngcủa trẻ còn ít nên tôi thường xuyên tận dụng các vật thật để dạy trẻ Khi cho trẻđược tiếp xúc với vật thật thì tôi nhận thấy trẻ hứng thú và nắm bắt kiến thứcmột cách rõ ràng nhất
Ví dụ: Khi tìm hiểu về quả cam tôi dùng quả cam thật cho trẻ quan sát và trảinghiệm
Đây là quả gì? nhìn xem quả cam có hình gì? Màu gì? Hãy sờ xem vỏ của chúng
có đặc điểm gì? muốn biết cam có mùi gì hãy đưa lên mũi ngửi xem nào…Cuốicùng tôi cho trẻ tự lấy dao bổ cam và nếm thử vị của cam sau đó hỏi trẻ về vịcủa cam (có trẻ nói chua, trẻ nói ngọt) từ đó tôi giải thích “Qủa cam chưa chín
có vị chua, còn quả cam chín có vị ngọt” khi được trải nghiệm thực tế thì trẻ đãnắm vững những kiến thức tôi muốn truyền đạt Qua bài về quả cam tôi khôngnhững đã cho trẻ tìm hiểu một cách tổng quát về quả cam mà còn dạy trẻ kĩ năng
bổ cam và để rác đúng nơi qui định
Việc sử dụng màn hình, máy chiếu cũng là một hình thức sử dụng trực quan
vì vậy tôi thường xuyên sử dụng tạo điều kiện để cho trẻ nắm kiến thức.Thôngqua những cảnh quay, đoạn băng được đưa lên màn hình sẽ tạo ra sự thay đổi, sựmới lạ cho trẻ vì tất cả những sự vật hiện tượng đều có thể chụp lại, quay lại đểđưa lên màn hình cơ hội để trẻ khám phá những sự vật- hiện tượng, con vật…
Trang 12mà trẻ khó có cơ hội tiếp xúc như: tìm hiểu động vật sống trong rừng, động vậtsống dưới biển…
Việc sử dụng đồ dùng trực quan phải được sử dụng một cách linh hoạt và sángtạo Trong tiết dạy tôi không sử dụng một loại đồ dùng từ đầu đến cuối cũngkhông sử dụng quá nhiều loại ôm đồm để trẻ khó hiều mà tôi phối hợp các loại
đồ dùng trực quan sao cho phù hợp, linh hoạt từng phần sao cho trẻ không nhàmchán
Ví dụ: Trong tiết dạy cho trẻ làm quen với một số loại rau tôi có thể sử dụngmột số loại đồ dùng như: Tranh lô tô, vật thật, đồ chơi, màn hình, mô hình kếthợp với nhau sao cho linh hoạt và phù hợp như phần đầu giới thiệu bài cho trẻ đithăm mô hình vườn rau với nhiều loại rau, phần cung cấp kiến thức cho trẻ quansát các loại rau thật, phần mở rộng cho trẻ xem trên màn hình một số loại raukhác và các món ăn từ rau, phần luyện tập cho trẻ đi chơi trò chơi qua những đồrau nhựa, tranh lô tô
Việc kết hợp sử dụng linh hoạt các loại đồ dùng trực quan trong tiết học tôithấy trẻ hứng thú hơn mỗi khi học khám phá khoa học, kiến thức tôi truyền đạt
vì thế mà dễ dàng và trẻ ghi nhớ hơn
• Phương pháp làm thí nghiệm khoa học:
Được trực tiếp làm thí nghiệm với các vật mà mình đang học quả là một điềuthích thú đối với trẻ Thật vậy, cứ để cho cháu được hoạt động, được trảinghiệm, được thử - sai và cuối cùng cháu tìm ra một kết quả nào đó sẽ là mộtđiều lý thú đối với trẻ
Thí nghiệm 1: Không khí có ở đâu?
Tình huống thứ nhất: Cho trẻ chơi “ Bịt mũi”
Cô hỏi trẻ có thở được không? → không thở được
Vậy làm thế nào để thở được? → thả tay ra không bịt mũi nữa thì thở thở được
Cô quy định cho cháu đứng ở một chỗhỏi cháu: Cháu có thở được không?Cho cháu đứng ở các vị trí khác cùng vài bạn nữa, hỏi lần lượt từng cháu: Cháu
có thở được không?
Tình huống thứ 2: Cho cháu đứng tự do ở các vị trí khác nhau trong lớp
rồi hỏi trẻ: Các cháu có thở được không?
Lúc này tôi mới đặt vấn đề: Chúng ta thở được là nhờ có không khí, vậyKhông khí có ở đâu?→ Không khí ở xung quanh chúng ta