1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển tỉnh bắc ninh

207 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp mới về khoa học của luận án Thứ nhất, tác giả luận án đã khẳng định nội hàm của quản trị rủi ro trong quỹ đầu tư phát triển địa phương ở nước ta bởi quỹ này có chức năng hoạt đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIỆT GIANG

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIỆT GIANG

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án “Quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi các số liệu thứ cấp sơ cấp và trích dẫn, tài liệu tham khảo được trình bày trong luận án là trung thực; kết quả nghiên cứu trong luận án chưa từng được công bố

Hà Nội, tháng 5 năm 2020

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tiến sĩ Nguyễn Phương Bắc

và tiến sĩ Nguyễn Bình Giang đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận án này

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Khoa Quản trị Doanh nghiệp, Học viện Khoa học

xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cùng các thầy, cô trong trong và ngoài Khoa đã quan tâm tham gia đóng góp ý kiến và giúp tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện công trình này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà quản lý ở Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh, các cán bộ, chuyên viên ở Quỹ, ở sở Tài chính và các cơ quan đối tác cũng như khách hàng của Quỹ đã nhiệt tình tham gia đóng góp ý kiến, cung cấp những tài liệu

và những thông tin quý báu giúp tôi thực hiện tốt công trình nghiên cứu này Sự giúp

đỡ và ý kiến của các nhà quản lý, các chuyên gia, các đối tác, khách hàng và đồng nghiệp không chỉ là một trong những yếu tố giúp cho tôi hoàn thành thành công trình

mà còn là sự khích lệ về tinh thần và nhiệt huyết hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu của mình

Và cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn ở bên cạnh động viên và cổ vũ tôi hoàn thành luận án này

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 7

1.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 11

1.3 Đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và khoảng trống nghiên cứu 19

1.3.1 Đánh giá về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

1.3.2 Khoảng trống nghiên cứu 21

1.4 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu 21

1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu 21

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu 22

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 24

2.1 Khái quát về rủi ro, quản trị rủi ro 24

2.1.1 Rủi ro 24

2.1.2 Khái niệm quản trị rủi ro 28

2.2 Quỹ đầu tư phát triển địa phương 30

2.2.1 Khái niệm Quỹ đầu tư 30

2.2.2 Quỹ đầu tư phát triển địa phương 30

2.3 Nội hàm của quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển 35

2.3.1 Xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro 36

2.3.2 Nhận diện rủi ro 37

2.3.3 Phân tích và đánh giá rủi ro 39

2.3.4 Xử lý rủi ro 42

2.3.5 Giám sát rủi ro và báo cáo 43

2.4 Các yếu tố tác động đến quản trị rủi ro 45

2.4.1 Vai trò của ban lãnh đạo 47

2.4.2 Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của doanh nghiệp 48

2.4.3 Văn hóa doanh nghiệp 49

Trang 6

2.4.4 Nguồn nhân lực 50

2.4.5 Yếu tố công nghệ thông tin (CNTT) 51

2.4.6 Khách hàng 52

2.5 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số Quỹ đầu tư phát triển ở Việt Nam 53

2.5.1 Quỹ PYN (Mutual Fund Elite) và IDG (IDG Ventures Vietnam) 53

2.5.2 Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Giang 58

2.5.3 Quỹ đầu tư phát triển Hà Nội 60

2.5.4 Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Thái Nguyên 63

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 67

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 67

3.1.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội tỉnh Bắc Ninh 67

3.1.2 Quỹ Đầu tư Phát triển (QĐTPT) Bắc Ninh 72

3.2 Thiết kế quy trình nghiên cứu 76

3.2.1 Quy trình nghiên cứu 76

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 77

3.2.3 Kích thước mẫu nghiên cứu 78

3.2.4 Lựa chọn mẫu 79

3.2.5 Thiết kế thang đo 79

3.2.6 Phương pháp khảo sát 80

3.2.7 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 80

Chương 4: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỈNH BẮC NINH 84

4.1 Thực trạng Quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 84

4.1.1 Xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro 84

4.1.2 Nhận diện rủi ro 88

4.1.3 Phân tích và đánh giá rủi ro 94

4.1.4 Xử lý rủi ro 100

4.1.5 Giám sát, tư vấn và báo cáo 110

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro 113

Trang 7

4.2.1 Thống kê mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro của Quỹ Đầu

tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 113

4.2.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trong phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị rủi ro 115

4.2.3 Phân tích yếu tố khám phá EFA 116

4.2.4 Kết quả của mô hình 118

4.2.5 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 120

4.2.6 Thảo luận kết quả hồi quy 124

4.3 Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 126

4.3.1 Kết quả đạt được 126

4.3.2 Hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro 127

4.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 128

Chương 5: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỈNH BẮC NINH 130

5.1 Chiến lược phát triển của Quỹ 130

5.1.1 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng nhân lực 130

5.1.2 Bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống các quy chế, quy trình nghiệp vụ 131

5.1.3 Thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính trong và ngoài nước để khai thác các nguồn vốn 131

5.1.4 Chủ động khai thác các đối tượng sử dụng vốn mới có hiệu quả, phù hợp với xu thế hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, tạo lập giá trị xã hội 131

5.1.5 Mở rộng hoạt động đầu tư trực tiếp 135

5.1.6 Bổ sung danh mục đầu tư trực tiếp và cho vay giai đoạn 2016- 2020 và 2021-2025 đối với một số đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, ban hành quy chế, quy trình cho vay đối với các đối tượng doanh nghiệp này, đồng thời bổ sung nguồn vốn cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 138

5.1.7 Xây dựng và áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng 138

5.2 Giải pháp cải thiện hoạt động quản trị rủi ro đối với Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 139

5.2.1 Tăng cường nhận thức về quản trị rủi ro 139

Trang 8

5.2.2 Cải thiện hoạt động quản trị rủi ro đối với từng lĩnh vực kinh doanh của

Quỹ 139

5.2.3 Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để giảm thiểu rủi ro 142

5.2.5 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát cả trước, trong và sau khi cho vay, đầu tư trực tiếp và bảo lãnh tín dụng kết hợp với công tác kiểm toán định kỳ 144

5.2.6 Gia tăng đầu tư công nghệ và chú trọng công tác thu thập thông tin, lưu trữ và khai thác thông tin để phục vụ cho việc phân loại, đánh giá và đo lường rủi ro để cải thiện hoạt động quản trị rủi ro 144

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ANOVA Analysis of variance Sử dụng phân tích phương sai

CFA Confirmatory factory analysis Phân tích nhân tố khẳng định

EFA Exploratory factory analysis Phân tích nhân tố khám phá

FMEA Failure modes, effects and

analysis

Phương pháp phân tích các mối nguy

và khả năng vận hành

CNTT Công nghệ thông tin

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

ĐTXD Đầu tư xây dựng

Trang 10

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Bảng 2.1 Ví dụ về ma trận rủi ro 40 Bảng 2.2: Năm mức điểm đánh giá, ước lượng rủi ro 41 Bảng 2.3: Đánh giá (ước lượng) 3 điểm cấp độ rủi ro 41 Bảng 2.4: So sánh mức độ tác động của các yếu tố đến quản trị rủi ro của các

nghiên cứu khác nhau [105, tr.113] 47 Bảng 2.5: Các cổ phiếu trong danh mục của PYN Elite tính tại thời điểm ngày

15/12/2016 54 Bảng 3.1: Dung lượng mẫu khảo sát 79 Bảng 4.1: Kết quả khảo sát đánh giá hoạt động xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro

của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 88 Bảng 4.2: Cho vay đầu tư 11 dự án cụ thể của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 92 Bảng 4.3: Kết quả khảo sát hoạt động nhận diện rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển

tỉnh Bắc Ninh 94 Bảng 4.4: Kết quả khảo sát về hoạt động phân tích và đánh giá rủi ro của Quỹ Đầu

tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 100 Bảng 4.5: Số dư bảo lãnh tín dụng năm 2018 103 Bảng 4.6: Kết quả khảo sát hoạt động xử lý rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh

Bắc Ninh 109 Bảng 4.7: Kết quả khảo sát hoạt động giám sát, tư vấn và báo cáo rủi ro của Quỹ

Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 112 Bảng 4.8: Trị số trung bình kết quả khảo sát của các biến độc lập ảnh hưởng đến

hoạt động quản trị rủi ro 113 Bảng 4.9: Cronbach’s Alpha thang đo của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động

quản trị rủi ro 115 Bảng 4.10: Kiểm định KMO và Bartlett’s Test của các yếu tố ảnh hưởng 117 Bảng 4.11: Tổng phương sai giải trích (Total Variance Explained) của các yếu tố

ảnh hưởng hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ 117 Bảng 4.12: Kết quả phân tích EFA các biến số ảnh hưởng đến hoạt động quản trị

rủi ro (Ma trận xoay) 118 Bảng 4.13: Mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach Alpha và EFA 119

Trang 11

Bảng 4.14: ANOVAa 121

Bảng 4.15: Tổng quan mô hình 122

Bảng 4.16: Hệ số hồi qui (%) 123

Bảng 4.17: Tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng 124

Danh mục hình Hình 2.1: Các phương pháp sáng tạo 38

Hình 2.2: Ví dụ về ghi chép, theo dõi rủi ro 39

Hình 2.3: Biểu đồ xử lý rủi ro 43

Hình 2.4: Kiểm soát rủi ro 44

Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau kiểm định 119

Danh mục sơ đồ, hộp Sơ đồ 2.1: Các giai đoạn quản trị rủi ro theo Sienkiewicz 36

Sơ đồ 2.2: Nội hàm của quản trị rủi ro 36

Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy 74

Sơ đồ 3.2: Quy trình nghiên cứu 77

Sơ đồ 3.3: Nội hàm quản trị rủi ro 77

Sơ đồ 3.4: Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị rủi ro 78

Hộp 1: Hệ thống văn bản pháp quy trong quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 87

Hộp 2: Hoạt động nhận diện rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 93

Hộp 3: Hoạt động phân tích và đánh giá rủi ro của Quỹ 97

Hộp 4: Xử lý rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh 102

Hộp 5: Hoạt động giám sát, tư vấn và báo cáo tại Quỹ 110

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước bối cảnh biến động không ngừng của tình hình kinh tế, chính trị trong và ngoài nước, hoạt động kinh doanh của các Quỹ đầu tư phát triển hiện nay chứa đựng nhiều rủi ro khiến các nhà quản trị, nhà nghiên cứu phải tìm giải pháp phòng ngừa không để xảy ra rủi ro nhiều làm thiệt hại đến nguồn vốn của Quỹ nói riêng và thiệt hại tới nền kinh tế nói chung Trên thực tế, rủi ro là điều không mong muốn đối với các quỹ đầu tư phát triển và các định chế tài chính khác bởi kéo theo đó là trách nhiệm

và thiệt hại về nhiều mặt Về phương diện lý luận, đặc biệt là về khái niệm và nội hàm của quản trị rủi ro tại các quỹ đầu tư phát triển được hiểu chưa thống nhất Do vậy việc vận dụng lý luận để giải quyết các vấn đề thực tiễn của quản trị rủi ro ở các quỹ này chưa có cơ sở khoa học và tính khả thi chưa cao

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam quản trị rủi ro được coi là một nội dung quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các quỹ đầu tư phát triển song việc tổ chức thực hiện quản trị rủi ro còn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Cơ cấu bộ máy, cơ chế vận hành và cách thức thực hiện còn nhiều bất cập Số lượng cán bộ chuyên trách còn ít, chuyên môn còn hạn chế nên khó lường hết các rủi ro trong quá trình cho vay, đầu tư và bảo lãnh; Rủi ro về tín dụng, đầu tư và bảo lãnh còn có thể là nguyên nhân gây ra lạm phát hoặc đình trệ, đặc biệt là khi việc đầu tư không tạo ra được giá trị hàng hóa tương ứng với khối lượng đầu tư được vay Khi đó, rủi ro này có thể diễn biến phức tạp, gây hậu quả khó lường và không nhỏ cho các nhà đầu tư Vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro, đưa rủi ro vào tầm kiểm soát trong khả năng tài chính của doanh nghiệp

là mục tiêu ưu tiên của các quỹ đầu tư phát triển

Trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã có nhiều động lực và quyết sách mới để thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp Cùng với nhịp bước cải cách của Chính phủ, tỉnh Bắc Ninh đã thể hiện quyết tâm và nỗ lực mới về tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp Nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết 35/NQ- CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 [33], UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Chương trình 151/CTr-UBND về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2016- 2020 trong đó cần xây dựng cơ chế tài chính hỗ trợ doanh nghiệp thông qua Quỹ Đầu tư phát triển nhằm tăng cường nguồn vốn cho doanh nghiệp và tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp phát triển [60]

Kể từ khi được thành lập đến nay, Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh (Quỹ ĐTPTBN) hoạt động ổn định và có những bước phát triển vững chắc Với chức năng

Trang 13

đầu tư phát triển và đầu tư tài chính theo quy định tại Nghị định số 138/2007/NĐ-CP

và Nghị định số 37/2013/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu

tư phát triển địa phương [30], [31]; Thực hiện bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh theo quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [49]; Tiếp tục thí điểm thực hiện bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các chức năng bảo lãnh khác cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh khi tham gia đấu thầu, thực hiện các công trình, dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo Quyết định số 339/QĐ-UBND ngày 26/3/2012, Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 05/02/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh, Quỹ ĐTPTBN đã góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh Bắc Ninh trong thời gian vừa qua

Trong điều kiện tỉnh Bắc Ninh phát triển mạnh về thu hút vốn đầu tư nước ngoài với nhiều dự án lớn, hệ thống các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vị trí rất quan trọng, trở thành điểm tựa cho sự phát triển bền vững của kinh tế Bắc Ninh Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, thiếu vốn và khó tiếp cận chính sách hỗ trợ tài chính vẫn

là khó khăn chung của hầu hết các DNNVV trên địa bàn tỉnh Với chức năng là một tổ chức tài chính nhà nước trong việc tiếp nhận vốn ngân sách, huy động vốn trung và dài hạn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để cho vay, đầu tư vào dự án, doanh nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh, thực hiện bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV theo quy định Quỹ ĐTPTBN có nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành một kênh phá vỡ rào cản trong hỗ trợ tài chính, đặc biệt hỗ trợ nguồn vốn cho các DNNVV

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các

Bộ, cơ quan, địa phương liên quan hướng dẫn, đôn đốc và giám sát các địa phương rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (Quỹ ĐTPTĐP), tổng hợp và đề xuất các vấn đề cần bổ sung, sửa đổi, tháo gỡ trong khung pháp lý nhằm tăng cường quản lý nhà nước và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Quỹ ĐTPTĐP Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh là một thể chế tài chính non trẻ (thành lập năm 2014), hoạt động quản trị rủi ro bước đầu được quan tâm song vẫn phải đối mặt với rất nhiều thách thức Họ chưa có bộ máy quản trị rủi ro độc lập, nguồn nhân lực còn thiếu

và yếu về chuyên môn nghiệp vụ Mọi thứ đang ở giai đoạn khởi đầu Cần nhấn mạnh rằng, Quỹ vẫn chưa xây dựng được một chương trình quản trị rủi ro theo yêu cầu của lý thuyết quản trị doanh nghiệp và theo yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia (TCVN ISO 31000:2011) về quản lý rủi ro Chẳng hạn, xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro chưa thực

sự khoa học; vấn đề nhận diện rủi ro vẫn còn nhiều bất cập; đo lường rủi ro chưa lượng

Trang 14

hóa được; quá trình giám sát quản trị rủi ro vẫn còn hạn chế; việc thực hiện cơ chế rà soát rủi ro, chế độ báo cáo công tác quản trị chưa kịp thời… Trong khi đó, tầm hoạt động kinh doanh của quỹ phủ rộng trên địa bàn cả tỉnh Bắc Ninh Điều lưu ý là với một tỉnh có nhu cầu rất cao về tín dụng, đầu tư và bảo lãnh, đòi hỏi Quỹ này phải có một kế hoạch kinh doanh có hiệu quả, trong đó có quản trị rủi ro mới có thể đáp ứng được Trước thực tế đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh” làm luận án tiến sĩ

Nói cách khác việc thực hiện đề tài này là hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tế sâu sắc bởi nó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động quản trị rủi ro, đáp ứng được yêu cầu kinh doanh của Quỹ và của tỉnh Bắc Ninh

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu chủ yếu của luận án là nhằm đề xuất các giải pháp cải thiện hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của Quỹ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên luận án cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan tới quản trị rủi ro tại Qũy đầu tư phát triển

- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro và các yếu tố tác động đến quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2014 - 2018, từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tiếp theo

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: luận án nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2014 đến 2018, đề xuất giải pháp đến 2025 và định hướng phát triển đến năm 2030

- Về không gian: hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh

Trang 15

- Về nội dung: đề tài triển khai theo phương thức kết hợp giữa các hoạt động tác nghiệp trong kinh doanh của Quỹ và các chức năng hoạt động quản trị rủi ro (tập trung vào 3 lĩnh vực cho vay, đầu tư và bảo lãnh tín dụng)

4 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp tiếp cận

Đề tài tiếp cận theo hướng liên ngành, đa chiều trên góc độ lịch sử, kinh tế, chính trị, luật pháp; kết hợp cả cách tiếp cận từ dưới lên (từ khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân vay vốn từ quỹ Đầu tư phát triển) và từ trên xuống (từ các cơ quan quản

lý nhà nước của Quỹ đầu phát triển) để làm sáng tỏ hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ

4.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận án này sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết (phân tích, tổng hợp,

hệ thống hóa tài liệu, so sánh ), phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm (điều tra thực

tế bằng bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp cán bộ làm công tác quản lý, quản trị rủi ro tại Quỹ, các cơ quan liên quan tới Quỹ, khách hàng được vay, bảo lãnh; các quan sát, đánh giá hoạt động của họ) Đây là những phương pháp nghiên cứu khoa học thông dụng có độ tin cậy cao cho phép tác giả tổng hợp, kế thừa và phân tích các tư liệu đã

có để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong luận án

4.2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài, để đánh giá nghiên cứu các tài liệu thu thập được hiện có trong và ngoài nước từ đó hình thành nên khung lý thuyết ở chương 2, đánh giá thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh ở chương 3 Đây là phương pháp nghiên cứu rất quan trọng trong luận án

4.2.2.2 Phương pháp so sánh

So sánh thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh và các quỹ đầu tư ở các tỉnh khác, so sánh thực trạng này và các yêu cầu đổi mới hoạt động quản trị rủi ro mà nhà nước đưa ra hoặc các quỹ khác đưa ra từ đó rút ra được những bất cập và làm rõ nguyên nhân của nó Phương pháp này cũng được dùng

để đánh giá sự thay đổi của hiện tượng nghiên cứu theo thời gian Trong nghiên cứu này phương pháp so sánh được dùng để so sánh các số liệu về lao động, đầu tư, bảo lãnh tại quỹ

4.2.2.3 Phương pháp điều tra và phỏng vấn

Để thực hiện đề tài tác giả sử dụng phương pháp điều tra và phỏng vấn Điều tra thông qua bảng hỏi với các đối tượng trực tiếp làm công tác quản lý, quản trị rủi ro tại

Trang 16

Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh; những đối tượng có liên quan tới công tác này các tại sở, phòng ban của tỉnh, huyện; đối tượng được nhận đầu tư trực tiếp, bảo lãnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Kết quả điều tra, phỏng vấn sẽ minh chứng cho hoạt động quản trị rủi ro, các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Quy trình thiết kế nghiên cứu được trình bày cụ thể ở chương 3

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, tác giả luận án đã khẳng định nội hàm của quản trị rủi ro trong quỹ đầu tư phát triển địa phương ở nước ta bởi quỹ này có chức năng hoạt động như một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tài chính Nội hàm này góp phần bổ sung vào tính đa dạng và tính giao thoa của quản trị rủi ro trong hoạt động quản trị kinh doanh

Thứ hai, tác giả đồng ý và chia sẻ khái niệm quản trị rủi ro của Robert và Bob, họ coi quản trị rủi ro trong các định chế tài chính trong đó có QĐTPT là việc xem xét và đánh giá toàn diện các hoạt động kinh doanh để nhận biết những nguy cơ tiềm ẩn tức

là những rủi ro [106] Tác giả luận án bổ sung khía cạnh cần coi quản trị rủi ro là một quá trình ra quyết định nhằm đảm bảo mức độ an toàn cao nhất có thể và sử dụng các giải pháp phù hợp để xử lý nhằm giảm thiểu các hậu quả của rủi ro

Và thứ ba, luận án chia sẻ và bổ sung một nội dung cơ bản trong nội hàm của quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển Đó là xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro, coi đây là khâu đầu tiên, có vị trí then chốt trong quy trình quản trị rủi ro và tiếp theo mới đến nhận diện rủi ro Điều này góp phần bổ sung vào hệ thống lý thuyết quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các quỹ đầu tư phát triển và các định chế tài chính

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Thứ hai, luận án đã chỉ ra các yếu tố tác động đến quản trị rủi ro trên cả hai phương diện định tính và định lượng Điều này góp phần giúp nhà nhà quản trị rủi ro

có thể lượng hóa được những tác động thuận chiều và ngược chiều tới hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh

Trang 17

Và thứ ba, các kết quả nghiên cứu nhất là các giải pháp đề xuất cho Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh không chỉ có ý nghĩa thực tiễn đối với Quỹ này trong việc cải thiện hoạt động quản trị rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh mà còn là kinh nghiệm

có giá trị tham khảo cho các định chế tài chính khác trong đó có các Quỹ đầu tư Phát triển địa phương ở nước ta

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận,tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản trị rủi ro tại các quỹ đầu tư phát triển

Chương 3: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và thiết kế quy trình nghiên cứu

Chương 4: Thực trạng quản trị rủi ro tại Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh Chương 5: Một số giải pháp cải thiện hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Quản trị rủi ro đối với các Quỹ Đầu tư và Phát triển là vấn đề được sự quan tâm của

nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Ở trong nước, có nhiều công trình nghiên cứu, thảo luận khoa học xung quanh vấn đề quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro đối với Quỹ Đầu tư Phát triển nói riêng, cụ thể:

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Cho đến nay, ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề quản trị rủi ro:

Hướng nghiên cứu về quản trị rủi ro và khủng hoảng, có các công trình của tác giả

Đặng Đức Thành “Quản trị rủi ro” năm 2016 [21], Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn “Quản trị rủi ro và khủng hoảng” năm 2015 [27] Các nghiên cứu này đã tập trung phân tích và làm rõ quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm rủi ro trong chiến lược kinh doanh, trong tín dụng, tài chính doanh nghiệp; xây dựng khung lý thuyết của khủng hoảng và rủi ro, mối liên hệ giữa chúng; ban lãnh đạo doanh nghiệp và vai trò trong quản trị rủi ro; các giải pháp đối phó với rủi ro mà các định chế tài chính, các doanh nghiệp trên thế giới thường sử dụng Đây là những vấn đề lý thuyết căn bản về quản trị rủi ro

Công trình “Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Quy năm

2008 [19] và công trình “Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp xây dựng” năm 2015 của

nhóm tác giả Lê Anh Dũng, Bùi Mạnh Hùng [4] Tác giả nêu và phân tích rủi ro và quản trị rủi ro trong kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam; các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế gồm: tổ chức quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro trong kinh doanh, quản trị marketing, quản trị chi phí kinh doanh, quản trị tài chính, quản trị nhân

sự, quản trị rủi ro trong cung ứng, quản trị chất lượng trong doanh nghiệp và quản trị kinh doanh quốc tế

Các công trình “Quản trị rủi ro tài chính” của Nguyễn Minh Kiều năm 2012 [6],

“Quản trị rủi ro tài chính” của Nguyễn Thị Ngọc Trang - Hồ Quốc Tuấn - Nguyễn Khắc Quốc Bảo - Trần Ngọc Thơ năm 2013 [24], “Quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp dược Việt Nam“ của Nguyễn Thị Bảo Hiền [9] Các tác giả đề cập rõ nét lý thuyết về rủi

ro tài chính và công cụ phái sinh, nhận dạng các loại rủi ro tài chính Các công cụ tài chính phái sinh được chỉ ra khá rõ nét gồm sản phẩm, quá trình phát triển và cấu trúc thị trường; chỉ ra các công cụ quản trị rủi ro tài chính, quản trị rủi ro tín dụng, lãi suất, tỉ

Trang 19

giá và sự phát triển của công cụ quản trị rủi ro sản phẩm; thực trạng về quản trị rủi ro tài chính ở Việt Nam cũng được phân tích khá rõ nét Trong đó các tác giả đặc biệt lưu ý

tới chiến lược phòng ngừa rủi ro và thiết lập chương trình quản trị rủi ro tài chính

Các công trình “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của Nguyễn Văn Tiến năm 2010 [25], Hoàng Xuân Phong “Quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng thương

mại cổ phần công thương Việt Nam” năm 2014 [18], Dương Ngọc Hào “Giải pháp cơ

bản nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”

năm 2015 [7], Nguyễn Quang Hiện “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại

cổ phần quân đội” năm 2016 [8], Tạ Đình Long “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín

dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” năm 2016 [12],

trong đó các tác giả tập trung phân tích những rủi ro đặc thù trong kinh doanh ngân hàng, phương pháp lượng hóa, công cụ phát sinh phòng ngừa lãi suất, rủi ro phá sản và vốn chủ sở hữu; nguyên lý quản trị ngân hàng thương mại và yếu tố lãi suất trong kinh doanh ngân hàng; hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại là cơ sở

để ngân hàng thương mại hoạt động ổn định và phát triển bền vững Quản trị rủi ro tín

dụng ngân hàng được thể hiện trên các phương diện: công nghệ chứng khoán hóa,

quản trị rủi ro thanh toán, tỉ giá hối đoái, phương thức thanh toán quốc tế tại các ngân hàng quân đội và công thương Để quản trị rủi ro thành công, năng lực quản trị cần phải được phát huy, do đó cần có các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị Bên cạnh đó, các công trình đã chỉ ra kinh nghiệm về quản trị rủi ro của các Ngân hàng nước ngoài, bài học vận dụng với Việt Nam Các giải pháp cơ bản để cải thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng như: trích lập dự phòng, hạch toán lại các khoản nợ xấu cũng được tác giả đề xuất

Hướng nghiên cứu liên quan đến hệ thống tiêu chí đánh giá hoạt động của các quỹ, định chế tài chính, hoạt động quản trị rủi ro bao gồm: Luận án Tiến sĩ “Xây dựng

hệ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý Quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước” của Phan Quảng Thống năm 2015 [22] Luận án đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về xây dựng

hệ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý, phân tích thực trạng của việc vận dụng các chỉ tiêu thống kê đánh giá hoạt động quản lý quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua;

Đề xuất một hệ thống tiêu chí hoạt động quản lý quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước đáp ứng được các mục tiêu, yêu cầu đề ra cũng như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện công tác đánh giá hoạt động quản lý quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong thời gian sau đó Các tiêu chí này gồm: (1) Các hệ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu Ngân sách Nhà nước của Kho bạc Nhà nước,

Trang 20

(2) Các tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả và kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước, (3) Các tiêu chí đánh giá một số hoạt động khác liên quan đến hoạt động quản lý Quỹ Ngân sách của Kho bạc Nhà nước

Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả hệ tiêu chí đánh giá như:kết hợp báo cáo thường xuyên theo định kỳ; xây dựng và hoàn thiện quy trình phân tích, đánh giá; tổ chức bộ phận phân tích, đánh giá trong từng đơn vị Kho bạc Nhà nước; và các giải pháp bổ trợ khác (tăng cường sự quan tâm của lãnh đạo Kho bạc Nhà nước các cấp, bảo đảm yêu cầu của thông tin, nâng cao nhận thức của các cán bộ công chức, viên chức Kho bạc Nhà nước, vận dụng tốt công nghệ thông tin)

Công trình phân tích hoạt động quản trị rủi ro, nhất là ở phương diện định tính song chưa chỉ ra được mô hình quản trị rủi ro, đo lường rủi ro và những tổn thất mà Kho bạc phải gánh chịu khi rủi ro tín dụng xảy ra

Hướng nghiên cứu liên quan tới hoạt động nói chung, hoạt động quản trị rủi ro nói riêng của các Quỹ, các định chế tài chính và một số kinh nghiệm từ hoạt động quản trị của các quỹ, bao gồm các công trình của Doãn Hữu Tuệ “Hoàn thiện tổ chức

và hoạt động của hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân Việt Nam” năm 2010 [26], Nguyễn Đình Lưu “Hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dân Việt Nam” năm

2008 [13], Trần Quang Khánh “Những giải pháp đảm bảo an toàn cho hoạt động của

hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dan Việt Nam” năm 2003 [5] và Lê Minh Hồng “Giải pháp hoàn thiện và phát triển hệ thóng quỹ tín dụng nhân dân trong khu vực kinh tế nông thôn Việt Nam” năm 2000 Các công trình này đề cập một cách toàn diện đến quá trình xây dựng, vận hành, phát triển của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam trong đó rủi ro và quản trị rủi ro được phân tích dưới một số khía cạnh nhất định Các tác giả đã phân tích, đúc kết kinh nghiệm quốc tế về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng Nhân dân Việt nam trong giai đoạn 1993 - 2008, đặc biệt là từ 2000 - 2008 Qua đó, khẳng định mặc dù tổ chức và hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng Nhân dân đã được cải thiện nhưng so với yêu cầu đặt ra còn rất hạn chế

Chẳng hạn, ban kiểm soát của Quỹ tín dụng Nhân dân cơ sở chưa phát huy được tác

dụng; vai trò tham gia quản trị, điều hành và kiểm soát của đại diện các Quỹ tín dụng Nhân dân còn mang nặng tính hình thức, chưa đi vào thực chất; cơ cấu tổ chức của Hiệp hội Quỹ tín dụng Nhân dân Việt Nam còn nhiều bất cập; hoạt động của các Quỹ cơ sở vẫn còn nhiều mặt yếu kém, vốn tự có còn hạn chế, chất lượng tín dụng không đồng đều; hoạt động điều hoà vốn khả dụng trong hệ thống Quỹ này chưa đáp ứng được nhu cầu; Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương chưa thực hiện tốt chức năng hỗ trợ các Quỹ tín

Trang 21

dụng Nhân dân cơ sở; tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của hệ thống Quỹ tín dụng Nhân

dân chưa được phát huy đúng mức; chưa thiết lập được các cơ chế phòng ngừa và các

biện pháp hữu hiệu để ứng cứu kịp thời đối với các Quỹ tín dụng Nhân dân cơ sở gặp khó khăn; mối liên kết giữa các Quỹ tín dụng Nhân dân còn nặng về hình thức, chưa đi

vào thực chất

Trên góc độ quản trị rủi ro thì đó là những rủi ro mà các quỹ này phải đối mặt Tuy nhiên, các tác giả đã không chỉ ra được các giải pháp quản trị rủi ro đặc thù để xử lý các mối đe dọa này

Luận án tiến sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư phát triển địa phương ở Việt Nam hiện nay” của Phạm Phan Dũng năm 2008 [3], công trình “Giải pháp thành lập quỹ đầu tư chỉ số tại Việt Nam” của Dương Hùng Sơn [20] và công trình

“Phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thu Thuỷ, năm 2011 [23]

Công trình đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương ở Việt Nam Bên cạnh nên lên những thành tựu, kết quả đạt được tác giả đã khái quát một số thách thức mà các Quỹ Đầu tư phát triển địa phương ở Việt Nam phải

xử lý Đó là những khó khăn về khung phát lý, cơ chế hoạt động chủ yếu thiên về hoạt động của các tổ chức tín dụng, việc huy động vốn hiệu quả chưa cao, kết quả hoạt động của các quỹ chưa đồng đều…

Công trình đề xuất chín giải pháp nhằm đầu tư, giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu

quả hoạt động của Quỹ: (1) Kiểm soát việc thành lập các Quỹ đầu tư phát triển theo

đúng điều kiện, tiêu chuẩn quy định nhằm tránh việc hình thành các Quỹ một cách tràn lan Có thể xem xét cho phép thí điểm thành lập các Quỹ Đầu tư phát triển địa phương dưới hình thức cổ phần với vốn góp của Nhà nước chiếm tỷ lệ chi phối để huy động thêm các nguồn lực tài chính từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội (2) Đẩy mạnh huy động vốn dưới hình thức phát triển trái phiếu Hình thành thị trường giao dịch trái phiếu chuyên biệt theo hướng phi tập trung để tạo điều kiện cho việc giao dịch của tất

cả tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế (3) Mở rộng hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Chủ động thực hiện đầu tư trực tiếp và gián tiếp theo cơ chế thị trường, nâng cao tính hiệu quả của các dự án đầu tư và đầu tư theo danh mục cho phép thoát vốn nhanh; (4) Phối hợp thực hiện chính sách công - tư kết hợp trong các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn (5) Nâng cao khả năng quản trị Giải pháp này xuất phát từ hiện trạng hiện nay các Quỹ Đầu tư Địa phương chưa thực hiện bài bản dẫn tới nguy cơ rủi ro trong hoạt động tương đối cao; (6) Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra hoạt động của Quỹ Theo đó, luận án đề xuất 2 hướng để kiện toàn

Trang 22

giám sát: kiểm tra, giám sát nội bộ và kiểm tra giám sát từ cơ quan quản lý nhà nước; (7) Đa dạng hoá hoạt động dịch vụ tư vấn đầu tư tài chính của các Quỹ Đầu tư Phát triển địa phương sang các lĩnh vực như: tư vấn nghiên cứu thị trường, tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, tư vấn thẩm định, tư vấn định giá tài sản và tổ chức lại doanh nghiệp khi cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp, tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp; (8) Thực hiện bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; (9) Hoàn thiện về mô hình tổ chức và hoạt động của Quỹ Đầu tư Phát triển;

Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Bộ “Quỹ đầu tư mạo hiểm và khả năng hình thành, phát triển ở Việt Nam”, của Trung Tâm Nghiên cứu Khoa học và Đầu tư Chứng khoán chủ trì năm 2003 [50], đã nghiên cứu về mặt lý luận và tìm hiểu những thuận lợi cũng như khó khăn trong việc hình thành và phát triển các Quỹ quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm hình thành và phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm ở một

số nước trên thế giới và thực trạng hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam Các tác giả chỉ ra các điều kiện hình thành và phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam Những rủi ro mà Quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt nam phải xử lý xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Không ít Quỹ đã thất bại, bởi có sự chênh lệch rất lớn giữa cung và cầu về vốn mạo hiểm ở Việt Nam Và ở nước ta loại hình Quỹ này là một định chế đầu tư hiện đại, mới mẻ và có tính đặc thù cao, khác với các quỹ đầu tư thông thường do đó gặp phải những rủi ro trong vấn đề cơ cấu, tổ chức, hoạt động và quản lý Tuy nhiên, một số lý thuyết và lập luận mà đề tài đưa ra đã không còn mang tính thời sự cả về cơ sở lí luận cũng như thực tiễn hoạt động, do vậy các giải pháp đưa ra không còn phù hợp với quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của các Quỹ đầu tư phát triển Bởi trong quá trình này cùng với việc tiếp nhận công nghệ quản trị hiện đại là tiềm ẩn những rủi ro của hệ thống tài chính quốc tế cũng như những áp lực

về cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính và tín dụng

1.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Dưới đây là một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài đề cập tới quản trị rủi ro

Hướng nghiên cứu liên quan tới lý thuyết rủi ro và quản trị rủi ro được đề cập khá

chi tiết trong các công trình “Fundamentals of Risk Management: Understanding, Evaluating and Implementing Effective Risk Management” của tác giả Paul Hopkin năm 2012 [103], “Risk Management and Fininancial Instutiton” của tác giả John C Hull năm 2012 [91], “Quản lý rủi ro kinh doanh” của Jonathan Reuvid năm 2014 [92], Báo cáo “Investment Fund Governance: Developing a Risk-Based Oversight Framework” của Certified Investment Fund Director Institute năm 2015 [68], công trình “Risk Perception and Risk Tolerance in Aircraft Pilots” của David R Hunter

Trang 23

[72] Các tác giả đã tập trung làm rõ nội hàm của rủi ro, khái niệm, vai trò, tác động của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh; phương pháp nhận biết rủi ro, nhận thức rủi ro; tiêu chí đánh giá rủi ro

Gần đây, trước những tác động mạnh mẽ của lạm phát cao và suy thoái kinh tế do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra đối với các doanh nghiệp, người ta càng đề cập nhiều hơn đến hoạt động quản trị rủi ro trong doanh nghiệp Các tác giả cho rằng một hệ thống quản trị rủi ro được tổ chức tốt và vận hành hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững và vượt qua những biến động bất lợi

Một số rủi ro và quản trị rủi ro được minh họa qua các ví dụ thực tế trong các định chế tài chính, doanh nghiệp trên thế giới

Hướng nghiên cứu liên quan tới hoạt động nói chung, hoạt động quản trị rủi ro nói riêng của các Quỹ, các định chế tài chính và một số kinh nghiệm từ hoạt động quản trị của các quỹ, được đề cập khá chi tiết trong các công trình “Quản trị rủi ro

trong ngân hàng” của tác giả Joel Bessis năm 2015 [90], báo cáo “Investment Fund Governance: Developing a Risk-Based Oversight Framework” của Certified Investment Fund Director Institute năm 2015 [68] và công trình “Consulting” của Deloitte 2018 [74] Ở đây, vấn đề này được các tác giả đề cập sâu trên các khía cạnh: Nguồn gốc rủi ro của ngân hàng và các định chế tài chính được xác định bắt nguồn chủ yếu từ khủng hoảng kinh tế Chẳng hạn Joel Besis khẳng định rủi ro cho hệ thống ngân hàng giai đoạn 2005-2010 là khủng hoảng tài chính 2007 -2008 Khủng hoảng này khiến hệ thống ngân hàng ở nhiều nước kinh doanh thua lỗ thậm chí bị tê liệt Các rủi ro chính của các định chế tài chính được xác định gồm rủi ro lãi suất, phái sinh lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro sản phẩm ; Địa điểm phát sinh rủi ro từ quy trình nghiệp

vụ tài chính ngân hàng, chủ yếu qua giao dịch tín dụng và ngoại hối; Đánh giá rủi ro thông qua các hàm phân phối, lợi nhuận đứt đoạn và liên tục; Quản trị rủi ro theo chuẩn Basel 1, 2; Chỉ ra các đặc điểm khác biệt trong quản trị rủi ro doanh nghiệp và các quỹ đầu tư phát triển Các công cụ giám sát rủi cho quỹ đầu tư phát triển, đặc biệt gợi ý thực hiện công cụ này đối với người chịu trách nhiệm quản trị

Công trình “Managing fund liquidity risk in Europe” của Hiệp hội quốc tế thị trường vốn Châu Âu 2016 [89] Bên cạnh khái quát một số đặc điểm về Quỹ đầu tư thanh khoản ở châu Âu, công trình đã tập trung xem xét các quy định hiện hành, phác thảo quy trình quản trị rủi ro thanh khoản trong thực tế của Quỹ đầu tư thanh khoản châu Âu dựa trên pháp luật, các quy định về thể lệ của Quỹ, cấu trúc Quỹ ở EU Trong đó, cấu trúc của các quỹ đầu tư phải bao gồm bộ phận quản trị rủi ro độc lập, quản trị rủi ro thanh khoản đặc biệt và bộ phận giám sát kinh doanh

Trang 24

Ở đây người ta phân tích rõ thực trạng sử dụng các công cụ quản trị rủi ro mà một

số nước EU đang sử dụng, bao gồm: Giao dịch kiểu Swing; chính sách hai giá (Dual pricing)/ chuộc lại (redemption fee); đình chỉ giao dịch và vay tạm thời từ các nguồn phi chính phủ Việc áp dụng các công cụ này là phổ biến trên nhiều nước và họ đã chứng minh thành công bằng việc tạo điều kiện cho các công ty quản lý quỹ để ứng phó với tất cả diễn biến bất ổn của thị trường

Công trình này đề xuất ba khuyến nghị nhằm cải thiện môi trường hoạt động của các Quỹ thanh khoản chung ở châu Âu, và được xem như một trong những giải pháp nhằm ngăn ngừa rủi ro: Một là, khuyến khích việc mở rộng hoạt động các Quỹ phi nhà nước; Hai là, khuyến khích việc sử dụng các báo cáo về hiện trạng hoạt động của các Quỹ cho chính quyền ở các nước châu Âu để cải thiện việc phân tích các rủi ro thanh khoản của Cơ quan giám sát thị trường Chứng khoán châu Âu và Ủy ban rủi ro khu vực châu Âu; và cuối cùng là khuyến khích hoạt động của các Hiệp hội/Quỹ thương mại châu Âu, đặc biệt là trong quản trị rủi ro thanh khoản

Công trình “The Social Enterprise Development and Investment Funds: Lessons

from the Implementation Process” năm 2013 của Bộ Giáo dục, Nhân lực và Quan hệ

Công sở Australia [61] Trước đó, Bộ này đã thành lập Quỹ đầu tư và Phát triển Doanh nghiệp xã hội theo sáng kiến của Chính phủ Australia, nhằm cải thiện việc tiếp cận nguồn vốn xã hội cho các doanh nghiệp Qũy này được thành lập và duy trì trong thời gian dài giúp Australia ổn định kinh tế Đồng thời quỹ phải tự cân đối nguồn tài trợ từ chính phủ và tư nhân

Công trình này đã chỉ ra một quy trình hoạt động hiệu quả nhằm ngăn ngừa rủi ro thông qua đề xuất các sáng kiến hoạt động, xây dựng kế hoạch chủ động đối phó khi

có rủi ro xảy ra nhằm giảm thiểu từng phần hoặc trung hoà rủi ro và tăng độ đa dạng

quản trị rủi ro (lập kế hoạch dự phòng, thực hiện kiểm tra, giám sát)…

Mặc dù vậy, điểm yếu của công trình này là không chỉ ra một cách trực tiếp các rủi

ro nên các quy trình, giải pháp đưa ra còn mang tính chung chung, điều này dẫn đến việc quỹ phải đầu tư dàn trải để kiểm soát các rủi ro, có thể gây nên tình trạng đội chi phí Công trình “Risk Management Implications of Mutual Fund Investment Objective Classifications” của tác giả Larry J Prather năm 2012 [94], tập trung vào nghiên cứu quản trị rủi ro đối với Quỹ tương hỗ Tác giả khẳng định đầu tư luôn đi kèm với rủi ro

và rủi ro ở từng nhóm đầu tư là khác nhau Quỹ này hoạt động trong lĩnh vực đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu Trong quá trình hoạt động, người ta nhận thấy có sự khác biệt về nguy cơ rủi ro giữa Quỹ tính phí và Quỹ không tính phí (Load and No-Load Funds) Sự khác nhau về nguy cơ rủi ro dẫn đến sự khác biệt trong kiểm soát đối với

Trang 25

các quỹ cũng như hoạt động quản trị rủi ro danh mục đầu tư đối với hai loại quỹ này

Về mặt lý thuyết, rủi ro và lợi nhuận là hai yếu tố song hành, và sự cân bằng giữa hai yếu tố này rất quan trọng trong quản lý danh mục đầu tư Thuyết Hữu dụng (Utility Theory) chỉ ra rằng việc tính toán, cân đối giữa rủi ro và lợi nhuận rất quan trọng ở các Quỹ tương hỗ Điều này giúp tối đa hóa sự hài lòng của các nhà đầu tư với nguồn vốn đầu tư Thông thường theo mức độ rủi ro, nhà đầu tư được chia thành 3 nhóm: Không thích rủi ro (Risk Averse) chỉ đặc tính của một nhà đầu tư không ưa thích rủi ro và không chấp nhận nhiều rủi ro nếu không nhận thêm lợi ích bổ sung; Không quan tâm rủi ro (Risk Neutral - Neutral) - chỉ đặc tính của một nhà đầu tư trung lập với rủi ro; Thích rủi ro(Risk taker) - thể hiện sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro với kỳ vọng là sự biến động của rủi ro theo chiều hướng có lợi

Để minh chứng cho lập luận trên tác giả đã khảo sát về rủi ro của trên 300 quỹ tương hỗ Kết luận về rủi ro đối với các Quỹ tương hỗ được tác giả chỉ ra dựa trên lợi nhuận hàng tháng của hơn 300 Quỹ trong khoảng thời gian 30 năm Kết quả cho thấy những rủi ro trung bình của Quỹ tính phí và Quỹ không tính phí có sự khác biệt về mặt thống kê Tính đồng nhất rủi ro của các Quỹ trong phân loại mục tiêu đầu tư được sử dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) Kết quả cho thấy, có

sự không đồng nhất giữa mục tiêu đầu tư và những rủi ro giữa Quỹ tính phí và Quỹ không tính phí

Tuy nhiên, điểm yếu của công trình này là mới chỉ ra được rủi ro đối với Quỹ tương hỗ song không đề cập tới việc doanh nghiệp sử dụng giải pháp gì để quản trị rủi

ro hiệu quả hơn Có thể nói công trình mới chỉ dừng lại ở bước đầu cung cấp nền tảng thông tin về rủi ro cho các định chế tài chính loại này

Công trình “Risk Management Issues in European Equity Funds” năm 2012 của

Andrew Clare1, Miguel Corte-Real, Natasa Todorovic [59] được xem là nghiên cứu toàn diện đầu tiên về hoạt động quản trị rủi ro đối với quỹ đầu tư cổ phần hoạt động ở châu Âu

Các tác giả đã phân tích khá toàn diện về hoạt động quản trị rủi ro của các quỹ đầu

tư cổ phần dài hạn của châu Âu và các quỹ đề phòng rủi ro; nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi nhằm khái quát các cấp độ quản trị rủi ro được sử dụng trong quản lý quỹ đầu tư công nghiệp ở châu Âu sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, đặc biệt là đối với quỹ đầu tư hoạt động dài hạn và quỹ tương hỗ Các tác giả đánh giá mức độ cam kết của các quỹ đầu tư trong việc quản trị rủi ro trước và sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính Thông qua điều tra, tác giả đã xác định hệ thống và các công cụ quản trị rủi ro đang được sử dụng, đồng thời chỉ ra những thay đổi trong cách thức

Trang 26

quản trị rủi ro kể từ thời điểm bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Qua đó xác định mối liên hệ giữa số tiền được chi cho quản trị rủi ro và hiệu quả hoạt động của quỹ; chỉ ra một số hạn chế trong quản trị rủi ro tại các quỹ đầu tư cổ phần của châu Âu; chẳng hạn các quỹ đầu tư dài hạn không đủ nguồn lực phân bổ cho quản trị rủi ro, trong khi đó quỹ đầu tư nhỏ có xu hướng giảm chi vào các hạng mục quản trị rủi ro

Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính, các quỹ đầu tư này đã có những điều chỉnh như tăng cường phân bổ vốn cho các bộn phận chuyên trách về quản trị rủi ro nhằm điều chỉnh biên độ rủi ro và tần suất xuất hiện rủi ro

Công trình “Challenges and Issues faced by Indian Mutual Fund Industry” của Naila Iqbal năm 2011 [101], khẳng định rằng, trong một thập kỷ qua đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của quỹ tương hỗ ở Ấn Độ Đến năm 2011, Quỹ tương hỗ có nguồn vốn khoảng 8,13 nghìn tỷ Rupee, chiếm khoảng 3% tổng giá trị vốn thị trường chứng khoán nói chung, trong khi con số này ở Mỹ là 30%

Thành công nổi bật của công trình này là tác giả đã sử dụng mô hình định giá tài sản (Capital asset pricing model - CAPM) để phân tích mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Từ đó chỉ ra những thách thức mà Quỹ này đang phải đối mặt và đề ra một số giải pháp khắc phục

Theo tác giả, mặc dù loại hình quỹ này thời gian qua đã thu được những khoản lợi nhuận nhất định nhưng thách thức lớn nhất đối với Quỹ này ở Ấn Độ là việc lựa chọn một danh mục đầu tư tốt nhất để đầu tư

Thông qua mô hình CAPM, hệ số rủi ro beta được tác giả sử dụng để đo lường sự biến động rủi ro hệ thống (systematic risk) của một mã chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường Theo tác giả thách thức mà Quỹ này đang phải đối mặt trước hết đó là những khó khăn trong việc lựa chọn đầu tư dài hạn tại thị trường Ấn Độ Nguyên nhân là do người dân ở đây coi trọng tiết kiệm hộ gia đình, không quan tâm nhiều đến các Quỹ đầu tư, không tin tưởng vào hoạt động của Quỹ này Họ cho rằng, Quỹ này chỉ giành cho các nhà đầu tư được đào tạo bài bản chứ không phải cho những người không có hiểu biết chuyên sâu về tài chính Theo ước tính từ phía Chính phủ Ấn Độ, từ năm 2000 đến 2011, đầu tư vào Quỹ tương hỗ ở quốc gia này chỉ dao động quanh mức 4-5% tiết kiệm gia đình bất chấp những nhượng

bộ và ưu đãi đến từ phía chính phủ Đối với người dân Ấn Độ, đầu tư vào bất động sản, vàng cũng như gửi tiền vào ngân hàng “an toàn hơn” so với “giao dịch” với các nhà đầu tư Ngoài ra còn một thách thức mà Quỹ này đang gặp phải đó là họ chưa có nghiên cứu khách quan và khoa học nào về Quỹ tương hỗ

Trang 27

Cũng theo tác giả, có một số rủi ro mà trong thời gian tới Quỹ tương hỗ ở Ấn Độ cần phải xử lý như: hiệu suất, hiệu quả của Quỹ tương hỗ, khả năng quản lý, công khai, minh bạch trong vấn đề lệ phí quỹ và chi phí hoạt động của quỹ, hoàn thiện các khâu giao dịch liên quan đến tiền mặt, hoàn thiện hệ thống quy định và thể chế hoạt động của Quỹ

Để xử lý những rủi ro đó, theo tác giả cần tập trung vào 4 nhóm giải pháp: (1) Cải thiện môi trường pháp lý (về Luật chứng khoán, các quy định, điều lệ hoạt động của Quỹ và hoàn thiện các chuẩn mực tài chính); (2) Mở rộng và phát triển các định chế tài chính trung gian và đẩy mạnh các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động huy động vốn từ khách hàng; (3) Chú trọng hơn vào việc phổ biến kiến thức về tài chính và đầu tư đối với khách hàng và đặc biệt là khách hàng trung lưu; (4) Đào tạo và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên hoạt động trong Quỹ này

Công trình “Political Risk - An Important Issue for Sovereign Wealth Funds”, của

David A Glancy năm 2012 [71] Theo tác giả, một số sự kiện chính trị lớn đã ảnh hưởng đáng kể đến trị thường tài chính và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, đòi hỏi họ phải phản ứng tốt với các rủi ro chính trị Điển hình như khủng hoảng kinh tế - chính trị ở châu Âu, bất ổn chính trị ở Bắc Phi và Trung Đông, căng thẳng ở biển Đông và Vịnh Ba Tư đã có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự thay đổi của những quy định tài chính, hàng rào thuế quan mới và vấn đề kiểm soán tiền tệ Rủi ro chính trị trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi giá trị tài sản Những rủi ro chính trị bao gồm động thái của chính phủ (quyền sở hữu, vi phạm hợp đồng, sự phân biệt đối xử trong chính sách thuế); sự kiện địa chính trị (chiến tranh, khủng bố) và những thay đổi kinh tế - xã hội có thể dẫn đến tình trạng bất ổn xã hội

Khi xem xét quản trị rủi ro của các Quỹ đầu tư quốc gia hay quỹ đầu tư chính phủ (Sovereign Wealth Funds - SWF) cần chú ý hai đặc điểm sau: Một là, đây là quỹ đầu tư nhà nước có tài sản rất lớn, có giá trị như cổ phiếu, trái phiếu, mỹ kim Hai là, các SWF

là công cụ đầu tư của chính phủ, do đó ngoài lợi ích tài chính, kinh tế, thì mục tiêu của các Quỹ này thường ẩn chứa các mục tiêu chiến lược và chính trị của quốc gia

Tác giả chỉ ra rằng phân tích rủi ro chính trị là một công cụ quan trọng nhằm giúp Quỹ SWF tránh tổn thất và tăng lợi nhuận Phân tích rủi ro chính trị cần giải quyết được các nội dung: phát hiện rủi ro, hạn chế tổn thất, dự đoán những thay đổi chính sách của chính phủ, xác định các yêu cầu bảo hiểm rủi ro chính trị cho các dự án đầu

tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, đánh giá rủi ro chính trị là một việc làm rất khó, đòi hỏi một cách tiếp cận có hệ thống Mỗi danh mục đầu tư phải có đánh giá riêng và

Trang 28

phân tích rủi ro chính trị cần phải được thực hiện liên tục dựa trên chiến lược phát triển quốc gia và sự thay đổi của môi trường chính trị quốc tế

Công trình “Agricultural Investment Funds for Developing Countries” của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc năm 2010 [98], bên cạnh nêu lên vai trò, cách thức tổ chức và hoạt động của của Quỹ đầu tư trong Nông nghiệp ở các nước đang phát triển, công trình đã đề cập đến những rủi ro mà các Quỹ này đã và đang phải đối mặt Trong đó nhấn mạnh rằng, hoạt động của các Quỹ đầu tư cho nông nghiệp thường phải đối mặt nhiều rủi ro hơn so với đầu tư vào các lĩnh vực khác của nền kinh

tế Rủi ro của các quỹ đầu tư nông nghiệp theo đó được phân thành 4 nhóm: rủi ro xuất phát từ mối liên hệ với thực tiễn của hoạt động sản xuất nông nghiệp (sự tác động của yếu tố thời tiết), rủi ro về thị trường (biến động về giá cả, quy trình bảo quản); rủi ro

về tài chính; rủi ro về thể chế; rủi ro chính trị (ví dụ tái định cư của cộng đồng hoặc tái phân phối đất) và các quỹ đầu tư nông nghiệp thường có xu hướng tập trung nhiều và phát huy hiệu quả hoạt động ở các nước phát triển Tuy nhiên công trình này mới chỉ nêu ra rủi ro, chưa nêu ra được các giải pháp quản trị rủi ro có hiệu quả

Công trình “How Pension Funds Manage Investment Risks: A Global Survey”, của Sandy Halim, Terrie Miller, and David Dupont, năm 2010 [108] là kết quả phân tích từ một khảo sát năm 2009 về cách thức quản trị rủi ro đầu tư toàn cầu với 58 quỹ có tài sản dao động trong khoảng 2 nghìn tỷ USD Hầu hết các Quỹ lớn (có tài sản hơn 25 tỷ USD) vận hành tốt hoạt động quản trị rủi ro, qua đó gia tăng nguồn thu và nâng cao hiệu quả kinh doanh, trong khi các quỹ nhỏ ít có khả năng làm như vậy

Các tác giả chỉ ra một số rủi ro mà các quỹ đầu tư thường phải đối mặt; chẳng hạn, rủi ro về mặt kỹ thuật, rủi ro lệch chuẩn của giá trị gia tăng phát sinh rủi ro thặng dư, rủi ro phát sinh từ nghĩa vụ nợ phải trả; rủi ro đối tác (Counterparty Risk) là loại hình rủi ro tín dụng cụ thể, đại diện cho quy mô tổn thất tài chính (có thể phát sinh do sự thay đổi của tỷ giá) của các đối tác có thế mạnh tài chính khác nhau; rủi ro thanh khoản Rủi ro này liên quan đến khả năng của quỹ không đáp ứng được nhu cầu sử dụng tiền mặt (nhu cầu thanh khoản) Tình trạng nhẹ thì có thể gây thua lỗ, các hoạt động của quỹ bị đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản; chỉ ra các mô hình mô phòng ngừa rủi ro, mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro

Công trình “Managing Investment Risk in Defined Benefit Pension Funds”, của tác giả Franzen, D năm 2010 [79], “Pension schemes and pension funds in the United

Kingdom” của tác giả Blake năm 2003 [65], “Regulation of Pension Fund

Governance” của tác giả Clark Năm 2006 [70] đã chỉ ra cơ sở lý luận về quản trị rủi

Trang 29

ro đối với các quỹ hưu trí, so sánh hoạt động quản trị rủi ro của quỹ hưu trí ở Đức, Hà Lan, Anh và Hoa Kỳ trong các bối cảnh cụ thể

Các tác giả cho rằng quản trị rủi ro các quỹ hưu trí có cơ sở lý luận vững chắc trong bối cảnh phát triển các lý thuyết quản trị rủi ro hiện đại cũng như quản trị rủi ro tài chính nói chung; bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu đa ngành trên phạm vi đa quốc gia, nghiên cứu đã đưa ra được một số tiêu chí so sánh về quỹ hưu trí của các quốc gia trên thế giới Hoạt động của các quỹ này không chỉ đảm bảo khoản thu nhập thường xuyên, ổn định cho người về hưu mà còn góp phần lưu chuyển vốn nhàn rỗi đến những nơi có nhu cầu về vốn Các quỹ này xác định rủi ro là yếu tố luôn đi cùng trong quản trị của các quỹ Kết quả thực nghiệm cho thấy quản trị rủi ro tại các quỹ hưu trí ngày càng trở nên phức tạp không chỉ do tác động bởi các vấn đề pháp lý và kế toán, quản lý thu - chi, mà còn do vấn đề quản lý hồ sơ của hầu hết các quỹ hưu trí Có thể nói, vấn đề quản

lý hồ sơ, thâm hụt lương hưu, không đồng nhất trong cách tính lương hưu ở các nước này đòi hỏi phải cải cách các chương trình bảo hiểm xã hội theo hướng tư nhân hóa và

đa dạng hóa các hình thức đầu tư và chú trọng vào hoạt động quản trị rủi ro

Công trình “Hedge Fund Investments: Risk Management Perspectives” của Uỷ ban

thẩm định Ngân hàng và hệ thống tài chính, Ngân hàng Nhật Bản, năm 2007 [64] đã khái quát về cơ chế hoạt động và linh hoạt trong phòng ngừa rủi ro của các quỹ đầu tư Công trình đã phân tích nội dung của quản trị rủi ro và đề xuất một quy trình quản trị rủi

ro, bao gồm: (1) Xây dựng một chương trình quản trị rủi ro; (2) Xem xét hoạt động “tiền đầu tư”; và (3) Giám sát tiến trình thực hiện Ở khâu (1), trước khi bắt đầu tiến hành đầu

tư, các nhà đầu tư cần xác định các mục tiêu, chính sách đầu tư và thiết lập bộ phận quản trị rủi ro Trong từng giai đoạn đầu tư, các bộ phận kiểm toán nội bộ thường xuyên đánh giá, kiểm tra và xem xét tác động của các chính sách đến hiệu quả và mục tiêu của quỹ Ngoài ra, các bộ phận chức năng cần đánh giá chính sách đầu tư và đo lường hiệu suất của quỹ và mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư, cho vay và bảo lãnh

Theo các tác giả, một quy trình quản trị rủi ro đối với các khoản đầu tư ở quỹ không giống như đầu tư vào chứng khoán thông thường như trái phiếu, cổ phiếu Đầu

tư của các quỹ thường thông qua một bên thứ ba, do đó, điều cần thiết là cần có một kế hoạch và quy trình quản trị rủi ro có độ tin cậy cao Các khoản chi phí cần thiết để xây dựng và thực hiện quy trình quản trị rủi ro có thể khác nhau tuỳ vào vị trí tương đối của các quỹ đầu tư Đồng thời cần phát triển một khuôn khổ quản trị rủi ro phù hợp Nếu xây dựng được một kế hoạch quản trị rủi ro hiệu quả, sẽ góp phần giảm thiểu tổn thất do những rủi ro bất ngờ

Trang 30

Công trình “Managing Collective Investment Fund” của tác giả Ekaterina

Alexeeva, Sally Buxton, Mark St Giles năm 2000 [75] Công trình đã hệ thống hoá cách thức tổ chức thực hiện quản trị của quỹ này trên phạm vi quốc tế cũng như đã nhấn mạnh được những thách thức đối với quỹ đến từ các quy định và thực tế điều hành quỹ đầu tư ở các thị trường mới và đang nổi như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapo Chỉ ra các yếu tố quan trọng trong việc xây dựng một Quỹ đầu tư thành công gồm: cơ cấu của quỹ, quy chế, quản trị rủi ro, hiệu suất hoạt động, giá trị, sự phát triển

và mở rộng quỹ… Việc khuyến khích nhà đầu tư đa dạng hoá danh mục đầu tư cho vay, bảo lãnh và tiết kiệm chi phí nhưng đảm bảo yêu cầu về lợi nhuận Quản lý chặt chẽ và đảm bảo tính năng động của quỹ đầu tư là giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro Điểm yếu chưa được đề cập trong công trình này chính là không chỉ rõ và phân biệt các loại rủi ro gắn với các thị trường mới

Từ việc điểm qua các công trình trên, cho phép kết luận rằng các nghiên cứu trên

đã cung cấp hệ thống cơ sở lý luận và nhiều khía cạnh về quản trị rủi ro đối với một số loại hình quỹ Chỉ ra mô hình đo lường rủi ro và việc hình thành các điều kiện đảm bảo cho việc xây dựng các mô hình đo lường và kiểm soát rủi ro các quỹ đầu tư phát triển Đây là cơ sở quan trọng, tạo điều kiện tiền đề để xây dựng một mô hình quản trị rủi ro tổng thể áp dụng cho các quỹ đầu tư ở Việt Nam, trong đó có Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh

1.3 Đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và khoảng trống

nghiên cứu

1.3.1 Đánh giá về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

Với những công trình nghiên cứu đã được trình bày ở trên, nghiên cứu sinh có thể rút ra một số ưu điểm nổi bật của các công trình này như sau:

Các công trình nghiên cứu này đã xây dựng được khuôn khổ lý thuyết căn bản về rủi ro (khái niệm, phân loại, đo lường rủi ro ) Quản trị rủi ro trong các tổ chức kinh

tế nói chung và quỹ đầu tư nói riêng, mặc dù có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau song những lý thuyết này là cơ sở để các thực thể kinh doanh ở nước ta có thể vận dụng để xây dựng mô hình quản trị rủi ro phù hợp

Hầu hết các công trình này đều có chung nhận định quản trị rủi ro đối với một định chế tài chính bao gồm các nội dung là nhận biết rủi ro, đo lường rủi ro, ứng phó rủi ro

và kiểm soát rủi ro

Xác định tác động của các yếu tố vĩ mô có tác động lớn tới hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính, các quỹ đầu tư; chẳng hạn khủng hoảng tài chính, chính trị hay sự chuyển đổi mô hình phát triển của một quốc gia, đặc biệt là về phương diện

Trang 31

những tác động tiêu cực Vì vậy, các nghiên cứu đều khẳng định việc quản trị rủi ro là nền tảng và là tiền đề để duy trì sự ổn định hệ thống tài chính, kinh tế của quốc gia và của các định chế tài chính, trong đó có các quỹ đầu tư phát triển

Các công trình nghiên cứu ngoài nước cũng chỉ ra mô hình quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro đối với các quỹ đầu tư tài chính nói riêng, bao gồm: mô hình quản trị rủi ro tập trung (quản trị rủi ro được thực hiện tại trụ sở chính của quỹ); mô hình quản trị rủi ro phân tán (được thực hiện tại các chi nhánh, phòng ban tại địa phương hoặc tại các phòng ban khác của các sở liên quan sau đó chuyển lại cho trụ sở chính của các quỹ phê duyệt) Đồng thời xác định, định lượng được các tổn thất mà các quỹ này phải hứng chịu

Một số nghiên cứu còn chỉ ra xu hướng phát triển của quản trị rủi ro đối với các quỹ đầu tư trong tương lai, đồng thời chỉ ra những giải pháp nhằm cải thiện hoạt động quản trị rủi ro đối với các định chế tài chính, các quỹ đầu tư phát triển

Một số kinh nghiệm từ quản trị rủi ro của các quỹ đầu tư trong và ngoài nước cũng được các tác giả nhắc đến trong các công trình của mình Đây là những điểm nhấn quan trọng giúp cho các quỹ đầu tư phát triển có thể vận dụng vào thực tế để đưa ra các giải pháp phù hợp nhất cho quỹ

Các công trình trong nước phân tích được thực trạng việc xây dựng, phát triển các quỹ đầu tư phát triển, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của các quỹ này đồng thời nêu ra các giải pháp nhằm phát triển quỹ trong tương lai

* Điểm còn hạn chế ở các công trình này bao gồm:

Các nghiên cứu về rủi ro ngoài nước còn mang nặng tính chất định tính, hoặc định lượng ở mức độ thấp; còn các công trình ở trong nước, nghiên cứu về rủi ro còn rất mờ nhạt; Mô hình quản trị rủi ro của các quỹ, đầu tư phát triển được nêu ra thiếu tính thuyết phục và chỉ phản ánh được một phần nào đó quy trình quản trị rủi ro ở các định chế này

Việc đo lường rủi ro, tính toán tổn thất hiện tại và tương lai của các định chế tài chính, các quỹ đầu tư phát triển chưa được phản ánh đầy đủ Nhiều công trình không đưa ra được những tính toán tổn thất nên các phương án quản trị đưa ra không thuyết phục;

Các giải pháp đề xuất hầu hết là những giải pháp chung chung, có tính áp đặt, chưa thực sự hướng tới giải quyết được vấn đề rủi ro cốt lõi đang tồn tại ở các quỹ đầu tư phát triển Hầu hết các giải pháp được đề xuất mang tính vĩ mô, không hướng tới việc quản trị rủi ro ở phương diện vi mô có hiệu quả

Nói tóm lại, các nghiên cứu về quản trị rủi ro đối với các Quỹ Đầu tư Phát triển ở Việt Nam chủ yếu đưa ra các giải pháp ngăn ngừa rủi ro hoặc hạn chế rủi ro và tập

Trang 32

trung không nhiều vào quản trị rủi ro đối với các Quỹ, nghĩa là coi rủi ro là vấn đề luôn xảy ra trong hoạt động của các Quỹ Bên cạnh đó cũng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về Quản trị rủi ro cũng như đề xuất hệ thống các giải pháp để tăng cường quản trị rủi đối với các Quỹ đầu tư phát triển ở Việt Nam Nói cách khác các công trình này chủ yếu đề cập tới những vấn đề liên quan tới lý thuyết quản trị rủi ro của một số thực thể kinh doanh ở một số quốc gia và Việt Nam,

mà chưa có công trình nào đề cập tới hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh Do vậy, đây là một hướng nghiên cứu mới và tác giả thực hiện được ngoài việc giúp Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh phát triển bền vững, sẽ có những đóng góp đáng kể vào lĩnh vực thực tiễn áp dụng quản trị rủi ro ở Việt Nam

1.3.2 Khoảng trống nghiên cứu

Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước về rủi ro và quản trị rủi ro của các định chế tài chính, các quỹ đầu tư phát triển NCS nhận thấy có một số khoảng trống nghiên cứu như sau:

- Hệ thống cơ sở lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro gắn liền với sự điều hành của một định chế tài chính (quỹ đầu tư phát triển), chịu trách nhiệm trước nhà nước trong việc đầu tư, cho vay và bảo lãnh nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam chưa được nêu một cách logic và hệ thống

- Quy trình quản trị rủi ro của quỹ đầu tư phát triển ở Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng có nhiều điểm khác biệt so với các tổ chức kinh tế khác (như ngân hàng), do vậy quy trình này cần phải được làm rõ

- Môi trường bên ngoài, môi trường bên trong là các yếu tố tác động lên hoạt động của quỹ đồng thời là yếu tố cấu thành nên rủi ro và quyết định đến cách thức ứng phó với rủi ro của các quỹ này, tuy nhiên đây là vấn đề các công trình nghiên cứu kể trên chưa đề cập đến

- Thực trạng về rủi ro và quản trị rủi ro ở các định chế tài chính trong nước, đặc biệt là các quỹ đầu tư phát triển địa phương cần được nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng, từ đó đề xuất được những giải pháp quản trị rủi ro phù hợp

1.4 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu

1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu 1: Hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh có kế thừa kinh nghiệm các hoạt động quản trị rủi ro của các định chế tài chính khác hay không? Câu 2: Trong quá trình hoạt động, đầu tư trực tiếp, cho vay và bảo lãnh của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh sẽ gặp những rủi ro gì?

Trang 33

Câu 3: Hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh diễn ra như thế nào?

Câu 4: Yếu tố nào ảnh hưởng tới hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh

Câu 5: Giải pháp nào để cải thiện hoạt động quản trị rủi ro cho Quỹ đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2019-2025?

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Hoạt động quản trị rủi ro của quỹ đầu tư phát triển về cơ bản kế thừa

hoạt động quản trị rủi ro của các định chế tài chính bao gồm: xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro, nhận diện rủi ro, phân tích và đánh giá rủi ro, xử lý rủi ro, giám sát và báo cáo

Giả thuyết 2: Trong quá trình hoạt động, đầu tư, cho vay các quỹ đầu tư nói chung,

Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh cũng gặp phải hàng loạt các rủi ro như rủi ro mất vốn, rủi ro thị trường, rủi ro về thể chế… Các rủi ro này phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như từ khách hàng, từ hoạt động của quỹ, từ môi trường vĩ mô…

Giả thuyết 3: Hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh

thường gắn liền với hoạt động cho vay, đầu tư trực tiếp, bảo lãnh tín dụng; hoạt động này được nhận dạng qua các khâu xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro, nhận diện rủi ro, phân tích và đánh giá rủi ro, xử lý rủi ro, giám sát và tư vấn

Giả thuyết 4: Hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh

chịu ảnh hưởng của ban lãnh đạo, cơ cấu tổ chức doanh nghiệp và thể chế vận hành, nguồn nhân lực của Quỹ và sự cố ý lừa đảo của khách hàng Trong khi đó yếu tố ít tạo ảnh hưởng hơn là ý thức và khả năng trả nợ của khách hàng, văn hóa doanh nghiệp

Giả thuyết 5: Xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro hợp lý, coi đây là một cấu

thành căn bản của chiến lược kinh doanh của Quỹ và tổ chức thực hiện nghiêm túc sẽ Quỹ hạn chế và kiểm soát được rủi ro trong quá trình xúc tiến đầu tư trực tiếp, cho vay

và bảo lãnh

Trang 34

Tiểu kết chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài tiếp cận hai nhóm tài liệu trong và ngoài nước, từ đó chỉ ra câu hỏi nghiên cứu, khoảng trống nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Ở nhóm tài liệu trong nước có 9 luận án tiến sĩ, 5 cuốn sách chuyên khảo và một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Có thể nói đây là các công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, các tác giả của những công trình này đã nêu và phân tích các vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan tới chủ đề của luận án và được thực hiện tại Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua được luận án trích dẫn, minh chứng chi tiết Ở nhóm tài liệu nước ngoài có 12 công trình của các tác giả đến từ Ấn Độ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ… Các trích dẫn minh chứng từ những công trình này gắn với nội dung nghiên cứu của luận án

Điều lưu ý là các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài được đề cập tại chương 1 chưa phân tích sâu và có hệ thống về quản trị rủi ro tại một quỹ địa phương có quy mô không lớn và tập trung chủ yếu vào 3 lĩnh vực hoạt động chính đó

là đầu tư trực tiếp, tín dụng và bảo lãnh Tổng quan tình hình nghiên cứu qua hai nhóm tài liệu trong và ngoài nước tác giả chỉ ra 5 câu hỏi nghiên cứu và 4 giả thuyết nghiên cứu, đây chính là cơ sở để tác giả tập trung xử lý trong những chương tiếp theo

Trang 35

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO

TẠI CÁC QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

Như đã biết, Qũy đầu tư phát triển là một định chế tài chính bởi theo Siklos, Pierre,

2001, và Robert E Wright and Vincenzo Quadrini, 2012, định chế tài chính (financial institution) là các tổ chức tài chính được thành lập theo luật định và tham gia vào hoạt động kinh doanh như một trung gian tài chính trong quá trình chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay Các định chế tài chính này bao gồm ngân hàng, doanh nghiệp ủy thác, doanh nghiệp bảo hiểm, các quỹ đầu tư phát triển, công ty môi giới và các đại lý đầu tư khác [107, tr.40], [110] Nội dung của chương này sẽ tập trung vào các khía cạnh chính sau đây

2.1 Khái quát về rủi ro, quản trị rủi ro

2.1.1.1 Khái niệm rủi ro

Khái niệm rủi ro trở thành trung tâm của lý thuyết và thực hành trong các định chế tài chính từ nghiên cứu của Markowitz hơn 80 năm trước đây Theo đó, rủi ro là mức độ bất

ổn của tỷ suất sinh lợi, trên cơ sở thước đo là phương sai và độ lệch chuẩn Tuy nhiên, quản trị rủi ro chỉ nổi lên như một vấn đề độc lập trong những thập niên gần đây [97] Cho đến nay, hiểu thế nào là rủi ro vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi Rủi ro được hiểu khác nhau gắn với các góc độ tiếp cận và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Rủi ro hiện diện trong mọi hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp, do đó đưa ra một định nghĩa về rủi ro có tính khái quát là một vấn đề không đơn giản

Có một cách hiểu được nhiều người chia sẻ, rủi ro là khả năng tổn thất một giá trị (value) hoặc là khả năng không đạt được một giá trị nào đó Rủi ro là một sự kiện/sự việc sẽ làm ảnh hưởng đến ít nhất một khía cạnh trong mục tiêu tổng thể của tổ chức (objectives).Khi đề xuất một lý thuyết cơ bản về rủi ro, Aven cho rằng, các khái niệm rủi

ro thay đổi theo thời gian dưới sự tác động của môi trường xung quanh [62, tr 33-34]

Trang 36

Còn theo ISO (Tổ chức tiêu chuẩn hóa thế giới) thì rủi ro là sự kết hợp giữa xác suất xảy

ra một sự kiện và những hậu quả tiêu cực của sự kiện đó Nếu xác suất tổn thất là 0 (không) thì không có rủi ro [95].Rủi ro là khả năng mà một sự kiện/sự việc hoặc hành động có thể ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp [115, tr 382-393] Đối với Mazouni, rủi

ro là một yếu tố, tính chất bên trong (intrinsic property) của bất kỳ quyết định nào, được lượng hóa bằng các thông số (mức độ nghiêm trọng, khả năng xảy ra, sự tác động…) và được giới hạn trong hai thông số: mức độ nghiêm trọng và tần số xuất hiện của một sự kiện/sự việc có ảnh hưởng xấu đến tổ chức Trong BS OHSAS 18001 (Tiêu chuẩn về Hệ thống quản lý An toàn sức khỏe nghề nghiệp – British Standard Occupational Health and Safety Assessment Series) cho rằng, rủi ro là một sự kết hợp của khả năng về một

sự xuất hiện của một mối nguy hoặc sự tương tác, tiếp xúc có nguy cơ ảnh hưởng xấu dẫn đến mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng Theo (BS OHSAS 18001), khái niệm rủi ro được xác định dựa trên 2 câu hỏi sau: (1) Những khả năng đó là gì và khả năng xảy ra trong tương lai ở mức độ nào? (2) Cách thức ảnh hưởng và tác động của nó như thế nào nếu có sự tiếp xúc và tương tác trực tiếp [114, tr 250-259] Đối với Marhavilas [96, tr 305-323] rủi ro được nhìn nhận là một cơ hội mà một ai đó hoặc một sự việc nào đó sẽ

bị ảnh hưởng bởi các mối nguy, nguy cơ Mối nguy ở đây được hiểu là bất kỳ điều kiện nào không an toàn hoặc những sự kiện/sự việc có thể mang lại những sự cố không mong muốn, có khả năng gây hại hoặc mang lại thiệt hại không mong muốn cho doanh nghiệp Theo Bark và cộng sự [63, tr 305-322], rủi ro là những kết quả không chắc chắn

có thể xảy ra Theo Irving Preffer “Rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”, là “một sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”

Ngoài ra, theo Frank Knight “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” [78, tr 233], theo Hall và cộng sự [83], khái niệm rủi ro được tiếp cận ở nhiều góc độ: (1) Dưới góc độ an toàn rủi ro, rủi ro là nguy cơ bị chấn thương, hư hỏng hoặc mất mất, là những mối nguy; (2) Dưới góc độ bảo hiểm, rủi ro là nguy cơ tổn thất, xác suất mức độ tổn thất, sự tổn thất về tài chính ảnh hưởng tiêu cực đến công ty; (3) Dưới góc độ toán học, rủi ro là một xác suất, một biến số trong toán học có thể tính toán, ước tính và đo lường; Rủi ro là xác suất của một kết quả không mong muốn; Rủi ro là một tình huống không mong muốn hay hoàn cảnh nào đó có khả năng xảy ra và gây hậu quả tiêu cực đối với

dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp [111]; Dưới góc độ kỹ thuật, rủi ro là các sự cố khiến

dự án không đáp ứng được các tiêu chí và mục tiêu đặt ra, hoặc là sự không chắc chắc

về một sản phẩm thiết kế sẽ đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật [104] Ngoài ra, có quan điểm nhìn nhận đa chiều về rủi ro của Tedd Yellmann [116], theo đó ông cho rằng, rủi

Trang 37

ro có 3 khía cạnh cụ thể là: (1) Tổn thất dự kiến, (2) Sự biến động của giá trị tổn thất và (3) Sự không chắc chắn của mô thức (Mental Model) được sử dụng

Còn Roger van Scoy cho rằng: “Bản thân rủi ro không phải xấu; rủi ro là cần thiết

để tiến bộ, và thất bại là một phần quan trọng của việc học hỏi Nhưng chúng ta cần phải cân bằng các hậu quả tiêu cực có thể có của rủi ro với các lợi ích tiềm năng của

nó để biến rủi ro thành cơ hội [83] Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng, rủi ro là chấp nhận được khi độ lớn của nó là ít hơn một ngưỡng nhất định và được xác định trong các giải pháp quản trị rủi ro [84] Sự cân bằng giữa cơ hội và rủi ro phải được duy trì bởi các thành viên trong tổ chức và chịu trách nhiệm về việc thực hiện kế hoạch kinh doanh Quá trình xử lý các rủi ro trong một doanh nghiệp, trong đó có các định chế tài chính được gọi là quá trình quản trị rủi ro

Như vậy theo tác giả, về cơ bản rủi ro là những nguy cơ, xác suất về của một sự kiện/sự việc, xảy ra và tác động tiêu cực đến hoạt động của một định chế tài chính Tóm lại, rủi ro hiện diện trong mọi khía cạnh của đời sống theo những hình thức khác nhau tùy theo từng giai đoạn, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng một chương trình quản trị rủi ro phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro

và nâng cao hiệu quả kinh doanh Tùy theo đặc điểm ngành nghề, người ta có thể sử dụng các công cụ, phương thức quản trị khác nhau và khai thác tốt nhất các tác động tích cực từ các yếu tố tác động tới quá trình quản trị rủi ro

2.1.1.2 Phân loại rủi ro

Rủi ro có thể được phân chia thành các loại khác nhau tùy theo cách thức nó tác động đến cơ chế hoạt động của doanh nghiệp cũng như môi trường của doanh nghiệp

đó [62, tr 33-34] Điều này đúng với cả các quỹ đầu tư và phát triển Ví dụ, theo Harland và cộng sự [85, tr 51-62] rủi ro có thể được phân chia thành:

Rủi ro chiến lược: là những nguy cơ đến từ những sự kiện, hay sự việc mang tính dài hạn Loại này ảnh hướng đến việc thực hiện chiến lược kinh doanh;

Rủi ro hoạt động/nghiệp vụ (Operation risk): là những nguy cơ đến từ hoạt động của doanh nghiệp Loại này ảnh hưởng đến khả năng vận hành của một doanh nghiệp như khả năng sản xuất và cung cấp sản phẩm hàng hóa/dịch vụ;

Rủi ro cung ứng (Supply risk): là những nguy cơ đến từ nhà cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp Loại này ảnh hưởng xấu đến dòng cung ứng của bất kỳ loại tài nguyên nào để đảm bảo chuỗi liên hoàn cung ứng cho doanh nghiệp;

Rủi ro khách hàng (Customer risk): là những nguy cơ đến từ khách hàng của doanh nghiệp Loại này ảnh hưởng đến khả năng đặt hàng, vấn đề thanh toán và sự thay đổi thị hiếu của khách hàng tạo ra rủi ro đối với sản phẩm và khách hàng bỏ đi;

Trang 38

Rủi ro giảm giá trị tài sản (Asset impairment risk): liên quan đến giảm giá trị sử dụng của tài sản, dẫn đến thu nhập đầu vào giảm;

Rủi ro cạnh tranh (Competitive risk): là nguy cơ đến từ đối thủ cạnh tranh, ảnh hưởng đến khả năng của một doanh nghiệp để phân biệt sản phẩm/dịch vụ của mình đối với sản phẩm/dịch vụ của đối thủ, hoặc đối thủ có thể lũng đoạn thị trường, hoặc

sự lớn mạnh của các đối thủ cạnh tranh về năng lực sản xuất cũng như chiến lược kinh doanh, tranh giành thị trường không lành mạnh Đó là những rủi ro ảnh hưởng tới chiến lược và mục tiêu của doanh nghiệp

Rủi ro uy tín (Reputation risk): là nguy cơ làm giảm uy tín của doanh nghiệp, giảm giá trị của sản phẩm/dịch vụ của mà doanh nghiệp cung ứng Đây có thể gọi là rủi ro thương hiệu, gắn liền với những tổn thất, thiệt hại về giá trị thương hiệu của tổ chức Rủi ro tài chính (Rinancial risk): là những nguy cơ liên quan đến rủi ro về tỷ giá, lãi suất, giá cả thị trường hoặc thậm chí liên quan đến hoạt động kế toán, hợp đồng tài chính, nợ, lĩnh vực vay vốn, báo cáo tài chính sai, …

Rủi ro thuế (Taxation risk): là những nguy cơ phát sinh thông qua trao đổi trong lĩnh vực thuế; ví dụ như nguy cơ không tuân thủ chính sách pháp luật thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước, hoạt động kiểm tra - thanh tra thuế…

Rủi ro điều tiết (Regularory risk): là những nguy cơ liên quan đến sự thay đổi, biến động của môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm những yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến tổ chức cũng như khả năng thích ứng của tổ chức đối với sự biến động của môi trường xung quanh

Rủi ro pháp lý (Legal risk): là những sự kiện khách quan, xảy ra bất ngờ, gây thiệt hại cho tổ chức, liên quan đến sự điều chỉnh của luật,chính sách và các quy định khác

do chính phủ và các cơ quan ngành, địa phương ban hành hoặc xấu hơn là các hoạt

động kiện tụng phát sinh từ khách hàng, nhà cung cấp, cổ đông, …

Có thể khẳng định rằng tất cả các loại rủi ro đều xuất phát từ một trong ba nguồn gốc: (1) Doanh nghiệp; (2) Các mối quan hệ của doanh nghiệp và các đối tác và; (3) từ môi trường bên ngoài Chúng ta cần nhìn nhận và đặt rủi ro trong một chuỗi cung ứng,

và xem rủi ro như một sự phá vỡ những dòng chảy của những thành phần khác nhau trong chuỗi cung ứng đó.Quan niệm về rủi ro cũng chính là quan niệm về hai mặt của một vấn đề, đằng sau lợi nhuận hứa hẹn mà một hành vi kinh doanh mang lại là những rủi ro tiềm tàng Các nhà quản trị kinh doanh cần nhận biết nó về tính hai mặt của mặt

- rủi ro và lợi nhuận.Tất cả các loại rủi ro cần phải được nhận diện và kiểm soát để đảm bảo sự thông suốt trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Đây là nhiệm vụ chính của nhà quản trị rủi ro

Trang 39

Bên cạnh đó rủi ro còn được nhìn nhận thông qua hai biến số: một là xác suất thất bại và hai là mức độ của sự tổn thất Hai biến số này được xác định thông qua số lượng

và chất lượng thông tin liên quan tới kinh tế, chính trị và xã hội [109, tr.45] Cần phải khẳng định rằng rủi ro còn là một hiện tượng khách quan có sự kết nối với sự tồn tại của các mối đe dọa bắt nguồn từ các biến số khác từ bên ngoài Rủi ro cũng là một hiện tượng chủ quan, vì nó là kết quả từ sự hiểu biết của các nhà ra quyết định Khái niệm rủi ro được đề cập với nội hàm là độ lệch khỏi lợi nhuận kỳ vọng, nếu lệch về phía trên, đó là sự gia tăng lợi nhuận, nếu lệch về phía dưới, đó là sự gia tăng rủi ro Nói khác đi bản thân thuật ngữ rủi ro như vậy đã bao hàm cả lợi nhuận và rủi ro theo nghĩa thông thường

2.1.2 Khái niệm quản trị rủi ro

Về phương diện lý thuyết, khái niệm quản trị rủi ro doanh nghiệp chính thức xuất hiện vào đầu những năm 1950 Đến năm 1963, nghiên cứu của Robert Mehr và Bob Hedges đã tạo ra một bước ngoặt trong lĩnh vực nghiên cứu về quản trị rủi ro doanh nghiệp bằng việc tổng kết các quan niệm trước đây về quản trị rủi ro và đưa ra một

định nghĩa mới về vấn đề này Theo Robert và Bob, Quản trị rủi ro doanh nghiệp là

một quy trình xem xét, đánh giá toàn diện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

để nhận biết những nguy cơ tiềm ẩn có thể tác động xấu đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp ứng phó, phòng ngừa phù hợp tương ứng với từng nguy cơ [113] Quản trị rủi ro doanh nghiệp cũng có thể góp phần

nâng cao giá trị doanh nghiệp thông qua việc kết nối hiệu quả chính sách tài chính và chính sách đầu tư trong thị trường vốn không hoàn hảo

Smith và Stulz (1985) thì cho rằng ở phương diện đầu tư, quản trị rủi ro tốt không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn làm giảm nhẹ mức biến động dòng tiền của doanh nghiệp hay rủi ro vỡ nợ Và quản trị rủi ro doanh nghiệp có thể làm gia tăng giá trị doanh nghiệp bằng cách hạ thấp chi phí Một số nghiên cứu khác sử dụng xếp hạng quản trị rủi ro (ERM rating) của các tổ chức như Standard & Poor để đo lường Về cơ bản chỉ số này đã bao quát các nội dung và mục tiêu của ERM, nhưng Standard & Poor mới chỉ cung cấp dịch vụ xếp hạng quản trị rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm, còn đối với các lĩnh vực khác vẫn còn bỏ ngỏ [112]

Wiliams and Heins định nghĩa rủi ro là “sự biến động về khả năng xảy ra” Quản trị rủi ro chủ yếu nhằm mục đích xác định các mối đe dọa và cơ hội Việc định lượng mức độ tác động đa chiều rủi ro của doanh nghiệp là rất quan trọng

Ngoài ra, khái niệm quản trị rủi ro còn được tiếp cận dưới nhiều góc độ: (1) Quản trị rủi ro là một quá trình tổ chức để nhận diện những sự việc bị lệch lạc, định lượng,

Trang 40

đánh giá các mối nguy liên quan từ đó xác định cách tiếp cận, kiểm soát thích hợp nhằm ngăn ngừa hoặc xử lý từng rủi ro được xác định [83] (2) Quản trị rủi ro là việc tối ưu hóa hệ thống, tận dụng các nguồn lực, xây dựng các dự án, chính sách quản lý rủi ro, qua đó xác định cách thức, phản ứng của doanh nghiệp đối với rủi ro [111] (3) Quy trình quản trị rủi ro bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc nhận diện, đánh giá, giảm thiểu và chấp nhận rủi ro [111].(4) Quản trị rủi ro là việc nhận diện, phân tích, xây dựng kế hoạch, thực thi các giải pháp, giám sát và kiểm soát các yếu tố

có khả năng gây nên những thay đổi và những kết quả không mong muốn [100] (5)

Nghiên cứu của Lisa (2003) cũng đề cập đến khái niệm quản trị rủi ro tích hợp

(Intergrated risk management), trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp; cấu trúc vốn và sử dụng các công cụ tài chính để đạt được mục tiêu quản trị rủi ro [95]

Có thể kết luận rằng tác giả hoàn toàn đồng ý và chia sẻ khái niệm quản trị rủi ro của Roebt và Bob đã được chỉ ra ở trên, tuy nhiên cần bổ sung thêm một số khía cạnh, chẳng hạn quản trị rủi ro của các quỹ đầu tư phát triển là một quá trình ra quyết định nhằm đảm bảo mức độ an toàn cao nhất thông qua giảm tác động của các yếu tố được đánh giá là mối nguy Trong thực tế kinh doanh, quản trị rủi ro cần được nhìn nhận là một bộ phận không thể tách rời của chiến lược phát triển của Quỹ đầu tư phát triển Cần phải nhấn mạnh rằng, sau khi được xác định, quản trị rủi ro sẽ là một bộ phận cấu thành trong quá trình hoạt động của quỹ và các nhà quản trị cần theo dõi mức độ tác động của nó đến tình hình tài chính và tình trạng kinh doanh Suy cho cùng quản trị rủi

ro là nhằm mục đích loại bỏ hoàn toàn hoặc ít nhất là giảm nhẹ những tác động của các yếu tố có thể gây tổn hại quá trình kinh doanh của quỹ đầu tư phát triển

Nói cách khác, “quản trị rủi ro tại các quỹ ĐTPT vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật để nhận diện, phân tích, xử lý, kiểm soát và giám sát rủi ro nhằm giúp quỹ ĐTPT đạt được mục tiêu tốt nhất; đồng thời góp phần phòng tránh, ngăn chặn những mối nguy không mong đợi” Do đó, đề cập đến quản trị rủi ro tức là đề cập đến quá trình quản trị chủ động, tích cực, khám phá những rủi ro tiềm năng chưa được nhận diện trên cơ sở nắm bắt và vận dụng những cơ hội từ những yếu tố tác động đến hoạt động của quản trị rủi ro; từ đó đề ra các kế hoạch đối phó cũng như các phương án dự phòng Và các bước này cần được thực hiện một cách khoa học, kết hợp với các phương pháp và công cụ thích hợp, áp dụng đúng thời điểm và yêu cầu kinh doanh của quỹ ĐTPT để phát huy hiệu quả cao nhất của quá trình quản trị rủi ro

Ngày đăng: 24/06/2020, 08:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đức Anh, (2015), Bắc Ninh đạt GDP bình quân đầu người hơn 5.500 USD, URL: http://vinanet.vn/kinhte-taichinh/bac-ninh-dat-gdp-binh-quan-dau-nguoi-hon-5500-usd-630404.html, truy cập ngày 15/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Ninh đạt GDP bình quân đầu người hơn 5.500 USD
Tác giả: Đức Anh
Năm: 2015
2. Ngô Xuân Bình, (2000), Giáo trình lý thuyết marketing, Nhà xuất bản Thống kê, trang 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết marketing
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2000
3. Phạm Phan Dũng, (2008), “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư phát triển địa phương ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư phát triển địa phương ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Phạm Phan Dũng
Năm: 2008
4. Lê Anh Dũng, Bùi Mạnh Hùng, (2015), Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp xây dựng, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp xây dựng
Tác giả: Lê Anh Dũng, Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2015
5. Trần Quang Khánh, (2003), Những giải pháp đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dân Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Khánh
Năm: 2003
7. Dương Ngọc Hào, (2015), Giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án tiến sĩ, trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Dương Ngọc Hào
Năm: 2015
8. Nguyễn Quang Hiện, (2016), Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội, Luận án tiến sĩ, Học viện tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội
Tác giả: Nguyễn Quang Hiện
Năm: 2016
9. Nguyễn Thị Bảo Hiền, (2016), Tăng cường quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp dược Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp dược Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bảo Hiền
Năm: 2016
10. Lê Minh Hồng, (2000), Giải pháp hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong khu vực kinh tế nông thôn Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong khu vực kinh tế nông thôn Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Hồng
Năm: 2000
11. Duy Hoàng, (2015), Bắc Ninh thu hút FDI gắn với phát triển khu công nghiệp, URL: http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/3329/Bac-Ninh-thu-hut-FDI-gan-voi-phat-trien-khu-cong-nghiep, truy cập ngày 15/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Ninh thu hút FDI gắn với phát triển khu công nghiệp
Tác giả: Duy Hoàng
Năm: 2015
12. Tạ Đình Long, (2016), Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Luận án tiến sĩ, trường Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Tác giả: Tạ Đình Long
Năm: 2016
13. Nguyễn Đình Lưu, (2008), Hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dân Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dân Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Lưu
Năm: 2008
14. Trần Quang Nam, (2019), Kinh tế Bắc Ninh: thành tựu và thách thức, URL: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/1242-kinh-te-bac-ninh-thanh-tuu-va-thach-thuc.html, truy cập ngày 15/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Bắc Ninh: thành tựu và thách thức
Tác giả: Trần Quang Nam
Năm: 2019
15. N.n, (2016), GDP/GRDP và bình quân đầu người tỉnh Bắc Ninh qua các năm, URL: http://doanhnhanbacninh.net/gdp-va-gdp-binh-quan-cua-tinh-bac-ninh-qua-cac-nam/, truy cập ngày 15/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDP/GRDP và bình quân đầu người tỉnh Bắc Ninh qua các năm
Tác giả: N.n
Năm: 2016
16. N.N, (n.d.), Giới thiệu chung về Bắc Ninh, URL: http://thabacninh.vn/index.php/vi/about/, truy cập ngày 10/03/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu chung về Bắc Ninh
17. Nd, (2015), Nhiệm kỳ 2010-2020: Bắc Ninh hoàn thành và hoàn thành vượt mức 22/24 chỉ tiêu, URL: http://infonet.vn/nhiem-ky-20102020-bac-ninh-hoan-thanh-va-hoan-thanh-vuot-muc-2224-chi-tieu-post183417.info, truy cập ngày 15/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm kỳ 2010-2020: Bắc Ninh hoàn thành và hoàn thành vượt mức 22/24 chỉ tiêu
Tác giả: Nd
Năm: 2015
18. Hoàng Xuân Phong, (2014), Quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam
Tác giả: Hoàng Xuân Phong
Năm: 2014
19. Nguyễn Thị Quy, (2008), Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
20. Dương Hùng Sơn, (2008), Giải pháp thành lập quỹ đầu tư chỉ số tại Việt Nam, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 26, tr.25-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thành lập quỹ đầu tư chỉ số tại Việt Nam, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 26
Tác giả: Dương Hùng Sơn
Năm: 2008
21. Đặng Đức Thành, (2016), Quản trị rủi ro, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro
Tác giả: Đặng Đức Thành
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w