Algorit sáng chế không phải là bản ghi có sẵn, rập khuôn để người học sử dụngmột cách máy móc mà đó là sự tìm tòi, sáng tạo của mỗi cá nhân để tìm ra bản ghialgorit hợp lí nhất cho việc
Trang 1TRƯƠNG MỘNG DIỆN
VẬN DỤNG ALGORIT SÁNG CHẾ ĐỂ
TỔ CHỨC DẠY HỌC DI TRUYỀN HỌC (SINH HỌC 12 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2TRƯƠNG MỘNG DIỆN
VẬN DỤNG ALGORIT SÁNG CHẾ ĐỂ
TỔ CHỨC DẠY HỌC DI TRUYỀN HỌC (SINH HỌC 12 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG) Ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 9140111
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, sốliệu nghiên cứu là khách quan, trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứcông trình nào khác
Tác giả
Trương Mộng Diện
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡquí báu của các cá nhân và tập thể
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học, người
đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sinh học,Phòng Đào tạo, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Đại học Thái nguyên đã tạomọi điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo trường THPTPhù Cừ đã tạo điều kiện, giúp đỡ và đóng góp ý kiến để luận án của tôi được hoàn thiện
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè, những người đãluôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thái nguyên, tháng 5 năm 2020
Nghiên cứu sinh
Trương Mộng Diện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Giới hạn của đề tài 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp mới của luận án 4
9 Cấu trúc của luận án 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Lược sử nghiên cứu về algorit 6
1.1.1 Lược sử nghiên cứu về algorit trên thế giới 6
1.1.2 Lược sử nghiên cứu về algorit ở Việt Nam 10
1.2 Cơ sở lý luận 12
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.2 Phân loại algorit 17
1.2.3 Vai trò của algorit trong dạy học nói chung và trong dạy học Di truyền học nói riêng 18
1.2.4 Cơ sở khoa học của việc vận dụng algorit trong dạy học 21
1.3 Cơ sở thực tiễn 27
1.3.1 Thực trạng nhận thức về lí luận của giáo viên 27
1.3.2 Thực tiễn sử dụng algorit của giáo viên trong dạy học Di truyền học 31
Trang 6Chương 2: VẬN DỤNG ALGORIT SÁNG CHẾ TRONG DẠY HỌC DI
TRUYỀN HỌC (SINH HỌC 12-THPT) 38
2.1 Phân tích cấu trúc và nội dung phần Di truyền học (Sinh học 12-THPT) 38
2.2 Xây dựng algorit dạy học Di truyền học (Sinh học 12 - THPT) 43
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng algorit dạy học Di truyền học (Sinh học 12 - THPT) 43
2.2.2 Quy trình xây dựng algorit dạy học phần Di truyền học (Sinh học 12-THPT) 47
2.2.3 Hệ thống các algorit đã xây dựng 53
2.3 Sử dụng algorit trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12 - THPT) 71
2.3.1 Nguyên tắc sử dụng algorit trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12 - THPT) 71
2.3.2 Sử dụng algorit trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12 - THPT) 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 99
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 100
3.1 Mục đích thực nghiệm 100
3.2 Nội dung thực nghiệm 100
3.3 Phương pháp thực nghiệm 100
3.3.1 Chọn trường, lớp, giáo viên thực nghiệm 100
3.3.2 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 103
3.3.3 Phương pháp xử lí kết quả 104
3.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả của vận dụng algorit sáng chế trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12 – THPT) 105
3.4.1 Đánh giá năng lực nhận thức của HS 105
3.4.2 Đánh giá năng lực tư duy sáng tạo 106
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 109
3.5.1 Phân tích kết quả các bài kiểm tra năng lực nhận thức 109
3.5.2 Phân tích kết quả các bài kiểm tra năng lực tư duy sáng tạo 118
3.5.3 Kết quả về việc lấy ý kiến nhận xét của giáo viên và học sinh 120
3.5.4 Nhận xét về kết quả sau hai năm thực nghiệm 123
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 125
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 126
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 7CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 134 PHỤ LỤC 135
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1 Các bài thực nghiệm có khảo sát kết quả học tập 100
Bảng 3.2 Danh sách các trường tiến hành thực nghiệm 101
Bảng 3.3 Phân bố TN ở các trường THPT qua các năm 102
Bảng 3.4 Bảng đánh giá các mức độ sáng tạo trong TN 109
Bảng 3.5 Bảng tần số điểm bài kiểm tra 15 phút 110
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất (fi%) điểm các bài kiểm tra 15 phút 110
Bảng 3.7 Bảng phân phối tần suất hội tụ tiến (fi↑) điểm các bài kiểm tra 15 phút .111
Bảng 3.9 Kiểm định X điểm bài kiểm tra 15 phút 113
Bảng 3.10 Phân tích phương sai điểm bài kiểm tra 15 phút 113
Bảng 3.11 Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra 45 phút 114
Bảng 3.12 Bảng phân phối tần suất (fi%) ở các bài kiểm tra 45 phút 114
Bảng 3.13 Bảng phân phối tần suất hội tụ tiến (fi↑) ở các bài kiểm tra 45 phút .115
Bảng 3.14 Bảng các tham số đặc trưng bài kiểm tra 45 phút 116
Bảng 3.15 Kiểm định X điểm bài kiểm tra 45 phút 117
Bảng 3.16 Phân tích phương sai điểm bài kiểm tra 45 phút 118
Bảng 3 17 Tần số các mức độ TDST của HS trong TN 119
Bảng 3.18 Tần suất các mức độ TDST của HS trong TN 119
Bảng 3.19 Ý kiến của GV TN về ưu, nhược điểm của phương pháp algorit DH .120
Bảng 3.20 Bảng thống kê ý kiến của HS về những ưu điểm của algorit sáng chế trong học DTH 122
Bảng 3.21 Bảng thống kê ý kiến HS về những tiến bộ sau khi học xong phần DTH có vận dụng algorit sáng chế 123
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Nhận thức của GV về khái niệm algorit 28
Biểu đồ 1.2 Nhận thức của GV về phân loại algorit trong DH 28
Biểu đồ 1.3 Nhận thức của GV về vai trò quan trọng nhất của algorit trong DH .29
Biểu đồ 1.4 Nhận thức của GV về khả năng vận dụng algorit trong DH 29
Biểu đồ 1.5 Nhận thức của GV về khả năng vận dụng algorit trong các khâu của quá trình DH 30
Biểu đồ 1.6 Nhận thức của GV về khả năng kết hợp algorit với các phương tiện DH khác 30
Biểu đồ 1.7 Mức độ sử dụng algorit của GV trong DH DTH 31
Biểu đồ 1.8 Thực tiễn sử dụng algorit trong DH các chương của phần DTH (SH 12 - THPT) 31
Biểu đồ 1.9 Hiệu quả của algorit trong DH DTH đối với hoạt động dạy của GV .32
Biểu đồ 1.10 Hiệu quả của algorit trong DH DTH đối với hoạt động học của HS 32
Biểu đồ 1.11 Những khó khăn khi vận dụng algorit trong DH DTH 33
Biểu đồ 1.12 Khả năng vận dụng algorit để rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS trong DH DTH 33
Biểu đồ 1.13 Khả năng vận dụng algorit để rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề cho HS trong DH DTH 34
Biểu đồ 3.1 Tần suất điểm các bài kiểm tra 15 phút 110
Biểu đồ 3.2 Tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra 15 phút 111
Biểu đồ 3.3 Tần suất điểm bài kiểm tra 45 phút 114
Biểu đồ 3.4 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra 45 phút 115
Biểu đồ 3.5 Mức độ TDST của HS trong TN 119
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Algorit chia số nhị phân 13
Hình 1.2: Cơ chế định hướng trong tư duy 15
Hình 1.3 Sơ đồ dạy và học tối ưu hóa 25
Hình 2.1 Các hệ thống tham gia giải bài toán có sử dụng algorit sáng chế 46
Hình 2.2 Quy trình xây dựng algorit nhận biết 47
Hình 2.3 Algorit nhận biết quy luật di truyền MenĐen 49
Hình 2.4 Quy trình thiết kế algorit biến đổi phần Di truyền học 50
Hình 2.5 Algorit nhận biết khái niệm gen 54
Hình 2.6 Algorit nhận biết khái niệm đột biến gen 57
Hình 2.7 Algorit nhận biết khái niệm đột biến số lượng NST 59
Hình 2.8 Algorit nhận biết quy luật di truyền liên kết gen 61
Hình 2.9 Algorit nhận biết quy luật di truyền tương tác gen 62
Hình 2.10 Algorit nhận biết quy luật di truyền liên kết giới tính 64
Hình 2.11 Algorit nhận biết quy luật di truyền trong nhân 66
Hình 2.12 Chương trình giải bài tập quy luật di truyền MenĐen 67
Hình 2.13 Chương trình giải bài tập quy luật di truyền liên kết gen 68
Hình 2.14 Chương trình giải bài tập quy luật di truyền tương tác gen 69
Hình 2.15 Chương trình giải bài tập xác định cấu trúc di truyền của quần thể giao phối gần 70
Hình 2.16 Chương trình giải bài tập xác định cấu trúc di truyền của quần thể giao phối ngẫu nhiên 70
Hình 2.17 Chương trình giải bài tập di truyền phả hệ 71
Hình 2.18 Quy trình sử dụng algorit trong DH lí thuyết DTH 73
Hình 2.19 Quy trình vận dụng algorit trong DH bài tập DTH 85
Hình 2.20 Quy trình xây dựng bài tập sáng tạo 92
Hình 2.21 Quy trình giải các bài tập sáng tạo 95
Hình 3.1 Mô hình sáng tạo khoa học 107
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp DH
Tại Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, ngày 04 tháng 11 năm 2013, ban Chấphành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị Quyết số 29-NQ/TƯ về việc Đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế [1].
Với quan điểm chỉ đạo: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp củaĐảng, Nhà nước và của toàn dân; đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo làđổi mới những vấn đề cốt lõi, cấp thiết từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu,nội dung, phương pháp, cơ chế chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện [1]
Theo Nghị quyết 29-NQ/TƯ, mục tiêu đổi mới của giáo dục phổ thông là tậptrung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh (HS) Nâng cao giáodục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoạingữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Pháttriển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời
Ngày 28 tháng 11 năm 2014, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông [2] Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 27 tháng 3 năm 2015 Thủ tướngChính phủ đã ra quyết định số 404/QĐ-TTg, phê duyệt đề án đổi mới chương trình,sách giáo khoa giáo dục phổ thông [3]
Như vậy, các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã thể hiện quyếttâm đổi mới hệ thống giáo dục để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và hội nhập quốc tế
Xuất phát từ những ưu điểm của algorit sáng chế
Phương pháp algorit cùng với phương pháp Graph và tiếp cận môđun là nhữngcông cụ phương pháp luận đắc lực trong việc xây dựng quá trình dạy học (DH) thànhquy trình công nghệ
Việc xác định các nguyên tắc và quy trình áp dụng phương pháp algorit DH làcần thiết để nâng cao tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS Phương pháp algorit có
Trang 13nhiều ưu điểm trong DH, vì đây là một phương pháp tư duy Nếu sử dụng phươngpháp này thường xuyên sẽ rèn luyện cho HS một phong cách học tập khoa học để họcsuốt đời.
Thuật ngữ “algorit” thường được hiểu theo hai nghĩa Theo toán học, “algorit”
là một trình tự các thao tác cần thiết để giải một bài toán Theo nghĩa rộng, “algorit”
là một chương trình bao gồm các thao tác tư duy có định hướng và đủ rõ ràng [8].Chương trình giải các bài toán sáng chế được gọi là algorit sáng chế Khác với algorittoán học, algorit sáng chế có tính mềm dẻo, linh hoạt hơn, cùng một vấn đề có thểđược giải quyết theo nhiều hướng khác nhau, tùy vào năng lực của người thực hiện Vận dụng algorit sáng chế vào quá trình DH là hướng đi mới, nhiều triển vọng,phù hợp với mục tiêu đổi mới giáo dục hiện nay vì algorit sáng chế khuyến khích sửdụng tối đa những phẩm chất tích cực của người học HS có thể thực hiện các thao tác
tư duy để giải quyết vấn đề tùy theo hiểu biết, kinh nghiệm, khả năng của mình, tìm
ra lời giải theo con đường của riêng mình
Algorit sáng chế không phải là bản ghi có sẵn, rập khuôn để người học sử dụngmột cách máy móc mà đó là sự tìm tòi, sáng tạo của mỗi cá nhân để tìm ra bản ghialgorit hợp lí nhất cho việc giải quyết một vấn đề nào đó Dưới sự hướng dẫn củagiáo viên (GV), thông qua hợp tác nhóm, HS sẽ phân tích vấn đề, tìm ra quy luật pháttriển khách quan của vấn đề, tìm ra các bước để giải quyết vấn đề và sắp xếp, bố trítừng bước để tìm ra mối liên hệ giữa chúng
Algorit sáng chế giúp người học giải quyết vấn đề nhanh hơn, chính xác hơn vàngắn gọn hơn, tránh mò mẫm, mất thời gian Vận dụng algorit sáng chế trong quátrình DH giúp HS hình thành thao tác tư duy logic, phát huy tính tích cực, sáng tạo,tinh thần làm việc tập thể qua đó củng cố niềm tin, hứng thú học tập cho người học
Xuất phát từ đặc điểm kiến thức Di truyền học (Sinh học 12)
Di truyền học (DTH) là một trong những lĩnh vực mũi nhọn của Sinh học (SH).Những kiến thức DTH là cơ sở nhận thức cơ chế tiến hóa, đồng thời là nền tảng đểgiải thích các vấn đề của Sinh thái học
Chương trình SH phổ thông hiện nay nói chung và phần DTH (SH 12) nói riêngđược xây dựng theo quan điểm hệ thống, các nội dung kiến thức được trình bày một
Trang 14cách khoa học, có logic, phù hợp với trình độ nhận thức của HS ở từng cấp học, bậchọc Với cách bố trí như thế này, GV có thể tổ chức các hoạt động học tập cho HS dựatrên các kiến thức, kinh nghiệm đã có để giải quyết các vấn đề mới, rèn luyện kĩ năng
và phát triển tư duy vững chắc, có khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Tính quy luật của hiện tượng di truyền giúp HS có thể vận dụng algorit mộtcách hiệu quả trong việc giải thích hiện tượng di truyền cũng như giải các bài tập toán
di truyền
Vì những lí do trên tôi đã lựa chọn đề tài luận án: “Vận dụng algorit sáng chế
để tổ chức dạy học Di truyền học (Sinh học 12 - Trung học phổ thông)”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Vận dụng algorit sáng chế để xây dựng và sử dụng các algorit DH phần DTH(SH 12 – THPT) nhằm phát triển năng lực nhận thức và năng lực tư duy sáng tạo choHS
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: DH DTH (SH 12 - THPT) theo algorit sáng chế
Khách thể nghiên cứu: Quá trình DH SH 12
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng algorit một cách hợp lí vào các khâu trong DH DTH(SH 12 - THPT) thì sẽ phát triển năng lực nhận thức và năng lực tư duy sáng tạo choHS
5 Giới hạn của đề tài
Luận án nghiên cứu vận dụng lí thuyết algorit sáng chế trong DH phần DTH(SH 12 - THPT)
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Nghiên cứu lý thuyết algorit sáng chế và việc vận dụng algorit trong DH.(2) Điều tra thực trạng vận dụng algorit trong quá trình DH ở trường THPT.(3) Đề xuất quy trình xây dựng một số algorit DH DTH (SH 12 - THPT).(4) Xây dựng quy trình sử dụng các algorit đã xây dựng trong DH DTH(SH 12 - THPT)
(5) Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các phương án đã đề xuất
Trang 157 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Thu thập, phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan tới nội dung đề tài theo cácnội dung đề ra như sau:
- Nghiên cứu các văn bản của Đảng, Chính phủ và của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về vấn đề đổi mới giáo dục để xác định lý do chọn đề tài
- Nghiên cứu các tài liệu trong nước và nước ngoài có liên quan tới lý thuyếtalgorit sáng chế làm cơ sở khoa học của đề tài luận án
- Nghiên cứu các tài liệu về nội dung DTH; tài liệu về lý luận và phương phápdạy học Sinh học làm cơ sở cho việc xây dựng nội dung dạy học phần DTH
- Nghiên cứu tài liệu về algorit trong dạy học làm cơ sở lí luận cho việc xâydựng và sử dụng các algorit dạy học DTH
- Nghiên cứu các tài liệu về năng lực; tài liệu tâm lý học về nhận thức; tài liệu
về các khái niệm, định nghĩa quy luật, tính quy luật làm cơ sở cho việc xây dựng hệthống các algorit dạy học cũng như việc đề xuất quy trình tổ chức dạy học phát triểnnăng lực nhận thức, năng lực tư duy sáng tạo cho HS
Phương pháp điều tra sư phạm
Dùng phiếu điều tra thực trạng DH nói chung và DH SH nói riêng ở trườngTHPT để xác định cơ sở thực tiễn của đề tài luận án Chúng tôi đã thiết kế phiếu thamkhảo ý kiến của GV về các lĩnh vực: Nhận thức lí luận của GV về algorit; thực tiễn sửdụng algorit của GV trong DH DTH ở trường THPT và việc rèn luyện năng lực nhậnthức, năng lực vận dụng kiến thức cho HS trong DH DTH
Phương pháp chuyên gia, tham vấn chuyên gia
- Các chuyên gia được xác định là các nhà khoa học nghiên cứu về lý luận vàphương pháp DH hoặc nghiên cứu về DTH; những GV có nhiều kinh nghiệm tronggiảng dạy SH
- Những nội dung cần tham vấn là:
+ Mục tiêu DH DTH ở THPT
+ Quy trình thiết kế các algorit DH phần DTH SH 12-THPT
Trang 16Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm (TN) sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và tính hiệu quảcủa các quy trình DH DTH theo algorit sáng chế, qua đó khẳng định tính đúng đắncủa giả thuyết nghiên cứu đã đề ra trong đề tài luận án
Quá trình TN được tiến hành theo hai giai đoạn là TN khảo sát và TN chínhthức TN được tiến hành ở 05 trường trên địa bàn tỉnh Hưng Yên: THPT Nam Phù
Cừ, THPT Phù Cừ, THPT Tiên Lữ, THPT Nghĩa Dân
HS trong khối 12 ở mỗi trường TN, chúng tôi chọn các lớp TN và lớp ĐC tươngđương nhau về học lực, về phong trào thi đua học tập GV thực hiện TN sư phạm lànhững GV có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, thâm niên công tác tương đươngnhau, có nhiều thành tích trong giảng dạy, yêu nghề, say mê chuyên môn
TN được bố trí theo cách “TN có ĐC”, nghĩa là lớp TN và lớp ĐC chỉ khácnhau ở một yếu tố tác động, đó chính là đối tượng nghiên cứu của luận án, tất cả cácyếu tố còn lại đều giống nhau Chúng tôi tiến hành TN khảo sát vào năm 2015 và TNchính thức vào năm 2016, thu số liệu của đợt 2, đánh giá tính hiệu quả của cácphương pháp và rút ra kết luận về tính khả thi của các phương pháp mà luận án đangnghiên cứu
Căn cứ vào giả thuyết khoa học của luận án, chúng tôi xác định nội dung cần
đo chính là năng lực nhận thức và năng lực vận dụng kiến thức phần DTH, chúng tôi
đã xây dựng công cụ đo là các bài kiểm tra đánh giá năng lực nhận thức và năng lựcvận dụng kiến thức phần DTH
Phương pháp thống kê toán học
Trang 17Các số liệu thu được trong thực nghiệm sư phạm có tính định lượng sẽ được xử
lí bằng thống kê toán học nhờ phần mềm Microsoft Exel với các tham số thống kêđặc trưng gồm:
- Giá trị trung bình: nhằm xác định điểm trung bình về năng lực của HS nhómlớp ĐC và nhóm lớp TN
- Độ lệch chuẩn: nhằm xác định mức độ phân tán các số liệu quanh giátrị trung bình
- Mode: nhằm xác định giá trị có tần số xuất hiện nhiều nhất trong tập hợpcác giá trị của dữ liệu
- Sử dụng phép kiểm định T – test độc lập, T – test theo cặp để kiểm chứng ýnghĩa thống kê
8 Những đóng góp mới của luận án
(1) Đề xuất quy trình xây dựng một số algorit DH DTH (SH 12 - THPT)
(2) Đề xuất quy trình sử dụng một số algorit trong DH DTH (SH 12 THPT)
-(3) Đề xuất thang đánh giá hiệu quả vận dụng algorit sáng chế trong DH DTH(SH 12 - THPT)
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính củaluận án được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận, thực tiễn
Chương 2 Vận dụng algorit sáng chế trong dạy hoc Di truyền học (Sinh học 12– THPT)
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lược sử nghiên cứu về algorit
1.1.1 Lược sử nghiên cứu về algorit trên thế giới
Khoa học tư duy sáng tạo trên thế giới đã được hình thành từ rất lâu Nhà toánhọc Hy Lạp Pappop, sống ở thế kỉ thứ III là người đặt nền móng cho “khoa học tưduy sáng tạo”, ông gọi đó là Ơristic (Heuristics) Heuristic được hiểu là các kỹ thuậtdựa trên kinh nghiệm để giải quyết vấn đề học tập hay khám phá nhằm đưa ra mộtgiải pháp mà không được đảm bảo là tối ưu Với việc nghiên cứu khảo sát không cótính thực tế, các phương pháp Heuristic được dùng nhằm tăng nhanh quá trình tìmkiếm với các giải pháp hợp lý thông qua các suy nghĩ rút gọn để giảm bớt việc nhậnthức vấn đề khi đưa ra quyết định [62]
Có thể thấy, theo quan niệm lúc bấy giờ, Ơristic là khoa học về sự sáng chế,phát minh trong mọi lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, văn hóa, nghệ thuật,… Do cách tiếpcận quá chung chung và không có nhu cầu xã hội cấp bách nên Ơristic đã không đượcnhìn nhận Cho đến thời gian gần đây, Ơristic đã được nghiên cứu và phát triển.Alfred Binet, một nhà tâm lý học người Pháp đã phát minh ra các bài kiểm tra
IQ thực tế đầu tiên [61] Năm 1904, Bộ Giáo dục Pháp đã sử dụng các bài kiểm tra
IQ Alfred Binet nhận diện và đánh giá trí tuệ của HS Năm 1908 và 1911 Binet công
bố phiên bản thử nghiệm của mình Sau đó, bài kiểm tra của Binet trở nên thông dụngtrên khắp nước Mỹ và bùng phát mạnh vào năm 1917 [58] Tuy là cha đẻ của “chỉ sốthông minh - IQ” nhưng Binet cũng nhìn nhận rằng bài kiểm tra IQ cũng bộc lộ một
số hạn chế Ông cho rằng rằng trí thông minh không hẳn chỉ do di truyền, bởi cácgene cấu thành, mà còn do môi trường giáo dưỡng tác động Trong suốt 21 nămnghiên cứu, Binet đã xuất bản hơn 200 cuốn sách, bài báo, những công trình nghiêncứu của Binet sau này có ảnh hưởng rất lớn đến Jean Piaget [57]
Cuối thế kỉ IXX, các nhà tâm lí học đã phát hiện ra phương pháp thử sai Thử vàsai là một phương pháp cơ bản giải quyết vấn đề [54] Thử sai được đặc trưng bởi sựlặp đi lặp lại những nỗ lực đến khi thành công, hoặc cho đến khi không thể thực hiện
Trang 19được nữa [69] Theo W.H Thorpe, thuật ngữ thử sai được đưa ra bởi C LloydMorgan sau khi ông đã sử dụng các cụm từ tương tự như "thử và thất bại" và "thửnghiệm và thực tiễn" [68] Sau này, Edward Thorndike đã tiến hành thí nghiệm nổitiếng với một con mèo đã được đặt trong một loạt các hộp với các điều kiện khácnhau để hoạt động của con mèo gắn với quá trình học tập, rút kinh nghiệm [67] Thínghiệm của Edward Thorndike sau này được B.F Skinner hoàn thiện.
Như vậy có thể thấy việc lựa chọn các phương án trong phương pháp thử saiđược tiến hành theo kiểu mò mẫm Tuy nhiên, cùng với phương pháp thử sai, các nhàtâm lí học đã xác định được vai trò của nhiều yếu tố tâm lí như: tính lí tưởng, trítưởng tượng, trực giác, tính ì tâm lí, … trong quá trình tư duy sáng tạo
Năm 1939 A Osborn (Mỹ) đã đề xuất phương pháp tập kích não hay còn gọi làđộng não, công não, (tiếng Anh: brainstorming) Ông đã miêu tả động não như một
kỹ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề nhất địnhbằng cách góp nhặt tất cả ý kiến của nhóm người, nảy sinh trong cùng một thời gian,theo một nguyên tắc nhất định Kỹ thuật này sau đó được Charles HutchisonClark phát triển và Hilbert Meyer áp dụng trong lý luận về phương pháp giảng dạy[59] Theo Hilbert Meyer: Động não là một kỹ thuật dạy học tích cực, thông qua thảoluận, nhằm huy động những ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề, của mọi thànhviên tham gia thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực,không hạn chế các ý tưởng, nhằm tạo ra "cơn lốc" các ý tưởng [53]
Động não được áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau: quảng cáo, quản lí, sảnxuất, giáo dục, Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng phương pháp tập kích não vẫn chưakhắc phục được những nhược điểm của phương pháp thử sai đó là thiếu cơ chế địnhhướng từ bài toán đến lời giải trong tư duy
Năm 1926, F Kunze một giáo sư trường đại học tổng hợp Berlin đã đề xuấtphương pháp đối tượng tiêu điểm Đây là một phương pháp tích cực hóa tưduy trong khoa học sáng tạo Phương pháp đối tượng tiêu điểm với tên gọi ban đầu làphương pháp danh mục (catalogue) được nhà bác học người Mỹ C Whiting hoànthiện vào những năm 50 của thế kỷ [13] Nội dung của phương pháp đối tượng tiêuđiểm là chọn ngẫu nhiên một đối tượng nào đó sau đó lấy những tính chất của các đối
Trang 20tượng ngẫu nhiên này gắn cho đối tượng đang cần cải tiến hay hoàn thiện (đối tượngtiêu điểm) Bằng cách này có thể nhận được những kết hợp khác thường và đi đếnnhững phương án độc đáo [13] Như vậy, ý tưởng của phương pháp là cải tiến mộtđối tượng bằng cách chuyển giao những dấu hiệu (tính chất, chức năng) của nhữngđối tượng ngẫu nhiên vào đối tượng cần cải tiến Ví dụ đưa tính chất "thơm" của
"nước hoa" vào đối tượng "bút", ta có "bút có mùi thơm"
Năm 1942, Fritz Zwicky người Thụy Sĩ đã đề xuất phương pháp phân tích hìnhthái [65] Theo phương pháp này, người ta sẽ liệt kê tất cả các đặc trưng của một đốitượng nào đó, mỗi đặc trưng xếp vào một cột Ở mỗi cột người ta viết tất cả cácphương án đề xuất sau đó xét tất cả các kết hợp được hình thành bằng cách lấy ở mỗicột một phương án Kết quả là tạo ra vô số các kết hợp và việc nhận thức ra cácphương án tối ưu cũng trở nên khó khăn Như vậy phương pháp phân tích hình thái làphương pháp tích cực hóa tư duy bằng cách tách đối tượng ra từng con số rồi đa dạnghóa hình thái của các con số Sau đó, kết hợp chúng lại để tạo ra ý tưởng mới
Người có nhiều cống hiến trong việc xây dựng khoa học sáng tạo là nhà khoahọc Genric Sanlovic Altshuler Năm 14 tuổi ông đã có bằng sáng chế, năm 20 tuổiông đã dự định xây dựng lí thuyết để giúp bất kì người bình thường nào cũng có thểsáng chế được Năm 1946, Altshuler bắt đầu xây dựng lí thuyết giải các bài toán sángchế (Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh Zadatch viết tắt là TRIZ) TRIZ là phươngpháp luận tìm kiếm những giải pháp kĩ thuật mới TRIZ kết hợp chặt chẽ bốn yếu tố:Tâm lí, logic, kiến thức, trí tưởng tượng Về phương pháp sáng chế, G.S Altshuler đã
đề xuất vào năm 1960 gần đây đã được phát triển mạnh mẽ và trở thành một lí thuyết,trong đó hạt nhân là Algorit giải các bài toán sáng chế
Anthony "Tony" Peter Buzan (sinh năm 1942) tại Luân Đôn (Anh) là một tácgia, nhà tâm lý và là cha đẻ của phương pháp tư duy Mind map (Sơ đồ tư duy - Giản
đồ ý) Theo triết lý của Buzzan thì bản đồ tư duy được hiểu là một cách mở ra sứcmạnh tư duy, tạo ra những đột phá trong suy nghĩ Buzan nghiên cứu chuyên sâu về
bộ não, trí nhớ tìm ra quy luật khi xây dựng bản đồ gồm nhiều nhánh, giúp bộ não ghichép các sự kiện một cách hệ thống Buzan rất đam mê khám phá cấu trúc, chứcnăng, hoạt động của não bộ và phát minh ra những phương pháp để “bật tín hiểu” cho
Trang 21bộ não Ông thấy rằng đứa trẻ nào cũng có tiềm năng của Leonardo da Vinci vàAlbert Einstein Ông đã dày công nghiên cứu cách “bật tín hiệu” cho tiềm năng đóphát huy Các nghiên cứu của Buzan cho thấy trí thông minh được phát huy hết côngnăng khi con cái chúng ta được nuôi dưỡng trong môi trường tốt, được khuyến khích,động viên và giáo dục đúng phương pháp Với bộ công cụ sơ đồ tư duy hay còn gọi là
sơ đồ trí não, Buzan hướng dẫn chúng ta học phương pháp học, học cách xử lý thôngtin, và học tư duy có phương pháp để rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, từ đókhai phá năng lực tiềm ẩn vô cùng to lớn của bộ não, tạo nên sự đột phá trong học tập
và công tác [9]
Năm 1983, Giáo sư tâm lý Howard Gardner của trường đại học Havard công bố
thuyết “trí thông minh đa đạng” Ông cho rằng Alfred Binet và cộng sự xác định vàđánh giá trí thông minh ở một khía cạnh quá riêng lẻ, là chỉ với chỉ số IQ, thì thậtkhông thoả đáng Bởi vì, chỉ với riêng IQ, nó không phản ánh được sự đa dạng của tríthông minh và nó cũng không cho thấy sự tương quan giữa trí thông minh với vô sốcách ứng xử của trí tuệ có thể quan sát được trong cuộc sống Theo Giáo sư HowardGardner, trí thông minh có nghĩa là “khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩmhay dịch vụ có giá trị thiết thực cho xã hội” [55], [56], [66]
Năm 1990, David Perkins (một nhà khoa học của đại học Havard) đã chỉ ra tríthông minh có ba loại: trí thông minh nơron (neural intelligence), trí thông minh trảinghiệm (experiential intelligent) và trí thông minh có suy nghĩ (reflectiveintelligence) Trong đó, trí thông minh nơron hay còn gọi là trí thông minh thiênbẩm do di truyền và được đo bằng chỉ số IQ Còn hai loại trí thông minh trải nghiệm
và trí thông minh có suy nghĩ thì có thể đào tạo được Trí thông minh trải nghiệmđược hình thành dựa trên những kinh nghiệm rút ra được trong công việc hay trongcuộc sống Trí thông minh suy nghĩ của một người là khả năng suy nghĩ của người
đó trong những tình huống khác nhau, thậm chí những tình huống không nằm tronglĩnh vực chuyên môn của người đó Với trí thông minh có suy nghĩ, chúng ta có thểgia tăng khả năng giải quyết những vấn đề, ra quyết định, và đưa ra những sang kiếnmới để xây dựng thế giới phức tạp và không ngừng biến động mà chúng ta đangsinh sống [52], [63]
Trang 22Năm 1992, Arthur Costa, Giáo sư danh dự của đại học California State là tác giảcủa “thuyết thói quen của trí não- Habits of Mind”, đó là một tập hợp các hành vi vàứng xử của trí thông minh đóng một vai trò đặc biệt giúp con người trở nên sâu sắc vànhạy bén trong suy nghĩ Thói quen tư duy này được hình thành do chúng ta thực hiệnhành động lặp đi lặp lại trong suốt một quãng thời gian dài Thói quen của trí não baogồm cả khả năng tư duy lẫn cách cư xử của con người, chính nhờ sự phối hợp đồng
bộ này mà chúng ta thành thạo trong việc vận hành khả năng tư duy và khả năng xử
lý vấn đề Như vậy, có thể thấy gieo hành động gặt thói quen, gieo thói quen gặt tínhcách, một đứa bé không thể học “chớp nhoáng” vài kĩ năng thì có trí thông minh hiệuquả hơn, mà các em cần được cung cấp cơ hội để rèn luyện như rèn luyện thói quen,với phương pháp và công cụ phù hợp với lứa tuổi [48], [49]
Ngày nay, các công trình nghiên cứu tư duy, sáng tạo đã được quan tâm thíchđáng và đã đem lại hiệu quả cao trong nhiều lĩnh vực ở nhiều nước trên thế giới Một
số nước tiên tiến trên thế giới đã bất đầu đào tạo cử nhân, thạc sĩ về chuyên ngànhsáng tạo và đổi mới, các trung tâm nghiên cứu sáng tạo, các lớp học đào tạo, bồidưỡng tư duy sáng tạo được thành lập ngày một nhiều Như vậy chúng ta có thể thấyđược tầm quan trọng của sáng tạo đối với sự phát triển trong giai đoạn hiện nay
1.1.2 Lược sử nghiên cứu về algorit ở Việt Nam
Ở nước ta, những hoạt động liên quan đến khoa học về tư duy sáng tạo mới thực
sự bắt đầu vào cuối những năm 70 của thế kỉ XX những vẫn còn mang tính tự phát.Lớp học đầu tiên về tư duy sáng tạo được tổ chức vào năm 1977 Người có công đưakhoa học sáng tạo vào Việt Nam đó là GS Phan Dũng với các tác phẩm như: Phươngpháp luận sáng tạo khoa học - kĩ thuật giải quyết vẫn đề và ra quyết định; Các nguyêntắc sáng tạo cơ bản; Thế giới bên trong con người sáng tạo,…[12], [13], [14]
Cuốn sách đầu tiên về phương pháp luận sáng tạo được nhà xuất bản khoa học
và kĩ thuật Hà Nội xuất bản năm 1983 do Nguyễn Chân, Dương Xuân Bảo, PhanDũng dịch đã đem đến cái nhìn mới mẻ về tư duy sáng tạo ở Việt Nam Cuốn sách
đã làm rõ TRIZ là gì, vận dụng TRIZ như thế nào trong giải quyết các vấn đề trong
kĩ thuật sáng chế Cuốn sách này còn giới thiệu về ARIZ cùng những quy luật pháttriển khách quan trong kĩ thuật, 40 sáng chế cơ bản, Cuốn sách đã góp phần dấy
Trang 23lên phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến hợp lí hóa trong sản xuất và đó cũng làtài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến phương pháp tư duy sáng tạo trong khoahọc, kĩ thuật.
Năm 1991, trung tâm sáng tạo Khoa học - Kĩ thuật được thành lập tại đại họcKhoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh với mục đích dạy chongười bình thường trở nên sáng tạo
Nguyễn Văn Lê (1998) cùng với tác phẩm “Cơ sở khoa học của sự sáng tạo” đãtrình bày một số cơ sở khoa học của việc giáo dục tính sáng tạo cho thanh thiếu niênnhư: Hệ thống khái niệm về năng lực, tài năng và tính sáng tạo; Khoa học về sự sángtạo; Cơ sở tâm lí học, sinh lí thần kinh, khía cạnh xã hội của hoạt động sáng tạo; Bàihọc từ những con người sáng tạo [26]
Nguyễn Minh Triết (2000) với “Đánh thức tiềm năng sáng tạo” đã bước đầu tìmhiểu, phân tích về tính ì tâm lí và đề cập đến việc vận dụng 19 nguyên tắc sáng tạovào giải quyết các bài toán cụ thể nhằm khắc phục tính ì tâm lí [36]
Nguyễn Cảnh Toàn (2004) với “Khơi dạy tiềm năng sáng tạo” đã đưa ra các vấn
đề về sáng tạo học như: khái niệm, nguồn gốc, cở sở thần kinh của hoạt động sángtạo Quyển sách là tài liệu quý cho GV về cách thức, phương pháp dạy HS học tậpsáng tạo Sách còn có 2 phụ lục đặc biệt về việc đo trí thông minh và 5 phương thứccải lão hoàn đồng [37]
Việc nghiên cứu, vận dụng TRIZ và ARIZ để bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho HStrong nhà trường phổ thông còn chưa được đề cập nhiều trong các công trình nghiêncứu ở nước ta Các nhà khoa học đã đã vận dụng các NTST của TRIZ và ARIZ để tạo
ra những sản phẩm mới có ích, phục vụ cho đời sống Còn GV, có thể dựa trên lối tưduy của các nhà khoa học để dạy cho HS cách tư duy khoa học, sáng tạo để đào tạonhiều hơn nữa những con người sáng tạo, đáp ứng được nhu cầu của xã hội Dướicách nhìn của thời đại mới, sáng tạo là nguồn tài nguyên cơ bản của con người, nguồntài nguyên đặc biệt mà theo như các nhà khoa học Mỹ: bạn càng sử dụng nó nhiều thìbạn càng có nó nhiều hơn Sáng tạo là thứ có thể học được và dạy được vì vậy, giáodục và rèn luyện tính sáng tạo sẽ càng đóng vai trò quan trọng như John Dewey nhậnxét: “Mục đích giáo dục trẻ em không phải là thông tin về những giá trị của quá khứ
mà là sáng tạo những giá trị mới của tương lai”
Trang 24Thuật ngữ algorit có nhiều cách hiểu khác nhau Trong toán học, algorit là mộttrong những khái niệm cơ sở Có khoảng hơn 20 định nghĩa khác nhau về thuật ngữalgorit [33] Trong suốt thời gian dài của lịch sử phát triển toán học, algorit đượcdùng theo nghĩa: Algorit là một hệ thống chặt chẽ và rõ ràng các quy tắc nhằm xácđịnh một dãy các thao tác trên đối tượng sao cho sau một số hữu hạn bước thực hiệncác thao tác, ta đạt được mục tiêu định trước [24] Như vậy, có thể hiểu algorit toánhọc là một trình tự tuyệt đối chặt chẽ các thao tác cần thiết để giải một bài toán Mỗithao tác được xác định một cách chính xác, không phụ thuộc vào đặc thù của từng bàitoán cụ thể và cũng không phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của mỗi con người [8](Xem hình 1.1).
Với thời gian, cách hiểu thuật ngữ algorit trở nên mở rộng hơn Có thể địnhnghĩa “algorit là hàng loạt các chỉ dẫn hoặc các bước tuần tự để giải quyết một vấn đề
cụ thể” hay “algorit là bộ các chỉ dẫn, cung cấp hàng loạt các bước cần thiết để tìm ralời giải cho một vấn đề”[8], [11]
Ngày nay, thuật ngữ algorit còn được hiểu rộng hơn: “Algorit là bất kìchương trình nào đủ rõ ràng gồm các hành động (thao tác) thực hiện một công việc
nào đó”[11].
Ví dụ, algorit chia số nhị phân
Nguyên tắc của phép chia số nhị phân là thực hiện phép so sánh một phần của số bịchia (số bit đầu tiên bằng với số bit của số chia) với số chia, nếu số bị chia lớn hơn sốchia thì thương số = 1, thực hiện phép trừ, ngược lại thì thương số = 0, sau đó dịch tráiphần còn lại của số bị chia một bit (hoặc dịch phải số chia 1 bit) rồi tiếp tục thực hiện bàitoán so sánh giống như trên Công việc được lặp lại cho đến khi chấm dứt
Trang 25Hình 1.1 Algorit chia số nhị phân
1.2.1.2 Algorit sáng chế
Algorit sáng chế là cách gọi tắt của thuật ngữ “Algorit giải các bài toán sángchế”, tiếng Nga là Алгоритм) thường dịch sang Решения Изобретательких Задач viết tắt theo tiếngNga là АРИЗ, chuyển sang ký tự la tinh là ARIZ
ARIZ được hiểu là chương trình logic mang tính định hướng, gồm nhiều bướcnhằm tổ chức hợp lý và có hiệu quả quá trình suy nghĩ nhằm giải quyết các bài toánsáng chế Khi sử dụng ARIZ, bằng những kinh nghiệm, tri thức của cá nhân, ngườihọc phân tích quy luật phát triển khách quan và tìm ra mối quan hệ của các sự vật,hiện tượng, quá trình để đưa ra lời giải và thể hiện lời giải thành thao tác, quy trình.Theo cách này, người học có thể đơn giản hóa các vấn đề phức tạp, nhận thức đượccái bản chất, quy luật vận động khách quan của đối tượng, đúc rút kinh nghiệm chobản thân, sáng tạo ra phương thức nhận thức của chính mình
ARIZ có tính mềm dẻo và linh hoạt hơn so với algorit toán học nên phạm vi ứngdụng cao hơn và phát huy được vai trò sáng tạo của chủ thể trong quá trình sử dụng
Do vậy, algorit có thể được áp dụng vào bất kì lĩnh vực nào trong đời sống
Bắt đầu
Số bị chia – số chia
Thương số = 1
Kết quả dương
Trang 26Việc xây dựng các algorit DH dựa trên cách tiếp cận nghĩa rộng của thuật ngữalgorit Với cách tiếp cận này, mỗi người tự liệt kê và sắp xếp những công việc màmình phải làm thành các nhóm và xây dựng cho mỗi nhóm ấy một algorit phù hợpnhất Trong quá trình học, trước các tình huống cụ thể đặt ra, người học chỉ cần xácđịnh mục tiêu rồi sử dụng các algorit tương tự để thực hiện Quá trình này sẽ có được
sự tối ưu cả về quá trình thực hiện lẫn kết quả Như vậy lúc này quá trình dạy - họcthực chất là quá trình dạy và học các algorit [8]
Trong DH, để giúp HS học tập tốt, các nhà nghiên cứu lý luận DH đã tìm cáchxây dựng các algorit học tập, từ đó xây dựng nên phương pháp DH algorit Bản chấtcủa phương pháp DH này là xây dựng các bước đi theo một trình tự hợp lí cho từngvấn đề học tập để giúp HS thực hiện tuần tự các bước đi ấy nhằm lĩnh hội và nắmvững kiến thức
Vấn đề quan trọng nhất trong phương pháp DH algorit là thiết kế được mộtphương án tối ưu cho từng vấn đề học tập cụ thể bởi vì mỗi vấn đề học tập có thể cónhiều phương án dạy và học khác nhau Nhiệm vụ đặt ra với nhà giáo dục là phảichọn được phương án nào mà các bước đi chặt chẽ, ít thao tác, loại trừ được các bấthợp lí nhưng lại dễ thực hiện với HS, đạt hiệu quả nhanh nhất và cao nhất
Đặc điểm của phương pháp DH này là nội dung bài học được chia nhỏ thànhcác bước, các công đoạn để HS giải quyết công việc từng phần Bằng việc chia nhỏnội dung kiến thức ban đầu, đã tạo ra tính vừa sức, khả năng huy động hoạt động tậpthể, và kĩ năng tổng hợp kiến thức cho HS Mỗi bước đi là một mức độ nhận thức vàcác bước đi nhất định dẫn HS tới đích cho nên đây là phương án có tính hiệu quả cao
1.2.1.3 Lý thuyết giải các bài toán sáng chế
Lý thuyết giải các bài toán sáng chế (theo tiếng Nga là Теория РешенияИзобретательских Задач, chuyển tự theo tiếng La tinh là Teoriya ResheniyaIzobreatatelskikh Zadatch, viết tắt TRIZ) là phương pháp luận tìm kiếm những giảipháp kỹ thuật mới, cho những kết quả khả quan, ổn định khi giải những bài toán khácnhau, thích hợp cho việc dạy và học với đông đảo quần chúng [12]
TRIZ là một lí thuyết tương đối khái quát về sự phát triển của các hệ thống,TRIZ không ở mức khái quát cao nhất như triết học biện chứng và cũng không riêng
Trang 27về sự phát triển của một lĩnh vực cụ thể nào Vì vậy, việc xây dựng TRIZ dựa trênmột số cách tiếp cận sau:
Thứ nhất: Các quy luật sáng tạo phải dựa trên các quy luật phát triển
Theo định nghĩa, sáng tạo phải có tính mới Điều này phản ánh: Sáng tạo tạo ra
sự thay đổi, tạo ra những cái mới, khác với cái đã có Tuy nhiên, không phải sự thayđổi nào cũng là sáng tạo vì sáng tạo đòi hỏi sự thay đổi phải gắn liền với lợi ích.Tương tự như vậy, sáng tạo tạo ra sự đa dạng, làm tăng tính đa dạng nhưng khôngphải sự đa dạng nào cũng là sáng tạo nếu như sự đa dạng đó không đem lại lợi ích
Dễ nhận thấy, sáng tạo tạo ra sự phát triển (khác với cái cũ, cái đã có, cái đãbiết); phát triển còn phải có ích lợi, tiến bộ, hoàn thiện Nói cách khác, sáng tạo tạo ra
sự phát triển và ngược lại trong sự phát triển có sáng tạo Theo GS Altshuller, đi tìmcác quy luật sáng tạo chính là đi tìm các quy luật phát triển chứ không phải là đi tìmcác quy luật tư duy sáng tạo như cách tiếp cận truyền thống
Thứ hai: Sáng tạo của con người mang cả tính chủ quan và tính khách quan
Những sáng tạo của con người, một mặt mang tính chủ quan vì chúng được tạo
ra bởi những con người cụ thể mặt khác, những sáng tạo của con người được tựnhiên, xã hội tiếp nhận một cách đầy đủ, ổn định và bền vững mới là những sáng tạotạo ra sự phát triển thực sự Tuy sự phát triển này do con người tạo ra nhưng nó vẫnphải tuân thủ các quy luật phát triển khách quan GS Altshuller cho rằng các nhàsáng tạo phải ưu tiên đi tìm những quy luật phát triển khách quan và người sáng tạotốt là người sau khi nắm được các quy luật nói trên biết điều khiển tư duy và hànhđộng đi theo chúng
Thứ ba: Cơ chế định hướng và tư duy định hướng
Hình 1.2: Cơ chế định hướng trong tư duy
Nhược điểm của phương pháp thử sai là thiếu cơ chế định hướng từ bài toán đếnlời giải Khi chúng ta tìm được cơ chế định hướng là ta đã khắc phục được nhược
Lời giải Vấn đề (bài toán)
Cơ chế định hướng
Trang 28điểm này Mặt khác, chính vì biết định hướng giải bài toán giúp người giải có được
“điểm tựa” để không cho tính ì tâm lí lôi kéo suy nghĩ về phía quen thuộc, đã biết.Nói cách khác, cơ chế định hướng giúp người giải khắc phục được tính ì tâm lí làmcản trở sự sáng tạo, có những tiêu chuẩn khách quan để đánh giá vấn đề
Theo Altshuller, chính quy luật phát triển khách quan, khi được phản ánh trong tưduy của người giải bài toán sẽ đóng vai trò là cơ chế định hướng cho việc giải các bàitoán sáng tạo và TRIZ tập trung vào việc xây dựng cơ chế định hướng từ bài toán đếnlời giải và ngày càng được hoàn thiện nhằm giúp người giải có tư duy định hướng
Thứ tư: Phát triển của con người là gắn liền với phát triển công cụ lao động
Thực tế phát triển của con người cho thấy, những thành tựu đạt được qua cácthời đại, chủ yếu là nhờ con người sáng chế và làm việc bằng các công cụ ngày cànghoàn thiện hơn trước chứ không phải là do năng lực cơ thể Vì vậy, cách tiếp cận củaTRIZ là xây dựng phương pháp luận sáng tạo và đổi mới dựa trên các quy luật pháttriển khách quan độc lập với cơ thể con người
Như vậy có thể thấy, TRIZ là hệ thống các công cụ dành cho chức năng sángtạo, tư suy sáng tạo Những công cụ này được xây dựng dựa trên các quy luật kháchquan, có thể dạy và học được, đem lại lợi ích lớn cho người sử dụng
Tác giả của TRIZ, G.S Altshuller, bắt đầu nghiên cứu, xây dựng lý thuyết
từ 1946 Tiền đề cơ bản của TRIZ là: các hệ kỹ thuật phát triển tuân theo các quy luậtkhách quan, nhận thức được Chúng được phát hiện và sử dụng để giải một cách có ýthức những bài toán sáng chế TRIZ được xây dựng như là một khoa học chính xác,
có lĩnh vực nghiên cứu riêng, các phương pháp riêng, ngôn ngữ riêng, các công cụriêng Hạt nhân của TRIZ là thuật toán giải các bài toán sáng chế (viết tắt theo tiếngNga là ARIZ) [12]
ARIZ là một chương trình các hành động tư duy có định hướng, được kế hoạchhóa Nó có mục đích tổ chức hợp lý và làm tích cực hóa tư duy sáng tạo, bước đầu tạo
cơ sở cho lý thuyết chung về tư duy định hướng ARIZ có tính logic và linh động Vềmặt logic, ARIZ có tác dụng phân nhỏ bài toán sáng chế thành từng phần, vừa sức vớingười giải bình thường Về mặt linh động, nó khai thác tới mức lớn nhất mặt mạnhcủa từng người giải như kiến thức, kinh nghiệm, trí tưởng tượng, linh tính và hạn
Trang 29chế mặt yếu như tính ì tâm lý, sự phân tán trong suy nghĩ Lợi ích của ARIZ nóichung là nâng cao hiệu suất tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề và ra quyết định.
Ý nghĩa của TRIZ và ARIZ là ở chỗ xây dựng tư duy định hướng nhằm đi đếnlời giải bằng con đương ngắn nhất dựa trên các quy luật phát triển khách quan và sửdụng chương trình tuần tự các bước, có kết hợp một cách hợp lý 4 yếu tố: tâm lý,logic, kiến thức và trí tưởng tượng TRIZ được sử dụng có hiệu quả ở nhiều lĩnh vựckhác nhau và đem lại những giá trị tốt đẹp đối với sự phát triển của nhân loại Lýthuyết TRIZ là môn khoa học sáng tạo có thể nói là biến những khả năng sáng tạo vô
lý thành hiện thực thông qua các phương pháp luận và loại trừ
Trong quá trình DH, vận dụng quan điểm, phương pháp luận của TRIZ, chúng
ta có thể tổ chức các hoạt động nhận thức của HS sao cho phát huy tối đa năng lực tưduy sáng tạo, tính tích cực trong hoạt động chiếm lĩnh khoa học và hình thành chongười học tư duy khoa học trong giải quyết các vấn đề học tập cũng như các vấn đềcủa đời sống
1.2.2 Phân loại algorit
Có hai kiểu algorit DH là algorit nhận biết và algorit biến đổi
1.2.2.1 Algorit nhận biết
Đó là algorit dẫn tới kết quả là sự phán đoán kiểu x thuộc A
x: đối tượng nhận biết
Trong ví dụ này, x là sự di truyền tính trạng màu sắc hoa và A có thể là mộttrong bốn quy luật di truyền: quy luật phân li, quy luật phân li độc lập, quy luật tươngtác gen và quy luật liên kết gen
1.2.2.2 Algorit biến đổi
Tất cả những algorit không phải là algorit nhận biết đều là algorit biến đổi
Trang 30Trong một algorit biến đổi có thể chứa đựng những thao tác (thậm chí cả algoritnhận biết) Ngược lại, một algorit nhận biết có thể bao gồm những thao tác (hoặcalgorit biến đổi)
Ví dụ: Xây dựng algorit giải bài tập qui luật di truyền:
Bước 1: Biện luận và xác định quy luật di truyền
Bước 2: Qui ước gen
Bước 3: Xác định kiểu gen của cơ thể
Bước 4: Viết sơ đồ lai
Bước 5: Tìm các yêu cầu của bài toán
Để giải bài toán, HS tiến hành thao tác theo các bước của algorit hoạt động(kiểu algorit biến đổi) nhưng trong quá trình đó HS phải tiến hành thao tác phân tíchnhận biết sản phẩm hoặc dữ kiện đề bài, đây là một thao tác trong algorit nhận biết.Trong ví dụ trên, ở bước 1, để xác định được quy luật di truyền chi phối, HS tiếnhành các thao tác của algorit nhận biết quy luật di truyền
1.2.3 Vai trò của algorit trong dạy học nói chung và trong dạy học Di truyền học nói riêng
1.2.3.1 Vai trò của algorit trong dạy học
DH algorit là phương pháp DH tích cực Phương pháp algorit có 3 đặc trưng cơ bản:
Tính xác định
Những mệnh lệnh thực hiện, những thao tác ghi trong algorit phải đơn trị, nghĩa
là hoàn toàn xác định (có hay không, đúng hay sai,…) phải loại trừ mọi ngẫu nhiên,tùy tiện mơ hồ Nội dung càng ngắn gọn càng tốt, nhưng nhất thiết phải dễ hiểu, aicũng rõ nghĩa của mệnh lệnh
Ngoài ra mệnh lệnh phải tương ứng với thao tác DH sơ đẳng, ai cũng thực hiệnđúng, dễ dàng và như nhau
Tính đại trà
Chúng ta thường algorit hóa những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần, mang tínhđại trà, phổ biến, thuộc cùng một thể loại nào đó như giải bài toán, thí nghiệm, lắp rápdụng cụ …Và thường không lập algorit cho một hoạt động riêng biệt, chỉ diễn ra mộtvài lần
Trang 31Tính hiệu quả
Tính chất algorit là đối cực với tính chất ơrixtic Nếu sử dụng phương phápalgorit chắc chắn sẽ chỉ dẫn tới thành công, nghĩa là xác suất đạt kết quả của nó về lýthuyết, p=12 Điều này hoàn toàn dễ hiểu, đó là vì algorit là mô hình cấu trúc đã biếtcủa hoạt động, là bản ghi các mệnh lệnh thao tác để thực hiện, là quá trình triển khaichính xác những mệnh lệnh đó
Từ ba đặc trưng cơ bản của phương pháp algorit, chúng ta có thể thấy lợi íchcủa phương pháp algorit và việc DH cho HS theo phương pháp algorit:
Đối với HS:
Một là: Lợi ích đầu tiên mà phương pháp algorit mang lại là giúp HS hình thành
3 bước giải quyết vấn đề theo phương pháp algorit:
A- Mô hình hoá bằng phương pháp Grap
B- Lập bảng ghi algorit
C- Triển khai quá trình hoạt động dựa theo algorit
Hai là: Phương pháp algorit giúp phát huy tính tích cực, tư duy có định hướngcủa HS Có ý kiến cho rằng, các algorit có sẵn rập khuôn không phát huy tính tíchcực của HS nhưng trong phần các đặc trưng của algorit cho ta biết, algorit được lập rakhông phải để giải một bài toán riêng biệt mà là cho một dạng toán, nó bao gồm cácbước đi mà người giải toán phải tiến hành để đi đến kết quả Những bản ghi đó chỉ cótính định hướng hướng giải một dạng toán chứ không phải là một bài giải cụ thể, giúpngười giải không cảm thấy khó khăn khi đứng trước bài toán, mà muốn giải nó, ngườigiải cũng phải tư duy, suy luận áp dụng cho bài toán cụ thể, và cứ như vậy tư duy HS
sẽ phát triển sau mỗi lần giải một bài cụ thể
Ba là: Hình thành phương pháp chung, phổ biến của tư duy khoa học và hoạtđộng có mục đích Từ đó giúp HS làm quen với phương pháp làm việc mà trong đóquy định rõ các việc cần tiến hành theo trình tự chặt chẽ bởi bản ghi algorit vừa làcông cụ điều khiển hoạt động vừa là công cụ tự điều khiển cho người dùng algorittriển khai hoạt động Ban đầu algorit được lập ra là để điều khiển hoạt động củangười giải theo bản ghi các thao tác có sẵn có tính chất rập khuôn máy móc Tuynhiên, đó chỉ là tác dụng ban đầu của algorit, thực tế chính từ những thói quen làm
Trang 32việc luôn có mục đích, có kế hoạch đặc biệt là tư duy logic khoa học được phát triển.
Từ đó sẽ giúp cho HS phát triển năng lực tự học Trong quá trình tự học, các em sẽhình thành nên những algorit ơrixtic kiến thức khác (algorit của quá trình tìm kiếm)sáng tạo hơn, hiệu quả hơn để giải quyết vấn đề trong các tình huống có vấn đề do
GV hoặc do cuộc sống, sản xuất đặt ra mà không hề rập khuôn, máy móc Mặt khác,các thói quen làm việc theo các quy tắc chặt chẽ sẽ giúp hình thành nhân cách toàndiện cho HS, hình thành nên thế giới quan duy vật biện chứng cho các em: khi làmviệc luôn biết tôn trọng các quy định có sẵn (các quy luật khách quan của tự nhiên và
xã hội) thì các công việc sẽ có kết quả như mong muốn
HS sẽ lĩnh hội tri thức tốt hơn
Ba là: Giúp GV thiết kế tốt nội dung “dạy học chương trình hoá” nhằm giúp cho
HS tiếp thu tốt nhất, hệ thống các kiến thức mà GV truyền thụ
1.2.3.2 Vai trò của algorit trong dạy học Di truyền học
Algorit DH có tác dụng rất lớn đối với việc giảng dạy các môn học ở trường phổthông Trong DH SH, GV có thể vận dụng algorit để dạy các khái niệm, cơ chế, quátrình và quy luật SH Đặc biệt, GV có thể sử dụng phương pháp này để hướng dẫn HSgiải các dạng bài tập về cơ chế di truyền, biến dị; bài tập về quy luật SH trong DHDTH Có thể tóm tắt vai trò của algorit trong DH DTH nói riêng và DH SH nói chungnhư sau:
* Cung cấp hướng giải đúng, tránh tình trạng mò mẫm, không có định hướng trước
* Từ một bài tập hay một ví dụ của GV, HS có thể vận dụng cho nhiều dạng bàitương tự nhau
* Giúp HS làm việc có hệ thống, biết cách sử dụng hình ảnh trực quan để làmcho bài toán trở nên trong sáng, dễ hiểu, tránh nhầm lẫn khi giải
Trang 33* Giúp HS biết khai thác, sử dụng dữ kiện đề bài một cách hợp lý.
* Với HS khá giỏi: algorit giúp HS có được kết quả nhanh, chính xác đỡ mấtthời gian, từ đó có thể suy nghĩ đến những phương pháp giải khác
* Với HS yếu kém: Việc thực hiện đúng các bước trong bản ghi algorit sẽ giúp
HS tìm đến lời giải chính xác, điều này giúp các em có được niềm tin trong học tập,được động viên, khích lệ, từ đó sẽ hình thành ý thức học tập tốt hơn
Để HS vừa nắm vững tri thức vừa phát triển tư duy thông qua hoạt động DHbằng algorit, cần thực hiện theo các định hướng sau:
Tạo bầu không khí học tập tích cực
Phát triển tư duy thông qua tổ chức tiếp thu và tổng hợp kiến thức
Phát triển tư duy thông qua việc mở rộng và tinh lọc kiến thức
Phát triển tư duy qua việc sử dụng kiến thức có hiệu quả
Hình thành thói quen tư duy logic, tư duy hệ thống và tư duy khoa học
Algorit không phải công cụ vạn năng, không được áp dụng rập khuôn algoritvào mọi bài toán mà bỏ qua đặc điểm riêng của bài toán Algorit dù hay đến đâu thìcũng không thể áp dụng cho mọi trường trường hợp Algorit DH bao gồm các thaotác cụ thể, khoa học, theo trình tự nhất định, hỗ trợ HS tư duy nhưng bản thân nócũng có tính hai mặt và sẽ bộc lộ nhược điểm nếu như GV sử dụng không đúng
1.2.4 Cơ sở khoa học của việc vận dụng algorit trong dạy học
1.2.4.1 Cơ sở toán học - Lý thuyết algorit
Algorit là từ viết tắt từ Algorithm, dịch sang tiếng Việt có nghĩa là thuật toán
Trong khoa học máy tính, thuật toán được định nghĩa là một dãy hữu hạn các bước không mập mờ và có thể thực thi được, quá trình hành động theo các bước này phải dừng và cho được kết quả như mong muốn
Vận dụng algorit vào quá trình DH cần phải đảm bảo những đặc trưng sau:
Tính kết thúc
Algorit phải dừng sau một số hữu hạn các bước thực hiện Tức là, sau khi thựchiện một số bước nhất định, algorit phải đưa người giải đến với lời giải, đáp số cụ thể
Tính xác định
Trang 34Mỗi bước của algorit các thao tác phải hết sức rõ ràng, không gây nên sự nhậpnhằng, lẫn lộn Nói cách khác, dù cách thức, con đường có thể khác nhau nhưng đềuphải cùng đi đến một đích chung Tính xác định trong DH giúp HS hình thành tư duymạch lạc, ngắn gọn trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập.
Tính phổ dụng
Algorit sáng chế cho phép giải bất kì một bài toán nào và phải cho đến kết quảcần tìm Algorit có thể được các HS có trình độ khác nhau sử dụng một cách có hiệuquả, phù hợp với năng lực của các em Trong quá trình DH, vận dụng đặc tính này,người GV cần thiết kế hoặc hướng dẫn HS thiết kế các bản ghi algorit sao cho cónhiều bước nhỏ, đảm bảo được algorit đã thiết kế được các HS với các trình độ khácnhau có thể sử dụng một cách có hiệu quả
Đại lượng vào/ ra
Một algorit sáng chế có thể có hay không có đại lượng vào mà ta thường gọi là
dữ liệu vào Sau khi dùng algorit, tùy theo chức năng mà algorit đảm nhiệm, chúng ta
có thể thu được một số đại lượng đầu ra xác định Trong DH, đại lượng đầu vào chính
là tri thức bộ môn, đại lượng đầu ra chính là kiến thức, là kỹ năng, năng lực và thái độcủa HS về vấn đề học tập
Như vậy có thể thấy, trong quá trình DH có vận dụng algorit sáng chế, để thiết
kế các bản ghi algorit, GV cần chú ý đến những đặc tính của algorit để đảm bảo cácbản ghi algorit đều rõ ràng, mạch lạc, tránh nhầm lẫn cho HS, đảm bảo rằng tất cả cácalgorit đều có điểm dừng, có thể áp dụng với nhiều đối tượng HS, sản phẩm thu đượckhông những là tri thức môn học mà đó còn là những kỹ năng, những năng lực giúp
Trang 35các em có thể giải quyết bất kì một nhiệm vụ học tập nào và bất kì một nhiệm vụ nàocủa đời sống xã hội.
1.2.4.2 Cơ sở tâm lí học sáng tạo
Năm 1946, G.S Altshuller bắt đầu tìm ra các thủ thuật nhằm mục đích giúp cánhân mình có thể sáng chế với năng suất và hiệu quả cao hơn Đến năm 1970, đã có
40 thủ thuật sáng tạo cơ bản và được sử dụng cho đến nay Tuy nhiên, vận dụng cácNTST của ARIZ và TRIZ vào DH như thế nào, thủ thuật nào có thể áp dụng vào quátrình DH lại là một vấn đề khó khăn [14], [31]
Qua phân tích các NTST của G.S Altshuller, chúng tôi nhận thấy, có 8 NTST cóthể vận dụng vào DH, đó là:
1) Nguyên tắc phân nhỏ
2) Nguyên tắc kết hợp
3) Nguyên tắc phẩm chất cục bộ
4) Nguyên tắc thay đổi các thông số hóa - lí
5) Nguyên tắc sử dụng trung gian
6) Nguyên tắc đảo ngược
7) Nguyên tắc linh động
8) Nguyên tắc tác động lên “nhiễu”
(Nội dung và ý nghĩa DH của các nguyên tắc này xem trong Phụ lục 3)
Hầu hết các NTST của TRIZ được xây dựng dựa trên quy luật: Sự thay đổi vềlượng dẫn đến sự thay đổi về chất (tư duy biện chứng) nên có sự tương đồng, đan xengiữa các NTST Trong DH, chúng ta có thể sử dụng một hoặc tổ hợp nhiều NTST vàogiải quyết các vấn đề học tập
1.2.4.3 Cơ sở lý thuyết thông tin
Thông tin trong quá trình DH luôn mang tính khách quan và chủ quan Tínhkhách quan của thông tin thể hiện: thông tin được truyền đạt trong quá trình giảngdạy phải là những thông tin khoa học chính xác, phục vụ mục tiêu bồi dưỡng và nângcao trí thức Tính chủ quan thể hiện ở khâu năng động, sáng tạo để phù hợp với từngđối tượng trong từng bối cảnh cụ thể của thực tế cuộc sống
Trang 36Theo lí thuyết thông tin, quá trình DH tương ứng với một hệ thông báo, gồm 3
khâu: Truyền và nhận thông tin; Xử lý thông tin; Lưu trữ và vận dụng thông tin [dẫn
theo 25]
Trong DH, quá trình truyền thông tin không chỉ đơn thuần là thầy truyền thụ, tròthụ động tiếp thu mà cần phải tạo ra sự liên hệ giữa trò với thầy (liên hệ ngược) hoặcgiữa trò với các phương tiện DH (sách, đồ dùng DH ) hoặc giữa trò với trò Để tạođược mối liên hệ giữa thày và trò, giữa trò với các phương tiện DH, giữa trò với trò
có thể sử dụng các kênh như: kênh thị giác (kênh hình); kênh thính giác (kênh tiếng);kênh khứu giác… Trong đó, kênh thị giác có năng lực chuyển tải thông tin nhanhnhất, hiệu quả nhất (từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng)
Algorit có tác dụng mô hình hóa các đối tượng nghiên cứu và mã hóa các đốitượng đó bằng một loại “ngôn ngữ” vừa trực quan, vừa cụ thể Do vậy, DH bằngalgorit làm cho quá trình truyền thông tin nhanh và chính xác hơn
Xử lí thông tin là sử dụng các thao tác tư duy và kinh nghiệm đã có phân tíchthông tin, phân loại thông tin và sắp xếp các thông tin vào các hệ thống nhất định qua
đó tìm ra mối quan hệ mật thiết giữa các thông tin Như vậy, hiệu quả xử lí thông tinphụ thuộc vào khả năng nhận thức, tư duy của từng người nhưng nhờ có algorit sángchế , thông tin được mã hóa theo những hệ thống logic hợp lí và sáng tạo, qua đó màquá trình xử lí thông tin nhanh hơn và hiệu quả hơn rất nhiều
Trong quá trình DH, việc vận dụng algorit sẽ giúp cho quá trình ghi nhớ kiếnthức (lưu trữ thông tin) một cách khoa học, có hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi choviệc tái hiện và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt và hiệu quả
1.2.4.4 Cơ sở lý thuyết điều khiển
Quá trình DH là quá trình điều khiển, điều chỉnh, quản lý của GV kết hợp với tựđiều khiển, tự điều chỉnh, tự quản lý của HS Nổi bật nhất là quá trình điều khiển và
tự điều khiển [23]
Để việc truyền đạt thông tin có hiệu quả GV cần tường minh cả lý thuyết thôngtin và lý thuyết điều khiển để tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng giữa đường liên hệ xuôi
Trang 37với các đường liên hệ ngược ngoài và đường liên hệ ngược trong, làm cho quá trìnhdạy - học trở thành một chu trình khép kín.
Sơ đồ biểu thị cách dạy và học một cách tối ưu:
Hình 1.3 Sơ đồ dạy và học tối ưu hóa
Trong sơ đồ này: GV: giáo viên, HS: Học sinh, K: Kiểm tra
Vận dụng algorit sáng chế vào quá trình DH sẽ tăng cường được mối liên hệngược giữa GV và HS Algorit sáng chế là các bản ghi tường minh, phản ánh tínhlogic, quy luật khách quan của các sự vật, hiện tượng, quá trình Trong quá trình DH,
GV có thể sử dụng các bản ghi algorit để điều khiển hoạt động học và định hướngcho HS tự điều khiển các hoạt động giáo dục đi đúng mục tiêu đề ra Nói cách khác,algorit là công cụ để người học tìm ra cách thức và con đường đơn giản nhất, hiệuquả nhất để đạt được mục đích giáo dục nói riêng và bất kì hoạt động sáng tạo nàonói chung
1.2.4.5 Cơ sở tâm lí học nhận thức và tâm lí học lứa tuổi
Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực trong tư duycủa con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng nhưkhông thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tớichân lý khách quan [36]
Theo Từ điển Giáo dục học: Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và
tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người [18].
Đường liên hệ xuôi
Đường liên hệ ngược trong
Đường liên hệ ngược trong 2
Đường liên hệ ngược trong 1
Đường liên hệ ngược ngoài
Trang 38Quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong não bộ của con người đượcthực hiện thông qua hệ thống cảm giác có cơ quan chuyên trách như thị giác, khứugiác, vị giác, thính giác Trong đó, 90% thông tin từ bên ngoài vào con người là thôngqua thị giác Như vậy, cơ quan thị giác đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quátrình nhận thức, trong quá trình DH, chúng ta cần phát huy vai trò của các phươngtiện, phương pháp trực quan bởi lẽ đó là phương thức nhận thức chính, đơn giản nhất,hiệu quả nhất, phù hợp với tâm lí nhận thức của HS.
Lứa tuổi HS THPT thuộc lứa tuổi thanh niên, được tính từ khoảng từ 14, 15 đến
25 tuổi Trong giai đoạn này, sự phát triển tâm lí, trí tuệ HS có một số đặc điểm cơbản [22]
- Hoạt động học tập của HS THPT đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức
độ cao; đồng thời cũng đòi hỏi, muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thìcần phát triển tư duy lí luận
- Tri giác có mục đích đã đạt tới mức độ rất cao Quan sát trở nên có mục đích, có
hệ thống và toàn diện hơn GV cần quan tâm định hướng quan sát của các em vào mộtnhiệm vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa tích lũy đầy đủ các sự kiện
- Do ảnh hưởng của các hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của HS THPT
có sự thay đổi quan trọng Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng mộtcách độc lập, sáng tạo Trong quá trình DH, GV cần tổ chức, khai thác các hoạt động
Trang 39Trên đây là một số đặc điểm chung về tâm lí học nhận thức và tâm lí học lứatuổi HS THPT Từ sự hiểu biết về đặc điểm tâm lí nói trên giúp chúng tôi có địnhhướng tốt hơn về việc vận dụng algorit sáng chế vào quá trình DH một cách hợp lí,phù hợp với khả năng nhận thức của HS THPT.
1.3 Cơ sở thực tiễn
Để có cơ sở thực tiễn cho việc áp dụng phương pháp algorit trong DH, chúngtôi đã tiến hành khảo sát trên một số trường THPT Đối tượng khảo sát là GV thuộc cáctrường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát ở GV với những nội dung sau:
Một là: Nhận thức về lí luận của GV bao gồm những nhận thức về khái niệm,vai trò, phân loại algorit của GV ở trường phổ thông hiện nay
Hai là: Thực tiễn sử dụng algorit của GV trong DH
Ba là: Thực trạng rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề trong DH SH
Phương pháp khảo sát được sử dụng: Điều tra bằng phiếu hỏi (tham khảo phụ lục số 1), dự giờ dạy, tham khảo bài soạn của một số GV dạy môn SH 12 (Danh sách các trường khảo sát tham khảo phụ lục số 2), tiến hành quan sát hoạt động học tập của
HS, tọa đàm trao đổi với một số GV và HS về vấn đề liên quan Phân tích số liệuthống kê kết quả khảo sát, rút ra các kết luận Kết quả thu được như sau:
1.3.1 Thực trạng nhận thức về lí luận của giáo viên
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 35 trường THPT thuộc địa bàn tỉnh HưngYên Tổng số phiếu phát ra là 112, tổng số phiếu thu về là 105 Kết quả được thống
kê lại như sau:
Trang 40Biểu đồ 1.1 Nhận thức của GV về khái niệm algorit
Từ kết quả biểu đồ 1.1 cho thấy, chỉ có 26,7% GV cho rằng algorit là bất kìchương trình nào đủ rõ ràng gồm các hành động (thao tác) thực hiện một công việcnào đó Đa số GV (36,2%) hiểu algorit theo nghĩa toán học là tập hợp các phép tínhcần thiết, được quy định một cách nghiêm ngặt dùng để giải các bài toán cụ thể nào
đó Còn lại 37,1% GV chưa hiểu về khái niệm algorit, họ cho rằng algorit là sơ đồphản ánh trực quan tập hợp những kiến thức chủ chốt của một nội dung hoặc cho rằngalgorit là một loạt các cách để giải quyết một vấn đề cụ thể có tính quy luật
Biểu đồ 1.2 Nhận thức của GV về phân loại algorit trong DH