Nghiên cứu cấu tạo của các thành tạo trầm tích, đặc biệt là đối với các trầm tích hạt thô, thường được thực hiện ở ngoài thực địa, còn nghiên cứu kiến trúc chủ yếu ở trong phòng thí nghi
Trang 1Bộ Tài nguyên và môi trường
viện nghiên cứu địa chất và khoáng sản
Trang 2Bộ Tài nguyên và môi trường
viện nghiên cứu địa chất và khoáng sản
-*** -
Chủ nhiệm: PGS.TS Nguyễn Xuân Khiển
Những người tham gia: KS Nguyễn Xuân Quang,
Ths Nguyễn Đức Chính, TS Lê Thị Nghinh, TSKH Phan Trung Điền, GS.TS Trần Nghi
Ban biên tập: TS Nguyễn Văn Học (chủ biên),
PGS.TS Nguyễn Xuân Khiển
atlas kiến trúc và cấu tạo các đá trầm tích
ở Việt nam
Thuộc đề tài: “Thành lập atlas kiến trúc - cấu tạo quặng Việt Nam; Biên tập để xuất bản 04 atlas kiến trúc - cấu tạo đá và quặng (magma, biến chất, trầm tích và quặng)”
Hà Nội, 2006
Trang 3Mục lục
I.2 Kiến trúc và cấu tạo của các đá trầm tích vụn cơ học thực thụ và sét
6
II.1 Kiến trúc và cấu tạo các đá trầm tích carbonat 54
II.2 Kiến trúc và cấu tạo của các đá trầm tích silit 85
II.3 Kiến trúc và cấu tạo các đá trầm tích giàu nhôm 96
II.4 Kiến trúc và cấu tạo các đá trầm tích sinh hoá khác 105
Trang 4
Các thành tạo trầm tích có khối lượng và vị trí đặc biệt quan trọng trong thành phần của vỏ Trái đất Khoa học nghiên cứu chúng, Trầm tích học, không có mục đích nào khác là cùng với các chuyên ngành khác của Địa chất học góp phần làm sáng tỏ lịch sử hình thành và phát triển của vỏ Trái đất và tiềm năng đích thực của các loại khoáng sản ngoại sinh có liên quan Nghiên cứu kiến trúc và cấu tạo của các đá trầm tích là hai nội dung không thể thiếu và tách rời của Trầm tích học, có thể cung cấp những thông tin cần thiết về:
- Môi trường hóa lý hình thành và tồn tại của các thực thể trầm tích,
- Điều kiện thành tạo trầm tích,
- Quá trình vận chuyển và tích đọng vật liệu trầm tích,
- Cơ chế thành tạo trầm tích
Khái niệm về kiến trúc bao hàm các đặc điểm về kích thước, hình dáng, đặc tính
bề mặt và hàm lượng tương đối của các thành phần tạo đá Nghiên cứu kiến trúc là nghiên cứu bản thân các thành phần tạo đá Nghiên cứu cấu tạo là nghiên cứu quy luật
phân bố và mối tương quan giữa các thành phần tạo đá cụ thể
Nghiên cứu cấu tạo của các thành tạo trầm tích, đặc biệt là đối với các trầm tích hạt thô, thường được thực hiện ở ngoài thực địa, còn nghiên cứu kiến trúc chủ yếu ở trong phòng thí nghiệm Nhưng cả hai phương pháp đều đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ để có thể nhận dạng đúng và đầy đủ các đặc điểm kiến trúc và cấu tạo của chúng
Trong tự nhiên, khá nhiều trường hợp cùng một loại đá, nếu được thành tạo trong
những điều kiện khác nhau, có những đặc điểm kiến trúc, cấu tạo khác nhau Ngược lại, nhiều loại đá khác nhau có thể có cùng một kiểu kiến trúc hay cùng một kiểu cấu tạo Do vậy, để đạt được mục tiêu riêng có khi nghiên cứu kiến trúc và cấu tạo của các thành tạo trầm tích, việc nhận dạng đúng các kiểu kiến trúc và các kiểu cấu tạo của chúng là một
Trang 5nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cần thiết “Thành lập Atlas kiến trúc và cấu tạo của các
đá trầm tích ở Việt Nam” chính là góp phần giúp các nhà địa chất hướng tới mục tiêu đó
Atlas kiến trúc và cấu tạo của các đá trầm tích ở Việt Nam được thực hiện dựa
theo mục tiêu, nhiệm vụ được giao tại Hợp đồng số 329/BTNMT-HĐKHCN ngày 12 tháng 11 năm 2004 giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản và Phiếu giao việc số 270 /GV-KHTC của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản ngày 12 tháng 11 năm 2004
Trong quá trình thành lập Atlas, tập thể tác giả đã nhận được sự động viên và giúp
đỡ của Ban Giám đốc, các phòng chuyên môn và nghiệp vụ có liên quan của Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cũng như của các đồng nghiệp Nhân dịp này, tập thể tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu đó
Do điều kiện thời gian và kinh phí đầu tư có hạn, Atlas không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, kể cả nội dung khoa học, cũng như hình thức thể hiện, tập thể tác giả rất mong nhận được ý kiến góp ý của tất cả đồng nghiệp sử dụng Atlas Xin trân trọng cám ơn
Trang 6KI ẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO CỦA CÁC ĐÁ TRẦM TÍCH
Nghiên cứu kiến trúc, cấu tạo của đá trầm tích là một trong những vấn đề quan trọng trong việc xác định tên đá, nguồn gốc và điều kiện thành tạo của chúng
Kiến trúc là khái niệm bao hàm các đặc tính về kích thước, hình dạng, đặc điểm bề
mặt và hàm lượng tương đối của các thành phần tạo đá
Cấu tạo là khái niệm chỉ rõ đặc điểm phân bố trong không gian của các thành phần
tạo đá
Hay có thể nói, nghiên cứu kiến trúc là nghiên cứu bản thân các thành phần tạo đá, còn nghiên cứu cấu tạo là nghiên cứu sự phân bố và mối tương quan giữa các thành phần tạo đá Trong tự nhiên, có thể cùng một loại đá, nhưng được thành tạo trong những điều kiện môi trường trầm tích khác nhau cũng có những đặc điểm kiến trúc, cấu tạo khác nhau Ngược lại, trong nhiều loại đá khác nhau lại có thể có cùng một kiểu kiến trúc hay cùng một kiểu cấu tạo
Thông thường, nghiên cứu kiến trúc chủ yếu được tiến hành trong phòng thí nghiệm Còn nghiên cứu cấu tạo của đá lại chủ yếu thực hiện ở ngoài thực địa Tuy nhiên, cần thiết phải phối hợp cả hai phương pháp ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm, chúng có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau Trong phòng thí nghiệm có thể phát hiện, nghiên cứu tỉ mỉ những vi cấu tạo, trong khi ngoài thực địa chủ yếu nghiên cứu những cấu tạo thô, tính định hướng, sự sắp xếp của các hạt trầm tích thô, như hạt vụn cuội / dăm trong các đá cuội kết / dăm kết
I KIẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO CỦA CÁC ĐÁ TRẦM TÍCH VỤN CƠ HỌC I.1 KI ẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO CỦA CÁC ĐÁ VỤN NÚI LỬA
I.1.1 Đại cương
Các sản phẩm phun nổ của núi lửa là một trong những nguồn vật liệu quan trọng tham gia vào quá trình thành tạo các thực thể trầm tích
Đá trầm tích vụn núi lửa là loại đá trầm tích có thành phần bao gồm trên 10% là các sản phẩm phun nổ của núi lửa Các sản phẩm đó thường là thủy tinh núi lửa, mảnh
vụn thủy tinh núi lửa, mảnh vụn khoáng vật (thạch anh, felspat, pyroxen, amphibol, biotit, ), mảnh vụn đá magma (ryolit, bazan, andezit, ) Các mảnh vụn thuỷ tinh trong
đá vụn núi lửa thường có hình thái rất đặc biệt, như hình rễ cây, mũi mác, khuỷu tay, cành cây , với kích thước phổ biến 0,10 ÷ 1,0mm, ít khi đạt kích thước 2 - 3mm Các
mảnh vụn khoáng vật magma trong đá vụn núi lửa thường bị gặm mòn, vỡ vụn, nứt rạn, với kích thước khác nhau, có trường hợp tới vài milimet
Trang 7Những sản phẩm này được hình thành trong quá trình hoạt động của núi lửa, chúng được lắng đọng, tích tụ tại chỗ, hoặc được vận chuyển theo dòng nước hoặc theo gió Trong quá trình vận chuyển chúng cũng bị tác dụng phá hủy, chọn lọc, phân dị như các vật liệu vụn cơ học khác Tuy nhiên, hầu hết các đá vụn núi lửa thường có độ chọn lọc và mài tròn kém Các đá vụn núi lửa có thể chứa vật liệu trầm tích khác với hàm lượng khác nhau (10 - 90%), hoặc chứa vật chất hữu cơ, và cũng có tính phân lớp Chính
vì vậy, có thể xếp đá trầm tích vụn núi lửa thành một nhóm đá trung gian giữa các đá
trầm tích vụn cơ học thực thụ và các đá có nguồn gốc magma thực sự Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rõ đá vụn núi lửa với các đá hình thành do sự bào mòn các tầng đá núi lửa
cổ, như arcose, graywack, là những đá trầm tích vụn cơ học điển hình
I.1.2 Phân lo ại
Cho tới nay, việc phân loại cũng như cách gọi tên đá vụn núi lửa vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Ví dụ:
# Rozenbut (1934), Lutrinxki (1938) xếp các đá này vào nhóm đá magma và được xem là một loại đá phun trào đặc biệt,
# Các tác giả khác (Venhofen 1936, Pustovalov 1940, Svetxov 1948, Rukhin 1953, ) lại xếp đá vụn núi lửa thành một nhóm trung gian giữa đá trầm tích cơ học và
đá magma
Tuy vậy, khi phân loại đá vụn núi lửa hầu hết các nhà nghiên cứu đều dựa trên các tiêu chí sau:
+) Hàm lượng vật liệu vụn núi lửa, theo đó chia ra:
• Đá tuf: hàm lượng vật liệu núi lửa >90%,
• Đá tufit: hàm lượng vật liệu núi lửa 30 ÷ 90%
• Đá tufogen: hàm lượng vật liệu núi lửa 10 ÷ 30%
+) Kích thước hạt vụn, chia ra:
* Dăm kết / cuội kết núi lửa, gồm các mảnh vụn có kích thước >2mm,
* Cát kết (tuf, tufit, tufogen): kích thước mảnh vụn 2 ÷ 0,05mm,
* Bột kết (tuf, tufit, tufogen): kích thước mảnh vụn 0,05 ÷ 0,01mm,
* Sét núi lửa, khi kích thước <0,01mm
+) Thành phần vật liệu núi lửa
Trên cơ sở thành phần tương ứng của đá magma, như ryolit, andezit, spilit, bazan, trachit, để đưa vào tên đá
Tên của đá vụn núi lửa nhất thiết phải đáp ứng đầy đủ 3 tiêu chí nêu trên Ví dụ:
Trang 8# Dăm kết tuf spilit là tên của một loại đá có trên 90% thành phần là vật liệu núi lửa, các mảnh vụn có dạng sắc cạnh, kích thước > 2mm, thành phần các mảnh vụn là đá spilit
Dạng bên ngoài của đá vụn núi lửa có những nét thể hiện đặc điểm và hàm lượng thành phần khoáng vật tạo đá Đá tuf bazơ thường có màu xám đen phớt lục; đá tuf axit
thường có màu xám trắng phớt hồng Các loại đá tuf, tufit, tufogen thường có độ lỗ hổng cao, xốp, nhẹ, có cấu tạo khối, bọt, dòng chảy, phân lớp,
Đá vụn núi lửa thường rất dễ bị phong hóa, biến đổi do có độ lỗ hổng lớn, thành phần chứa nhiều hợp phần kém vững bền trong điều kiện trên mặt giàu H2O, CO2, O2, như vật liệu thủy tinh, tro núi lửa, các khoáng vật màu và plagioclas bazic Thủy tinh axit
thường bị khử thủy tinh biến thành nền fenzit hay microfenzit, Thủy tinh bazơ thường
dễ biến đổi hơn, bị clorit hóa, epidot hóa, zeolit hóa Các hiện tượng biến đổi này thường phát sinh trong giai đoạn thành đá, hậu sinh, hoặc do quá trình phong hóa, đặc biệt là trong điều kiện dưới nước biển
I.1.3 Quy lu ật phân bố và ý nghĩa thực tế
Đá vụn núi lửa hầu như chỉ được hình thành liên quan với sự hoạt động của núi lửa Chính vì vậy, sự có mặt của các lớp đá vụn núi lửa là một tài liệu rất quý, một mặt có
thể khôi phục được hoàn cảnh cổ kiến tạo, lịch sử địa chất, mặt khác có thể dùng là tầng chuẩn, tầng đánh dấu trong quá trình liên hệ, đối sánh địa tầng
Các đá vụn núi lửa thường liên quan với sự thành tạo một số khoáng sản quan trọng, như Fe, Mn, S, kim cương, ngọc bích, sét montmorilonit (phong hóa từ các đá tuf bazơ), sét kaolin (phong hóa từ các đá tuf thành phần axit), cũng như các nguồn nước khoáng, nước nóng,
Trang 9I.2 KI ẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO CỦA CÁC ĐÁ TRẦM TÍCH VỤN CƠ HỌC
TH ỰC THỤ VÀ SÉT
Thành phần các đá trầm tích vụn cơ học gồm hai phần cơ bản là hạt vụn (khoáng
vật tha sinh) và nền/ximăng gắn kết (khoáng vật tự sinh) Mỗi phần đều có những đặc điểm riêng về kiến trúc Đặc trưng về kiến trúc của hạt vụn là kích thước, hình dạng, đặc tính bề mặt và hàm lượng tương đối của chúng có mặt trong đá, trong đó kích thước hạt vụn đóng vai trò quan trọng hơn cả Đặc trưng về kiến trúc của nền/ximăng chính là mức
độ kết tinh, sự biến đổi và quan hệ giữa phần hạt vụn với phần nền/ximăng gắn kết
I.2.1 Ki ến trúc của các đá trầm tích vụn cơ học thực thụ và sét
+) Độ hạt Độ hạt là kích thước của hạt vụn Đối với các đá trầm tích vụn cơ học,
độ hạt là yếu tố cơ bản quyết định tính chất và các kiểu kiến trúc, đồng thời cũng là cơ sở
để phân chia các loại đá Tuy nhiên, việc phân chia các cấp hạt, cũng như ranh giới giữa các cấp hạt chưa có sự thống nhất giữa các nước, thậm chí giữa các ngành với nhau
Ở Mỹ là và Tây Âu sử dụng sơ đồ phân loại theo thang logarit do Crumbein (1936) đề xuất, theo đó kết quả dựa theo thứ tự như sau (d =mm): 32, 16, 8, 4, 2, 1, 1/2, 1/4, 1/8, 1/16, 1/32, 1/64, 1/128, Ranh giới giữa cuội và cát là d = 2mm; giữa cát và bột
là 0,063 (1/16mm); giữa bột và sét là 0,0039 (1/256mm)
Một số nước sử dụng cách phân chia thập phân, lấy 2 làm cơ sở: 200; 20; 2; 0,2; 0,02; 0,002mm Theo đó, độ hạt của cát dao động trong khoảng từ 2 đến 0,2mm; bột: từ 0,2 đến 0,02mm
Debeney (1989) phân loại các đá trầm tích vụn cơ học theo 3 nhóm, mỗi nhóm chia nhỏ thành các kiểu theo các mức hàm lượng cấp hạt:
a) Cuội sạn sỏi, có kích thước hạt lớn hơn 1mm, theo các mức hàm lượng sau:
từ 1mm đến 0,1mm là cấp hạt có tần suất lớn nhất của các mảnh vụn đá và khoáng vật, đồng thời nó cũng là cấp hạt phù hợp với tốc độ lắng đọng theo công thức Stock Theo
Trang 10cách phân loại này có thể chia độ hạt của các đá trầm tích cơ học và sét thành 4 cấp, tương ứng với 4 kiểu kiến trúc chủ yếu sau:
*) Ki ến trúc cuội (Psefit): là kiến trúc của các loại đá có >50% hạt vụn có kích
thước lớn hơn 1mm, bao gồm các loại đá trầm tích sau:
+ Sỏi: có kích thước 1 - 10mm,
+ Cuội: 10 - 100mm,
+ Tảng: 100 - 1000mm,
+ Khối: >1000mm
*) Kiến trúc cát (Psamit): là kiến trúc của các loại đá mà đa số hạt vụn có kích
thước thay đổi từ 1mm đến 0,1mm
*) Kiến trúc bột (Aleurit): là kiến trúc của các loại đá mà đa số hạt vụn có kích
thước thay đổi từ 0,1mm đến 0,01mm
*) Kiến trúc sét (Pelit): là kiến trúc của các loại đá có độ hạt <0,01mm
Ngoài những kiểu kiến trúc cơ bản nêu trên, tuỳ theo hàm lượng độ hạt chiếm đa
số mà gọi tên các kiểu kiến trúc trung gian Ví dụ: Kiến trúc cát - bột là kiểu kiến trúc của các loại đá có phần lớn hạt vụn có kích thước từ 1mm đến 0,1mm và sau đó là từ 0,1mm đến 0,01mm
+) Hình dáng: Hình dáng hạt vụn bao gồm các đặc tính về độ tròn, độ cầu, độ dẹt
và những dấu vết trên bề mặt Hình dáng của hạt vụn phụ thuộc vào thành phần, tính chất
cơ lý, tính cát khai của khoáng vật, mức độ vận chuyển và đặc điểm điều kiện môi trường trầm tích Về cơ bản, hạt vụn được vận chuyển càng xa hoặc bị tái trầm tích nhiều lần thì
độ cầu hoặc độ mài tròn càng lớn
Quan sát mẫu lát mỏng dưới kính hiển vi phân cực có thể chia hình dáng hạt vụn trong đá trầm tích vụn cơ học thành các loại sau:
- Góc c ạnh: là hình dáng của hạt mới bị phá vỡ, chưa được vận chuyển, nên chưa
chịu tác dụng mài tròn
- N ửa góc cạnh: là hình dáng của hạt mới bị mài tròn ở các góc, phản ánh quá
trình vận chuyển chưa được xa lắm
- Tròn c ạnh: là hình dáng của hạt đã được vận chuyển đi tương đối xa đá gốc, do
đó hạt bị mài tròn không những ở các góc mà còn cả ở các cạnh
- R ất tròn cạnh: là hình dáng của hạt đã bị mài rất tròn do quá trình vận chuyển đi
rất xa đá gốc hoặc đã bị tái trầm tích nhiều lần qua các quá trình địa chất
Trang 11- H ạt gặm mòn: là những hạt có dạng méo mó, phát sinh do sự hoà tan trong các
quá trình biến đổi thứ sinh
- H ạt tái sinh: hình thành trong các quá trình biến đổi sau khi thành đá Hiện
tượng này thường gặp trong các đá cát kết dạng quartzit, ở đó hạt vụn lấy thành phần của nền/ximăng tạo nên những tinh thể lớn hơn, đều đặn và tự hình hơn, nhiều trường hợp
vẫn để lại hình dáng của hạt vụn nguyên sinh
I.2.2 Ki ến trúc của nền/ximăng và các kiểu ximăng
Trong các đá trầm tích vụn cơ học, nền/ximăng đóng vai trò gắn kết các hạt vụn Nguồn gốc của nền/ximăng thường là tự sinh, lắng đọng từ dung dịch thật hoặc do sự
ngưng keo Thành phần ximăng chủ yếu là carbonat, silit, fosforit, hydroxit sắt, mangan Thành phần nền thường là cát, bột, sét thường thấy trong các đá vụn thô Nền/ximăng có thể được thành tạo đồng thời với quá trình trầm tích hay có thể thành tạo trong các quá trình biến đổi thứ sinh Chính vì vậy, bản thân nền/ximăng cũng có kiến trúc riêng của chúng Phổ biến chúng có kiến trúc vô định hình, ẩn tinh, tái kết tinh, hoá hạt
Mối quan hệ tương quan giữa nền/ximăng với hạt vụn (kiểu nền/ ximăng) được xác định do sự phân bố thành phần nền/ximăng trong đá, do hàm lượng, điều kiện thành tạo và đặc điểm biến đổi của nền/ximăng Trên thực tế, thường gặp các kiểu nền/ximăng sau:
Ximăng cơ sở, thành phần nền/ximăng trầm tích đồng thời với hạt vụn, các hạt vụn
nằm rời rạc cách nhau, hàm lượng thành phần nền/ximăng thường lớn hơn hàm lượng mảnh vụn
Ximăng tiếp xúc, nền/ximăng chỉ phát triển ở nơi tiếp xúc giữa các hạt vụn Kiểu
này có thể được thành tạo do sự rửa lũa nền/ximăng trong các lỗ hổng, chỉ còn để lại ở nơi tiếp xúc
Ximăng lấp đầy, thành phần nền/ximăng chỉ lấp đầy trong các lỗ hổng giữa các hạt
vụn
Ximăng nén ép, thường phát triển trong các đá nghèo thành phần nền/ximăng, do
quá trình nén ép các hạt vụn nằm sát, chêm vào nhau Đá thường có độ gắn kết chắc
Ximăng gặm mòn, thành phần nền/ximăng không những lấp đầy các chỗ trống
giữa các hạt vụn, mà còn lấp đầy những chỗ lồi lõm của hạt vụn Kiểu kiến trúc này thường thành tạo do kết quả của sự hoà tan hạt vụn và được thay thế bằng thành phần nền/ximăng Đá thường có độ gắn kết chắc
Ximăng kết vỏ, khi thành phần nền/ximăng bao quanh hạt vụn, giống như một
vành hoa
Trang 12Ximăng khảm, hình thành do sự tái kết tinh của ximăng thành những tinh thể lớn,
trong đó chứa nhiều hạt vụn, tương tự như kiến trúc khảm trong đá magma Thành phần ximăng khác với thành phần hạt vụn, thường là carbonat, silit, thạch cao
Ximăng tái sinh, thường phát triển trong các loại đá có thành phần hạt vụn và
ximăng giống nhau Do kết quả của quá trình tái sinh, hạt vụn lấy thành phần ximăng lớn lên thành những tinh thể đều đặn, tự hình Dưới kính hiển vi phân cực, đặc tính quang học của thành phần ximăng và hạt vụn hầu như đồng nhất, tuy nhiên, đôi khi vẫn còn có thể phân biệt được dấu vết hình dạng ban đầu của hạt vụn Kiểu kiến trúc này thường gặp trong loại cát kết dạng quartzit Đá thương có độ gắn kết chắc
I.2.3 C ấu tạo của các đá trầm tích vụn cơ học thực thụ và sét
I.2.3.1 Cấu tạo trên mặt lớp
a) D ấu vết gợn sóng Thường thành tạo trên mặt lớp trầm tích do chuyển động của
dòng nước, sóng, gió Tuỳ theo nguồn gốc, có thể chia ra các kiểu cấu tạo sau:
*) Gợn gió, thường thành tạo trên mặt lớp trầm tích cát, bột ở vùng bờ biển, bờ hồ
hay sa mạc nghèo thực vật Đặc điểm đáng chú ý của dấu vết gợn gió là không đối xứng, biên độ dao động nhỏ, tỷ lệ giữa chiều cao và chiều dài của mỗi bước sóng thường từ 1/10 - 1/50, các sóng thường phân bố song song, độ hạt ở đỉnh sóng thường lớn hơn ở lòng sóng
*) Sóng dòng nước, hình thành ở những nơi có dòng nước chảy tạm thời Hình
dáng của sóng dòng nước cũng thường không đối xứng, nhưng biên độ lớn hơn gợn gió,
tỷ lệ giữa chiều cao và chiều dài của mỗi bước sóng biến đổi từ 1/4 - 1/10, độ hạt ở đỉnh sóng thường nhỏ hơn ở lòng
*) Sóng nước, thành tạo do tác dụng của sóng Chúng thường phát triển trên mặt
lớp trầm tích vùng ven bờ hồ, bờ biển Đặc trưng của kiểu cấu tạo này là đối xứng, đỉnh nhọn Chiều dài và chiều cao của mỗi bước sóng tuỳ theo độ sâu của trầm tích và độ lớn
của sóng
Trên thực tế, nhiều trường hợp do tác dụng của nhiều lực khác nhau (dòng nước, sóng), nên trên mặt lớp trầm tích gặp những dấu vết gợn sóng rất phức tạp, cắt chéo nhau, tạo nên những ô, những múi đều đặn
b) Dấu vết khe nứt khô, hình thành trong điều kiện khí hậu khô nóng, khi trầm tích
lộ ra ngoài không khí bị khô và thể tích bị co lại, vì vậy trên bề mặt trầm tích thường tạo thành những khe nứt cắt chéo nhau, tạo nên hình nhiều cạnh hoặc toả tia Độ sâu của khe nứt khô không lớn lắm, thường là cỡ centimet Bên trong khe nứt thường được lấp đầy vật liệu trầm tích hạt mịn do gió mang tới Dấu vết khe nứt khô thường phát triển trên bề mặt trầm tích sét
Trang 13c) Dấu vết giọt mưa, thường thành tạo trên bề mặt trầm tích sét Dạng của giọt
mưa thường tròn, đường kính khoảng vài milimet, xung quanh nổi gờ hơi cao hơn một chút Dấu vết giọt mưa thường chỉ được bảo tồn trong điều kiện khí hậu khô nóng
d) Vết hằn Trên bề mặt lớp trầm tích sét đôi khi thấy những vết hằn ngoằn ngòeo
như hình chữ cổ Ai Cập Nguyên nhân phát sinh ra những vết hằn đó có thể do sinh vật hay tác dụng cơ học
Vết hằn cơ học có thể do dòng nước chảy hoặc trầm tích bị vò nhàu Vết hằn sinh
vật thường là vết tích của giun bò hoặc di tích chuyển động của các loài động vật
I.2.3.2 Cấu tạo trong lớp
Trong hầu hết các loại đá trầm tích đều có thể gặp một trong ba loại cấu tạo trong lớp cơ bản sau đây:
(a) C ấu tạo khối Đặc trưng của kiểu cấu tạo này là các thành phần tạo đá sắp xếp
lộn xộn, đá có tính đồng nhất theo tất cả các phương Nguyên nhân hình thành kiểu cấu tạo khối là do tốc độ trầm tích cao, vật liệu được vận chuyển liên tục vào bồn trũng, môi trường nước luôn luôn ở trạng thái chuyển động
(b) Cấu tạo vò nhàu, dòng chảy, thường gặp trong các đá trầm tich sét Đặc trưng
của kiểu cấu tạo này là các thành phần tạo đá sắp xếp theo những phương nhất định
Sự hình thành kiểu cấu tạo vò nhàu, dòng chảy là do nhiều nguyên nhân khác nhau: hoặc do tác dụng chấn động ở dưới nước, tác dụng của dòng nước chảy khi trầm tích còn ở dạng sệt; hoặc do sức ép của các hoạt động kiến tạo
(c) Cấu tạo phân lớp, là một trong những đặc tính quan trọng của các đá trầm tích
Biểu hiện của tính phân lớp là ở chỗ có sự thay đổi về thành phần vật chất hoặc thay đổi
về kiến trúc của đá Sự hình thành tính phân lớp là do:
+) Sự thay đổi nguồn cung cấp vật liệu trầm tích, thay đổi tác dụng phong hoá, thay đổi chế độ động lực học của môi trường vận chuyển,
+) Có sự thay đổi thời tiết hàng năm, dẫn tới sự thay đổi môi trường hoá học, thay đổi nồng độ muối
+) Tác dụng chuyển động kiến tạo, gây nên các hiện tượng biển tiến, biển lùi làm thay đổi môi trường trầm tích, thay đổi sự phát triển của sinh vật
Độ dày phân lớp được H.Blatt, G.V.Middleton và B.C.Murray (1980) phân chia
như sau:
- Phân lớp rất dày: độ dày lớp >1 m
- Phân lớp dày: độ dày lớp thay đổi từ 30cm đến 100cm
- Phân lớp trung bình: độ dày lớp 10cm - 30cm
Trang 14- Phân lớp mỏng: độ dày lớp 3cm - 10cm
- Phân lớp rất mỏng: độ dày lớp 1cm - 3cm
Mỗi hoàn cảnh cụ thể của môi trường trầm tích tạo nên một kiểu phân lớp nhất định Thực tế, trong tự nhiên thường gặp các kiểu phân lớp chủ yếu sau đây:
*) Phân lớp nằm ngang Các lớp trầm tích khác nhau nằm kế tiếp lên nhau theo
mặt phẳng song song Ranh giới giữa các lớp có thể rõ ràng hoặc biến đổi từ từ Chiều
dày của mỗi lớp biến đổi từ cỡ milimet tới hàng mét Thường được thành tạo trong môi trường nước yên tĩnh, trầm tích đầm lầy, biển sâu, vũng vịnh, hồ
*) Phân lớp lượn sóng: Mặt lớp thường bị uốn cong, ranh giới giữa các lớp không
rõ ràng Bề dày mỗi lớp không lớn lắm, từ cỡ milimét đến vài centimet Thường được thành tạo ở vùng ven bờ, do tác dụng của sóng
Các lớp có thể nằm song song (song song lượn sóng), hoặc cắt nhau với góc nghiêng và phương khác nhau (sóng xiên)
*) Phân lớp xiên, thường thành tạo trong một môi trường nước chuyển động Tuỳ
theo nguồn gốc và tính phức tạp, có thể phân biệt hai kiểu:
Phân lớp xiên đơn: Các lớp nằm nghiêng về một phía theo dòng nước chảy Góc
nghiêng cũng như chiều dày của mỗi lớp tuỳ thuộc vào cường độ của dòng nước Được thành tạo trong môi trường nước chảy theo một chiều
Phân lớp xiên chéo: Các lớp có góc nghiêng, hướng nghiêng khác nhau, phân chia
thành những loạt lớp riêng biệt Thường được thành tạo trong môi trường trầm tích sông,
bờ hồ, bờ biển, sa mạc
Tuỳ theo nguồn gốc và điều kiện thành tạo, có thể phân biệt các kiểu phân lớp xiên chéo sau:
- Phân lớp xiên chéo thành tạo trong môi trường trầm tích sông:
+ Ở lòng sông thường hình thành kiểu phân lớp xiên chéo cùng hướng, với góc nghiêng khác nhau Giữa những loạt lớp xiên thường có loạt lớp nằm ngang ở dạng thấu kính hay vỉa mỏng Trong loạt lớp xiên, các lớp có góc nghiêng lớn, phía dưới thường là hạt thô hơn phía trên Ranh giới giữa các loạt lớp khá rõ ràng, nhưng ranh giới giữa các lớp trong một loạt lớp thường biến đổi từ từ Mỗi lớp dày khoảng vài centimet, nhưng chiều dày của mỗi loạt lớp có thể tới hàng mét
Trong trầm tích bãi bồi, hiện tượng phân lớp xiên chéo thương đối đơn giản hơn,
thường là phân lớp sóng xiên, xiên chéo với góc nghiêng nhỏ Ranh giới giữa các loạt lớp
và các lớp kém rõ ràng
Trang 15- Phân l ớp xiên chéo hình thành trong môi trường trầm tích tam giác châu: Tương
đối phức tạp, bao gồm nhiều loạt lớp xiên đơn, sóng xiên, nằm ngang xen kẽ nhau
Các loạt xiên được thành tạo do dòng nước chảy trong thời kỳ mưa lũ, loạt lớp nằm ngang thành tạo trong thời kỳ nước lặng hoặc chảy với tốc độ yếu Trong loạt lớp xiên, các lớp nằm nghiêng về một phía theo dòng chảy, góc nghiêng nhỏ, ranh giới giữa các lớp không rõ ràng Chiều dày của mỗi lớp thường chỉ vài centimét, nhưng chiều dày mỗi loạt lớp có thể tới hàng mét
- Phân lớp xiên chéo ở bờ biển: Bao gồm nhiều loạt lớp có kiểu phân lớp khác
nhau, thường gặp là loại phân lớp sóng xiên, xiên đơn, xiên chéo với góc nghiêng và hướng nghiêng khác nhau Ranh giới giữa các lớp và loạt lớp thường không rõ ràng Chiều dày của mỗi lớp thay đổi từ vài centimét tới vài chục centimét, chiều dày của mỗi loạt lớp có thể tới hàng mét Thường gặp trong trầm tích ven bờ do tác dụng của sóng, của dòng nước
- Phân lớp xiên chéo ở sa mạc: Thường là loại sóng xiên Các lớp thường bị uốn
cong, với góc nghiêng, hướng nghiêng rất khác nhau Ranh giới giữa các lớp và các loạt
lớp thường không rõ ràng Chiều dày của mỗi lớp thay đổi từ vài milimét tới vài centimét, chiều dày của mỗi loạt lớp có thể tới hàng mét
Phân lớp giả: Thành tạo do tác dụng của nước chứa dung dịch khoáng hoá ngấm
theo các khe nứt của đá, gặp điều kiện thuận lợi lắng đọng thành trầm tích Hiện tượng tương tự như vậy cứ tiếp diễn nhiều lần theo sự thay đổi thời tiết hàng năm Kết quả là
tạo nên một kiểu phân lớp nhiều khi xoá nhoà những dấu vết phân lớp ban đầu Nếu hiện tượng phân lớp giả đó lại tạo thành vòng đồng tâm, thậm chí có thể tách thành những vòng riêng lẻ, gọi là vành lizêgăng
Phân lớp tuần hoàn: Là hiện tượng thay đổi các loại đá trầm tích một cách tuần
hoàn theo một trật tự nhất định Đặc tính đó gọi là tính chu kỳ hay tính nhịp Nguyên nhân tạo nên tính chu kỳ là do sự thay đổi thời tiết hàng năm, do chuyển động dao động của vỏ trái đất Các chu kỳ đó có thể thay đổi một cách liên tục hay không liên tục
Nghiên cứu tính chu kỳ trong các thành tạo trầm tích, không những cho phép khôi phục được lịch sử cổ kiến tạo, cổ địa lý, cổ khí hậu, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc so sánh địa tầng, nối vỉa, đồng thời cũng cho phép rút ngắn, giảm nhẹ công tác nghiên cứu mô tả các chu kỳ tiếp theo
Trang 16Hình I.1 Ki ến trúc cuội-tảng (Gravelly Texture) Cấu tạo định hướng (Directive Structure) của aglomerat tuổi Permi-Trias Các hạt vụn nhẵn cạnh có kích thước thay đổi
ch ủ yếu từ 5 - 26cm, sắp xếp định hướng, thành phần hạt vụn là đá ryođacit được xim ăng cùng thành phần gắn kết hình thành do quá trình hoạt động của núi lửa Đỉnh Núi Tản Viên, Ba Vì, Hà Tây Ảnh Nguyễn Đức Chính.
Hình I.2 Ki ến trúc sạn (Granule Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong đá
s ạn kết tuf thành phần axit tuổi Trias giữa Các mảnh vụn thường có dạng góc cạnh, kích th ước chủ yếu từ 2,5 - 4mm, sắp xếp lộn xộn trong đá Bắc Đèo Ngang, Kỳ Nam,
Kỳ Anh, Hà Tĩnh Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 17Hình I.3 Ki ến trúc cát sạn (Sand-gravelly Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong cát s ạn kết tuf trachit tuổi Paleogen Các mảnh vỡ vụn felspat kali và đá phun trào trachit s ắc cạnh xắp xếp lộn xộn với hàm lượng >90% Góc trái phía trên là mảnh sạn trachit điển hình Nền gắn kết có thành phần sét, vi vụn felspat kali và limonit Khun Há,Tam Đường,Lai Châu.Nicol (+) Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.4 Ki ến trúc cát sạn (Sand-gravelly Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong cát s ạn kết tuf trachit tuổi Paleogen Các mảnh vụn sắc cạnh felspat kali và trachit
có kích th ước trung bình từ 0,10-2,5 mm xắp xếp lộn xộn trên nền sét và limonit.Khun Há,Tam Đường,Lai Châu.Nicol (+) Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 18Hình I.5 Ki ến trúc cát (Sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong cát kết
tuf tu ổi Ordovic-Silur Thành phần tạo đá chủ yếu bao gồm các mảnh vụn khoáng vật
s ắc cạnh, hình nêm và mảnh vụn đá phun trào phân bố lộn xộn trong đá Phần giữa ảnh phía d ưới là một mảnh đá phun trào thành phần trung tính, trong đó ban tinh plagioclas
bị sericit hóa từng phần Đảo Thanh Lân, quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5
Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.6 Ki ến trúc cát (Sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong đá cát
k ết tuf tuổi Ordovic-Silur Hầu hết các hạt vụn đều có dạng mảnh vỡ rất sắc cạnh, hình thành do quá trình phun n ổ núi lửa, sắp xếp lộn xộn trong đá, kích thước thay đổi chủ yếu từ 0,10mm đến 0,20mm Phía phải của ảnh (màu đen, đẳng hướng) là mảnh vụn thủy tinh núi lửa Đảo Cú Sú, quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5 Ảnh:
Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 19Hình I.7 Ki ến trúc cát (Sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong cát kết
tuf ryolit tu ổi Trias giữa Các mảnh vỡ vụn thạch anh (q) và felspat (f) sắc cạnh, kích
th ướchầuhết>0,10mmđượcnền sét - silit gắn kết Phần giữa ảnh la một mảnh vụn thạch anh b ị gặm mòn vũng vịnh khá điển hình Hàm lượng thành phần vụn nguồn núi lửa 90 - 92% Chư Ya Krei, Sa Thầy, Kon Tum Nicol (+) Người sưu tập: Phạm Đức Lương
Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.8 Ki ến trúc cát (Sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong cát kết
tuf thành ph ần axit tuổi Jura muộn - Creta Các mảnh vỡ sắc cạnh thạch anh và felspat kích th ước hầu hết > 0,1 mm phân bố tương đối đồng đều trên nền gắn kết thành phần sét - silit Hàm lượng thành phần vụn núi lửa > 90 % Tam Lung, Lạng Sơn Nicol (+)
Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển
Trang 20Hình I.9 Ki ến trúc cát (Sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong cát kết
tuf trachit tu ổi Paleogen Các mảnh vụn felspat kali sắc cạnh có kích thước chủ yếu thay đổi từ 0,10 - 0,60mm sắp xếp lộn xộn trên nền gắn kết thành phần chủ yếu gồm sét, vi
vụn felspat và limonit Khun Há, Tam Đường, Lai Châu Nicol (+) Ảnh: Nguyễn Xuân
Khi ển.
Hình I.10 Ki ến trúc cát (Sandy Texture).Cấu tạo khối (Massive Structure) trong cát kết
tuf andesite tu ổi Jura muộn - Creta Các mảnh vụn plagioclas trung tính sắc cạnh, kích thước khác nhau, được gắn kết bởi nền vi tinh và vụn bột Châu Thới, Đồng Nai Nicol (+) Ảnh Phan Trung Điền
Trang 21Hình I.11 Ki ến trúc cát (Sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong cát
k ết tufit thành phần axit - trung tính tuổi Trias giữa Các mảnh vỡ sắc cạnh thạch anh (q)
và felspat(f) có kích th ướchầu hết > 0,10 mm hình thành sau quá trình phun nổ núi lửa phân b ố trên nền gắn kết thành phần sét - silit Hàm lượng thành phần vụn nguồn núi
l ửa 60 - 70% Chư Ya Krei, Sa Thầy, Kon Tum Nicol (+) Người sưu tập: Phạm Đức Lương Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.12 Ki ến trúc cát bột (Sand-silty Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong cát b ột kết tufogen thành phần axit, tuổi Trias sớm Các mảnh vỡ vụn thạch anh (ph ổ biến) và felspat (ít) sắc cạnh, hình nêm với hàm lượng 15-20% hình thành do quá trình phun nổ núi lửa và các hạt vụn trầm tích được nền thành phần sét - sericit và vi vụn thạch anh - felspat gắn kết Cốc Cằng, Hoà An, Cao Bằng Nicol (+) Người sưu tập:
Phạm Đức Lương Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển
Trang 22Hình I.13 Ki ến trúc cát bột (Sand-silty Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong cát b ột kết tuf tuổi Ordovic-Silur Thành phần tạo đá chủ yếu bao gồm các mảnh
v ỡ khoáng vật thạch anh, felspat, mica, kích thước thay đổi từ 0,15mm đến 0,04mm, cỡ
h ạt >0,10mm ưu trội, hình thành do quá trình phun nổ của núi lửa Đảo Thanh Lân, quần
đảo Cô Tô, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5 Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.14 Ki ến trúc bột cát (Silt-sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong b ột cát kết tufogen tuổi Ordovic-Silur Kích thước hạt vụn thay đổi từ 0,04mm đến 0,18mm, c ỡ hạt <0,10mm ưu trội hơn Trong số các hạt vụn, có khoảng 10% là các
m ảnh vỡ khoáng vật rất sắc cạnh hình thành từ quá trình phun nổ núi lửa Đảo Cú Sú, quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5 Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 23Hình I.15 Ki ến trúc bột cát (Silt-sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong b ột cát kết tufit tuổi Ordovic-Silur Kích thước hạt vụn thay đổi từ 0,04mm đến 0,15mm, nh ưng chủ yếu là dưới 0,10mm Nhiều hạt vụn (khoảng 60%) có dạng mảnh
v ỡ rất sắc cạnh hình thành từ quá trình phun nổ của núi lửa Đảo Cú Sú, quần đảo Cô
Tô, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5 Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.16 Ki ến trúc bột cát (Silt-sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong b ột cát kết tufogen tuổi Ordovic-Silur Thành phần tạo đá chủ yếu bao gồm các hạt
v ụn có kích thước hầu hết thay đổi trong phạm vi từ 0,03mm đến 0,08mm, một số hạt có kích th ước >0,10mm, sắp xếp lộn xộn trong đá Trong số các hạt vụn có mặt nhiều mảnh vụn khoáng vật rất sắc cạnh (khoảng10%) hình thành từ quá trình phun nổ của núi lửa Tấn Mài, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5 Ảnh: Nguyễn Đức Chính
Trang 24Hình I.17 Ki ến trúc bột cát (Silt-sandy Texture) Cấu tạo định hướng yếu (Slightly
massive Structure) trong bột cát kết tuf thành phần axit tuổi Jura muộn - Creta sớm Các
m ảnh vụn sắc cạnh, thạch anh và felspat có kích thước chủ yếu thay đổi từ 0,04 đến 1,15 mm s ắp xếp định hướng yếu được nền gắn kết có thành phần là sét - xericit và sản phẩm biến đổi của thuỷ tinh núi lửa Tú Lệ, Yên Bái Nicol (+) Ảnh: Nguyễn Đức Chính.
Hình I.18 Ki ến trúc bột cát (Silt-sandy Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong b ột cát kết tufogen thành phần axit tuổi Jura muộn - Creta sớm Các mảnh vụn
th ạch anh sắc cạnh hình nêm hình thành trong quá trình phun nổ núi lửa phân bố rải rác trên n ền gắn kết có thành phần sét, bột và thuỷ tinh bị biến đổi Hàm lượng thành phần vụn núi lửa: 25 - 30% Trạm Tấu, Tú Lệ, Yên Bái Nicol (+) Ảnh: Nguyễn Đức Chính
Trang 25Hình I.19 Ki ến trúc bột (Silty Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong bột kết
tufogen tu ổi Ordovic-Silur Các hạt vụn có kích thước chủ yếu dao động trong khoảng 0,03mm đến 0,08mm Nhiều hạt vụn (khoảng 15%) có dạng mảnh vỡ rất sắc cạnh hình thành do quá trình phun n ổ núi lửa, sắp xếp lộn xộn trong đá Đảo Cú Sú, quần đảo Cô
Tô, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5 Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.20 Ki ến trúc bột (Silty Texture) Cấu tạo định hướng (Directive Structure) trong
đá bột kết tuf thành phần axit tuổi Ordovic-Silur Thành phần tạo đá bao gồm các hạt vụn
r ất sắc cạnh, kiểu mảnh vỡ, kích thước chủ yếu thay đổi từ 0,03mm đến 0,06mm, hình thành do quá trình phun n ổ của núi lửa, sắp xếp định hướng và được xi măng có thành phần sét, sericit gắn kết Đảo Thanh Lân, quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5
Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 26Hình I.21 Ki ến trúc tảng-cuội (Gravelly Texture), ximăng cơ sở-tiếp xúc Cấu tạo
kh ối (Massive Structure) trong tảng cuội kết đa thành phần tuổi Creta muộn Hạt vụn có
kích th ước thay đổi từ 25cm đến 5mm, độ mài tròn trung bình, được sạn cát kết đa khoáng g ắn kết Các hạt vụn phân bố lộn xộn tách rời nhau hoặc tiếp xúc với nhau Mai Châu, Hòa Bình Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.22 Ki ến trúc cuội (Pebbly Texture), ximăng tiếp xúc Cấu tạo định hướng yếu (Slightly directive Structure) trong cuội kết đa thành phần tuổi Creta muộn Các hạt cuội
có kích thước chủ yếu từ 1cm đến 5,5cm, độ mài tròn trung bình, được sạn cát kết đa khoáng gắn kết theo kiểu tiếp xúc Mai Châu, Hòa Bình Ảnh: Nguyễn Đức Chính.
Trang 27Hình I.23 Ki ến trúc cuội (Pebbly Texture), ximăng cơ sở-tiếp xúc Cấu tạo khối-lộn
x ộn (Massive Structure) trong đá cuội kết đa thành phần tuổi Creta muộn Các hạt cuội
có kích th ước chủ yếu thay đổi từ 1,5cm đến 6cm, độ mài tròn tốt, sắp xếp lộn xộn trong
đá, được sạn cát kết đa khoáng gắn kết Chiềng Hặc, Yên Châu, Sơn La Ảnh: Nguyễn
Linh Ng ọc.
Hình I.24 Ki ến trúc cuội (Pebbly Texture), ximăng cơ sở Cấu tạo khối (Massive
th ước thay đổi từ 1,5cm đến 5,5cm, độ chọn lọc kém, độ mài tròn trung bình, sắp xếp
l ộn xộn trong đá, được ximăng cát kết hạt thô gắn kết Núi Cầu Hang, Ninh Hải, Tĩnh Gia, Thanh Hóa Ảnh: Nguyễn Xuân Quang
Trang 28Hình I.25 Ki ến trúc cuội sỏi (Gravelly Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong cu ội sỏi kết thạch anh tuổi Trias muộn Hạt vụn có kích thước thay đổi chủ yếu là
t ừ 3mm đến 5cm, độ mài tròn tốt, sắp xếp lộn xộn, được cát kết ít khoáng gắn kết Cái Bàu, Vân Đồn,Quảng Ninh Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.26 Ki ến trúc cuội sỏi (Gravelly Texture), ximăng tiếp xúc-lấp đầy Cấu tạo
kh ối, lộn xộn(Massive Structure) trong trầm tích cuội sỏi kết thạch anh tuổi Trias muộn
Kích th ước hạt vụn chủ yếu thay đổi từ 2,5mm đến 1,5cm, nhưng hàm lượng các hạt
v ụn >1cm chiếm ưu thế hơn Độ mài tròn tốt đến trung bình Đông Hải, Hải Hòa, Tĩnh Gia, Thanh Hóa Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 29Hình I.27 Ki ến trúc cuội sỏi (Gravelly Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong cu ội sỏi kết thạch anh tuổi Trias muộn Các hạt vụn có kích thước thay đổi chủ yếu
từ 4mm đến 5cm, nhưng hàm lượng các hạt có kích thước > 1cm ưu trội hơn, độ mài tròn tốt, phân bố lộn xộn trong đá Đông Hải, Hải Hòa, Tĩnh Gia, Thanh Hóa Ảnh:
Hình I.28 Ki ến trúc cuội sỏi (Gravelly Texture), ximăng cơ sở-tiếp xúc Cấu tạo khối (Massive Structure) trong trầm tích cuội sỏi kết màu đỏ ít khoáng tuổi Jura-Creta Các
h ạt cuội thường có kích thước thay đổi trong phạm vi từ 4mm đến 4cm, độ mài tròn trung bình, s ắp xếp lộn xộn, thành phần chủ yếu là thạch anh, quartzit và được ximăng cát k ết ít khoáng gắn kết Đường Hồ Chí Minh Tây đi Cha Lo, cách biên giới Việt Nam - Lào 51km, Quảng Bình Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 30Hình I.29 Ki ến trúc cuội sỏi (Gravelly Texture) Cấu tạo định hướng (Directive Structure) trong cuội sỏi kết thạch anh tuổi Trias muộn Các hạt vụn có kích thước chủ yếu thay đổi từ 2, 5mm đến 4cm, hàm lượng các hạt có kích thước > 1cm ưu trội hơn,
độ mài tròn trung bình, sắp xếp có xu thế định hướng Núi Nồi, Đông Hải, Hải Hòa, Tĩnh Gia, Thanh Hóa Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.30 Ki ến trúc cuội sạn (Gravelly Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong cu ội sạn kết thạch anh tuổi Trias muộn Các hạt vụn có kích thước thay đổi chủ
y ếu từ 3mm đến 4,5cm, hàm lượng hạt vụn có kích thước > 1cm ưu trội hơn, các hạt
v ụn kích thước < 1cm thường có dạng góc cạnh, các hạt vụn kích thước > 1cm có độ mài tròn trung bình, s ắp xếp lộn xộn trong đá Đông Hải, Hải Hòa, Tĩnh Gia, Thanh Hóa
Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 31Hình I.31 Ki ến trúc cuội sạn (Gravelly Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong cu ội sạn kết Neogen Kích thước hạt vụn thay đổi chủ yếu từ 3cm đến 3,5mm, các
h ạt có kích thước 3,5mm - 10mm thường có dạng sắc cạnh, các hạt vụn có kích thước
l ớn có độ mài tròn trung bình và có hàm lượng ưu trội hơn Đồng Hới, Quảng Bình
Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.32 Ki ến trúc dăm (Pebbly Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong đá
d ăm kết Creta thượng Hạt vụn có dạng sắc cạnh, kích thước khác nhau, sắp xếp lộn xộn, được cát kết màu đỏ gắn kết Chân đèo Mộc Châu, Sơn La Ảnh: Lê Thị Nghinh.
Trang 32Hình I.33 Ki ến trúc dăm-sạn (Gravelly Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure)
trong đá dăm sạn kết tuổi Creta muộn Các hạt vụn có dạng sắc cạnh, kích thước thay đổi chủ yếu từ 3mm đến 2cm,nhưng cỡ hạt > 4mm trở lên chiếm ưu thế, sắp xếp lộn xộn Mai Châu, Hòa Bình Ảnh: Nguyễn Đức Chính.
Hình I.34 Ki ến trúc cát sạn (Gravelly Texture) Cấu tạo định hướng (Directive
Structure) trong cát sạn kết ít khoáng Trias thượng Kích thước hạt vụn chủ yếu thay đổi trong phạm vi 1mm ÷ 10mm, các hạt vụn kích thước < 1mm có hàm lượng chiếm ưu thế hơn, sắp xếp định hướng Núi Nồi, Đông Hải, Hải Hòa, Tĩnh Gia, Thanh Hóa Ảnh:
Trang 33Hình I.35 Ki ến trúc sạn (Gravelly Texture), xi măng cơ sở Cấu tạo khối (Massive
th ạch anh,mảnh đá quartzit, kích thước > 2mm, sắc cạnh hoặc bán tròn cạnh phân bố
r ời rạc và được xi măng cát thành phần ít khoáng gắn kết theo kiểu cơ sở Hà Quảng Hà,Quảng Ninh.Nicol(+),x18,5 Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Cối-Hình I.36 Ki ến trúc sạn cát (Granule-sandy Texture), xi măng cơ sở-tiếp xúc Cấu tạo
kh ối (Massive Structure) trong đá sạn cát kết ít khoáng tuổi Trias giữa Thành phần hạt vụn
chủ yếu là thạch anh, quartzit, kích thước thay đổi từ 3,5mm đến 0,15mm, nhưng hạt vụn có kích th ước >2mm chiếm ưu thế, được xi măng có thành phần là vi vụn thạch anh, felspat và hydroxit s ắt gắn kết theo kiểu cơ sở tiếp xúc Trường Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh Nicol (+), x18,5 Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 34Hình I.37 Ki ến trúc cát sạn (sand-granuly Texture), xi măng tiếp xúc-lấp đầy Cấu tạo
kh ối (Massive Structure) trong trầm tích cát sạn kết tuổi Trias giữa Thành phần hạt vụn chủ
y ếu là thạch anh (q), felspat (f), mica bị limonit hóa mạnh (m) có kích thước thay đổi từ 3mm đến 0,10mm, các hạt vụn có kích thước < 1mm chiếm ưu thế được xi măng có thành phần sét, sericit và vi v ụn thạch anh, felspat gắn kết theo kiểu tiếp xúc-lấp đầy Trà Dương, Quang Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh Nicol (+), x 18,5 Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.38 Ki ến trúc cát (Sandy Texture) Cấu tạo định hướng yếu (Slightly directive Structure)trong cát kết đa khoáng tuổi Creta muộn Các hạt vụn thạch anh, silit, felspat,
m ảnh vụn đá có độ mài tròn khác nhau, sắp xếp có xu thế định hướng, được ximăng có thành ph ần sét-carbonat-vi vụn thạch anh gắn kết Tủa Chùa, Lai Châu Nicol (+), x41
Trang 35Hình I.39 Ki ến trúc cát (Sandy Texture),ximăng tiếp xúc-lấp đầy Cấu tạo khối (Massive Structure) trong cát kết ít khoáng tuổi Jura sớm-giữa Thành phần hạt vụn chủ
y ếu là thạch anh có độ mài tròn trung bình, sắp xếp lộn xộn Thành phần ximăng gắn kết bao g ồm các tập hợp vi vụn thạch anh-silit-sét phân bố ở khoảng trống giữa các hạt vụn
và t ại tiếp xúc giữa chúng Nà Khoa, Siphaphin, Lai Châu Nicol (+), x75
Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Hình I.40 Ki ến trúc cát (Sandy Texture), ximăng tiếp xúc Cấu tạo khối (Massive
Structure)trong cát kết tuổi Jura sớm-giữa Các hạt vụn plagioclas, thạch anh, mảnh vụn
đá sét-silit kích thước chủ yếu thay đổi từ 0,12mm đến 0,25mm sắp xếp lộn xộn, tiếp xúc với nhau tại các rìa hạt, ximăng chỉ phát triển ở nơi tiếp xúc giữa các hạt vụn Tây Đồng Hới, Quảng Bình Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển.
Trang 36Hình I.41 Ki ến trúc cát (Sandy Texture), ximăng ép nén-lấp đầy Cấu tạo khối
m ảnh đá có kích thước từ 0,10mm đến 0,20mm với độ mài tròn khác nhau nằm sát và chêm vào nhau do quá trình ép nén Nghèo thành ph ần ximăng Tà Làng-Loóng Phiêng, Yên Châu, Sơn La Nicol (+), x37,5 Ảnh: Nguyễn Đức Chính.
Hình I.42 Ki ến trúc cát (Sandy Texture), xi măng tiếp xúc-lấp đầy Cấu tạo khối
hạt vụn thạch anh, felspat, kích thước thay đổi từ 0,10mm đến 0,20mm, giữa chúng tiếp xúc
v ới nhau không hoàn toàn, phần khoảng trống giữa các hạt vụn được thành phần xi măng
lấp đầy, sắp xếp lộn xộn Đảo Cái Bàu, Vân Đồn, Quảng Ninh Nicol (+), x37,5 Ảnh: Nguyễn
Xuân Khiển.
Trang 37Hình I.43 Ki ến trúc cát (Sandy Texture), xi măng ép nén Cấu tạo khối (Massive
v ụn thạch anh, ít felspat, góc phải phía dưới là một hạt vụn đá quartzit và một hạt vụn đá silit Kích th ước của các hạt vụn thay đổi chủ yếu từ 0,10mm đến 0,18mm, các hạt vụn của
đá tiếp xúc với nhau hoàn toàn, chêm vào nhau hình thành do quá trình ép nén và rất nghèo thành phần xi măng Đồ Sơn, Hải Phòng Nicol (+), x18,5 Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển
Hình I.44 Ki ến trúc cát (Sandy Texture), ximăng lấp đầy Cấu tạo khối (Massive
th ước thay đổi từ 0,10mm đến 0,25mm Thành phần ximăng lấp đầy trong các lỗ hổng
giữa các hạt vụn trong đá Chiềng Hặc, Yên Châu, Sơn La Nicol (-), x37,5 Ảnh: Nguyễn
Đức Chính
Trang 38Hình I.45 Ki ến trúc bột cát (Silt-sandy Texture), ximăng cơ sở Cấu tạo khối
thay đổi từ 0,03mm đến 0,20mm, với độ mài tròn khác nhau nằm rời rạc trên nền ximăng hydroxit sắt Tà Làng-Lóong Phiêng, Yên Châu, Sơn La Nicol (-), x37,5 Ảnh: Nguyễn
Đức Chính
Hình I.46 Ki ến trúc bột (Silty Texture), xi măng tiếp xúc-lấp đầy Cấu tạo khối
y ếu là thạch anh, hiếm felspat, mica, kích thước chủ yếu thay đổi trong phạm vi từ 0,04mm đến 0,07mm Tràng Vinh, Thị xã Móng Cái, Quảng Ninh Nicol (+), x 37,5 Ảnh:
Trang 39Hình I.47 Ki ến trúc bột (Silty Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) của bột kết
tu ổi Jura sớm-giữa Thành phần hạt vụn chủ yếu là thạch anh, felspat, ít mica, kích
th ước thay đổi chủ yếu trong khoảng 0,03mm đến 0,06mm, được xi măng có thành phần sét, vi v ụn thạch anh giàu hydroxit sắt gắn kết Tràng Vinh, thị xã Móng Cái, Quảng Ninh Nicol (+), x75 Ảnh: Nguyễn Đức Chính.
Hình I.48 Ki ến trúc bột (Silty Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong bột kết
màu đỏ chứa vôi tuổi Creta Các hạt vụn có kích thước thay đổi trong phạm vi 0,03mm ÷ 0,06mm, s ắp xếp lộn xộn, thành phần chủ yếu bao gồm thạch anh, felspat, carbonat, mica, xim ăng bị ngấm nhuộn hydroxit sắt Bính Xá, Đình Lập, Lạng Sơn Nicol (+), x 37,5 Ảnh: Nguyễn Đức Chính.
Trang 40Hình I.49 Ki ến trúc pelit (Pelitic Texture) Cấu tạo khối (Massive Structure) trong sét
k ết tuổi Ordovic-Silur Thành phần tạo đá chủ yếu là khoáng vật sét dạng vảy nhỏ phân
b ố lộn xộn và đều khắp trong đá Góc phải phía trên (màu trắng) là một hạt vụn bột
thạch anh Đảo Cú Sú, quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh Nicol (+), x75 Ảnh: Nguyễn Xuân
Khi ển.
Hình I.50 Ki ến trúc pelit (Pelitic Texture) Cấu tạo định hướng yếu (Slightly directive
g ồm khoáng vật sét và sericit dạng vảy nhỏ, vảy nhỏ kéo dài, sắp xếp đều khắp, có xu thế định hướng song song trong đá Văn Quan, Lạng Sơn Nicol (+), x75 Ảnh: Nguyễn
Đức Chính