1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công nghiệp văn hóa ở thành phố hồ chí minh hiện nay (qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn)

219 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 5,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị2009 về phát triển văn học, nghệ thuật thời kỳ mới đã khẳng định về sự hìnhthành một thị trường hàng hóa và dịch vụ các sản phẩm văn học, nghệ thuật.Nghị

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

C¤NG NGHIÖP V¡N HãA ë THµNH PHè Hå CHÝMINH HIÖN NAY

(Qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

C¤NG NGHIÖP V¡N HãA ë THµNH PHè Hå CHÝMINH HIÖN NAY

(Qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

Mã số: 62 31 06 40

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG PGS.TS NGUYỄN TOÀN THẮNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Kim Liên

Trang 4

MỞ ĐẦU

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU CÔNG NGHIỆP

VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

2.1 Một số khái niệm công cụ

2.2 Đặc điểm và vai trò của nghệ thuật biểu diễn

2.3 Những nhân tố tác động đến nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ

Chí Minh hiện nay

Chương 3 : THỰC TRẠNG LĨNH VỰC NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

3.1 Thực trạng hoạt động sáng tạo/sản xuất nghệ thuật biểu diễn ở

Thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Thực trạng công nghệ tổ chức biểu diễn và doanh thu

3.3 Thực trạng phân khúc thị trường và vấn đề bản quyền

3.4 Đánh giá chung

Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGHỆ

THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

4.1 Những vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

4.2 Dự báo xu hướng vận động, phát triển công nghiệp văn hóa và

nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí

Minh nói riêng

4.3 Khuyến nghị về các giải pháp phát triển lĩnh vực nghệ thuật biểu

diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1 8

8 19 28 31

31 42 53 61 63

76 83 92 118

118 128

133

146 150 151 164

Trang 5

: Nghiên cứu sinh: Nghệ thuật biểu diễn: Nghệ sĩ nhân dân: Nghệ sĩ ưu tú: Phó Giáo sư, Tiến sĩ: Trách nhiệm hữu hạn: Đối tác Xuyên Thái Bình Dương: Tiến sĩ

: Thành phố: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc: Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc: Văn hóa, Thể thao và Du lịch

: Trung tâm Bảo vệ quyền tác phẩm âm nhạc Việt Nam: Xã hội chủ nghĩa

: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 6

Biểu đồ 3.1:Tỷ lệ tăng doanh thu của sân khấu Hồng Vân giai đoạn 2009 – 2013 81

Biểu đồ 3.2: So sánh tỷ lệ tăng doanh thu của sân khấu Hồng Vân và một 81

số sân khấu khác trong giai đoạn 2009 – 2013

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ cơ cấu các yếu tố góp phần tăng doanh thu của sân khấu 82

Hồng Vân giai đoạn 2009 – 2013

Biểu đồ 3.4: So sánh tỷ lệ đóng góp vào việc tăng doanh thu từ các dòng 83

sản phẩm của sân khấu kịch Hồng Vân giai đoạn 2009 – 2013

Biểu 3.5: Đánh giá về giá vé tại sân khấu 86

Biểu 3.6: Đánh giá về chất lượng ca sĩ 96

Biểu 3.7: Mức độ hài lòng của khán giả đối với chất lượng chương trình 97

Biểu 3.8: Đánh giá về chất lượng diễn viên chính 98

Biểu 3.9: Đánh giá về chất lượng diễn viên phụ 98

Biểu 3.10: Mức độ hài lòng của khán giả đối với chất lượng nội dung các 99

vở diễn

Biểu 3.11: Thông tin về các chương trình ca nhạc ở sân khấu này qua các 106

kênh truyền thông

Biểu 3.12: Thông tin về các vở diễn của các sân khấu qua các kênh truyền 107

thông

Biểu 4.1: Mức độ hài lòng của khán giả đối với chất lượng nội dung các vở 120

diễn

Biểu 4.2: Đánh giá của cán bộ quản lý sân khấu về thuật ngữ CNVH 122

Biểu 4.3: Đánh giá của cán bộ quản lý nhà nước về thuật ngữ CNVH 123

Biểu 4.4: Các vấn đề đặt ra hiện nay đối với sự phát triển của CNNTBD 126

Biểu 4.5: Định hướng giá trị của các đơn vị nghệ thuật 144

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1: Chính sách nhà nước cần ưu tiên để tạo động lực phát triển CNVH 139

Bảng 4.2: Giải pháp cần ưu tiên phát triển công nghiệp văn hóa 143

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới, công nghiệp văn hóa (CNVH) đangđóng vai trò là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế tri thức,

có khả năng to lớn trong việc truyền bá, bảo vệ, phát huy bản sắc giá trị văn hóadân tộc Ở Việt Nam, vào những năm 90 của thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện nhậnthức mới về lao động sáng tạo văn hóa – nghệ thuật, coi đó là một loại lao độngđặc biệt và tìm tòi nhiều phương thức nhằm phát triển văn hóa – nghệ thuật trongđiều kiện nền kinh tế thị trường Tuy nhiên cho đến nay, cả về lý luận và thựctiễn phát triển công nghiệp văn hóa chỉ mới ở giai đoạn đầu, có nhiều vấn đềđang đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu

Việt Nam đang ở thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa (XHCN), phát triển công nghiệp văn hóa là tất yếu khách quan

Trong định hướng phát triển văn hoá của Đảng và Chiến lược phát triển văn hóa

từ nay đến năm 2020, vấn đề phát triển công nghiệp văn hoá đã được đặt ra Điều

này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển văn hóa nói chung,phát triển công nghiệp văn hóa nói riêng Có thể nói, Nghị quyết Hội nghị lầnthứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (Nghị quyết Trung ương 5khóa VIII) được coi như Nghị quyết có ý nghĩa đột phá chỉ rõ vai trò của văn hóađối với sự phát triển kinh tế: “Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là độnglực của sự phát triển kinh tế Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đờisống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luậtpháp, kỷ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển”[19, tr.55] Trong phần giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa, chính sách kinh

tế trong văn hóa đã được Đảng ta xác định là một trong những chính sách quan

trọng tạo điều kiện nhiều hơn để phát triển sự nghiệp văn hóa Trong Chiến lược

phát triển văn hóa đến năm 2020 (2009), lần đầu tiên ở Việt Nam, khái niệm

“công nghiệp văn hóa” đã xuất hiện và khẳng định: “Phát triển

Trang 8

“công nghiệp văn hoá” đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách vănhoá của các nước trên thế giới” [70, tr.11] Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị(2009) về phát triển văn học, nghệ thuật thời kỳ mới đã khẳng định về sự hìnhthành một thị trường hàng hóa và dịch vụ các sản phẩm văn học, nghệ thuật.Nghị quyết số 22-NQ/TW về Hội nhập quốc tế (2013), trong đó việc xây dựngChiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa được xem là một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín BanChấp hành Trung ương Đảng khoá XI (Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI)(2014), đề ra nhiệm vụ xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh pháttriển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam; phát triểncông nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa Tuynhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa ban hành được Chiến lược phát triểncông nghiệp văn hóa Điều này sẽ hạn chế việc cụ thể hóa những quan điểm đổimới của Đảng về phát triển văn hóa, phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộctrong giai đoạn đổi mới, hội nhập hiện nay Vì vậy, thực hiện đề tài nghiên cứunày sẽ góp phần triển khai đường lối của Đảng về phát triển văn hóa nói chung

và công nghiệp văn hóa nói riêng

Công nghiệp văn hóa bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó, nghệthuật biểu diễn là một trong những lĩnh vực quan trọng có tính đặc thù Nghiêncứu công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minhhiện nay là vấn đề hết sức bức thiết Bởi lẽ, Tp Hồ Chí Minh là một thành phốcông nghiệp trẻ, năng động và phát triển, có nhiều điểm giải trí về văn hóa nghệthuật nhất trong cả nước Cùng với sự phát triển kinh tế, mức sống của người dânđược nâng cao, hoạt động vui chơi giải trí ngày càng được quan tâm hơn để đápứng nhu cầu văn hoá tinh thần của xã hội Sự phát triển về du lịch nảy sinh yêucầu phục vụ du khách cũng đã góp phần làm phong phú thêm lĩnh vực dịch vụnày Trong những năm đổi mới gần đây, do tác động của cơ chế thị trường vàảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa, hoạt động nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ ChíMinh đã có những chuyển biến rõ rệt Nhiều yếu tố của nghệ thuật biểu diễn

Trang 9

được các đơn vị chú trọng, như phát triển thị trường khán giả, phân đoạn thịtrường, chọn thị trường mục tiêu, đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo, mở rộngđịa điểm biểu diễn, nâng cao chất lượng chương trình… Tuy nhiên, sự phát triểnlĩnh vực nghệ thuật biểu diễn còn nhiều vấn đề đặt ra Đó là hiện tượng sự pháttriển thị trường nghệ thuật còn mang tính tự phát, cạnh tranh không lành mạnh.Nhiều mâu thuẫn xuất hiện như: mâu thuẫn giữa nhu cầu hưởng thụ nghệ thuậtbiểu diễn và khả năng đáp ứng; mâu thuẫn giữa tính cấp bách phải phát triển lĩnhvực nghệ thuật biểu diễn với nhận thức lạc hậu về tổ chức, quản lý tổ chức; mâuthuẫn giữa bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của nghệ thuật biểu diễn với

mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế… chưa được giải quyết

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề

tài: Công nghiệp văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (Qua khảo sát

một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn) để viết luận án tiến sĩ văn hóa học Hy

vọng kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận vàthực tiễn của phát triển ngành công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuậtbiểu diễn ở Việt Nam hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận nghiên cứu

công nghiệp văn hóa, lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh; trên cơ

sở đó khảo sát thực trạng công nghiệp văn hoá qua một số lĩnh vực nghệ thuậtbiểu diễn; khuyến nghị một số giải pháp phát triển lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

ở Tp Hồ Chí Minh thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu:

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án

2 Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp văn hóa và lĩnh vựcnghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường vàhội nhập quốc tế

3 Khảo sát, đánh giá thực trạng lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh hiện nay

Trang 10

4 Dự báo xu hướng vận động, phát triển của công nghiệp văn hóa ở ViệtNam nói chung, nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh nói riêng trong thờigian tới; khuyến nghị một số giải pháp nhằm phát triển lĩnh vực nghệ thuật biểudiễn ở Tp Hồ Chí Minh trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật biểu diễn bao gồm nhiều lĩnh vực

khác nhau Luận án chỉ tập trung nghiên cứu, khảo sát ba lĩnh vực: Âm nhạc, Sânkhấu Kịch nói và Múa ở một số đơn vị công lập và ngoài công lập trên địa bàn

Tp Hồ Chí Minh

Sở dĩ luận án chọn lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn tại Tp Hồ Chí Minh vìđây là lĩnh vực nghệ thuật khá nổi bật trong phát triển công nghiệp văn hóa cảtrên thế giới và trong nước Khi bàn đến cơ cấu của công nghiệp văn hóa, cácnước châu Á, châu Âu, UNESCO cũng đều đề cập loại hình này trong cách phânloại công nghiệp văn hóa Trong loại hình nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ ChíMinh thì lĩnh vực kịch nói, ca - múa - nhạc phát triển khá sôi nổi

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận án khảo sát từ năm 2010 đến 2015, vì đây

là khoảng thời gian các loại hình nghệ thuật biểu diễn như Kịch nói, Âm nhạc vàMúa ở Tp Hồ Chí Minh phát triển khá rầm rộ, chứa đựng tính đại diện và điểnhình cho sự phát triển công nghiệp văn hóa thông qua các loại hình nghệ thuậtnày ở Tp Hồ Chí Minh

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Công nghiệp văn hóa có thể được nghiên cứu từ nhiều ngành khoa họcchuyên biệt như kinh tế học, xã hội học, văn hóa học, lịch sử văn hóa…Tuynhiên, để phù hợp với mã số chuyên ngành văn hóa học, luận án chú trọngphương pháp tiếp cận văn hóa học đối với nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt chú ýđến giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật và ảnh hưởng của nghệ thuật biểu diễn, tiềmnăng phát triển của nó trong giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay Với cách tiếpcận như vậy, để giải quyết được mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, tác giả luận án chủyếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 11

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận mác xít và quanđiểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mối quan hệ giữa phát triển vănhoá và kinh tế trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

4.2 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp lịch sử - logic: Phương pháp lịch sử - logic giúp tác giả

luận án đi sâu tìm hiểu quá trình vận động và phát triển của công nghiệp văn hóa

ở Tp Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới gắn với quá trình phát triển nhận thức lýluận cũng như quá trình đổi mới kinh tế - xã hội của thành phố Đồng thời, giúp chotác giả luận án khái quát logic của sự vận động này theo những nội dung vấn đề cầnquan tâm nghiên cứu phục vụ cho triển khai thực hiện của luận án

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: Luận án tập trung nghiên cứu phân

tích các tài liệu, các số liệu, các kết quả điều tra, các kết quả nghiên cứu đã có để

có thể khái quát hóa, tổng hợp hóa, đưa ra các nhận định khoa học của luận án,đảm bảo tính khoa học của các nhận định về công nghiệp văn hóa ở Tp Hồ ChíMinh hiện nay

+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phương pháp nghiên cứu trường

hợp hay còn gọi là phương pháp điển hình thực chất là sự phân tích một hay một

số trường hợp điển hình cụ thể nhằm mục đích nghiên cứu nào đó Công nghiệpvăn hóa bao gồm rất nhiều các loại hình khác nhau, đó là: nghệ thuật biểu diễn,thiết kế mỹ thuật, thời trang, mỹ thuật, nhiếp ảnh và galeres, bảo tàng, di sản vănhóa, báo chí, in ấn – xuất bản, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, phần mềm cónội dung văn hóa, thủ công mỹ nghệ và các dịch vụ văn hóa sáng tạo Tác giảluận án chọn một số loại hình nghệ thuật biểu diễn để khảo sát, đánh giá dướigóc nhìn công nghiệp văn hóa

+ Phương pháp phân tích SWOT (Điểm mạnh Điểm yếu Cơ hội

-Thách thức): Phương pháp này giúp tác giả luận án chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu,thời cơ, thách thức, triển vọng để phát triển công nghiệp văn hóa ở Tp Hồ ChíMinh; từ đó đề xuất giải pháp để giải quyết những vấn đề đang được đặt ra

Trang 12

+ Phương pháp điều tra xã hội học: Chúng tôi thực hiện phương pháp

này bằng quy trình sau:

Giai đoạn 1: Chọn mẫu Chúng tôi chọn 200 khán giả của Sân khấu kịch

Idecaf, Sân khấu kịch Hồng Vân, Nhà hát Nhạc – Vũ kịch Tp Hồ Chí Minh, Nhàhát Kịch sân khấu nhỏ 5B, Sân khấu ca nhạc 126, Sân khấu ca nhạc Trống Đồng,cách chọn mẫu thuận tiện – phi xác suất - nghĩa là chọn những khán giả dễ tiếpcận nhất để khảo sát Ngoài ra, khảo sát 100 cán bộ quản lý ở Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch Tp Hồ Chí Minh (Sở VH, TT & DL Tp Hồ Chí Minh) cán bộ/nhân viên ở một số sân khấu kịch, ca nhạc nói trên

Giai đoạn 2: Soạn câu hỏi khảo sát: dựa trên dữ liệu nghiên cứu của đề

tài; xây dựng bảng hỏi theo tiêu chí phát hiện: nhận thức, thái độ, hành vi của cácnhóm chủ thể khác nhau đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ ChíMinh hiện nay; khảo sát thử và điều chỉnh để hoàn thiện bảng hỏi

Giai đoạn 3: Xây dựng và tập huấn khảo sát viên (khảo sát viên là tác giả

luận án, đồng nghiệp và một số sinh viên)

Giai đoạn 4: Khảo sát đại trà khán giả tại các sân khấu và tại các cơ quan

quản lý nhà nước về văn hóa

Giai đoạn 5: Xử lý kết quả khảo sát bằng phần mềm SPSS 16.0 và lên

bảng biểu, sơ đồ, rút ra kết luận sơ bộ

Chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu một số nhà quản lý văn hóa, cácdoanh nghiệp văn hóa, các công ty tổ chức sự kiện…tìm ra những thuận lợi, khókhăn cũng như những thành tựu và hạn chế, những vấn đề đặt ra trong lĩnh vựcnghệ thuật biểu diễn trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

+ Phương pháp thống kê – so sánh: Luận án sử dụng các số liệu thống kê

để phân tích và so sánh, đánh giá thực trạng về công nghiệp văn hóa trong lĩnhvực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh trong thời gian qua

+ Phương pháp dự báo: Luận án kết hợp giữa phương pháp định tính và

phương pháp định lượng để dự báo về xu hướng phát triển của công nghiệp vănhóa ở Tp Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Trang 13

- Giả thuyết nghiên cứu

+ Công nghiệp văn hóa ở Tp Hồ Chí Minh nói riêng đang phát triển bùng

nổ gắn với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế có nhiều cơ hội và thách thức

+ Công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ ChíMinh đã có những đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhucầu tinh thần phong phú, sôi động của người dân thành phố Phát triển côngnghiệp văn hóa sẽ góp phần giải quyết hài hoà giá trị kinh tế và văn hoá trongquá trình phát triển

+ Công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ ChíMinh cần có nhiều giải pháp đồng bộ và thiết thực để tạo động lực, tháo gỡ khókhăn tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa trong thời kỳ hội nhập quốc tế

5 Đóng góp mới của luận án

- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến công nghiệp văn hóa và lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp HồChí Minh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) vàhội nhập quốc tế hiện nay Từ đó dự báo xu hướng phát triển công nghiệp vănhóa ở Việt Nam nói chung và ở Tp Hồ Chí Minh nói riêng

- Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho các trường đạihọc, cao đẳng, các nhà nghiên cứu, cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sáchxây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án kết cấu thành 4 chương, 13 tiết Cụ thể:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận tiếp cận nghiên cứu công nghiệp văn hoá

nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Thực trạng lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí

Minh hiện nay

Chương 4: Những vấn đề đặt ra đối với phát triển nghệ thuật biểu diễn ở

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và một số khuyến nghị

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

1.1.1 Những nghiên cứu lý thuyết về công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn

Hiện nay, ngành công nghiệp văn hoá nói chung và nghệ thuật biểu diễnnói riêng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia Vì vậy, côngnghiệp văn hóa (CNVH) đã trở thành đối tượng quan tâm của các nhà khoa học

và quản lý Có thể nêu ra những công trình nghiên cứu lý luận (về khái niệm,phân loại, cấu trúc, đặc trưng, quy luật tác động… của công nghiệp văn hóa vànghệ thuật biểu diễn) tiêu biểu sau:

Trong cuốn sách nổi tiếng Dialectic of Enlightenment (Biện chứng của

Khai sáng) xuất bản năm 1947 của Adorno và Horkheimer, lần đầu tiên cụm từcông nghiệp văn hóa (cultural industry) đã được sử dụng

Theodor Adorno trong cuốn sách khác: Culture Industry Reconsidered đã

dùng khái niệm công nghiệp văn hóa thay vì khái niệm văn hóa đại chúng đểdiễn đạt thực trạng văn hóa bị biến thành hàng hóa trao đổi Adorno còn cho rằngtrong hiện tượng công nghiệp văn hóa có một khía cạnh chính trị nhất định: đảmbảo duy trì kéo dài sự phục tùng của đại chúng vào lợi ích thị trường [Dẫn theo

67, tr.33]

Ở hướng nghiên cứu về kinh tế học văn hóa, giáo sư Throsby David - một

nhà kinh tế của nước Úc, trong tác phẩm: Economics and Culture -Kinh tế học

và Văn hóa (Cambridge University Press, 2001) đã phân tích khía cạnh kinh tế

của các hoạt động văn hóa, công nghiệp sáng tạo, các dịch vụ văn hóa và bốicảnh văn hóa của kinh tế Đồng thời, ông nhấn mạnh: Các sản phẩm văn hóa với

tư cách là một loại hàng hóa có giá trị cả về kinh tế và văn hóa: Sản phẩm vănhóa có điểm giống với sản phẩm vật chất như có giá trị và giá trị trao đổi Tuynhiên, bên cạnh đó, sản phẩm văn hóa còn mang các giá trị khác như giá trị thẩm

Trang 15

mỹ, tinh thần, xã hội, lịch sử, giá trị biểu tượng [109, tr.208] Tác giả dành nhiềutrang viết để phân tích vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế, các ngành côngnghiệp văn hóa và chính sách văn hóa, giới thiệu các khái niệm về vốn văn hóa vớiphát triển bền vững, xem xét mối quan hệ giữa kinh tế và bản sắc văn hóa trong thếgiới toàn cầu hóa Ngoài ra, Throsby David còn quan tâm đến các vấn đề: nghệthuật biểu diễn, vai trò kinh tế của các nghệ sĩ, kinh tế và sự can thiệp trực tiếp trênthị trường nghệ thuật, phát triển văn hóa, chính sách văn hóa, vấn đề di sản và tínhbền vững của quá trình văn hóa Ông nhận định: bản thân mỗi loại hình nghệ thuậtđều có thể coi là một ngành công nghiệp văn hóa [109, tr.208].

Harold L Vogel1 (2001), Entertainment Industry Economics - A Guide

for Financial Analysis- Hướng dẫn phân tích tài chính cho nền công nghiệp giải trí, Cambridge University Press Tác giả của công trình đã phân tích và chứng

minh ngành công nghiệp giải trí là một trong những ngành lớn nhất của nền kinh

tế Mỹ và trong thực tế đã trở thành một trong những ngành kinh tế nổi bậc nhấttrên phạm vi toàn cầu với các sản phẩm: phim, âm nhạc, chương trình truyềnhình, phát thanh, quảng cáo, nghệ thuật biểu diễn, thể thao Bên cạnh đó, côngtrình cũng là tài liệu tham khảo hữu ích về các vấn đề về kinh tế, tài chính, sảnxuất, tiếp thị và vui chơi giải trí ở Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới đối vớicác nhà đầu tư, quản trị kinh doanh, kế toán, luật sư, nhà quản lý nghệ thuật vàđộc giả nói chung

Throsby David and Glenn A Withers: The Economics of the Performing

Arts - Kinh tế học về Nghệ thuật biểu diễn (edition 1993), Edward Arnold

(Australia) Ở công trình này, các tác giả đã đề cập đến các vấn đề chung về nghệthuật biểu diễn và hệ thống lý thuyết trong kinh tế của nghệ thuật biểu diễn

Ngoài ra, một số nước châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản,Hàn Quốc, Ấn Độ đã và đang đặt ra mục tiêu trở thành cường quốc về “côngnghiệp văn hóa” Khái niệm công nghiệp văn hóa được dùng phổ biến

Ở Hồng Kông, tư tưởng về công nghiệp văn hóa lần đầu tiên được nêu lên

do một số tổ chức phi chính phủ về văn hóa vào khoảng năm 1999 – 2000

Trang 16

Trong bản báo cáo năm 2003, định nghĩa các ngành công nghiệp văn hóa được nêurõ: “một nhóm các hoạt động kinh tế khai thác và triển khai tính sáng tạo, kỹ năng

và tài sản trí tuệ để sản xuất và phân phối các sản phẩm và dịch vụ có ý nghĩa vănhóa và xã hội, một hệ thống sản xuất thông qua đó tiềm năng tạo ra giàu có và sángtạo nghề nghiệp được thực hiện” Danh sách các ngành công nghiệp văn hóa đượcliệt kê bao gồm: quảng cáo, kiến trúc, nghệ thuật, cổ vật và đồ thủ công, thiết kế,giải trí kỹ thuật số, phim và video, âm nhạc, nghệ thuật trình diễn, xuất bản và in ấn,phần mềm và kỹ thuật máy tính, phát thanh truyền hình

Hiện nay, Hàn Quốc là một trong năm nước có ngành công nghiệp vănhóa mạnh nhất thế giới Có được điều này là vì Chính phủ Hàn Quốc khẳng địnhvăn hóa là một lĩnh vực kinh tế năng động, đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào sự

phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc Luật Phát triển Nghệ thuật và Văn hóa của

Hàn Quốc định nghĩa sản phẩm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo, được sản xuất,biểu diễn, trưng bày, mua bán và phân phối sản phẩm của các ngành công nghiệp

văn hóa Luật Xúc tiến công nghiệp văn hóa năm 1999, nêu rõ phạm vi công

nghiệp văn hóa bao gồm nghệ thuật nghe nhìn, game, âm nhạc, phát thanh truyềnhình, quảng cáo, xuất bản, thiết kế, nghề thủ công, phim đặc tả nhân vật, mỹthuật, video, phim, hoạt hình, các nội dung số hóa Phòng Chính sách văn hóa và

du lịch Hàn Quốc cũng định nghĩa công nghiệp văn hóa là “công nghiệp dịch vụ

có liên quan đến phát triển, sản xuất, chế tác, phân phối và tiêu thụ các nội dungvăn hóa” Các ngành công nghiệp đó có tính tri thức cao, dựa trên sự sử dụngcông nghệ văn hóa cho các mục đích thực tế

Ở Trung Quốc, năm 2003, Bộ Văn hóa Trung Quốc đã coi công nghiệpvăn hóa là ngành nghề mang tính chất kinh doanh, sản xuất sản phẩm văn hóa vàcung cấp dịch vụ văn hóa Công nghiệp văn hóa là khái niệm đối ứng với sựnghiệp văn hóa Hai khái niệm đó đều là bộ phận hợp thành quan trọng của xâydựng văn hóa XHCN CNVH là sản phẩm tất yếu của phát triển sức sản xuất xãhội, là sản nghiệp mới trỗi dậy, được hoàn thiện dần cùng với nền kinh tế thịtrường và phát triển mạnh mẽ cùng với sự tiến bộ không ngừng của phương thức

Trang 17

sản xuất hiện đại Về phạm vi công nghiệp văn hóa, Bộ Văn hóa Trung quốc đãđưa ra 9 loại ngành nghề lớn như ngành trình diễn, ngành tivi điện ảnh, ngànhvideo, ngành vui chơi giải trí văn hóa, ngành du lịch văn hóa, ngành văn hóamạng, ngành báo chí xuất bản, ngành cổ vật và tác phẩm văn nghệ, ngành đàotạo, bồi dưỡng nghệ thuật vào phạm vi quản lý của công nghiệp văn hóa [58,tr.85-86] Đại hội đại biểu lần thứ XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa

ra khái niệm công nghiệp văn hóa và coi đó là sự đột phá quan trọng về lý luậnvăn hóa của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Nghiên cứu về công nghiệp văn hóa không thể không kể đến những quantâm nghiên cứu của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc(UNESCO) Cùng với những vấn đề nảy sinh trong phát triển xã hội đương đại,với tư cách là một cơ quan văn hóa của Liên hợp quốc, UNESCO ngày càng cónhững quan tâm đặc biệt đến vấn đề này, cả về phương diện lý luận lẫn phươngdiện thực tiễn Từ những nhận thức mới về vai trò của văn hóa đối với sự pháttriển của các quốc gia và nhân loại nói chung, UNESCO đã đề cập đến vai tròcủa văn hóa trong những lĩnh vực cụ thể, trong đó có công nghiệp văn hóa

Trong công trình: Các ngành công nghiệp văn hóa – Tâm điểm của văn

hóa trong tương lai [116], UNESCO đã định nghĩa: “Các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hóa Các nội dung này thường được bảo vệ bởi luật bản quyền và thể hiện dưới dạng các sản phẩm hay dịch vụ” Các ngành công nghiệp văn hóa bao gồm

ngành in ấn, xuất bản, đa phương tiện, nghe nhìn, ghi âm, điện ảnh, thủ công vàthiết kế Đối với một số nước, các ngành công nghiệp văn hóa còn bao hàm kiếntrúc, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật thị giác, thể thao, sản xuất nhạc cụ, quảngcáo và du lịch văn hóa Như vậy, phạm vi của các ngành công nghiệp văn hóakhá rộng, từ những ngành mang tính truyền thống như văn hóa dân gian, thủcông, lễ hội, văn học, nghệ thuật biểu diễn đến các ngành mang nặng tính côngnghệ như điện ảnh, truyền thông, phim hoạt hình kỹ thuật số, trò chơi điện tử vàcác ngành thiên về dịch vụ như kiến trúc và quảng cáo

Trang 18

Các ngành công nghiệp văn hóa có sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa, nghệthuật, kinh tế và công nghệ Các ngành này đều sáng tạo, sản xuất và phân phốicác sản phẩm và dịch vụ sử dụng nguồn lực trí tuệ của con người như nhữngnguyên liệu đầu vào then chốt.

Vai trò quan trọng của văn hóa đã được thể hiện qua bốn mục tiêu cuộc

vận động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa: (1) Với khẩu hiệu “Văn hóa vì

phát triển” đã khẳng định vị trí quan trọng của văn hóa trong phát triển, tìm mọi

phương thức có thể cho sự phù hợp giữa sản xuất và sáng tạo, để kinh tế có thểbắt rễ trong văn hóa; (2) Tôn trọng tất cả các nền văn hóa của các dân tộc, tuânthủ nguyên tắc bình đẳng và khuyến khích sự tự khẳng định, tự làm phong phúbản sắc văn hóa dân tộc trong sự thống nhất với tinh hoa văn hóa và văn minhnhân loại; (3) Đảm bảo sự tham gia của mọi lực lượng vào đời sống văn hóa, tạo

ra càng nhiều cơ hội và điều kiện để từng cá nhân và mỗi cộng đồng tự do hưởngthụ và sáng tạo văn hóa; (4) Đẩy mạnh hợp tác văn hóa quốc tế với luận điểmquan trọng: “Nhận thức về vị trí và vai trò của văn hóa trong phát triển, chúng tacần vượt lên cách tiếp cận kinh tế học thuần túy và tìm ra hàng trăm phương thức

có thể được để cho tính công nghiệp và tính sáng tạo có thể gắn bó, móc nối vớinhau và để cho kinh tế có thể bắt rễ trong văn hóa”

Theo UNESCO, sản phẩm văn hóa là kết quả của hoạt động sáng tạo, sảnxuất, khai thác giá trị văn hóa trong ngành công nghiệp văn hóa Sản phẩm vănhóa được lưu thông, buôn bán trên thị trường nên còn được gọi là hàng hóa vănhóa UNESCO cho rằng: hàng hóa văn hóa là “các sản phẩm tiêu dùng chứađựng ý tưởng, biểu tượng và lối sống Chúng có chức năng thông báo hoặc giảitrí, đóng góp cho việc xây dựng bản sắc văn hóa cộng đồng và ảnh hưởng đếncác tập quán văn hóa” Sản phẩm văn hóa mang tính phi vật thể Điều này có thểthấy rõ trong các sản phẩm văn hóa nghệ thuật thuộc loại hình nghệ thuật biểudiễn Các sản phẩm văn hóa khác như tác phẩm hội họa, điêu khắc, trưng bày sắpđặt tuy có vỏ vật chất để biểu hiện nhưng phần quan trọng vẫn là nội dung, ýtưởng sáng tạo, hình tượng nghệ thuật mang tính biểu cảm và phi vật thể

Trang 19

1.1.2 Những nghiên cứu về thực tiễn công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn

Ngoài nghiên cứu về lý luận, các nhà khoa học còn quan tâm đến thựctiễn Đó là chính sách phát triển, thực tiễn phát triển, kinh nghiệm quản lý, giảipháp phát triển CNVH và nghệ thuật biểu diễn… Có thể kể ra một số công trìnhtiêu biểu sau:

James Heilbrun and Charles M.Gray (1993), The Economics of Art and

Culture - An American Perspective - Kinh tế học về Nghệ thuật và Văn hóa – Một triển vọng ở Mỹ, Cambridge University Press Các vấn đề được bàn đến

trong công trình này là: Vấn đề tài chính, kinh tế của mỹ thuật và nghệ thuật biểudiễn ở Hoa Kỳ; chính sách công và vai trò của nó đối với các loại hình văn hóanghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn; một số khái niệm, lý thuyết liên quanđến hoạt động biểu diễn nghệ thuật; vấn đề sản xuất và tiêu thụ các sản phẩmnghệ thuật biểu diễn; vấn đề tài chính và thị trường nghệ thuật trong xã hộiđương đại; dự báo tương lai phát triển nghệ thuật biểu diễn tại Hoa Kỳ

Throsby David and Glenn A Withers: The Economics of the Performing Arts

- Kinh tế học về Nghệ thuật biểu diễn (edition 1993), Edward Arnold (Australia) Ở

công trình này, ngoài nghiên cứu về lý luận kể trên, các tác giả còn phân tích một sốkinh nghiệm về chính sách công của nghệ thuật biểu diễn và các quan điểm về chínhsách công Phát triển các lý thuyết cơ bản về hành vi của các tổ chức nghệ thuật,người tiêu dùng và khách hàng trung thành; kiểm chứng tính đúng đắn của những lýthuyết này với thực tiễn Công trình đã trở thành một trong những tài liệu tham khảoquan trọng trong lĩnh vực kinh tế văn hóa

Cùng với Throsby David, giáo sư Victor A Ginsburgh - một nhà kinh tếhọc người Bỉ, gốc Áo, chuyên nghiên cứu các lý thuyết về kinh tế vi mô, văn hóa

kinh tế đã cho ra đời tác phẩm: Handbook of the Economics of Art and Culture

-Sổ tay Kinh tế học Văn hóa và Nghệ thuật Công trình gồm 05 phần với các nội

dung chuyên sâu như: Giá trị và việc xác định giá trị trong nghệ thuật và vănhóa; cung, cầu; tiêu dùng và đầu tư; đổi mới và thay đổi công nghệ, thương mại,phát triển đa dạng văn hóa và các vấn đề văn hóa rộng hơn

Trang 20

Ruth Towse là giáo sư đầu ngành của lĩnh vực kinh tế và công nghiệp vănhóa, bà đã tham gia giảng dạy ở rất nhiều trường đại học nổi tiếng ở trên thế giới

về những lĩnh vực này vừa xuất bản cuốn sách: A Handbook of Cultural

Economic: Sổ tay kinh tế học văn hóa (2011) Ở công trình này, giáo sư đã tập

trung phân tích những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế văn hóa trong xã hội đươngđại; Phân tích những tác động của công nghệ mới đối với ngành công nghiệpsáng tạo Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích những tính chất kinh tế của hoạtđộng văn hóa, nghệ thuật như: vấn đề đấu giá sản phẩm, thị trường tiêu thụ sảnphẩm văn hóa nghệ thuật, giá cả, thị trường lao động của các nghệ sĩ, sáng tạo vàsáng tạo kinh tế, giá trị văn hóa, toàn cầu hóa và thương mại quốc tế, internet,phương tiện truyền thông kinh tế, bảo tàng, các tổ chức phi lợi nhuận, biểu diễnnghệ thuật, xuất bản, kinh tế phúc lợi Đây là cuốn sách thực sự có giá trị đối vớinhững người nghiên cứu về lĩnh vực công nghiệp văn hóa và những vấn đề liênquan đến kinh tế văn hóa

Harry Hillman, Joni M.Cherbo2 and Margaret J Wyszomirski3 (2000)

The Public Life of the Arts in America - Đời sống công cộng của nghệ thuật ở

Mỹ, (Nxb Rutgers University Press, New York) Công trình gồm 2 phần: Phần

I:“Exploring a changing landscape”, Phần II: “The public and the arts”.Công

trình này đã có những đóng góp quan trọng trong hệ thống tài liệu về nghệ thuật

ở Mỹ Công trình đã cung cấp nhiều thông tin khoa học có giá trị như: 96% ngườidân Mỹ liên quan đến hoạt động nghệ thuật dưới nhiều hình thức trực tiếp hay giántiếp: là khán giả, là những người có sở thích, hoặc thông qua truyền hình, ghi âm,video, Internet Công trình cũng cho thấy nền công nghiệp văn hóa đã đóng gópquan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế Mỹ Bên cạnh đó, nền công nghiệp vănhóa Mỹ cũng đang tìm cách để ngày càng phục vụ những lợi ích công ngày càng tốthơn Các tác giả công trình cũng cho rằng các chính sách công của chính phủ sẽ tácđộng đến nghệ thuật và văn hóa Mỹ Vì vậy, theo họ, Mỹ nên tiếp tục hỗ trợ nghệthuật để lĩnh vực này không ngừng phát triển Điều này hỗ trợ góp phần nâng caochất lượng cuộc sống của cộng đồng, duy trì sự

Trang 21

sáng tạo của các nghệ sĩ và các tổ chức nghệ thuật ở Mỹ Công trình đã khẳngđịnh: một ngành công nghiệp liên quan đến hai yếu tố cơ bản là bên cung (sảnxuất) và bên cầu (tiêu thụ) trong cán cân kinh tế Các ngành công nghiệp đượctạo nên do nhu cầu của xã hội và cung ứng cho thị trường sản phẩm, dịch vụ đểđáp ứng nhu cầu đó Tương tự như vậy, ngành công nghiệp văn hóa ra đời donhu cầu văn hóa, tinh thần của xã hội.

Với cách tiếp cận văn hóa là một ngành công nghiệp, Richard E Caves chuyên gia đầu ngành của Đại học Harvard về lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,công nghiệp văn hóa đã xuất bản cuốn sách: Creative Industries: Contracts Between

-Art and Commerce, Ngành công nghiệp sáng tạo: khế ước giữa nghệ thuật và

thương mại, Harvard University Press (2000) Nghiên cứu này phân tích vấn đề tổ

chức của các ngành công nghiệp sáng tạo bao gồm nghệ thuật thị giác và biểu diễn,phim, nhà hát, xuất bản sách Ông cho rằng, việc tổ chức kinh doanh của các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp sáng tạo cũng được thực hiện theo mộtlogic, quy trình giống như các lĩnh vực kinh doanh khác

Công trình cung cấp một cách toàn diện các vấn đề cốt lõi trong quản lý

nghệ thuật biểu diễn là: Theatre Management: Producing and Managing the

Performing Arts - Quản lý Nhà hát: Sản xuất và quản lý nghệ thuật biểu diễn của

David M Conte4and Stephen Langley, xuất bản năm 2007 Theo các tác giả này,vấn đề cốt lõi trong quản lý nghệ thuật biểu diễn là sản xuất giới thiệu các sảnphẩm nghệ thuật đáp ứng nhu cầu của khách hàng và phù hợp với tiềm lực củađơn vị nghệ thuật; vấn đề tìm kiếm và phát triển thị trường khán giả, tài chính,ngân sách, quan hệ công chúng, tính sáng tạo và xây dựng đội ngũ nguồn nhânlực của đơn vị nghệ thuật; những nhiệm vụ, tổ chức và cơ cấu pháp lý, địa điểmthực hiện những dự án nghệ thuật biểu diễn, phòng vé và công tác bán vé; vấn đềgây quỹ, tiếp thị, quảng cáo… Trong việc cập nhật một cách cẩn thận, kỹ lưỡngnhững thông tin từ các nhà quản lý nhà hát, quản lý nghệ thuật biểu diễn tại Mỹ,công trình giải quyết nhu cầu và mối quan tâm đối đầu với các nhà quản lý nghệthuật trong thế kỷ XXI Đây là một tài liệu tham khảo không thể thiếu cho tất cảcác nhà quản lý nghệ thuật và việc phát triển công nghiệp nghệ thuật biểu diễn

Trang 22

Một công trình khác nghiên cứu về thị trường và chiến lược phát triển

khán giả: “Who is my maket? Aguide to researching audience and visitors in the

ats” (Ai là thị trường của tôi? Hướng dẫn nghiên cứu tác giả và du khách trong

các tổ chức nghệ thuật) của Helen Close và Robert Dovovan, xuất bản năm 1998.Đây là công trình đầu tiên về nghiên cứu thị trường khán giả tại các tổ chức vănhóa nghệ thuật Công trình này gồm 4 phần Ở phần đầu, các tác giả đưa ra kháiniệm phát triển khán giả và phân tích sự cần thiết nghiên cứu phát triển thịtrường khán giả Trong phần hai, các tác giả trình bày các nguyên tắc cơ bản củaquá trình nghiên cứu thị trường như: phương pháp và loại hình nghiên cứu, cáchxây dựng, thiết kế bảng hỏi nghiên cứu định lượng, phân tích các dữ liệu thu thậpđược và trình bày kết quả nghiên cứu Phần tiếp theo là một số vấn đề trong quátrình thực hiện nghiên cứu thị trường; nghiên cứu lợi thế cạnh tranh, gây quỹ vàtài trợ, lập hồ sơ dữ liệu khách hành và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định muahàng của khán giả ở Australia…

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến một số quan điểm và chínhsách văn hóa liên quan đến công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa của một sốnước trên thế giới Tiêu biểu như ở nước Anh – một trong những quốc gia đi đầutrong phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo và văn hóa trên thế giới Chínhphủ Anh đã có nhiều chính sách hỗ trợ tích cực cho phát triển các ngành côngnghiệp sáng tạo, điều tra nhu cầu, khảo sát hiện trạng, từ đó hoạch định chínhsách và phối hợp giữa nhiều ngành, nhiều lực lượng xã hội trong đầu tư, hỗ trợcác doanh nghiệp ở tầm vĩ mô của Nhà nước Bên cạnh đó, còn khuyến khích sựnăng động, chủ động của các doanh nghiệp và tạo điều kiện cho các doanhnghiệp hình thành và hoạt động một cách tự chủ và linh hoạt Ở Pháp, chính phủPháp đã phát huy tích cực vai trò của nhà nước trong phát triển các ngành côngnghiệp văn hóa Với các chính sách về tài chính như chính sách thuế, chính sáchđầu tư cho văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa Pháp có thêm nhiều nguồnlực để phát triển Tuy nhiên, Pháp luôn nhấn mạnh bản chất đặc biệt của sảnphẩm văn hóa và có chủ trương đối xử với sản phẩm văn hóa như một loại văn

Trang 23

hóa đặc biệt khác với các hàng hóa thông thường Khác với Pháp, Mỹ quan niệmvăn hóa là một loại sản phẩm hàng hóa, tập trung đầu tư phát triển công nghiệpvăn hóa, đặc biệt là điện ảnh và âm nhạc Mỹ không có chính sách văn hóa giốngnhư các nước Châu Âu Tổng thống hay Quốc hội, chính quyền Trung ươngkhông trực tiếp can thiệp vào chính sách văn hóa cụ thể Nhà nước chỉ thông quaLuật công pháp quy định thành lập Quỹ quốc gia về văn hóa và nhân văn, hỗ trợvật chất, tạo môi trường khuyến khích tự do trong sáng tạo Hay như ở HànQuốc, đặc điểm nổi bật nhất hiện nay trong chính sách văn hóa của Hàn Quốc là

sự dịch chuyển từ chỗ quá trình hoạch định chính sách văn hóa hoàn toàn tậptrung trong tay cơ quan quản lý nhà nước trung ương sang phân cấp, phân quyềncho các chính quyền địa phương với sự tham gia tích cực của xã hội dân sự, baogồm các đơn vị, tổ chức văn hóa – nghệ thuật, các nhà nghiên cứu văn hóa, các

tổ chức phi chính phủ và giới văn nghệ sĩ trong quá trình nghiên cứu, hình thành,xây dựng và triển khai thực hiện chính sách văn hóa

Đánh giá chung:

Có thể thấy, cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã có khá nhiềucác công trình nghiên cứu về công nghiệp văn hóa cũng như nghệ thuật biểudiễn Các vấn đề được các học giả nghiên cứu tập trung ở một số mặt:

Về nghiên cứu lý thuyết: Xuất phát từ các góc độ tiếp cận cũng như điều

kiện lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa khác nhau nên các nhà nghiên cứu về côngnghiệp văn hóa đều đưa ra những cách hiểu khác nhau về quan niệm cũng nhưcách phân loại lĩnh vực này Vẫn còn nhiều tranh luận xoay quanh tên gọi: côngnghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa và sáng tạo, côngnghiệp nghệ thuật, công nghiệp bản quyền, công nghiệp giải trí Mặc dầu têngọi khác nhau nhưng tất cả các quốc gia đều nhìn nhận công nghiệp văn hóa làmột ngành công nghiệp Nghĩa là, công nghiệp văn hóa cũng bao gồm các hoạtđộng sản xuất, khai thác, phân phối và tiêu thụ sản phẩm như các ngành côngnghiệp khác Chỉ khác là đối tượng của quá trình sáng tạo, sản xuất và khai thác

ở đây không phải là sản phẩm vật chất thông thường mà là sản phẩm văn hóa

Trang 24

Sở dĩ, UNESCO và các nước như Phần Lan, Tây Ban Nha, Đức, HànQuốc, Nhật Bản, Trung Quốc sử dụng khái niệm “các ngành công nghiệp vănhóa” (Cultural Industries) vì quan niệm đây là ngành công nghiệp kết hợp sựsáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hóa;những sản phẩm và dịch vụ này có ý nghĩa văn hóa xã hội cao Anh, Australia,NewZealand, Singapore sử dụng khái niệm “các ngành công nghiệp sáng tạo”(Creative Industries) bởi họ quan niệm đây là những hoạt động bắt nguồn từ sựsáng tạo, kỹ năng và năng khiếu của cá nhân, có tiềm năng tạo ra của cải qua quátrình khai thác quyền sở hữu trí tuệ nên gọi là “công nghiệp sáng tạo” Ngoài ra,các nước này còn sử dụng khái niệm “công nghiệp văn hóa và sáng tạo”(Cultural and Creative Industries), “nền kinh tế sáng tạo và văn hóa” để nhằmnhấn mạnh yếu tố sáng tạo trong sản xuất văn hóa, nghệ thuật Một số nhànghiên cứu Mỹ và Canađa thì dùng khái niệm "công nghiệp nghệ thuật” (ArtsIndustries) vì cho rằng đây là ngành sử dụng và tạo ra sản phẩm nghệ thuật; sángtạo, sản xuất và sử dụng các sản phẩm nghệ thuật nhằm mục đích phục vụ giải trícao Công nghiệp nghệ thuật có thể coi là bộ phận trung tâm của công nghiệpvăn hóa Với cách tiếp cận ở góc độ sở hữu trí tuệ, trong đó nhấn mạnh trọng tâm

là các nội dung bản quyền – kiểu mẫu – nhãn hiệu thương mại - thiết kế

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới và Hồng Kông lại quan niệm đây là “ngànhcông nghiệp bản quyền” (Copyright Industries) Theo quan điểm này, các ngànhcông nghiệp bản quyền được hiểu là tất cả các ngành công nghiệp sáng tạo ra sảnphẩm bản quyền hoặc sản phẩm liên quan như những sản phẩm cơ bản, cốt lõicủa ngành Quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của UNESCO: khi đềcập đến công nghiệp văn hóa không thể không nói đến luật bản quyền trong sửdụng và bảo hộ các sản phẩm văn hóa

Ngoài những tác phẩm đề cập đến khái niệm khác nhau liên quan đến côngnghiệp văn hóa, các học giả còn khẳng định vai trò của ngành công nghiệp văn hóa

và phân loại các ngành công nghiệp văn hóa Với tư cách là một cơ quan văn hóacủa Liên Hợp Quốc, UNESCO đã đưa ra những quan điểm, chủ trương, chính sáchcũng như khẳng định tầm quan trọng của việc phát triển công nghiệp văn hóa

Trang 25

Riêng về khái niệm công nghiệp nghệ thuật biểu diễn, cho đến nay chưathấy đề cập ở công trình nghiên cứu nào Tuy nhiên, tiếp cận ở quy trình hoạtđộng loại hình nghệ thuật biểu diễn như các ngành công nghiệp văn hóa cụ thểthì đã có rất nhiều tác giả đề cập tới Cũng như các nhà nghiên cứu đã bàn nhiềuđến những vấn đề chung của nghệ thuật biểu diễn và hệ thống lý thuyết trongkinh tế của nghệ thuật biểu diễn; vai trò của nghệ thuật biểu diễn.

Về nghiên cứu thực tiễn: Các công trình nghiên cứu đã phân tích chính

sách công của chính phủ trong việc tác động đến lĩnh vực công nghiệp văn hóa,lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn nhằm đáp ứng các nhu cầu văn hóa, tinh thần củangười dân trong xã hội, nhấn mạnh khía cạnh kinh tế của các hoạt động văn hóa,mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, tính đặc thù của các sản phẩm hàng hoá vănhóa, thị trường văn hoá phẩm Vấn đề chi phí, ngân sách, thị trường, tổ chức hoạtđộng, xây dựng thương hiệu, tiếp thị và phát triển khán giả…trong công nghiệpvăn hóa, đặc biệt là lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn đều được các tác giả quan tâm.Ngoài ra, các nhà khoa học còn phân tích các quan điểm về chính sách công, vềthực tiễn phát triển, quản lý phát triển hoạt động nghệ thuật biểu diễn và một sốkinh nghiệm ở các nước về lĩnh vực này

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Ở Việt Nam, công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn nhìn nhận dướigóc độ công nghiệp văn hóa đến nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

Để có cách nhìn hệ thống, tác giả luận án bước đầu tổng quan về những côngtrình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lý thuyết và những vấn đề thực tiễn vềcông nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn trong thời gian qua

1.2.1 Những nghiên cứu lý thuyết về công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn

Có khá nhiều nghiên cứu góp phần làm rõ hơn khái niệm, đặc trưng, cấutrúc và vai trò của công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn gắn với đặc thùcủa Việt Nam, như: đề tài khoa học, sách, hội thảo khoa học và các bài viết:

Trang 26

Đề tài khoa học: “Nghiên cứu xây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa

ở Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa” (Sở Văn hóa

Thông tin Hà Nội 01X-12/01-2006-3 do PGS,TS Phạm Duy Đức làm chủ

nhiệm) Đề tài đã làm rõ nhận thức lý luận về công nghiệp văn hóa: quan niệm,

cơ cấu, vai trò và những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng và phát triển côngnghiệp văn hóa ở Hà Nội; đánh giá thực trạng công nghiệp văn hóa của Thủ đô

từ 1990 đến nay qua một số lĩnh vực cơ bản: công nghiệp báo chí, công nghiệpphát thanh truyền hình, công nghiệp xuất bản, công nghiệp băng đĩa, công nghiệpsản xuất đồ chơi và các phương tiện phục vụ khu vui chơi giải trí ở Hà Nội hiệnnay Từ đó công trình đưa ra những phương hướng và giải pháp tạo động lực choviệc xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hóa nhằm bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa của Thủ đô

Đề tài khoa học cấp Bộ (2009): Phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt

Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp do PGS,TS Nguyễn Thị Hương, Viện

Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minhlàm chủ nhiệm Ở đề tài này, tác giả đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu về côngnghiệp văn hóa từ các góc độ khác nhau, khái quát quan niệm, bản chất, cấu trúccủa công nghiệp văn hóa, từ đó đưa ra quan niệm công nghiệp văn hóa và làm rõvai trò của công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội và xây dựngnền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đồng thời đề tài khảo sát, đánh giáthực trạng phát triển công nghiệp văn hóa ở nước ta hiện nay trên một số lĩnhvực cơ bản, dự báo xu hướng và đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằmphát triển lĩnh vực này

Đề tài khoa học cấp Nhà nước (chưa nghiệm thu): Định hướng phát triển

công nghiệp văn hóa dưới góc nhìn văn hóa và tác động của nó đến thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế do

PGS,TS Nguyễn Ngọc Hà, Học viện Chính trị khu vực I làm chủ nhiệm Ở đề tàinày, các tác giả đã làm rõ một số khái niệm liên quan đến CNVH ở trên thế giới

và ở Việt Nam; cơ cấu, vai trò, chức năng của CNVH; vấn đề thị trường hàng

Trang 27

hóa và CNVH Điểm mới của đề tài này là đã nêu lên được những tác động củaCNVH đối với thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay – nhìn từ góc độ văn hóa Những tácđộng theo phương thức: trực tiếp, gián tiếp; theo ý nghĩa: tích cực, tiêu cực vàđặc biệt theo lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ Qua đó, nghiêncứu sinh (NCS) hiểu rõ hơn về tác động của CNVH đối với xã hội, nhất là giớitrẻ dưới góc nhìn văn hóa học.

Cuốn sách: Văn hóa, tiếp cận lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Tri

Nguyên xuất bản năm 2006 Trong công trình này, tác giả cho rằng công nghiệpvăn hóa là một trong những vấn đề của văn hóa đương đại, gắn liền với quyền sởhữu trí tuệ

Giáo trình các ngành công nghiệp văn hóa (giáo trình dành cho sinh viên

và cao đẳng các trường văn hóa – nghệ thuật) (2009) của tác giả Phạm BíchHuyền, Đặng Hoài Thu (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) Trong cuốn giáotrình này, các tác giả đã trình bày những kiến thức và kỹ năng cơ bản về ngànhcông nghiệp văn hóa như khái niệm, quy trình sáng tạo – phân phối của côngnghiệp văn hóa, đặc điểm, vai trò của các ngành này đối với sự phát triển kinh tế

- xã hội Ngoài ra, giáo trình còn nêu lên bối cảnh, xu hướng phát triển của côngnghiệp văn hóa và chính sách phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của một

số nước

Cuốn sách: Quan hệ giữa xây dựng văn hóa và phát triển kinh tế ở nước

ta hiện nay (2011) của tác giả Mai Hải Oanh đã dành hẳn một phần để nói về

kinh tế văn hóa và việc xây dựng ngành công nghiệp văn hóa ở nước ta Trong

đó, tác giả đã đưa ra khái niệm công nghiệp văn hóa và cơ cấu công nghiệp vănhóa; phân tích những đặc trưng của công nghiệp văn hóa và những yếu tố thúcđẩy việc hình thành các loại hình công nghiệp văn hóa ở nước ta; nguyên tắc cơbản và tư tưởng đối sách của phát triển công nghiệp văn hóa Cũng trong cuốnsách này, tác giả đã nêu lên những cơ hội và thách thức phát triển công nghiệpvăn hóa cũng như những tồn tại và bất cập của công nghiệp văn hóa ở nước tahiện nay

Trang 28

Cuốn sách: Văn hóa học – những bài giảng do A.A.Radughin làm chủ

biên (Viện Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004) đã có một phần phân tích văn hóatinh hoa và văn hóa đại chúng; những tiền đề kinh tế và chức năng xã hội, cơ sởtriết học của văn hóa đại chúng Mặc dầu tác giả chưa nêu ra khái niệm côngnghiệp văn hóa nhưng qua công trình này, người đọc có thể hiểu hơn về đặcđiểm của công nghiệp văn hóa

Hội thảo về: Công nghiệp văn hóa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp do

Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VH,

TT & DL) tổ chức ngày 30/8/2010 ở Hà Nội Tại hội thảo, các đại biểu đã tranhluận sôi nổi và tỏ ra rất hào hứng với lĩnh vực khá mới mẻ này Bài tham luận:

“Một vài nét về công nghiệp văn hóa ở Việt Nam” của TS Nguyễn Danh Ngà

(Vụ Kế hoạch- Tài chính, Bộ VH, TT & DL) đã nhấn mạnh tầm quan trọng củaviệc phát triển công nghiệp văn hóa ở nước ta và khẳng định phát triển côngnghiệp văn hóa là yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp xây dựng và phát triển vănhóa hiện nay Tác giả bài viết đã đưa ra khái niệm công nghiệp văn hóa và cáclĩnh vực của công nghiệp văn hóa: "CNVH là việc sản xuất, tái sản xuất vàtruyền bá các dịch vụ văn hóa và sản phẩm văn hóa được tạo ra bằng phươngthức công nghiệp hóa, tin học hóa, thương phẩm hóa lấy sự thỏa mãn của ngườidân làm mục tiêu". Nó bao gồm một số lĩnh vực như: báo chí, xuất bản, phimảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh " Về lĩnh vực nghệ thuật biểudiễn tác giả Nguyễn Danh Ngà chủ yếu đề cập đến những vấn đề đặt ra hiện nay

đó là: Một số đơn vị còn mang tính thương mại tạo ra những tác phẩm nghệ thuậtthiếu chất lượng Đội ngũ tác giả, đạo diễn, nhạc sĩ, biên đạo, nghệ sĩ tài năng trẻđang trong tình trạng đáng báo động Đội ngũ quản lý các đơn vị nghệ thuật vừathiếu, vừa yếu Còn thiếu những cơ chế, chế độ chính sách đặc thù để tạo hànhlang pháp lý, khuyến khích các mặt tích cực và ngăn chặn các mặt tiêu cực trongviệc quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn như hiện nay Đồng thời, tác giảcũng đã nêu lên một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới, từ đó rút ra bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam và những giải pháp nhằm phát triển một nềncông nghiệp văn hóa Việt Nam

Trang 29

Tham luận “Ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam: Thực trạng và một số

vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực âm nhạc” của TS Phạm Việt Long (Tạp chí Văn

hiến) đã nêu bật thực trạng của ngành công nghiệp văn hóa trên lĩnh vực âm

nhạc Theo tác giả, trong thời gian qua, ở Việt Nam lĩnh vực này chúng ta đã đạtđược một số thành công bước đầu đó là thực hiện xã hội hóa khá mạnh mẽ đểsản xuất ra các sản phẩm phục vụ xã hội Sản phẩm công nghệ âm nhạc phongphú, đa dạng, số lượng nhiều Các đơn vị ngoài quốc doanh trên lĩnh vực nàyvươn lên nhanh chóng Tuy nhiên, tác giả dành nhiều số trang đánh giá nhữnghạn chế, bất cập của công nghiệp âm nhạc thời gian qua Từ đó, tác giả đề cậpđến những vấn đề đặt ra trong sản xuất, kinh doanh cũng như quản lý thị trường

âm nhạc hiện nay ở nước ta Ở một công trình khác khi bàn đến khái niệmCNVH, tác giả này cho rằng: "Nói đến công nghiệp văn hoá thì người ta sợ rằng

nó trở thành kỹ nghệ, công nghệ đơn thuần Nhưng thực sự thì nó không phảivậy Điều cốt lõi của công nghiệp văn hoá là hình thành một hệ thống giúp cho

sự sáng tạo và những người chuyển tải sự sáng tạo đó đến với công chúng mangtính chuyên nghiệp, chứ không manh mún như hiện nay"

Hội thảo khoa học: Công nghiệp văn hóa: vai trò trong nền kinh tế và

khung chính sách phù hợp với phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam ngày

13/5/2013 tại Hà Nội đã được các chuyên gia trong và ngoài nước am hiểu vềlĩnh vực này trao đổi sôi nổi về vai trò, giá trị của công nghiệp văn hóa và nhữngkinh nghiệm trên thế giới để xây dựng, phát triển ngành công nghiệp văn hóa ởViệt Nam

Dưới góc nhìn lịch sử, tác giả Nguyễn Ngọc Hà trong bài viết: “Tiếp tụcđổi mới tư duy, định hình quan niệm về phát triển các ngành công nghiệp văn

hóa ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học – Công nghệ đã hệ thống lại

những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong suốt quá trình từ đổimới đến nay liên quan đến vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã

hội; thị trường văn hóa và các chính sách văn hóa Từ Nghị quyết Trung ương 5

Trang 30

khoá VIII (1998), Hội nghị Trung ương 10, khoá IX (2004), Nghị quyết số NQTW của Bộ Chính trị (6-2008) " Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới ", Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020

23-(2009) đến Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (tháng 5-2014) ra Nghị quyết về xây

dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Lần đầu tiên trong văn kiện Đảng xuất hiện khái niệm "công

nghiệp văn hóa" Một trong 5 mục tiêu cụ thể của Nghị quyết là: Xây dựng thịtrường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cườngquảng bá văn hóa Việt Nam Một trong những nhiệm vụ quan trọng, được Nghị

quyết nhấn mạnh là Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn

thiện thị trường văn hóa Tác giả bài viết cho rằng: chủ trương phát triển công

nghiệp văn hóa ở Việt Nam là kết quả một quá trình đổi mới tư duy của Đảng vềvăn hoá gắn với đổi mới tư duy kinh tế và xây dựng nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Ngoài ra còn có một số bài viết đăng trên tạp chí như: “Xây dựng và phát

triển ngành công nghiệp văn hóa ở nước ta” của tác giả Tô Huy Rứa, Tạp chí

Cộng sản số 1/2006; “Xây dựng ngành công nghiệp văn hóa ở nước ta” của tác

giả Mai Hải Oanh, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 6/2006; "Công nghiệp văn hóa” đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị số 12/2014 của tác giả Đoàn Minh

Huấn và Nguyễn Ngọc Hà Gần đây có bài viết: “Công nghiệp sáng tạo và văn

hóa” của tác giả Trần Nho Thìn, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2 (158)/2015 đã

phân tích khái niệm công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo, làm rõ đặcđiểm và vai trò của công nghiệp văn hóa đối với sự phát triển bền vững xã hội;khẳng định công nghiệp văn hóa – công nghiệp sáng tạo là một hiện tượng mớicủa kỷ nguyên toàn cầu hóa và phát triển vũ bão của công nghệ

1.2.2 Những công trình nghiên cứu về thực tiễn công nghiệp văn hóa và nghệ thuật biểu diễn

Cuốn sách: Chính sách phát triển văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện

chính sách văn hóa ở Việt Nam (2009), tác giả Nguyễn Văn Tình đã đề cập đến

Trang 31

chính sách phát triển công nghiệp văn hóa của một số nước như Nhật Bản, HànQuốc, Trung Quốc, khẳng định phát triển công nghiệp văn hóa đang là xu thếlớn và quan trọng trong chính sách văn hóa của các nước trên thế giới.

Ở cuốn sách khác: Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội

nhập của Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương xuất bản

năm 2009 đã đề cập đến những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách trong đời sốngvăn học, nghệ thuật nước ta hiện nay, cho thấy rõ những bước tiến, những thànhtựu đã đạt được, những thách thức, trăn trở, những việc cần phải làm, phải rútkinh nghiệm… để văn học, nghệ thuật phát triển xứng đáng với dân tộc và thờiđại Trong cuốn sách này có một số bài viết của những nhà lý luận cũng như cácnhà hoạt động thực tiễn về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn Trong đó, phải kể đếnbài viết của nghệ sĩ nhân dân (NSND) Chu Thúy Quỳnh (Chủ tịch Hội Nghệ sĩ

múa Việt Nam) về: “Nghệ thuật biểu diễn trong cơ chế thị trường và hội nhập”.

Ở bài viết này, tác giả đã đề cập đến yêu cầu văn hóa, nghệ thuật phục vụ xã hội,nhu cầu hưởng thụ ngày càng nhiều, làm thế nào để nghệ thuật biểu diễn đi vàonền kinh tế thị trường được phát huy Theo tác giả, cần phải xã hội hóa các bộmôn nghệ thuật về lâu dài trong kinh tế thị trường, đây là điều rất nên và có tínhkhả thi Ngoài ra, tác giả còn lưu ý đến vấn đề hội nhập và cho rằng đây là mộtsách lược đúng đắn để học tập, tự khẳng định nghệ thuật nước nhà trước xu thếtoàn cầu hóa và hội nhập mạnh mẽ hiện nay Một số bài viết khác như: “Sânkhấu Việt Nam đương đại - bức tranh nhiều màu nhưng không đậm nét” củaNSUT Lê Chức (Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam),

“Về tình hình âm nhạc hiện nay và những vấn đề bức xúc đang tồn tại” của Nhạc

sĩ Đỗ Hồng Quân (Chủ tịch Hội nhạc sĩ Việt Nam)… đã góp phần vẽ lên bứctranh về thực trạng nghệ thuật biểu diễn ở nước ta hiện nay Đây quả là nhữngcăn cứ đáng lưu tâm khi thực hiện luận án này

Trong cuộc hội thảo khoa học: Công nghiệp văn hóa: vai trò trong nền

kinh tế và khung chính sách phù hợp với phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam ngày 13/5/2013 tại Hà Nội, bà Almuth Meyer Zollitsch, Viện trưởng Viện

Trang 32

Goethe nêu rõ: Việt Nam cần có một đánh giá về tiềm năng các ngành côngnghiệp văn hóa, ở đó xác định được nhu cầu thị trường, người tiêu dùng và chínhsách nhà nước, từ đó xác định được loại hình mũi nhọn ưu tiên cho ngành côngnghiệp văn hóa Các nhà khoa học Việt Nam trong buổi hội thảo cũng trăn trởlàm sao có được các sản phẩm văn hóa chất lượng, vừa đưa lại nguồn thu, vừa là

sứ giả quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam

Hội thảo về Văn học nghệ thuật 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương

5 (khóa VIII): Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị

tư tưởng và nghệ thuật cao - Thực trạng và giải pháp của Hội đồng Lý luận, phê

bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2013 đã có khánhiều những bài viết của những người nghiên cứu chuyên sâu về văn học, nghệthuật Bài tham luận: “Cần thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng,

Nhà nước để thúc đẩy nghệ thuật sân khấu tạo nên những tác phẩm có giá trị tư

tưởng và nghệ thuật cao” của NSND Lê Tiến Thọ (Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân

khấu Việt Nam) đã nhận định: văn học nghệ thuật nói chung, nghệ thuật sânkhấu nói riêng là bộ phận quan trọng góp phần làm nên bản sắc văn hóa của mỗidân tộc Tác giả bài viết đã đánh giá về sáng tác và biểu diễn trên lĩnh vực sânkhấu trong thời gian qua, tìm ra nguyên nhân của thực trạng còn ít những tácphẩm sân khấu có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao (theo tác giả, có 5 nguyênnhân: từ đội ngũ văn nghệ sĩ; từ hoạt động lý luận phê bình sân khấu; từ quản lýNhà nước; từ tác động của cơ chế thị trường; từ tác động giao lưu, hội nhập vănhóa) Từ đó tác giả đề xuất những chính sách nhằm thúc đẩy nghệ thuật sân khấusáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng nghệ thuật cao, kiến nghị các giảipháp khả thi để xây dựng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà phát triển

Đề tài khoa học của Bộ Văn hóa - Thông tin (2004) về: Khảo sát thực trạng

hoạt động marketing trong nghệ thuật biểu diễn tại Nhà hát Tuổi trẻ Hà Nội và Sân khấu IDECAF Thành phố Hồ Chí Minh do tác giả Trương Nhuận (Phó Giám đốc

Nhà hát Tuổi trẻ) làm chủ nhiệm Ở công trình này, nhóm tác giả đã nêu rõ đặc điểm

và vai trò của nghệ thuật biểu diễn; đánh giá thực trạng marketinh trong

Trang 33

hoạt động biểu diễn nghệ thuật của Nhà hát Tuổi trẻ và Sân khấu Idecaf Tp HồChí Minh; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp đẩy mạnh công tácmarketing biểu diễn nghệ thuật

Ởgóc độ thực tiễn, đề tài khoa học cấp nhà nước: Định hướng phát triển

công nghiệp văn hóa dưới góc nhìn văn hóa và tác động của nó đến thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế (đềcập ởtrên) đã đưa ra một số kinh nghiệm của các nước, tổ chức quốc tế về phát triểnCNVH và định hướng tác động của CNVH đối với thế hệ trẻ; đánh giá thực trạngCNVH ở Việt Nam về quy mô, cơ cấu và trình độ Tuy nhiên, do phạm vi nghiêncứu của đề tài là cả nước và tất cả các lĩnh vực thuộc CNVH nên lĩnh vực nghệ thuậtbiểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh dưới góc độ CNVH chưa được khảo sát sâu

Đánh giá chung:

Đóng góp của các nghiên cứu về lĩnh vực công nghiệp văn hóa trong đó

có nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam:

Về nghiên cứu lý thuyết:

- Các nghiên cứu đã làm rõ tính tất yếu khách quan và đặc thù của pháttriển công nghiệp văn hóa trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập của Việt Nam

- Lý luận phát triển công nghiệp văn hóa như: quan niệm công nghiệp vănhóa, cấu trúc của công nghiệp văn hóa trên thế giới và ở nước ta ngày càng đượcnhận thức sâu sắc, toàn diện hơn

- Bước đầu nghiên cứu vai trò, ý nghĩa của phát triển công nghiệp văn hóanói chung và lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn nói riêng đối với việc xây dựng vàphát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triểnkinh tế Phân tích những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng, phát triển công

nghiệp văn hóa ở nước ta

Về nghiên cứu thực tiễn:

Bước đầu đã có một số công trình khảo sát đánh giá về thực trạng hoạt động của một số lĩnh vực công nghiệp văn hóa, trong đó có nghệ thuật biểu diễn

Trang 34

ở một số địa phương như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh và đã đưa ra khuyến nghịcần thiết hữu ích cho phát triển lĩnh vực này Ngoài ra, các công trình đã đề cậpđến kinh nghiệm quản lý, phát triển lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn trong nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Thời gian gần đây, xây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa là vấn đềthu hút sự quan tâm của các nhà khoa học và nhà quản lý Tuy nhiên, cho đếnnay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về sự pháttriển công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ ChíMinh Công nghiệp văn hóa nói chung và đặc biệt là lĩnh vực nghệ thuật biểudiễn ở Tp Hồ Chí Minh những năm gần đây đã phát triển khá mạnh, nhưng quátrình nghiên cứu thực tiễn, phát triển lý luận về lĩnh vực này vẫn còn nhiều hạnchế Khoảng trống về lý luận công nghiệp văn hóa nói chung, lĩnh vực nghệ thuậtbiểu diễn nói riêng đã làm hạn chế đến việc cung cấp luận cứ khoa học cho canthiệp chính sách cũng như thiếu định hướng để phát triển lĩnh vực còn khá mới

mẻ này

Trên cơ sở kế thừa và chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố, luận

án tiếp tục giải quyết những vấn đề cụ thể sau:

Một là, về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm,

cấu trúc, vai trò của công nghiệp văn hóa và loại hình nghệ thuật biểu diễn (tiếpcận nghệ thuật biểu diễn như một bộ phận quan trọng của công nghiệp văn hóa)

Hai là, về mặt thực tiễn, luận án tập trung vào các vấn đề sau:

- Phân tích những yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh

-Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của một số loại hình nghệ thuật biểu diễn (dưới góc nhìn công nghiệp văn hóa) ở Tp Hồ Chí Minh trong những năm qua.

- Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế của công nghiệp văn hóa trong lĩnhvực nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh hiện nay, tìm ra nguyên nhân

Trang 35

Ba là, luận án dự báo xu hướng vận động, phát triển của công nghiệp văn

hóa nói chung, nghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh nói riêng trong thời giantới, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển lĩnh vực biểu diễn ở Tp HồChí Minh trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Tiểu kết

Như vậy, trên thế giới, quan niệm, cơ cấu, chức năng, vai trò của côngnghiệp văn hóa đã được bàn đến khá nhiều UNESCO đã đưa ra những quan điểm,chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, khẳng định tầm quan trọngcủa công nghiệp văn hóa Các học giả quốc tế tập trung khẳng định vai trò của côngnghiệp văn hóa và nhấn mạnh đến khía cạnh kinh tế của các hoạt động văn hóa, mốiquan hệ giữa kinh tế và văn hóa, tính đặc thù của các sản phẩm văn hóa Lĩnh vựcnghệ thuật biểu diễn cũng được bàn đến dưới góc độ là một thành tố của ngành côngnghiệp văn hóa; nhấn mạnh những quan điểm về chính sách công trong quản lý vàphát triển hoạt động nghệ thuật biểu diễn, phân tích phương pháp ứng dụng các lýthuyết và phương pháp kinh tế để phát triển lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn Nhữngvấn đề mới trong công tác quản lý nghệ thuật như: xây dựng thương hiệu, tiếp thị vàphát triển khán giả; những mâu thuẫn về giá trị kinh tế với giá trị văn hóa, nghệthuật; phân tích những tác động của công nghệ đối với ngành công nghiệp văn hóacũng được giới nghiên cứu chú ý

Ở trong nước, thời gian gần đây công nghiệp văn hóa đã được bàn đến khásôi nổi Những nội dung được đưa bàn thảo chủ yếu về quan niệm, vai trò, ýnghĩa của công nghiệp văn hóa và sự tác động của xu thế toàn cầu hóa, hội nhậpcũng như kinh tế thị trường đối với lĩnh vực này Đến nay vẫn chưa có công trìnhnào nghiên cứu về công nghiệp nghệ thuật biểu diễn mà chỉ dừng lại ở những bàiviết chuyên sâu về từng loại hình nghệ thuật đơn lẻ, chưa có sự kết nối giữa cácnhân tố sáng tạo, sản xuất, quảng bá, tiếp nhận như một hệ thống thống nhất củacông nghiệp nghệ thuật biểu diễn

Những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xâydựng và phát triển văn hóa trong cơ chế thị trường định hướng XHCN có liên

Trang 36

quan đến phát triển công nghiệp văn hóa trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương

4 khóa VII; Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; Văn kiện Đại hội Đảng lần thứVIII, IX, X, XI; Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 do Thủ tướngChính phủ phê duyệt, Dự thảo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóaViệt Nam đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030; Nghị quyết Trung ương 9 khóaXI… chính là cơ sở quan trọng làm tiền đề cho Việt Nam phát triển ngành côngnghiệp văn hóa

Khái niệm “công nghiệp văn hóa” còn khá mới mẻ ở Việt Nam Nghiêncứu xây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa nói chung, lĩnh vực nghệ thuậtbiểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh nói riêng có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luậnlẫn thực tiễn Kế thừa và vận dụng những thành tựu lý luận và thực tiễn đã đạtđược, luận án đi sâu khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng một số lĩnh vựcnghệ thuật biểu diễn ở Tp Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua, từ đó có thểphát hiện ra những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết trong thời gian tới

Trang 37

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU CÔNG NGHIỆP

VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

2.1.1 Khái niệm, cơ cấu và đặc trưng của công nghiệp văn hóa

2.1.1.1 Khái niệm công nghiệp văn hoá

Vào giữa thế kỷ XX, thuật ngữ công nghiệp văn hóa (cultural industry) đãđược thế giới đề cập đến rất nhiều và nhanh chóng trở thành loại hình côngnghiệp phát triển rầm rộ ở các quốc gia khác nhau Loại hình đó là sự kết hợpgiữa kỹ thuật cao với sáng tạo văn hóa, thể hiện xu thế kinh tế và văn hóa thấmsâu vào nhau Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã được áp dụng

để phát triển văn hóa Đó là những thành tựu về kỹ thuật xuất bản, băng ghi âm,ghi hình, sắp chữ điện tử, mạng lưới truyền thông và kỹ thuật số được ứng dụngrộng rãi tạo nên một khối lượng lớn các sản phẩm văn hóa nghệ thuật và đồngthời tạo nên một thị trường văn hóa rộng lớn Những thành tựu và hiệu quả đạtđược ngày càng nhiều từ lĩnh vực này đã khiến nó trở thành đề tài nghiên cứucủa rất nhiều công trình khoa học trên thế giới Vậy, quan niệm của thế giới cũngnhư ở Việt Nam về công nghiệp văn hóa như thế nào?

Công nghiệp văn hóa xuất hiện gắn với văn hóa đại chúng Văn hóa đạichúng (mass culture) là loại sản phẩm văn hóa được sản xuất hàng ngày với khốilượng lớn Những đặc điểm về sản xuất và tiêu thụ các giá trị văn hóa là cơ sở đểcác nhà khoa học đưa ra khái niệm văn hóa đại chúng và văn hóa tinh hoa.Những điều kiện tạo nên văn hóa đại chúng đó là sự gia tăng về số lượng ngườilao động cùng với quá trình tập trung dân cư do quá trình đô thị hóa; sự pháttriển của quá trình sản xuất, tiêu thụ lớn trong cơ chế thị trường; khát vọng muốnthấy hàng hóa trong hoạt động sản xuất tinh thần kết hợp với sự phát triển mạnh

mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng Đối tượng tiêu thụ văn hóa đạichúng là tất cả mọi người, không phụ thuộc vào đặc điểm và đất nước sinh sốngđược phổ cập, truyền bá thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Trang 38

Theodor Adorno (1902 – 1969) và Max Horkheimer (1895 - 1973) – lànhững người đề xuất khái niệm công nghiệp văn hóa (cultural industry) trong

cuốn sách nổi tiếng Dialectic of Enlightenment (Biện chứng của Khai sáng) năm

1947 Không lâu sau đó, khái niệm công nghiệp văn hóa đã có sức lan toả mạnh

mẽ đối với các quốc gia khác trên thế giới Tuy nhiên, quan niệm, cách nhìncũng như tầm quan trọng của lĩnh vực này vẫn được đưa ra bàn luận sôi nổi Đã

có nhiều nhận thức khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau về quan niệm cũngnhư vai trò của nó

Với cách hiểu công nghiệp văn hóa xuất hiện gắn với văn hóa đại chúngnên một số học giả đã quan niệm rằng đây là một bước thụt lùi của sáng tạo vănhóa Họ cho rằng: nói đến văn hóa là nói đến sự sáng tạo, nói đến sự thể hiệnnăng lực người Vì vậy, những sáng tạo văn hóa bao giờ cũng xuất hiện từ những

cá nhân cụ thể, tạo ra những sản phẩm văn hóa mang dấu ấn cá nhân, thể hiệntính độc đáo, tính đơn nhất của nó, nên khác với những sản phẩm văn hóa đượcsản xuất hàng loạt bởi công nghiệp Công nghiệp văn hóa làm ra văn hóa đạichúng, văn hóa đại chúng giống như một nhà máy sản xuất hàng loạt các sảnphẩm văn hóa theo những tiêu chuẩn nhất định để lôi kéo quần chúng vào hưởngthụ một cách bị động Quần chúng hưởng thụ những sản phẩm văn hóa cùng loại,sản xuất hàng loạt, ồ ạt Nhu cầu được thưởng thức những giá trị văn hóa nghệthuật chân chính, mang tính sáng tạo, đặc sắc của mỗi cá nhân sẽ bị hạn chế Do

đó, những người theo quan niệm này cho rằng, chính nền công nghiệp văn hóa

đã kích thích những nhu cầu sai lầm, những thứ được tạo ra và thoả mãn giá trịkinh tế đã làm hạn chế sự sáng tạo của con người

Quan niệm của một số học giả phương Tây khác thì cho rằng, công nghiệpvăn hóa xuất hiện là tất yếu khách quan khi khoa học, kỹ thuật phát triển Hàngloạt những sản phẩm giống nhau được sản xuất để đáp ứng những nhu cầu giốngnhau Chính điều này đã làm cho người tiêu dùng không có sự lựa chọn Sứcmạnh của kỹ thuật hiện đại đã chi phối mạnh mẽ sự sản xuất hàng loạt sản phẩmvăn hóa và trên thực tế sức mạnh đó là của những kẻ có thế lực về kinh tế

Trang 39

Các học giả còn cho rằng, sự xuất hiện của công nghiệp văn hóa đã làm cho văn

hóa có sự trộn lẫn ở những trình độ cao thấp với nhau Tính nghiêm túc của loại

hình nghệ thuật cao cấp bị tiêu diệt bởi những tính toán nhằm mục đích lợi nhuậncủa các nhà kinh doanh

Thực ra, những ý kiến đó không hẳn là không có lý, nhất là trong nền kinh

tế thị trường, hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm văn hóa đều hướngtới mục đích kinh tế Song, thực tế đã chứng minh rằng, ngành công nghiệp vănhóa có khả năng tác động mạnh mẽ vào đời sống của đại chúng, đáp ứng nhu cầuvăn hóa đa dạng và phức tạp của xã hội Sự phát triển của ngành công nghiệpvăn hóa góp phần tạo nên quá trình đa dạng hóa và dân chủ hóa về tri thức cho

xã hội Nó có khả năng cung cấp và truyền bá sâu rộng trong đời sống xã hội

hàng loạt những thông tin về các lĩnh vực văn hóa khác nhau, đáp ứng nhu cầutinh thần của xã hội

Chính vì vậy, thuật ngữ công nghiệp văn hóa đã được gần 200 quốc gia

thông qua từ năm 1998 trong Hội nghị Thượng đỉnh về văn hóa được tổ chức tạiStockholm (Thuỵ Điển) Mặc dầu còn có nhiều quan niệm khác nhau nhưngchung quy lại khi nói đến công nghiệp văn hóa là sự tập hợp các ngành kinh tếkhai thác và sử dụng hiệu quả tính sáng tạo, kỹ năng, sở hữu trí tuệ, sản xuất các

sản phẩm và dịch vụ có ý nghĩa văn hóa xã hội; nhấn mạnh đến hai yếu tố: công

nghiệp và sáng tạo Sự kết hợp giữa hai yếu tố công nghiệp và sáng tạo đã tạo

nên đặc trưng của ngành công nghiệp này Hay nói cách khác, năng lực sáng tạocủa cá nhân thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại tạo nên một ngànhkinh doanh hùng mạnh, giàu tiềm năng, chứa đựng cả giá trị kinh tế lẫn văn hóa

Quan niệm có tính phổ biến hiện nay cho rằng, Công nghiệp văn hóa là

các ngành sản xuất, tái sản xuất và truyền bá các dịch vụ văn hóa và sản phẩm văn hóa được tạo ra bằng phương thức công nghiệp hóa, tin học hóa và thương phẩm hóa; là ngành nghề sản xuất sản phẩm văn hóa và cung cấp dịch vụ văn hóa Công nghiệp văn hóa lấy sự thoả mãn nhu cầu văn hóa của mọi người làm mục tiêu chủ yếu Đó là sản phẩm kết hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật cao với sự nghiệp văn hóa, thể hiện xu thế kinh tế và văn hóa thấm sâu vào nhau.

Trang 40

Ở Việt Nam, công nghiệp văn hóa đang còn là một khái niệm khá mới mẻ.Thậm chí, có ý kiến cho rằng, ở Việt Nam đến nay vẫn chưa có ngành côngnghiệp văn hóa Khái niệm và vai trò của công nghiệp văn hóa mới được bàn đến

ở một số công trình nghiên cứu và một số cuộc hội thảo Nhóm tác giả nghiên

cứu đề tài: “Phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam - Thực trạng và giải

pháp” (PGS, TS Nguyễn Thị Hương làm chủ nhiệm) đã đưa ra khái niệm về

công nghiệp văn hóa như sau:

Công nghiệp văn hóa là ngành công nghiệp sáng tạo, sản xuất, tái sảnxuất, phổ biến tiêu dùng các sản phẩm và các dịch vụ văn hóa bằngphương thức công nghiệp hóa, tin học hóa, thương phẩm hóa, nhằmđáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng của xã hội, các hoạt động đó đượcbảo vệ bởi bản quyền [40, tr.17]

Đây là một trong những định nghĩa đã nêu được những đặc trưng cơ bảncủa ngành công nghiệp văn hoá Công nghiệp văn hoá được thể hiện ở những sảnphẩm tạo ra có sự kết hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật cao với các giá trị văn hoá, giátrị kinh tế, các sản phẩm đó phải hướng tới phục vụ số đông Tính chất của hệthống ngành công nghiệp văn hóa bao giờ cũng gắn với những mô hình sản xuấtnhất định Đây cũng là định nghĩa để xem xét các tiêu chí của ngành công nghiệpvăn hóa trong một lĩnh vực cụ thể, đó là:

- Sản xuất ra các sản phẩm văn hoá dựa trên thành tựu khoa học kỹ thuật

và công nghệ hiện đại

- Các sản phẩm công nghiệp văn hoá là hàng hoá nhưng không phải làhàng hoá thuần tuý, hướng tới phục vụ cho số đông, phải đảm bảo hài hoà giữagiá trị kinh tế và văn hoá

- Các hoạt động của công nghiệp văn hóa được bảo vệ bởi bản quyền Công nghiệp văn hoá vì thế vừa là ngành công nghiệp nhưng mang tínhđặc thù so với các ngành khác

2.1.1.2 Cơ cấu của ngành công nghiệp văn hoá

Về cơ cấu của ngành công nghiệp văn hóa cho đến nay vẫn có nhiều ýkiến khác nhau Trước đây, theo quan niệm phổ biến trên thế giới, lĩnh vực công

Ngày đăng: 23/06/2020, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w