BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG BÙI THỊ NAM KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG AN BIÊN VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
BÙI THỊ NAM
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG AN BIÊN VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO HỌC SINH
LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN TỐ
QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HẢI PHÒNG – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
BÙI THỊ NAM
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG AN BIÊN VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN TỐ
QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC
MÃ SỐ: 8.140101
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Quốc Tuấn
HẢI PHÒNG – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài “Khai thác các giá trị văn hóa
truyền thống Lễ hội đình làng An Biên vào giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ
ai Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 19 tháng 8 năm 2018
Tác giả
Bùi Thị Nam
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, Luận văn với đề tài “Khai thác các giá
trị văn hóa truyền thống Lễ hội đình làng An Biên vào giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” của tôi đã hoàn thành
Tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn đến các thầy, cô giáo Khoa Giáo dục Tiểu học, Khoa Sau đại học trường Đại học Hải Phòng với tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc Đặc biệt là TS Trần Quốc Tuấn là người đã tận tình chỉ dẫn, động viên, khuyến khích tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo, các em học sinh, đặc biệt là các em học sinh lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các số liệu cần thiết phục vụ công tác thực nghiệm sư phạm và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban quản lý đình An Biên, Đền Nghè đã giúp
đỡ, cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành Luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân, đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Hải Phòng, ngày 19 tháng 8 năm 2018
Tác giả
Bùi Thị Nam
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… i
LỜI CẢM ƠN……… ii
MỤC LỤC……… iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……….… iv
DANH MỤC BẢNG……….……… ….v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ….……… vi
MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI……… 7
1.1 Cơ sở lí luận……… 7
1.1.1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa truyền thống……… 7
1.1.2 Cơ sở lí thuyết của giáo dục học và giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học……….13
1.1.3 Mối tương tác giữa văn hóa và giáo dục……… 23
1.2 Cơ sở thực tiễn……… 27
1.2.1.Lễ hội và sự hình thành, ý nghĩa của lễ hội truyền thống……… 27
1.2.2 Văn hóa truyền thống địa phương thông qua hoạt động lễ hội làng của người dân phường An Biên……….30
1.2.3 Nội dung giáo dục văn hóa truyền thống và giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh trong chương trình tiểu học ……… 32
1.3 Thực trạng khai thác giá trị văn hóa truyền thống trong giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố… 33
1.3.1 Khái quát quá trình điều tra……… 33
1.3.2 Kết quả điều tra……….34
Tiểu kết chương 1………36
Trang 6CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN
TỐ THÔNG QUA VIỆC KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ĐÌNH LÀNG AN BIÊN………… 37
2.1 Vài nét về quận Lê Chân……… 37
2.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên……… 37
2.1.2 Dân cư, kinh tế, xã hội……… 37
2.1.3 Không gian văn hóa, xã hội……… 38
2.2 Lễ hội và các giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống đình làng An Biên có ảnh hưởng, tác động đến sự hình thành đạo đức, lối sống học sinh trường tiểu học trường tiểu học Nguyễn Văn Tố……… 39
2.2.1 Lễ hội đình làng An Biên……… 39
2.2.2 Các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội……… 49
2.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 5 trường tiểu học Nguyễn Văn Tố thông qua khai thác các giá trị văn hóa truyền thống trong Lễ hội đình làng An Biên……….53
2.3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục……… 53
2.3.2 Một số biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 5 trường tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân………55
Tiểu kết chương 2……… … 61
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM………62
3.1 Mục đích và yêu cầu của thực nghiệm……….62
3.1.1 Mục đích thực nghiệm……… ….62
3.1.1 Yêu cầu của thực nghiệm……….……….62
3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm……… 62
3.3 Nội dung thực nghiệm……… 62
3.4 Thời gian thực nghiệm……….63
3.5 Phương pháp thực nghiệm………63
3.6 Kết quả thực nghiệm………64
Trang 73.7 Kết luận chung về thực nghiệm………67 Tiểu kết chương 3……… 69 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….70 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Trang 9So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm và sau
3.5
So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm và sau
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình
Hải Phòng nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước
Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước, với vị trí địa lý và điều kiện
tự nhiên thuận lợi như vậy, Hải Phòng xưa và nay luôn là vùng đất đầu sóng, ngọn gió, có vị trí chiến lược trong toàn bộ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Chính những thăng trầm của lịch sử đã tạo nên con người Hải Phòng có tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm, kiên cường với tinh thần kiên trung, khí phách hiên ngang của Nữ tướng Lê Chân, của các chiến thắng trên sông Bạch Đằng Ngô Quyền năm 938, Lê Hoàn năm 981, Trần Hưng Đạo năm 1288
Các chiến tích đó gắn với rất nhiều di tích lịch sử, lưu truyền bao đời nay, để lại cho hậu thế nhiều công trình văn hoá, nghệ thuật có giá trị Đặt chân đến bất cứ nơi đâu trên đất Hải Phòng, chúng ta cũng bắt gặp các di tích, các lễ hội gắn với những truyền thuyết, huyền thoại về lịch sử oanh liệt chống ngoại xâm của nhân dân ta Các di tích lịch sử, kiến trúc đều có giá trị
về văn hóa, lịch sử được xếp hạng cấp Quốc gia: đình Hàng Kênh, đình Đông An, đình Dư Hàng, đình Từ Vũ, chùa Phổ Minh, chùa Vẽ, chùa Hàng,… Trong số đó không thể không kể đến đình An Biên, đền Nghè là
Trang 11các di tích lịch sử, văn hóa có dấu ấn đậm nét nhất với những lễ hội truyền thống với các hoạt động văn hoá đặc sắc được gìn giữ và lưu truyền đến ngày nay Đó là nơi nhân dân tôn thờ nữ tướng Lê Chân - một vị tướng tài, sắc vẹn toàn, người khai sinh ra trấn Hải Tần phòng thủ, tiền thân của thành phố Hải Phòng ngày nay
Trong sự phát triển chung của giáo dục, đào tạo cả nước, thành phố Hải Phòng luôn là địa phương dẫn đầu về chất lượng Trong đó, giáo dục đào tạo quận Lê Chân với bề dày gần 20 năm dẫn đầu công tác bồi dưỡng học sinh giỏi khối Trung học cơ sở và khối Tiểu học Trường tiểu học Nguyễn Văn Tố là một trong những trường có đóng góp không nhỏ vào bề dày thành tích chung của giáo dục và đào tạo quận, thành phố Trong những năm qua, nhà trường luôn chú trọng phát triển giáo dục toàn diện, giữ vững chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn Bên cạnh việc thực hiện giảng dạy các môn học, nhà trường chú trọng giáo dục cho học sinh đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, ý thức trách nhiệm của công dân đối với xã hội, cộng đồng Một trong những nhiệm vụ giáo dục trong nhà trường là việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống địa phương vào giảng dạy giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh Việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hoá địa phương cho học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố là rất cần thiết Bởi những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp sẽ là những hạt giống tốt nảy nở trong tâm hồn trẻ thơ, giúp học sinh có tình cảm tự hào, tôn trọng, gìn giữ các công trình văn hoá cổ, các giá trị văn hoá phi vật thể và đồng thời có các hành vi và việc làm nhằm gìn giữ các giá trị văn hóa tốt đẹp ấy Đây chính là
lý do mà tác giả lựa chọn đề tài: “Khai thác các giá trị văn hóa truyền thống Lễ hội đình làng An Biên vào giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.”
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Giáo dục đạo đức, lối sống cho HS là con đường để thực hiện mục tiêu giáo
Trang 12dục Trong quá trình giáo dục, HS đóng vai trò chủ thể, việc giáo dục không chỉ diễn ra trong trường học, lớp học mà còn phải thực hiện ngoài trường, ngoài lớp theo phương thức kết hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường, xã hội thông qua các hình thức: vui chơi, dã ngoại, tham quan, du lịch, trải nghiệm,
J A Kômenki (1952-1670) đã quan tâm đặc biệt đến việc kết hợp học tập trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm giải phóng hình thức học “giam hãm trong 4 bức tường” của hệ thống nhà trường thời trung cổ Ông nói: “Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà lĩnh hội kiến thức từ mặt trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ”
C.Mác và F.Anghen xác định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là phải tạo ra “Con người phát triển toàn diện” Phương thức giáo dục hiện đại là phải theo “Phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”
Bài viết của tác giả Ngyễn Dục Quang đề cập đến đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục quốc tế cho HS qua ngoài giờ lên lớp
Di tích lịch sử đình làng An Biên và đền Nghè và tọa lạc trên địa bàn phường An Biên, quận Lê Chân là một di sản văn hoá của thành phố, của đất nước, nơi bảo tồn nhiều nếp sinh hoạt cổ lành mạnh, góp phần làm phong phú kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể của người Hải Phòng cần được gìn giữ
và bảo tồn
Trong Một số di sản văn hoá tiêu biểu của Hải Phòng đã nêu rõ những
nét đẹp kiến trúc và các giá trị văn hóa lịch sử của công trình kiến trúc này
Trong cuốn Thành Hoàng làng Hải Phòng, Nxb Từ điển Bách Khoa,
Hà Nội do Nguyễn Đức Giang, Trịnh Minh Hiên, Đồng Hồng Hoàn sưu tầm
và biên soạn cũng đã giới thiệu đây là công trình kiến trúc cổ mang ý nghĩa lịch sử, có giá trị lớn cần được bảo tồn của thành phố, là điểm đến tham quan, chiêm bái của nhiều thế hệ người dân Hải Phòng nói riêng và của nhân dân khắp nơi trong cả nước nói chung
Một số công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho HS như Đề tài
Trang 13Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học của TS Đặng Thị Phương
Phi về chủ đề này đưa ra nhiều biện pháp giáo dục hiệu quả, thiết thực
Trong Báo cáo tổng kết nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ, Viện
Khoa học giáo dục Việt Nam, Hà Nội (2014) Giáo dục giá trị văn hóa truyền
thống trong nhà trường phổ thông Việt Nam do GS.TS Nguyễn Thị Hoàng Yến
là chủ nhiệm đề tài đã có các nghiên cứu, tổ chức rà soát, khảo sát về tình hình thực hiện giáo dục văn hóa truyền thống cho học sinh trong một số nhà trường hiện nay và đưa ra quan điểm về tích hợp giáo dục văn hóa truyền thống trong một số môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với các bậc học tiểu học, THCS và THPT ở một số tỉnh có nhiều đặc trưng văn hóa truyền thống dân tộc
Các tác giả đều bày tỏ quan điểm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh là vấn đề được chú trọng và quan tâm Các tác giả đã nghiên cứu sâu về các nội dung giáo dục cho học sinh, tập trung nhiều vào các phương pháp thực hiện, trao đổi một số kinh nghiệm giáo dục đạo đức, lối sống và kể tên một số công trình kiến trúc nghệ thuật, lễ hội văn hóa Tuy nhiên các tài liệu chưa đi sâu vào việc khai thác các các giá trị văn hoá truyền thống vào giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học Cụ thể chưa có ai nghiên cứu về vấn đề khai thác các giá trị văn hoá truyền thống lễ hội đình làng An Biên vào giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố cũng như các trường tiểu học trong địa bàn thành phố Hải Phòng Luận văn của tác giả sẽ đề cập đến mối liên hệ giữa các giá trị văn hóa truyền thống của
lễ hội đình làng An Biên với giáo dục đạo đức, lối sống cho HS lớp 5 Nghiên cứu này có tính thiết thực, cấp thiết nhằm phát huy, bảo tồn giá trị văn hóa của các công trình kiến trúc cổ và các giá trị tốt đẹp của lễ hội truyền thống thông qua giáo dục đạo đức, lối sống Tác giả sẽ khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội đình làng An Biên vào giáo dục đạo đức, lối sống cho
HS Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố để các thế hệ HS hiểu, yêu quý, tôn trọng, tự hào về các giá trị văn hóa truyền thống đó và sẽ tác động trở lại bằng các hành động cụ thể, ý thức tôn trọng gìn giữ, bảo vệ các giá trị văn hóa ấy
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học thông qua các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, từ đó đề xuất biện pháp, cách thức, chương trình dạy học cụ thể ở trường tiểu học nhằm đạt được hiệu quả giáo dục, tình cảm đúng đắn, lối sống thiết thực hơn cho học sinh tiểu học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc khai thác các giá trị văn hóa và giáo dục
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của đề tài Nghiên cứu khai thác một số giá trị văn hóa lễ hội truyền thống đình làng An Biên có ảnh hưởng tích cực đến việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho HS lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố thông qua việc tích hợp kiến thức trong một
số môn học của chương trình chính khóa và chương trình ngoại khóa
- Tổ chức thực nghiệm thông qua một số biện pháp đã nêu trên để kiểm tra tính khả thi của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng thông qua các giá trị văn hóa truyền thống địa phương và cụ thể là thông qua hoạt động lễ hội đình làng An Biên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm:
- Các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội đình làng An Biên có ảnh hưởng, tác dụng trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố
- Chương trình và thực trạng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học
Trang 15sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, Hải Phòng
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn nhóm GV, HS về các đề xuất đưa nội dung, phương thức giáo dục giá trị văn hóa truyền thống lễ hội đình làng
An Biên cho học sinh
- Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát, tìm hiểu hoạt động dạy, học của GV, HS về văn hóa truyền thống, các hoạt động giáo dục ở trường tiểu học; quan sát, tham dự lễ hội
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thử nghiệm, đề xuất về mục tiêu, nội dung và phương thức giáo dục đạo đức, lối sống thông qua việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống lễ hội đình làng An Biên cho HS tiểu học
- Phương pháp điều tra khảo sát: Sử dụng các phiếu điều tra đối với GV,
HS để phân tích thực trạng, thu thập ý kiến đề xuất nội dung, phương thức giáo dục giá trị văn hóa truyền thống lễ hội đình làng An Biên trong nhà trường
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp: Sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp để xử lí các số liệu
- Phương pháp điều tra thực địa, quay phim, chụp ảnh
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
- Chương 2: Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 5 trường tiểu học Nguyễn Văn Tố thông qua việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội đình làng An Biên
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa truyền thống
1.1.1.1 Văn hoá và tính chất của văn hoá
a) Khái niệm văn hóa
Văn hóa chính là tổng thể các giá trị do con người tạo ra, là các giá trị vật chất và các giá trị về tinh thần Văn hóa nói chung trong nghiên cứu của nhiều học giả đều cho rằng đó là gồm tất cả các giá trị vật chất và tinh thần Được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng khái niệm văn hoá có hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo không gian hoặc thời gian, theo chiều sâu hoặc chiều rộng,… Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Nam Bộ, văn hoá Tây Nguyên…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Đông Sơn, văn hoá Hoà Bình…) Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ các giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm những sáng tạo phong phú về vật chất
và tinh thần của con người trong quá trình cải tạo hiện thực khách quan Những tri thức, các kết quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần của
văn hóa C.Mác coi văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt
động lao động sáng tạo của con người - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản
xuất ra đời sống hiện thực của con người [10, tr.42, 136, 137]
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [53, tr.5]
Trang 17Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một, nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật…
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu các hiện tượng và giá trị văn hóa của nhiều dân tộc, đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [33, tr.431] Theo Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục Liên hợp quốc): “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise [69, tr.5]
Qua đó, ta thấy, văn hóa là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra và trở thành thế giới tự nhiên thứ hai do con người tạo ra, ở đâu có con người, có quan hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hóa
b) Tính chất của văn hoá
Bản chất xã hội của văn hóa gắn liền với tính dân tộc, tính giai cấp và tính nhân loại
Tính dân tộc: Ngôn ngữ, biểu tượng, tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, nghệ thuật đều là những thành tố cơ bản của văn hóa Tính đặc thù của văn hóa được hình thành trong lịch sử của mỗi dân tộc, tạo ra sự khác biệt văn hóa và là nguồn gốc đa dạng văn hóa của tiến
Trang 18trình phát triển lịch sử Mỗi nền văn hóa là một chỉnh thể độc đáo, không lặp lại, không thay thế Văn hóa có tính bền vững và lâu dài do bản sắc dân tộc quy định Mỗi nền văn hóa có sự khác nhau là do tính dân tộc mà nó đại diện, văn hóa phát triển được chính là nhờ sự khác biệt này
Tính giai cấp: Sự chế định giai cấp xã hội đối với văn hóa không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang giá trị thực tiễn Bản chất giai cấp của các hiện tượng văn hóa đề xuất vấn đề các quan điểm giai cấp trong việc phát triển văn hóa Trong mỗi nền văn hóa không có tính giai cấp đơn thuần mà bản chất xã hội của văn hóa gắn liền với tính nhân loại của nó Sự sáng tạo văn hóa là sản phẩm của những xã hội cụ thể chứa đựng các năng lượng của cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mới, cái đang phát triển, cái tiến bộ Nền tảng giai cấp - xã hội tồn tại trong văn hóa dưới dạng hệ tư tưởng Mỗi giai cấp hướng sự phát triển văn hóa theo lợi ích của mình nhờ phương tiện là hệ tư tưởng Chính vì vậy, hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến văn hóa một cách tích cực hoặc tiêu cực
Tính nhân loại: Tính giai cấp và tính dân tộc của văn hóa đều chứa đựng mối quan hệ với tính nhân loại phổ biến Giai cấp đang lên trong sự phát triển lịch sử sẽ tạo ra các loại sản phẩm văn hóa có tính nhân loại “Tính nhân loại của văn hóa cũng không tách rời tính dân tộc của nó Những tinh hoa của văn hóa dân tộc mang ý nghĩa phổ biến nhân loại Các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Chí Minh sở dĩ có tính nhân loại vì các tác phẩm đó
đã trở thành những giá trị cao quý của dân tộc Việt Nam” [70, tr.27]
1.1.1.2 Văn hóa truyền thống và những tính chất cơ bản
a) Văn hóa truyền thống là gì?
Trong tác phẩm “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay”, tác giả Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang đã nêu rõ “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng
xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [43, tr.21]
Theo Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt
Trang 19bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị, mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm giá trị truyền thống” [25, tr.10]
Quan điểm của Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ,
luật pháp, dư luận” [56, tr.58]
Văn hoá truyền thống hay giá trị văn hoá truyền thống được hiểu như là văn hoá và giá trị gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hoá, giá trị văn hoá thời đại công nghiệp hoá Khái niệm truyền thống chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không chỉ xã hội tiền công nghiệp mới có mà với cả xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì truyền thống vẫn hình thành và định hình Hơn thế nữa, còn có sự kết nối giữa truyền thống tiền công nghiệp với truyền thống công nghiệp hoá thể hiện ở mỗi hiện tượng hay giá trị văn hoá
Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của mình Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc Giá trị văn hóa truyền thống được truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước
b) Một số tính chất cơ bản của văn hóa truyền thống
Văn hóa truyền thống có những tính chất cơ bản sau:
Tính giá trị: Văn hóa truyền thống mang tính giá trị Văn hóa truyền thống trở thành một bộ phận quan trọng của cuộc sống con người, góp phần phát triển cuộc sống Văn hóa truyền thống mang tính giá trị bởi đó là thước đo, là chuẩn mực cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng xử giữa người với người
Trang 20trong một cộng đồng, một giai cấp, một dân tộc, một quốc gia Mỗi dân tộc đều
có các giá trị văn hóa truyền thống định hướng cho các hoạt động vì mục đích xây dựng cuộc sống văn minh, tiến bộ của dân tộc mình, đó chính là những nguyên lý đạo đức lớn mà con người thuộc các thời đại trong một đất nước dựa vào để đưa ra các tiêu chí phân biệt đúng, sai, phải, trái
Tính lưu truyền: Trong suốt chiều dài lịch sử của một dân tộc, văn hóa truyền thống ra đời và phát triển Những giá trị của văn hóa tuyền thống được lưu truyền, chuyển giao, tiếp nối, qua nhiều thế hệ được giữ gìn phát huy lên một tầm cao mới Trải qua những thăng trầm của lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng được lưu truyền phát triển tạo thành một hệ giá trị mới
Tính ổn định: Được gạn lọc, khẳng định qua nhiều thế hệ, những giá trị của văn hóa truyền thống đã trở thành cái chân, thiện, mỹ được lịch sử thừa nhận Văn hóa truyền thống trở thành những khuôn mẫu được cố định hóa dưới dạng nghệ thuật, phong tục tập quán, nghi lễ, dư luận xã hội, pháp luật… Nó là một trong những hệ giá trị của văn hóa dân tộc, một thành tố ổn định của ý thức
xã hội
Tính giá trị, tính ổn định và tính lưu truyền đã tạo nên dáng vẻ riêng của văn hóa truyền thống Việt Nam Giữa truyền thống và truyền thống văn hóa có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất Một mặt, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì quý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc, ở góc độ này truyền thống mang những giá trị tích cực, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc Mặt khác, truyền thống còn duy trì, làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu khi điều kiện và hoàn cảnh thay đổi, góp phần kìm hãm, níu kéo làm chậm trễ sự phát triển của một quốc gia dân tộc Như vậy, văn hóa truyền thống là một bộ phận của truyền thống, là mặt tích cực, mặt giá trị của truyền thống
Vì vậy, văn hóa truyền thống là những truyền thống đã được lịch sử đánh giá, khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong một giai
Trang 21đoạn lịch sử nhất định Khi xem xét đánh giá truyền thống và các giá trị văn hóa truyền thống cần phải có quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử cụ thể nghĩa là phải đặt chúng trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của
cả quá khứ và hiện tại
1.1.1.3 Giá trị văn hoá truyền thống
Trong hệ sinh thái Đông Nam Á, các thế hệ người Việt Nam đã tạo ra các nền văn hóa riêng của mình Các nền văn hóa đã đi suốt chiều dài phát triển của dân tộc, có lịch sử lâu đời, giàu bản sắc như: văn hóa Hòa Bình, Sơn Vi, Núi
Đọ, văn hóa Đông Sơn, Phùng Nguyên, Sa Huỳnh, Óc Eo,… Các giá trị văn hóa truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc được sản sinh ra trong lịch sử dân tộc, được các thế hệ tiếp nối kế thừa, phát triển, trở thành cốt lõi nền tảng văn hóa tinh thần của xã hội Nói đến các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam là nói đến đặc thù của nền văn hóa lâu đời với những bản sắc đậm đà, tốt đẹp đã hình thành, lưu truyền đến ngày nay
Các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam được hình thành trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Các giá trị văn hóa truyền thống gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, đó là kết quả và là động lực to lớn của quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước Quá trình tiếp thu sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại tiếp tục bồi đắp thêm cho các giá trị văn hóa vốn có của dân tộc thêm phong phú do
có chủ nghĩa Mác - Lênin, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc và đã đưa ra những tổng kết của mình Trong Nghị quyết của Bộ Chính trị khoá VII về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay nêu rõ “Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý thương người như thể thương thân, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động… Đó là nền tảng và sức mạnh to lớn để nhân dân ta xây dựng một xã
Trang 22hội phát triển, tiến bộ, công bằng, nhân ái” [18, tr.56]
Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã đúc kết ý kiến về các giá trị truyền thống cơ bản của người Việt Nam, định nghĩa về bản sắc dân tộc như sau: "Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Ðó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng
xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo" [19, tr.56]
Từ quan điểm của các nhà khoa học, quan điểm của Đảng ta và dựa vào các tiêu chí xác định giá trị, giá trị văn hóa, có thể khẳng định các giá trị văn hóa truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam gồm:
- Chủ nghĩa yêu nước
- Lòng thương yêu, nhân ái, vị tha
- Tình đoàn kết, gắn bó cộng đồng
- Cần cù, sáng tạo
- Lòng dũng cảm
- Đức tính khiêm tốn, giản dị, lạc quan,…
Đây là các giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi được nhắc đến trong các tài liệu lịch sử, trong tâm thức mỗi con người Việt Nam
1.1.2 Cơ sở lí thuyết của giáo dục học và giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
1.1.2.1 Các khái niệm cơ bản
a) Khái niệm về giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì chỉ có trong xã hội loài người giáo dục mới nảy sinh, phát triển và tồn tại Để tồn tại, con người phải
Trang 23tiến hành hoạt động lao động Trong cuộc sống hàng ngày, con người tự nhận thức thế giới xung quanh Trải qua quá trình thích nghi với thiên nhiên và hình thành đời sống xã hội, con người dần tích luỹ được kho tàng kinh nghiệm phong phú bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cùng những giá trị văn hóa xã hội bao gồm các chuẩn mực về đạo đức, niềm tin, các dạng hoạt động giao lưu của con người trong xã hội… Nhu cầu tất yếu của con người trong xã hội là duy trì
sự tồn tại và phát triển nên đã có sự trao đổi và truyền thụ lại những kinh nghiệm đã tích lũy ấy cho nhau Sự truyền thụ và tiếp thu hệ thống kinh nghiệm của loài người chính là hiện tượng giáo dục
Giáo dục là hoạt động truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội từ thế hệ trước cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho thế hệ sau tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội Thuở ban đầu, giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, diễn ra theo lối quan sát, bắt chước ngay trong quá trình lao động (săn bắt, hái lượm, chăn nuôi, trồng trọt…) Sau đó, giáo dục trở thành một hoạt động tự giác có tổ chức, có mục đích, nội dung và phương pháp,… của con người Giáo dục phát triển và trở thành một hoạt động được tổ chức chuyên biệt: có chương trình, kế hoạch, có nội dung, phương pháp khoa học,… cùng với sự phát triển của xã hội loài người
Giáo dục là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, là hệ thống
các tác động nhằm làm cho người học nắm được hệ thống các giá trị văn hoá của loài người, tổ chức cho người học sáng tạo thêm những giá trị văn hoá đó Nhiệm vụ của giáo dục là chuyển giao những tinh hoa văn hoá, đạo đức, thẩm mỹ,… của nhân loại cho thế hệ sau, giúp thế hệ sau nối tiếp sáng tạo, nâng cao các thành tựu nhân loại Có thể coi giáo dục như một kiểu di truyền xã hội - giáo dục thực hiện cơ chế di sản xã hội: là cơ chế truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình phát triển của xã hội loài người Bất kỳ
xã hội nào muốn tồn tại, phát triển đều phải tổ chức, thực hiện hoạt động giáo dục liên tục đối với các thế hệ con người Giáo dục là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, hiện tượng giáo dục xuất hiện trong xã hội là tất yếu của lịch sử
Trang 24Giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách con người Qua những môn học ở trường, lớp và những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, tham quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của nhà giáo dục
Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi
là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế
hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội
Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đang không ngừng cái cách đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế phát triển mới mẻ, năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những nguồn lực mới để phát triển nhanh, bền vững
Văn bản Bốn trụ cột của giáo dục (The Four Pillars of Education) của
UNESCO - ta thấy tính triết lý có trong mọi phần của văn bản, tập trung nhất
ở Bốn trụ cột của giáo dục, tóm lược văn bản như sau: Một nền giáo dục có sức
sống là nhờ trong xã hội có nhiều người học và đều ham học Sự ham học sẽ mạnh mẽ và bền vững nếu người học đạt được mục đích mà trước khi học họ
tự đặt ra cho mình, miễn là mục đích này phù hợp với lợi ích của xã hội
Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung 2015 đã nêu: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
Trang 25đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [12]
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc [12]
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở [12]
Như vậy, nhu cầu và mục đích học tập là cái trụ móng để ngôi nhà giáo
dục đứng vững Học sinh cần học để biết, học để làm, học để cùng chung sống,
học để tự khẳng định mình hay học để làm người
Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nắm vững các kĩ năng nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người; có lòng nhân ái hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng thầy
cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ các em nhỏ, bạn bè, yêu lao động,
có kỉ luật, có nếp sống văn hóa, có thói quen rèn luyện thân thể và giữ vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hòa bình
b) Khái niệm về đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội
Ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các quy tắc, chuẩn mực của đạo đức dần biến đổi Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Các giá trị đạo đức ở Việt Nam hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của
Trang 26nhân loại Đó là tinh thần cần cù, sáng tạo, yêu lao động; tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội; sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có lối sống văn minh, lành mạnh; có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
Đạo đức có 3 chức năng: nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi
- Chức năng giáo dục: Thông qua giáo dục đạo đức góp phần hình thành
những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức trong từng con người cụ thể; giúp con người xác lập khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tượng xã hội Trên cơ sở ấy, con người tự xem xét, đánh giá đuợc tư cách, ý thức và hành vi của bản thân Nói cách khác, chức năng giáo dục của đạo đức chính là làm giàu thêm “tính người” cho mỗi con người, được thực hiện thông qua quá trình giáo dục của xã hội và tự giác của mỗi cá nhân
- Chức năng nhận thức: Chức năng nhận thức của đạo đức bao gồm
nhận thức và tự nhận thức, bởi nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng nội vừa hướng ngoại Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống đạo đức xã hội làm đối tượng, là quá trình cá nhân đánh giá, tiếp thu hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội Tự nhận thức là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi đạo đức của mình với chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng Bằng hai quá trình nhận thức
ấy con người đi đến sự nhận biết, phân biệt những giá trị: đúng - sai, tốt - xấu, thiện - ác hướng tới giá trị bao quát chân, thiện, mỹ Từ nhận thức này, chủ
thể hình thành và phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống của mình
- Chức năng điều chỉnh hành vi: Đây là chức năng quan trọng nhất,
nhưng đó không phải là đặc quyền của đạo đức, bởi trong xã hội, con người tạo
ra rất nhiều phương thức điều chỉnh hành vi của mình như: pháp luật, hương ước Mục đích điều chỉnh hành vi của đạo đức nhằm bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện chủ yếu bằng hai phương thức: Một là, sử dụng sức mạnh của dư luận để động viên, khuyến
Trang 27khích những chủ thể có đạo đức và hành vi tốt đẹp, đồng thời, phê phán, lên án nghiêm khắc những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến người khác, đến cộng đồng Hai là, bản thân chủ thể đạo đức phải tự nguyện, tự giác điều chỉnh hành
vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức của xã hội Điều chỉnh hành
vi hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội
Ba chức năng của đạo đức có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự vận hành của chức năng này là tiền đề, điều kiện của sự vận hành chức năng khác Từ đó, con người mới có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá những suy nghĩ, những hành vi của bản thân
để điều chỉnh hành vi theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội
c) Giáo dục đạo đức cho học sinh cấp Tiểu học
Giáo dục đạo đức, lối sống giúp cho mỗi cá nhân nâng cao trình độ nhận thức về các giá trị đạo đức, lối sống từ đó tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, lối sống của xã hội Giáo dục đạo đức, lối sống góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị đạo đức mà các thế hệ trước đã tạo dựng; góp phần tích cực trong việc giáo dục hình thành những giá trị đạo đức, lối sống mới, khắc phục những quan điểm lạc hậu, lệch chuẩn các giá trị đạo đức truyền thống, những thói hư tật xấu hay những hiện tượng phi đạo đức
Giáo dục đạo đức, lối sống không chỉ làm cho con người nhận thức đúng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức, lối sống mà thông qua đó hình thành niềm tin, tình cảm đạo đức Trên cơ sở đó giúp con người nhận ra giá trị của các giá trị đạo đức, nhận thấy giá trị và ý nghĩa cuộc sống mang tính nhân bản, nhân ái, nhân văn sâu sắc, góp phần nhân đạo hóa con người và đời sống
xã hội Trong chiến lược phát triển con người, Đảng và Nhà nước ta đề cao vai trò giáo dục đạo đức, lối sống cho HS - những chủ nhân tương lai của đất nước
HS tiểu học là bậc học đầu tiên tiếp cận với tri thức, với những biến đổi
xã hội Có thể coi bậc tiểu học là nền tảng của các bậc tiếp theo vì vậy ngoài giáo dục tri thức thì giáo dục đạo đức cho các em hết sức quan trọng Để giáo
Trang 28dục đạo đức đúng đắn và chuẩn mực cho học sinh thì giáo viên cần xác định rõ mục đích, nội dung, phương pháp
1.1.2.2 Những tác động cơ bản của văn hóa truyền thống tới việc rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh ở trường Tiểu học
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhiệm vụ giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống đã từng được đặt ra và sau mỗi giai đoạn thử thách đó, chúng ta lại có được những bài học kinh nghiệm quý báu Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước xu thế toàn cầu hoá như một cơ hội để phát huy các giá trị truyền thống, đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin trong bối cảnh toàn cầu hoá đã tạo ra những cơ hội, trở thành cầu nối cho các quốc gia, dân tộc mở rộng giao tiếp, sự hiểu biết và xích lại gần nhau hơn Nhờ cơ hội này mà nền văn hóa Việt Nam có điều kiện thuận lợi để giao lưu rộng rãi với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới Thông qua đó, con người Việt Nam có điều kiện học tập, tiếp thu những giá trị, tinh hoa văn hoá của các dân tộc, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc mình Tuy nhiên, trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế, những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, những giá trị đã tạo nên bản sắc văn hóa và đạo đức truyền thống của con người Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thử thách
Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, một bộ phận không nhỏ trong nhân dân, đặc biệt là ở tầng lớp thanh, thiếu niên đã có những biểu hiện coi nhẹ hoặc thiếu quan tâm đến các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, chạy theo lối sống, tâm lý, thị hiếu không lành mạnh, xa lạ với con người Việt Nam, sùng bái nước ngoài, chưa coi trọng những giá trị văn hóa dân tộc, đang ảnh hưởng không ít đến thuần phong mỹ tục của dân tộc
Không gian dành cho các loại hình văn hóa, lịch sử truyền thống ngày nay càng bị thu hẹp hoặc thay đổi trong khi cuộc sống xã hội ngày càng hiện đại Một bộ phận những người trẻ tuổi ngày nay ưa thích những cái mới lạ, có
Trang 29xu hướng ưa chuộng những hình thức nghệ thuật mới, hiện đại mà ít quan tâm tìm hiểu những giá trị truyền thống, không hiểu hết giá trị của các di sản văn hóa, lịch sử dân tộc Theo đó, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ nặng nề, cấp bách, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta
Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách con người Với nghĩa rộng, giáo dục bao gồm giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội và giáo dục gia đình, trong đó giáo dục nhà trường là quá trình tác động một cách chuyên biệt, không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học cơ bản, hiện đại, mà thông qua việc dạy học còn hình thành ở học sinh những năng lực
và phẩm chất trí tuệ, hứng thú Mặt khác, việc giáo dục thông qua các hình thức sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội công ích là những tác động đặc thù ảnh hưởng đến sự phát triển những phẩm chất đạo đức của nhân cách Giáo dục xã hội thông qua sách báo, phim ảnh, truyền hình, giao tiếp xã hội,… với những nội dung lành mạnh là những tác động tích cực hỗ trợ cho giáo dục nhà trường Giáo dục gia đình tuy không có chương trình, kế hoạch và nội dung xác định như giáo dục nhà trường; song với việc tổ chức cuộc sống có nền nếp, trật tự, gia phong, với việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên của gia đình thuộc các thế hệ,… là những tác động góp phần tạo nên nền tảng ban đầu của sự hình thành nhân cách Như vậy, giáo dục giữ vai trò chủ đạo quyết định xu hướng hình thành và phát triển nhân cách Gia đình
là nơi có những thế mạnh đặc biệt trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Những mối quan hệ tình cảm thân thương của mỗi thành viên trong gia đình sẽ giúp trẻ học tập, hình thành những giá trị văn hóa gia đình bền vững
Trường tiểu học cũng là nơi đầu tiên tác động đến trẻ bằng phương pháp giáo dục và các hoạt động khác nhằm hình thành, phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu giáo dục Ở trường tiểu học, thầy cô giáo là người định hướng quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
Trẻ em còn hoạt động và giao tiếp trong những điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 30nhất định Các nhà tâm lý học đã khẳng định nhân cách của con người nói chung và của học sinh tiểu học nói riêng chỉ được hình thành trong hoạt động, dưới sự quy định của điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Hoạt động ở đây bao gồm một hệ thống làm việc, những hành vi, cách cư xử và sự tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực xã hội nhất định nhằm bảo đảm cho cá nhân trẻ tồn tại và phát triển trong các nhóm xã hội khác nhau Các em học làm người thông qua một hệ thống hoạt động, làm việc trong các mối quan hệ xã hội và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Ba yếu tố nêu trên chi phối sự hình thành
và phát triển nhân cách của học sinh tiểu học Nếu cả ba yếu tố này tác động đến học sinh theo cùng một hướng, trên những quan điểm giáo dục đúng đắn, thống nhất thì việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh tiểu học chắc chắn sẽ đạt hiệu quả tốt
Lứa tuổi tiểu học là lứa tuổi đang hình thành và phát triển nhân cách Đến trường học tập, là một bước ngoặt thực sự quan trọng có ý nghĩa lớn lao trong cuộc đời của các em Trẻ em ở là thực thể đang hình thành và phát triển
cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội từng bước gia nhập vào xã hội, thế giới của mọi mối quan hệ Nhà trường tiểu học thực sự mở ra trước mắt các em một thế giới mới lạ với những quan hệ mới và phức tạp hơn Các em chuyển từ vui chơi
là hoạt động chủ đạo ở tuổi mầm non sang học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo có tính quyết định những biến đổi tâm lý cơ bản ở trẻ em Sự hình thành và phát triển nhân cách của HS là quá trình diễn ra dưới tác động giáo dục và dạy học được tổ chức, thực hiện ở nhà trường, gia đình và xã hội, là quá trình bắt đầu đối với mỗi người ngay khi họ tham gia vào xã hội
HS tiểu học tham gia vào quá trình xã hội hóa cá nhân với tư cách là thành viên xã hội trong đó hoạt động vui chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với các em vì nó cần thiết cho sự phát triển tâm lý, thể lực, nhân cách Tổ chức dạy học có lồng ghép nội dung văn hóa địa phương, tham gia các trò chơi dân gian hay tham gia trải nghiệm tại lễ hội làng với kế hoạch cụ thể, có mục đích giữ vai trò to lớn trong thực hiện mục tiêu giáo dục của bậc học nói chung,
Trang 31mục tiêu phát triển nhân cách nói riêng
Tuổi trẻ ham tìm tòi, khám phá, trải nghiệm nên đưa các hoạt động giáo dục văn hóa truyền thống gắn với phong tục, lễ hội, di sản văn hóa, nhân vật lịch sử vào giáo dục trong nhà trường rất phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em Cần phải đưa lịch sử, giá trị văn hóa truyền thống của địa phương vào dạy lồng ghép trong một số môn học để nâng cao nhận thức về ý nghĩa của văn hóa truyền thống, di sản văn hóa, lịch sử cho học sinh Thông qua sự tìm tòi và hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa nơi mình đang sống, học sinh sẽ có ý thức tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống trong lễ hội, các phong tục tập quán, các di tích, di sản văn hóa lịch sử trên quê hương của mình Nhưng trên thực tế, việc giáo dục lịch sử, văn hóa địa phương và giáo dục văn hóa truyền thống ở các trường chưa thực hiện đồng bộ, có trường
có thực hiện, có trường chưa chú trọng hoặc chưa thực hiện, hình thức và nội dung còn chưa phong phú, đa dạng, phương pháp giáo dục còn chưa phù hợp Chính vì vậy, thế hệ trẻ nói chung và HS tiểu học nói riêng vẫn chưa thực sự được gắn kết với những hoạt động tìm hiểu, bảo vệ văn hóa lịch sử truyền thống, văn hóa địa phương
Để giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho các em học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn quận trong giai đoạn hiện nay nhằm thực hiện tốt việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, chúng ta cần có những giải pháp hiệu quả nhằm khắc phục thực trạng đó Đó là cả việc giáo dục văn hóa truyền thống, giáo dục di sản và giáo dục thông qua di sản, làm cho học sinh hiểu biết
về di sản, hiểu biết về những giá trị văn hóa truyền thống, những nhân vật lịch
sử được tôn thờ gắn với di sản đó Từ đó, học sinh có tình cảm, đạo đức, niềm
tự hào về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đất nước Thông qua đó, các em hiểu được tầm quan trọng của việc giữ gìn các nét đẹp văn hóa truyền thống quê hương mình, góp phần hình thành lối sống lành mạnh, nhân cách đạo đức, cốt cách con người Việt Nam trong mỗi học sinh
Trang 32
1.1.3 Mối tương tác giữa văn hóa và giáo dục
1.1.3.1 Chức năng của giáo dục
Giáo dục chịu sự quy định của xã hội nhưng điều đó không có nghĩa giáo dục thụ động chịu sự tác động của xã hội mà giáo dục cũng có tác động tích cực trở lại xã hội thông qua thực hiện những chức năng xã hội, đó là: chức năng tái sản xuất nhân cách và chức năng tái sản xuất xã hội Hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động, hỗ trợ lẫn nhau Trong xã hội, hai chức năng trên được cụ thể hoá thành ba chức năng sau:
Chức năng kinh tế - sản xuất: Giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội,
tạo ra sức lao động ở một trình độ mới, cao hơn, hiệu quả hơn để thay thế sức lao động cũ bị mất đi Chính vì vậy, giáo dục tạo ra một năng suất lao động xã hội cao hơn, có tác dụng đẩy mạnh sản xuất và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, dân tộc
Chức năng chính trị - xã hội: Giáo dục tạo điều kiện cho thế hệ trẻ và
nhân dân nói chung nâng cao dân trí để tham gia quản lý xã hội, đất nước với
tư cách là người làm chủ xã hội, làm chủ đất nước, giúp mỗi công dân ý thức rõ ràng được quyền lợi và nghĩa vụ của người mình trong xã hội nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh Giáo dục góp phần tích cực trong việc xoá đói, giảm nghèo, tạo điều kiện cho các thành viên của xã hội tìm kiếm việc làm, thay đổi nghề nghiệp cho phù hợp để dễ dàng thích ứng với môi trường lao động mới Nhờ vậy giáo dục đã góp phần giải quyết những vấn đề xã hội Ngoài ra giáo dục góp phần tạo điều kiện cho các giai cấp, các tầng lớp xã hội nâng cao trình độ học vấn để dễ dàng gần gũi nhau, thông cảm với nhau, tìm ra được tiếng nói chung
Chức năng tư tưởng - Văn hoá: Giáo dục có tác dụng to lớn trong việc
xây dựng hệ tư tưởng chi phối toàn xã hội, xây dựng lối sống phổ biến trong toàn xã hội, trình độ văn hoá cho toàn xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục phổ thông ngày càng nâng cao dần Qua đó mà tạo nguồn nhân lực đông đảo với chất lượng cao, đồng thời có điều kiện phát hiện và bồi dưỡng nhân tài
Trang 33Trong xu thế phát triển giáo dục hiện nay, giáo dục luôn luôn có xu thế
“mở”, không chỉ trong phạm vi quốc gia, dân tộc mà cả ở phạm vi quốc tế nữa Như vậy có nghĩa là, giáo dục vừa có vai trò thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ
xã hội, vừa chịu sự quy định của trình độ phát triển chung của nền kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Cũng chính bởi việc thực hiện những chức năng của giáo dục ngày càng
có hiệu quả nên vị trí của giáo dục ngày càng được ý thức sâu sắc hơn, thống nhất hơn Giáo dục ngày nay được coi là chìa khoá vàng để con người bước vào cánh cửa tương lai Giáo dục - đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học và công nghệ Những nghiên cứu của chương trình phát triển Liên hợp quốc đã chỉ ra rằng trong sự phát huy và phát triển nguồn lực con người có 5 nguồn phát năng: Giáo dục; sức khoẻ và dinh dưỡng; môi trường; việc làm và tự do chính trị - kinh doanh, trong đó giáo dục được coi là nhân tố cơ bản đối với các nhân tố phát năng còn lại Chính vì vậy, khi thiết kế
kế hoạch để tạo đà cho sự phát triển của đất nước thì hầu như các quốc gia đều nhấn mạnh đến chính sách giáo dục Đó là sự thể hiện một cuộc cách mạng về
vị trí giáo dục, cho thấy đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai
1.1.3.2 Chức năng chuyển giao giá trị văn hóa
Văn hóa có chức năng giáo dục Văn hóa thực hiện được chức năng giáo dục là do có năng lực thông tin hoàn hảo Nhờ văn hóa, thông tin được mã hóa bằng những hệ thống ký hiệu tạo thành những sản phẩm nằm ngoài cá nhân con người Chính vì vậy mà nó được khách quan hóa, tích luỹ, nhân bản và tăng lên nhanh chóng từ thế hệ này sang thế hệ khác Sự tích lũy và chuyển giao những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội trong cộng đồng người qua không gian, thời gian Những giá trị này được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên truyền thống văn hóa trên cơ sở tính lịch sử của nó chính là chức năng giáo dục của văn hóa Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị
Trang 34đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực văn hóa tốt đẹp mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trồng người
(dưỡng dục nhân cách), tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội Đó là chất men
gắn kết con người trong xã hội lại với nhau Văn hóa chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của con người nói riêng và nhân loại nói chung Văn hóa tổ chức và điều chỉnh xã hội, giúp con người giao tiếp và thông tin, văn hóa giáo dục và đưa con người gia nhập vào cộng đồng xã hội Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và cũng là mục tiêu và động lực phát triển của xã hội xuyên suốt thời gian và không gian
Văn hóa, tên gọi và bản thân nó mang sứ mệnh cao cả, lưu giữ lại kho tàng tri thức vô giá của nhân loại “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi sinh tồn” [33, tr.431]
Văn hóa được hình thành trong một quá trình, được tích lũy qua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử, bồi đắp cho một bề dày, một chiều sâu nhất định Sự chuyển giao các giá trị văn hóa là xu hướng tất yếu trong dòng chảy văn hóa của mọi thời đại Như vậy, mỗi thế hệ con người đã vô tình hay có ý thức vừa sáng tạo, vừa chuyển giao các giá trị văn hóa Con người vừa là sản phẩm của lịch sử văn hóa, vừa là chủ thể sáng tạo ra những giá trị văn hóa của thời đại
Văn hoá như một động lực thúc đẩy các dân tộc đoàn kết và hiểu biết lẫn nhau Trong Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Chí Công nói: “Văn hoá là sợi dây có khả năng nối liền nhân dân các nước và các dân tộc… Sự hiểu biết lẫn nhau, sự học tập và tôn trọng nhau xưa nay đều thể hiện sâu sắc qua văn hoá, nơi tập trung những biểu hiện rực rỡ nhất của tâm huyết
và sức sáng tạo của con người” [70, tr.14]
Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc bao giờ cũng diễn ra hai chiều nhận và cho Sự giao lưu văn hóa càng mạnh mẽ thì bản sắc văn hóa càng tự cường
Trang 35Trong thời đại bùng nổ các công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin, mức
độ giao lưu văn hóa diễn ra ngày càng nhanh, mạnh mẽ và mang tính toàn cầu, cập nhật thông tin nhiều hơn dẫn đến các nền văn hóa, thường xuyên tiếp xúc
và chia sẻ kho tàng tri thức của nhân loại Mặt khác, nó cũng có thể dẫn đến tình trạng xâm lấn, hay là sự đồng hóa về văn hóa Vì vậy, để bảo vệ những giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc trong quá trình giao lưu văn hóa thì việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vô cùng quan trọng, trong đó có vai trò của giáo dục Trong giao lưu văn hóa, các dân tộc phải lựa chọn những cái hay, cái đẹp của văn hóa bên ngoài để đưa vào, cải biến thành văn hóa của mình Sự tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại không phải là một sự sao chép, học đòi, mà là một quá trình bổ sung, sáng tạo
Một quy luật của sự tiến bộ xã hội là thế hệ trước phải truyền lại cho thế
hệ sau những hiểu biết, năng lực, phẩm chất cần thiết cho cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng Thế hệ sau không chỉ lĩnh hội, kế thừa các tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, giá trị,… mà còn phải tìm tòi, sáng tạo và làm phong phú hơn những giá trị đó Nhờ lĩnh hội, tiếp thu, phát triển những kinh nghiệm mà mỗi cá nhân hình thành và phát triển nhân cách Nhân cách mỗi người được phát triển ngày càng đầy đủ, phong phú, đa dạng Sức mạnh về tinh thần, thể chất của mỗi con người được phát huy sẽ tạo nên nguồn lực cơ bản đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội trong những giai đoạn lịch sử cụ thể Như vậy, sự truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình phát triển xã hội loài người chính là nét đặc trưng cơ bản của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội đặc biệt Nhờ giáo dục, nhờ cá nhân mỗi con người mà văn hóa được tồn tại và phát triển Mỗi con người cần học tư duy theo lôgic hệ thống và phải tự đặt mình trong sự vận động của sự vật, hiện tượng, từ đó có cách giải quyết vấn đề một cách khoa học Vì vậy, mỗi cá nhân trong xã hội cần phải không ngừng học tập để tồn tại, phát triển
Trong thực tế hiện nay, giao lưu văn hóa diễn diễn ra nhanh chóng, đa dạng và nhiều chiều, đòi hỏi giáo dục phải có sự đổi mới hết sức cơ bản, toàn
Trang 36diện Giáo dục kiến thức khoa học cơ bản, kiến thức xã hội và nhân văn là vấn
đề mà giáo dục cần đặc biệt quan tâm để từ đó xây dựng một nền tảng tri thức vững chắc cho từng con người trong quá trình lựa chọn, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm phong phú thêm các giá trị văn hóa dân tộc
Như vậy, văn hóa và giáo dục có mối tương tác với nhau chặt chẽ, không tách rời, trong văn hóa có giáo dục, trong giáo dục có văn hóa Trong việc truyền tải các giá trị văn hóa đến từng cá nhân, từng cộng đồng và mỗi quốc gia thì giáo dục là phương tiện hiệu quả nhất Chỉ có giáo dục và đào tạo, và cũng chính giáo dục và đào tạo là nơi tạo điều kiện tốt nhất để sản sinh và vun trồng nhiều nhân tài, làm giàu thêm nguyên khí của mỗi quốc gia, là nguồn tài sản vô giá của dân tộc và nhân loại
Alessandro Falassi cho rằng: “Lễ hội là một hoạt động kỉ niệm định kì biểu thị thế giới quan của một nền văn hoá hay nhóm xã hội thông qua hành
lễ diễn xướng nghi lễ và trò chơi truyền thống”
Nhận định của Hoàng Phê: “Lễ hội là cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động nghi lễ mang tính văn hoá truyền thống”
Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh: “Lễ hội là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể được hình thành trên cơ sở một nghi lễ tín ngưỡng nào
đó được tiến hành theo định kỳ mang tính cộng đồng làng
Trang 37Có rất nhiều những khái niệm, định nghĩa về lễ hội khác nhau nhưng khái niệm chung nhất về Lễ hội: Lễ hội là một hệ thống sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của một cộng đồng người gắn liền với các nghi thức đặc thù và cuộc vui chung nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người
* Phân loại lễ hội
Cách phân loại lễ hội phổ biến nhất là phân loại lễ hội theo lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại
Lễ hội truyền thống bao gồm lễ hội dân gian và lễ hội cung đình
Lễ hội hiện đại xuất hiện từ sau năm 1945, khác với lễ hội truyền thống thì lễ hội hiện đại lấy thời gian tổ chức theo định kỳ trong năm hoặc theo năm chẵn, năm lẻ và theo năm dương lịch Lễ hội hiện đại ít có tính mùa vụ hơn Lễ hội truyền thống vì thế mà thường diễn ra trong thời gian ngắn ngoại trừ: các hội chợ xuân, hội chợ triển lãm, liên hoan, du lịch…
Lễ hội truyền thống còn nặng về phần lễ còn lễ hội hiện đại mang hơi thở thời đại, bổ sung thêm nhiều hoạt động mang tính chính trị, kinh tế
* Cấu trúc của lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống gồm hai phần: phần Lễ và phần Hội:
Lễ trong lễ hội là một hệ thống hành vi, động tác mang tính chất tâm linh nhằm biểu hiện lòng tôn kính, tạ ơn và cầu xin thần linh phù hộ và bảo trợ cho cuộc sống của con người
Hội là cuộc vui được tổ chức chung cho đông đảo người tham dự theo phong tục hay nhân dịp đặc biệt đem lại lợi ích tinh thần cho các thành viên trong cộng đồng và có nhiều trò vui
1.2.1.2 Ý nghĩa của lễ hội truyền thống
Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp văn hóa: phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật, các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc
Là một bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt và các giá trị tinh thần của dân tộc,
lễ hội có sức sống và sức thuyết phục mạnh mẽ Bóc tách lễ hội sẽ thấy được nhiều lớp văn hóa sống động trầm tích và được lưu trữ trong đó trong suốt
Trang 38chiều dài lịch sử dân tộc Lễ hội là một bộ bách khoa đồ sộ, một bảo tàng sống
về văn hóa của người Việt Nam Nó đã và sẽ tác động mạnh mẽ, sâu sắc vào thế giới tâm linh, tâm hồn, tính cách người Việt Nam xưa và mai sau
Lễ hội thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, giải trí của con người: Thực hiện
các nghi thức trong lễ hội, con người biểu hiện lòng biết ơn đối với trời đất, thần linh, các anh hùng dân tộc Phần lễ trong lễ hội nông nghiệp thể hiện sự cầu xin và ước vọng về mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống bình yên hạnh phúc Đời sống văn hóa trong những ngày lễ hội được nâng lên ở trình độ cao so với những ngày thường Con người tham gia hết mình vào các hoạt động lễ hội: trò chơi, hoạt động văn nghệ… Những sinh hoạt vui chơi trong phần hội phản ánh hiện thực và khát vọng của nông dân, thể hiện tài năng trí tuệ, tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của người Việt Nam Từ đây, nền văn hóa trò chơi dân gian được hình thành và phát triển
Lễ hội mang ý nghĩa cộng đồng và cộng cảm sâu sắc: Lễ hội cuốn hút đông đảo mọi người vào những sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Từ đó, con người gắn bó với nhau, có chung những cảm xúc, khát vọng Không gian và thời gian trong lễ hội giúp khiến con người tồn tại trong một hiện thực khác - hiện thực ít người mang tính chất huyền ảo Lễ hội giúp cho con người gần nhau hơn trong niềm cộng cảm, niềm vui được hòa nhập với cộng đồng
Lễ hội mang ý nghĩa dân chủ, nhân bản và giá trị thẩm mỹ cao: Lễ hội xuất hiện từ khi xã hội chưa có giai cấp và tồn tại ở các xã hội văn minh Tinh thần dân chủ của lễ hội được khẳng định ở chỗ tất cả mọi người, mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong đời sống xã hôi đều được tham gia và bình đẳng Toàn thể cộng đồng đều hóa thân, nhập cuộc, thực sự thưởng thức và sáng tạo khi đến với lễ hội Khi đó con người được được thực thi khát vọng dân chủ mà ngày thường vì lý do nào đó mà họ không thực hiện được Không khí trang nghiêm, vui tươi của lễ hội đã kích thích mọi tài năng, năng khiếu, ý chí vươn lên tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ của con người
Lễ hội đưa lại niềm phấn khởi, nó thể hiện niềm ước mơ về sự tốt đẹp cho
Trang 39cộng đồng, ý chí vươn lên của mỗi cá nhân…
Hoạt động lễ hội cũng là dịp phát huy cao độ năng lực thầm mỹ của con người Sinh hoạt lễ hội hội tụ khá nhiều thể loại văn nghệ, đặc biệt là tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian
Lễ hội dân gian có ý nghĩa chống sự đồng hóa về phương diện văn hóa (đặc biệt thời kỳ Bắc thuộc), tiếp sức mạnh cho người Việt bảo vệ đất nước
1.2.2 Văn hóa truyền thống địa phương thông qua hoạt động lễ hội làng của người dân phường An Biên
Hội làng mang tính cộng đồng sâu sắc, đó là đỉnh cao của sự hòa hợp, đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã Hội làng thường được tổ chức thật vui, thật đầm ấm vì tình làng, nghĩa xóm Đến với hội làng, con người mới cảm nhận hết ý nghĩa và lòng tự hào dân tộc với một truyền thống vàng son được lưu giữ qua thời gian
Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân gắn với nét văn hóa của làng Vẻn xưa kia và An Biên ngày nay, được đánh giá là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng thể rất phù hợp và hữu ích với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam nói chung và người dân Hải Phòng, đặc biệt là người dân
An Biên nói riêng Đây là một trong những lễ hội lớn nhất từ trước tới nay của địa phương, một sự kiện quan trọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong quận, thể hiện trách nhiệm và lòng thành kính của các thế hệ con cháu hôm nay, góp phần tôn vinh công đức của Nữ tướng Lê Chân Từ năm 2016,
Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân được Nhà nước công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia Lễ hội được thành phố tổ chức với quy mô rộng hơn, nhằm ghi nhớ công ơn Nữ tướng Lê Chân - người có công khai hoang, lập ấp dựng lên trang An Biên xưa (nay là thành phố Hải Phòng)
Những năm gần đây, lễ hội được phục hồi, tạo nên một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú mang đậm nét truyền thống Người dân phường
An Biên chính là làng Vẻn xưa kia nơi Nữ tướng lập ấp còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán, nét đẹp truyền thống của làng Vẻn với chuỗi lễ hội được
Trang 40tổ chức long trọng hàng năm
Lễ Cầu may: Lễ diễn ra vào đầu năm mới, đêm giao thừa rạng ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán, Nhân dân hành hương về đền Nghè làm lễ cầu may đầu năm với mong ước một năm mới có sức khỏe, gia đình thuận hòa, nhiều may mắn, có vật chất của cải dồi dào,…
Lễ Thánh đản: Lễ Thánh đản tức là ngày Thánh được sinh ra, diễn ra
từ ngày mồng 7 đến ngày mồng 10 tháng 2 Âm lịch hàng năm Đây cũng là dịp để tưởng nhớ ngày sinh của Thánh Chân Công chúa Gắn liền với không gian lễ hội làng An Biên là các di tích: Đình An Biên và đền Nghè Đình là không gian chính diễn ra hội làng, đền là nơi thờ thánh và là nơi xuất phát lễ rước anh linh thần về đình bái tế an vị Đình là nơi diễn ra các hoạt động chủ yếu của lễ hội nhưng thánh ngự tại đền Nghè vì vậy mà tại đền Nghè các nghi
lễ được cử hành trang nghiêm, kính cẩn
Lễ Khánh hạ (Lễ mừng thắng trận): Lễ diễn ra vào ngày 15 tháng 8 Âm lịch Sáng ngày 15, dân làng tiến hành rước anh linh Lê Thánh Công chúa từ Đền Nghè về đình An Biên
Lễ chạp thần: Lễ chạp thần Thánh Chân Công chúa gắn với sự hi sinh
và hiển linh của Nữ tướng Lê Chân
Từ xa xưa, nhân dân Hải Phòng tổ chức nhiều hoạt động lễ hội tại đình
An Biên, đền Nghè tưởng nhớ công lao của Nữ tướng Lê Chân, bày tỏ lòng ngưỡng vọng và biết ơn một vị tướng tài ba của triều đại Trưng Vương Trong
số nhiều hoạt động lễ hội, lễ Thánh Đản được tổ chức long trọng và quy mô hơn cả Những giá trị tinh thần đó trải qua thời gian được kết tinh lại thành giá trị văn hóa vô giá của dân tộc nói chung và trong tâm thức nhân dân Hải Phòng, tiếp nối lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác Lễ hội được tổ chức không chỉ đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân địa phương, mà còn góp phần ôn lại truyền thống, giáo dục con cháu lòng yêu nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tự hào dân tộc và trách nhiệm của mỗi người dân đối với quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, khơi gợi tình yêu