TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG BÙI MINH THẢO BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG MÔ HÌNH BÀI HỌC MÔN KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC NHẬT BẢN VÀO DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
BÙI MINH THẢO
BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG MÔ HÌNH BÀI HỌC
MÔN KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC NHẬT BẢN VÀO DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HẢI PHÒNG – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
BÙI MINH THẢO
BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG MÔ HÌNH BÀI HỌC
MÔN KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC NHẬT BẢN VÀO DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH : GIÁO DỤC HỌC
MÃ SỐ : 8.14.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thấn
HẢI PHÒNG - 2018
Trang 3Luận văn này được sự hỗ trợ của
Đề tài độc lập cấp quốc gia
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH GIÁO DỤC NHẬT BẢN VÀ ĐỀ XUẤT VẬN DỤNG CHO GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC
MÃ SỐ: ĐTĐL.XH.03/17
Do TS Nguyễn Vinh Hiển làm chủ nhiệm đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS Nguyễn Vinh Hiển và ban chủ nhiệm đề tài đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia vào đề tài trên
Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-TS Nguyễn Thị Thấn, người đã luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và Phòng sau Đại học trường Đại học Hải Phòng đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hải Phòng, ngày 2 tháng 11 năm 2018
Tác giả
Bùi Minh Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 20 tháng 9 năm 2018
Tác giả
Bùi Minh Thảo
Trang 5Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và Phòng sau Đại học trường Đại học Hải Phòng đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hải Phòng, ngày 20 tháng 9 năm 2018
Tác giả
Bùi Minh Thảo
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC 7
VẬN DỤNG MÔ HÌNH BÀI HỌC MÔN KHOA HỌC Ở NHẬT BẢN VÀO DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC Ở VIỆT NAM 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Khái niệm mô hình dạy học (mô hình; mô hình bài học) 7
1.1.2 Khái quát về môn Khoa học trong giáo dục tiểu học Nhật Bản 9
1.1.3 Môn Khoa học trong giáo dục tiểu học Việt Nam 10
1.1.3.1 Nội dung, chương trình dạy học môn Khoa học ở Tiểu học 10
1.1.3.2 Đặc điểm nội dung dạy học môn Khoa học ở Tiểu học 11
1.1.3.3 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Khoa học 16
1.1.4 Học sinh tiểu học và việc học tập môn Khoa học 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Mô hình bài học ở trường tiểu học ở Việt Nam 20
1.2.2 Thực trạng dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học Việt Nam 24
1.2.2.1 Nhận thức của giáo viên Tiểu học về vị trí môn học 24
1.2.2.2 Về các phương pháp dạy học môn Khoa học của giáo viên 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH BÀI HỌC MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NHẬT BẢN VÀ VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC Ở NƯỚC TA 35
2.1 Mô hình bài học môn Khoa học ở Nhật Bản 35
2.1.1 Mục tiêu và nội dung dạy học môn Khoa học 35
2.1.2 Sách giáo khoa môn Khoa học 38
Trang 72.1.3 Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Khoa học 40
2.2 Sự khác biệt của mô hình bài học môn Khoa học của trường Tiểu học Nhật Bản 42
2.3 Vận dụng mô hình bài học môn Khoa học ở Nhật Bản vào dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học Việt Nam 51
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 60
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61
3.1 Khái quát về quá trình thực nghiệm 61
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 61
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 61
3.1.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 61
3.1.4 Thời gian thực nghiệm 62
3.1.5 Phương pháp thực nghiệm 63
3.1.6 Tổ chức thực nghiệm 63
3.2 Kết quả thực nghiệm 63
3.2.1 Kết quả định lượng 63
3.2.2 Kết quả định tính 64
3.2.3 Đánh giá của giáo viên 65
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC
Trang 91.6 Việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Khoa học 31
2.2 Nội dung môn Khoa học ở cấp tiểu học ở Nhật Bản 43
2.3 Các bước hoạt động và các lô gô tương ứng 45
2.5 Hướng dẫn sử dụng các dụng cụ, kĩ năng thực hành 49 3.1 Đánh giá kết quả học tập trước thực nghiệm của lớp
Trang 10DANH MỤC BIỂU
Số hiệu
biểu đồ
3.1 Đánh giá kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của lớp
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2017 thể hiện ở định hướng: Tiếp tục mục tiêu giáo dục phát triển con người toàn diện
“đức, trí, thể, mỹ”, hài hòa về thể chất và tinh thần… Mục tiêu của chương
trình giáo dục phổ thông mới nhấn mạnh yêu cầu phát triển năng lực, chú ý phát huy tiềm năng vốn có của mỗi HS, chú ý phát triển cả con người xã hội
và con người cá nhân Đó chính là mục tiêu đổi mới căn bản trong chương trình giáo dục phổ thông
Cấp tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách và phát triển toàn diện con người, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông Do đó các phương pháp giáo dục tiểu học cần đổi mới sâu sắc Dạy học tích cực trở thành xu thế chung của các nước trong khu vực
và trên thế giới Dạy học tích cực nhằm mục đích phát triển những đặc tính tự nhiên, tốt đẹp của trẻ, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết và những đặc tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo nên hứng thú học tập Trẻ em chỉ phát triển nhận thức khi có nhu cầu và hứng thú thực sự Chỉ khi đó trẻ mới tập trung mọi sức lực, trí lực để khám phá Dạy học phải dựa trên những cơ sở tự nhiên, vốn có của đứa trẻ để xây dựng và phát triển nhận thức, tạo cơ hội giúp học sinh sớm phát triển năng khiếu cá nhân Nội dung dạy học phải xuất phát
từ trẻ em, bắt nguồn từ hứng thú, sở thích, nguyện vọng của trẻ vì hứng thú là nguồn gốc của tính tích cực nhận thức và sự phát triển
Để nhận thức được về một đối tượng, một sự việc hay một đối tượng nào đó, người học phải dựa trên vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm đã có từ trước, hoặc không có những trải nghiệm nhất định thì không thể hình thành được kiến thức mới Hơn nữa, trong dạy học Khoa học, kiến thức hình thành trước thường là cơ sở để hình thành, phát triển những kiến thức tiếp theo Việc dạy học môn Khoa học thông qua hoạt động tìm hiểu, quan sát xung quanh sẽ giúp học sinh nhận thức được việc các em đang và sẽ thực hiện Từ
Trang 13đó các em sẽ thực hành và hình thành thái độ đúng đắn trong việc học môn khoa học Đặc biệt việc học khoa học thông qua hoạt động trải nghiệm, quan sát trực tiếp, làm thí nghiệm sẽ giúp giáo viên đánh giá học sinh và học sinh
tự đánh giá mình một cách liên tục trong suốt quá trình học tập chứ không phải chỉ thông qua kết quả học tập Tất cả những điều này được thể hiện ở mô hình bài học môn Khoa học
Nhật Bản là một trong số các quốc gia phát triển trên thế giới với tỷ lệ người mù chữ thực tế gần như bằng không và 74.1% (năm 2010) số học sinh theo học lên đến bậc đại học, cao đẳng và trung cấp, một con số ngang hàng với Mỹ và vượt trội một số nước châu Âu Điều này đã tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế và công nghiệp của đất nước Nhật Bản trong thời kỳ hiện đại Các em nhỏ khi vừa hoàn thành chương trình giáo dục mầm non sẽ tiếp bước bằng chương trình 6 năm ở bậc Tiểu học và 3 năm ở bậc Trung học cơ sở Tại đây, các em được tập trung phát triển tất cả những kiến thức chung như Toán, Nhật ngữ, Xã hội, Tự nhiên, Đạo đức … và đặc biệt là các môn học liên quan đến lĩnh vực nghệ thuật như âm nhạc và hội họa
Đặc biệt, người Nhật rất chú trọng đến việc giáo dục lối sống và đạo đức cho học sinh, chính vì vậy mà trẻ em nước Nhật nổi tiếng bởi khả năng tự lập và vô cùng lễ độ trong giao tiếp Khả năng giao tiếp tốt giúp chúng có những hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội, khả năng tự lập cao khiến chúng trở nên cứng cáp và trưởng thành hơn sơ với các trẻ em nước khác, biết cách hoạch định và đưa ra các quyết định cho tương lai của mình
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Bước đầu vận dụng
mô hình bài học môn Khoa học của trường Tiểu học Nhật Bản vào dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học Việt Nam”
2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu
Hiện nay, ngành giáo dục đang triển khai đổi mới giáo dục phổ thông, trong đó quá trình đổi mới chương trình và sách giáo khoa cần được triển khai đồng bộ với việc xây dựng các mô hình giáo dục, xác định các thành tố và
Trang 14cách thức tổ chức thực hiện để nâng cao chất lượng giáo dục
Trong quá trình phát triển chương trình giáo dục phổ thông mới, cần tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt cần lựa chọn được những quốc gia tiêu biểu, có những điều kiện khá tương đồng với Việt Nam, đã đạt được những kết quả cao trong đổi mới chương trình giáo dục phổ thông để tiến hành nghiên cứu, phân tích, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nhật Bản là một nước thuộc châu Á, có nhiều quan hệ và đặc điểm về văn hoá, xã hội gần gũi với Việt Nam Nhiều học giả nước ngoài đã tìm thấy những phẩm chất rất giống nhau giữa con người thuộc hai dân tộc Nhật Bản
và Việt Nam Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng, trở thành một siêu cường kinh tế, hiện đại hoá mà vẫn giữ được bản sắc truyền thống dân tộc Hiện đại hoá đất nước ở Nhật Bản không phải là quá trình tự phát mà là một công cuộc được nhà nước chủ động tiến hành, lấy việc giáo dục nâng cao ý thức con người làm cơ sở cho sự phát triển đất nước
Việc nghiên cứu mô hình giáo dục Nhật Bản sẽ giúp chúng ta có được những kinh nghiệm tốt để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn Việt Nam
Trong những năm gần đây, tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện các mô hình giáo dục mang phong cách, triết lí Nhật Bản, đặc biệt là mô hình giáo dục tiểu học Có thể kể đến các trường: Trường Quốc tế Nhật Bản (Japanese International School - JIS), Trường Nhật Bản Hà Nội (The Japanese School in Hanoi - JPS) Các trường này đã hoạt động trong một số năm qua và đang giúp nhiều trẻ em được tiếp nhận tinh hoa văn hóa Nhật Bản, đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục không chỉ của từng học sinh mà còn đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục của một bộ phận xã hội là các phụ huynh học sinh Đồng thời, việc tổ chức, triển khai mô hình giáo dục Nhật Bản tại Việt Nam ở các trường này cũng gợi mở nhiều bài học trong việc triển khai mô hình giáo dục tiểu học Nhật Bản tại Việt Nam Tuy nhiên, những thành tựu này còn mang tính kinh nghiệm, đơn lẻ, cần được nghiên cứu một cách hệ thống, bài bản, nhằm tìm ra cách thức vận dụng mô hình, lan tỏa các giá trị giáo dục cao
Trang 15đẹp một cách rộng rãi trong các trường tiểu học Việt Nam
Ngày 7/5/2016, phương pháp giáo dục Nhật Bản lần đầu tiên được áp dụng tại trường quốc tế Nhật Bản ở Hà Nội, nhằm đáp ứng sự kỳ vọng của nhiều phụ huynh trong nước Với hệ thống giáo dục liên cấp từ bậc Mầm non đến hết Trung học Phổ thông theo mô hình của Nhật Bản, trường quốc tế Nhật Bản tại Hà Nội hướng tới sự giáo dục toàn diện cho trẻ về lòng yêu thương, nhân ái và ý thức cộng đồng
Đã có một số đề tài nghiên cứu về mô hình giáo dục Nhật Bản như: Sự hấp dẫn của giáo dục Nhật Bản – Thân Ngọc Hùng (2013) tìm hiểu tại sao nền giáo dục Nhật Bản lại thu hút học sinh, sinh viên và tìm hiểu những yếu
tố có sức hút đối với học sinh, sinh viên quốc tế đến với Nhật Bản; Giáo dục đào tạo Nhật Bản bài học kinh nghiệm cho Việt Nam – Phạm Thị Thanh Bình (2017) đưa ra các bài học kinh nghiệm về giáo dục từ Nhật Bản; Nghiên cứu
và giảng dạy đạo đức tại Nhật Bản – Nguyễn Thu Hương (2015) trình bày đến một trong rất nhiều những mô hình nghiên cứu và giảng dạy đạo đức tại Nhật Bản… Bên cạnh đó, khi triển khai đề tài chúng tôi đã tham khảo thêm các tạp chí chuyên ngành có đề cập đến mô hình giáo dục ở Nhật Bản Các đề tài này đều đã đề cập tới mô hình giáo dục ở Nhật Bản nhưng trên những ngữ liệu khác nhau Tuy nhiên, việc vận dụng mô hình giáo dục ở Nhật Bản của một môn cụ thể vào mô hình giáo dục ở Việt Nam thì còn khá ít
Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu mô hình giáo dục tiểu học ở Nhật Bản, so sánh với mô hình giáo dục tiểu học ở Việt Nam, từ đó đề xuất vận dụng mô hình giáo dục tiểu học ở Nhật Bản cho trường tiểu học ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục và là một nhiệm vụ rất cấp thiết, có ý nghĩa lớn cả về mặt lí luận và thực tiễn hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động dạy học theo mô hình Nhật Bản
Trang 16- Xác định mô hình bài học môn Khoa học ở trường tiểu học Nhật Bản
- Xây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động theo mô hình tài liệu môn Khoa học Nhật Bản cho học sinh Tiểu học
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cách thức vận dụng mô hình bài học môn khoa học của trường Tiểu học Nhật Bản vào dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học Việt Nam
Phạm vi thực nghiệm: Trường tiểu học Nguyễn Tri Phương, Hồng Bàng, Hải Phòng
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các cơ sở lý luận về tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh tiểu học; cơ sở lý luận trong việc dạy học môn khoa học theo mô hình của Nhật Bản cho học sinh Tiểu học Nghiên cứu các chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt đối với mảng kiến thức khoa học cho học sinh Tiểu học
- Phương pháp điều tra thực tế, quan sát:
Lấy thông tin từ phiếu điều tra; phỏng vấn, trao đổi, thảo luận với giáo viên trực tiếp giảng dạy
Lấy thông tin trực tiếp về hoạt động trải nghiệm học môn khoa học qua việc quan sát, phiếu kiểm tra,…
Trang 17- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm đối với học sinh của trường tiểu học Nguyễn Tri Phương, Hồng Bàng, Hải Phòng để xem xét tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất
- Phương pháp thống kê toán học: Thống kê số liệu điều tra được từ các giáo viên và học sinh tiểu học và tổng hợp kết quả thực nghiệm, từ đó phân tích vấn đề thấy được thực trạng và hiệu quả của việc dạy học môn khoa học theo mô hình của Nhật Bản cho học sinh Tiểu học
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng mô hình bài học môn Khoa học của trường Tiểu học Nhật Bản vào dạy học môn khoa học
ở trường Tiểu học ở Việt Nam
Chương 2 Mô hình môn Khoa học của trường Tiểu học Nhật Bản và vận dụng vào dạy học ở nước ta
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
VẬN DỤNG MÔ HÌNH BÀI HỌC MÔN KHOA HỌC Ở NHẬT BẢN
VÀO DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC Ở VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm mô hình dạy học (mô hình; mô hình bài học)
Có nhiều cách quan niệm và diễn đạt khác nhau về mô hình Theo Từ điển Giáo dục học, mô hình là “Sự thể hiện một ý tưởng cần đạt được bằng cách mô phỏng, bắt chước một đối tượng có thật hoặc bằng cách dựa vào một tập hợp những đặc trưng cần chiếm lĩnh nhằm tiếp cận một trạng thái hoàn hảo; Sự đơn giản hóa hoặc sự thu nhỏ một đối tượng thực tiễn về không gian
và thời gian để hiểu tốt hơn” [8]
Theo Đặng Thành Hưng, mô hình là đồ vật thay thế hay ý niệm (tư duy
có chủ định) phản ánh một sự vật hay quá trình có thật đang tồn tại hoặc có thể sẽ xuất hiện trong thế giới, cho biết những thuộc tính bản chất nhất, những nguyên lý cơ bản nhất, những đặc điểm nổi bật nhất hiện có hoặc sẽ có của nó một cách tinh giản, khái quát và minh bạch [11]
Theo N.V.Savin, cơ sở của việc xác định mô hình là khả năng xác định tương quan giữa hiểu biết về các đối tượng trong tư duy với chính các đối tượng thực đó Sự hiểu biết về cơ cấu chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp hoạt động của đối tượng được mô tả, phản ánh dưới hình thức mô tả
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bài học là bài học sinh phải học, bài học là điều có tác dụng giáo dục, đưa ra những kinh nghiệm bổ ích thường được rút
ra từ những sai lầm, thất bại”
Như vậy, có thể xác định “Mô hình bài học là hình thức diễn đạt hết sức ngắn gọn các tri thức chủ yếu và hệ thống các thiết bị, các hoạt động học tập mà học sinh cần phải thao tác, trải nghiệm để lĩnh hội các tri thức đó cũng như hình thành các kĩ năng và hành vi liên quan”
Trong mô hình bài học, người ta phân chia khái niệm mô hình thực tiễn
và mô hình lý thuyết
Trang 19- Mô hình thực tiễn thường được hiểu là khuôn mẫu, là chuẩn mực của
sự hoàn thiện về vật thực nhằm hỗ trợ cho quá trình nhận thức Mô hình thực tiễn là mô hình mà chúng ta có thể nhìn thấy và sử dụng Tuy nhiên mô hình thực tiễn đôi khi không hoàn toàn giống như đối tượng nghiên cứu và cũng để
dễ dàng cho việc tìm hiểu, nhận thức về đối tượng
- Mô hình lý thuyết là quan niệm về cấu trúc của một sự vật, hiện tượng hoặc quá trình nào đó Loại mô hình này có mấy tính chất cơ bản sau: tính đẳng cấu, tính cơ bản và tính lý tưởng của mô hình Tính đẳng cấu của mô hình lý thuyết thể hiện qua việc mô hình phản ánh những yếu tố, mối quan hệ
cơ bản của các hiện tượng và quá trình mà nó mô tả Tính cơ bản yêu cầu mô hình hóa một hiện tượng hay quá trình nào đó, cần loại bỏ những cái thứ yếu, phụ thuộc, chỉ giữ lại những yếu tố, những mối liên hệ, những thuộc tính cơ bản Tính lý tưởng của mô hình thể hiện qua cái đích cần phấn đấu để đạt được trong quá trình phát triển, vì vậy mô hình có tính chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động thực tiễn
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, mô hình được quan niệm là mô hình lý thuyết, đó là sự mô tả bằng lời hoặc bằng sơ đồ, có vai trò thay thế vật thật, phản ánh cấu trúc, nội dung tổ chức và chức năng cũng như thuộc tính cơ bản khác của đối tượng được mô hình hóa Cụ thể mô hình bài học môn Khoa học có thể được hiểu là cấu trúc, nội dung, các phương pháp tổ chức bài học môn Khoa học Như vậy mô hình bài học môn Khoa học bao gồm trên hết là
kế hoạch bài học môn học và việc thực hiện bài học đó trong thực tiễn Kế hoạch bài học bao gồm: Mục tiêu, các thiết bị chủ yếu về các hoạt động học tập… là bản phác họa trên lý thuyết, còn việc hiện thực hóa kế hoạch bài học
đó thể hiện trên các tiết học thông qua các hoạt động của HS và GV Trên cơ
sở mô hình lý thuyết, đề tài tiến hành thử nghiệm một số yếu tố của mô hình
để từ đó có được những kết luận về tính khả thi, về các điều kiện cần thiết cho việc triển khai mô hình trong thực tiễn
Trang 201.1.2 Khái quát về môn Khoa học trong giáo dục tiểu học Nhật Bản
Cấp tiểu học ở Nhật Bản gồm 6 năm và chia thành các giai đoạn học tập khác với nước ta Đó là các giai đoạn: đầu tiểu học (lớp 1 và lớp 2), giữa tiểu học (lớp 3 và lớp 4), và cuối tiểu học (lớp 5 và lớp 6) Trong khi đó cấp tiểu học ở nước ta gồm 5 năm và chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn đầu (các lớp 1,2,3) và giai đoạn sau (các lớp 4, 5)
Khoa học là môn học bao gồm các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học về cơ thể và sức khỏe con người Ở nước ta môn học này được dạy học ở các lớp 4,5 thuộc giai đoạn sau của cấp tiểu học Còn ở cấp tiểu học Nhật Bản, môn học này được dạy học ở các giai đoạn giữa và cuối cấp tiểu học (từ lớp 3 đến lớp 6)
Chương trình các môn Khoa học của Việt Nam và Nhật Bản không có những sai khác lớn, nhưng nội dung trong sách của Nhật Bản đều sâu hơn về bản chất và quan trọng nhất là luôn hướng cho học sinh tự tìm tòi, rút ra kết luận của riêng mình thông qua việc hướng dẫn học sinh làm quen với việc tự nghiên cứu từ lớp 3
Về cách tiếp cận, học sinh được trực tiếp tham gia vào các thí nghiệm,
tự mình rút ra được các kết luận và giải thích được các hiện tượng trong cuộc sống Chương trình các môn học đều quan tâm nâng cao năng lực suy nghĩ, sáng tạo của các em hơn là hướng dẫn các em tìm ra những kết quả cụ thể một cách máy móc
Cũng giống như toán học, các nội dung được đưa vào sớm, được nhắc lại qua nhiều lớp, nhiều cấp, càng lên lớp trên, kiến thức càng sâu hơn Từ đó, giúp học sinh nắm kiến thức một cách có hệ thống, kiến thức không ngừng
được củng cố và khó quên (VD: Nội dung về hóa học được đưa vào lớp 5, lớp
6, ở Việt Nam bắt đầu dạy từ lớp 8) Không chỉ truyền thụ kiến thức mới,
chương trình và sách giáo khoa rất chú trọng việc củng cố và hệ thống hóa Ở mỗi phần kiến thức cũng đều ghi rõ những điều đã học ở lớp trước và sẽ được học ở lớp sau Cuối mỗi cuốn sách đều ghi lại những kiến thức quan trọng
Trang 21nhất trong năm học Bên cạnh phần kiến thức phổ cập, ở từng phần, sách giáo khoa đều có nội dung nâng cao dành cho học sinh khá giỏi và có lòng ham thích với môn học
Ở Nhật Bản rất coi trọng thực hành và vận dụng kiến thức đã học vào đời sống: từ lớp 2, 3, HS đã được học cách khám phá tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình như: tìm hiểu về địa phương nơi cư trú và xác định những địa điểm quan trọng trên bản đồ; phân biệt các cửa hàng tiện lợi với các siêu thị; cách tổ chức phục vụ của siêu thị nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng Khi học về cây cối, HS đều được thực hành trồng và tìm hiểu trong thực tế cuộc sống Nói chung, các kiến thức đều không bị áp đặt từ chủ quan GV mà HS được từng bước nhận ra vấn đề trước khi rút ra kết luận cuối cùng
1.1.3 Môn Khoa học trong giáo dục tiểu học Việt Nam
1.1.3.1 Nội dung, chương trình dạy học môn Khoa học ở Tiểu học
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ
sở thực tiễn xã hội
Chương trình môn Khoa học:
- Tích hợp các nội dung của các khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học, Cơ sở địa lí tự nhiên) và tích hợp các nội dung của các khoa học tự nhiên với khoa học về sức khỏe
- Nội dung được lựa chọn thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với HS, giúp các em có thể vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống hàng ngày
- Chú trọng tới việc hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập môn Khoa học như quan sát, dự đoán, giải thích các sự vật hiện tượng tự nhiên đơn giản và kĩ năng vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống
Trang 22- Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho HS phát huy tính tích cực, tự lực tìm tòi, phát hiện ra kiến thức mới và thể hiện bằng hành vi phục vụ bản thân, gia đình và cộng đồng
SGK môn Khoa học được cấu trúc bởi hai kênh: kênh chữ và kênh hình:
Về kênh chữ: Nếu trong SGK cũ kênh chữ chủ yếu bao gồm những đoạn văn dài được viết một cách hàn lâm, đơn điệu để cung cấp hay diễn giải thông tin cho HS, thì trong SGK mới phần thông tin đó được đặt trong các khung màu là cơ sở để HS tìm tòi, khám phá ra tri thức Bởi vì bên cạnh những khung màu chữ này luôn có những câu hỏi, “lệnh” yêu cầu HS phải đọc kĩ thông tin đó, động não suy nghĩ để trả lời câu hỏi, thực hiện theo các
“lệnh” đã đề ra Trong SGK mới, phần thông tin ghi nhớ đã bị lược bỏ, thay bằng thông tin “Bạn cần biết” với kí hiệu “Bóng đèn tỏa sáng” Phần thông tin này chỉ yêu cầu HS đọc để hiểu chứ không yêu cầu HS phải học thuộc lòng
Về kênh hình: Phần kênh hình trong SGK rất phong phú và đa dạng Chúng không đơn thuần chỉ có vai trò minh họa cho kênh chữ mà còn cung cấp thông tin, là phương tiện để các em HS quan sát, sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, so sánh… để khám phá ra kiến thức của bài học và là phương tiện để HS liên hệ, giúp vận dụng vào thực tiễn hay gợi ý cách giải quyết tình huống Hệ thống kí hiệu trong SGK có vai trò hướng dẫn các hoạt động dạy học và luyện cho HS khả năng tự học
1.1.3.2 Đặc điểm nội dung dạy học môn Khoa học ở Tiểu học
Với bốn chủ đề lớn, môn Khoa học ở Tiểu học được xây dựng theo quan điểm tích hợp các nội dung của các khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học, Cơ sở địa lý tự nhiên) và tích hợp các nội dung của các khoa học tự nhiên với khoa học về sức khỏe Chương trình xem xét Tự nhiên – Con người – Xã hội trong một thể thống nhất, có quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau Nội dung được lựa chọn thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với HS, giúp các em
có thể vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống hằng ngày Ngoài
Trang 23ra, môn Khoa học còn chú trọng tới việc hình thành và phát triển các kĩ năng học tập môn Khoa học nói chung như quan sát, dự đoán, thí nghiệm, giải thích các sự vật hiện tượng tự nhiên đơn giản và kĩ năng vận dụng những kiến thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống Chương trình có cấu trúc đồng tâm, cụ thể như các kiến thức trong mỗi chủ đề được nâng cao dần, từ cụ thể đến trừu tượng, từ xa đến gần, từ dễ đến khó Tăng mức độ phức tạp khái quát, tạo điều kiện cho học sinh dễ thu nhận kiến thức
Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4, 5 (chương trình hiện hành) cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4, 5 ở Việt Nam
1 Trao đổi chất ở người
- Một số biểu hiện về sự trao đổi chất giữa cơ thể người và môi trường
- Vai trò của các cơ quan trong
sự trao đổi chất giữa cơ thể người với môi trường
2 Nhu cầu dinh dưỡng
- Một số chất dinh dưỡng có trong thức ăn và vai trò của chúng đối với cơ thể
- Dinh dưỡng hợp lí
- An toàn thực phẩm
3 Vệ sinh phòng bệnh
- Phòng một số bệnh do ăn thiếu hoặc thừa chất dinh dưỡng
3 An toàn trong cuộc sống
- Sử dụng thuốc an toàn
- Không sử dụng các chất gây nghiện
- Phòng tránh bị xâm hại
- Phòng tránh tai nạn giao thông
Trang 24- Phòng một số bệnh lây qua đường tiêu hóa
4 An toàn trong cuộc sống
- Phòng tránh tai nạn đuối nước
- Vật cho ánh sáng đi qua và vật cản sáng
- Vai trò của ánh sáng Sử dụng ánh sáng trong đời sống
1 Đặc điểm và ứng dụng của một số vật liệu thường dùng
- Tre, mây, song
- Sắt, gang, thép, đồng, nhôm
- Đá vôi, gạch, ngói, xi măng, thủy tinh
- Cao su, chất dẻo, tơ sợi
2 Sự biến đổi của chất
Trang 25- Vai trò của thực vật đối cới sự sống trên Trái Đất
- Tài nguyên thiên nhiên
2 Mối quan hệ giữa môi
Trang 26trường và con người
- Vai trò của môi trường đối với con người
- Tác động của con người đối với môi trường
- Một số biện pháp bảo vệ môi trường
Như vậy, nội dung chính của môn Khoa học ở Tiểu học giúp HS:
- Nhận thức thế giới tự nhiên: Nhận biết và kể được tên, thuộc tính của một số sự vật, hiện tượng, mối quan hệ đơn giản trong tự nhiên và đời sống; Phân biệt được sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác dựa trên một số những tiêu chí xác định
- Tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên: Quan sát và đặt được các câu hỏi
về các sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và về sức khoẻ; Thu thập được các thông tin về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và sức khoẻ bằng nhiều cách khác nhau (quan sát các sự vật và hiện tượng xung quanh, đọc tài liệu, hỏi người lớn, tìm trên Internet ); Sử dụng được các thiết
bị đơn giản để quan sát/ thực hành/ làm thí nghiệm tìm hiểu những sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và ghi lại các dữ liệu đơn giản từ quan sát, thí nghiệm, thực hành, ; Từ kết quả quan sát, thí nghiệm, thực hành, rút ra được nhận xét, kết luận và các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng
- Vận dụng kiến thức vào thực tiễn và ứng xử phù hợp với tự nhiên, con người: Vận dụng được kiến thức đã học để mô tả, giải thích được một số sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên xung quanh, về con người và các biện pháp giữ gìn sức khoẻ; Đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một số tình huống có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của bản thân, gia đình, cộng đồng và môi trường tự nhiên xung quanh
Trang 271.1.3.3 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Khoa học
* Phương pháp dạy học trong môn Khoa học
Dạy học môn Khoa học cần phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học ở Tiểu học như phương pháp quan sát, phương pháp thí nghiệm, phương pháp thực hành, đóng vai và truyền đạt… Trong đó đặc biệt chú trọng sử dụng linh hoạt những phương pháp: khám phá, tìm tòi nghiên cứu, giải quyết vấn đề, thực nghiệm … Cụ thể:
- Phương pháp điều tra: Phương pháp điều tra là phương pháp trong đó giáo viên tổ chức và hướng dẫn học sinh tìm hiểu một vấn đề và sau đó dựa trên các thông tin thu thập được để tiến hành phân tích, so sánh, khái quát hóa, từ đó rút ra kết luận, nêu ra giải pháp hoặc kiến nghị
- Phương pháp thảo luận: Phương pháp thảo luận là phương pháp trong
đó giáo viên tổ chức đối thoại giữa học sinh và giáo viên hoặc giữa các học sinh với nhau nhằm huy động trí tuệ của tập thể để giải quyết một vấn đề do môn học đặt ra hoặc một vấn đề do thực tế cuộc sống đòi hỏi nhằm tìm hiểu hoặc đưa ra những giải pháp, kiến nghị, quan niệm mới,… Trong phương pháp thảo luận, học sinh giữ vai trò chủ động, là người đề xuất ý kiến, thảo luận, tranh luận, còn giáo viên là người nêu vấn đề, gợi ý khi cần thiết và tổng kết thảo luận
- Phương pháp hỏi đáp: Phương pháp hỏi đáp là PPDH GV tổ chức cuộc đối thoại giữa GV với HS, giữa HS với nhau dựa trên hệ thống câu hỏi nhằm dẫn dắt HS đi đến những kết luận khoa học, hoặc vận dụng vốn hiểu biết của mình để tìm hiểu những vấn đề về học tập
- Phương pháp đóng vai: Phương pháp đóng vai là phương pháp trong
đó giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết một tình huống của nội dung học tập gắn liền với cuộc sống thực tế bằng cách diễn xuất một cách ngẫu hứng
mà không cần kịch bản luyện tập trước Trong đóng vai, hoàn cảnh của cuộc sống thực được lựa chọn xây dựng thành kịch bản, học sinh được phân vai để
Trang 28biểu diễn, các em trở thành những nhân vật trong vở diễn, thể hiện những tình cảm, những rung động, những hành vi của nhân vật đó
- Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát là phương pháp trong
đó học sinh sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có mục đích các sự vật, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên và trong cuộc sống mà không có sự can thiệp vào quá trình diễn biến của các sự vật hoặc hiện tượng đó
- Phương pháp thí nghiệm: Phương pháp thí nghiệm là phương pháp dạy học khi ta dùng các dụng cụ để tác động lên sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu với mục đích tái tạo lại các hiện tượng đã xảy ra cho học sinh quan sát
- Phương pháp thực địa: Phương pháp thực địa là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập ở ngoài lớp Phương pháp thực địa khơi dậy vốn kinh nghiệm, khả năng cá nhân của học sinh, giúp các em hiểu được hoàn cảnh tự nhiên, mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường trong
tự nhiên
Trong giờ học, GV tăng cường HS sử dụng tranh ảnh, sơ đồ, mẫu vật,
đồ dùng thí nghiệm… cho HS thảo luận nhóm, đóng vai … nhằm giúp các em được rèn luyện khả năng diễn đạt, giao tiếp và hợp tác trong công việc
* Hình thức tổ chức trong môn Khoa học
Dạy học trong lớp: Được tiến hành ở đa số các tiết học của các môn học ở tiểu học Trong dạy học các môn đều có thể sử dụng ba hình thức tổ chức dạy học sau:
Trang 29trường hay những địa điểm thuận lợi, phù hợp gần trường
- Tham quan: Tham quan cũng là một hình thức dạy học ngoài lớp nhưng yêu cầu cần thời gian nhiều hơn, có thể nửa ngày, có thể cả ngày, Tham quan có thể giải quyết được các nội dung học tập của một bài, một chủ
đề hoặc của nhiều chủ đề tùy theo thời gian và địa điểm nơi học sinh tiến hành tham quan
1.1.4 Học sinh tiểu học và việc học tập môn Khoa học
- Theo Giáo trình tâm lí học Tiểu học [10] thì ở lứa tuổi Tiểu học, khi nói tới đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, trước tiên ta phải nói tới vấn đề tri giác Tri giác là quá trình nhận thức, phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan Tri giác của học sinh tiểu học phát triển trong quá trình học tập Sự phát triển này diễn ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn Tri giác của học sinh đầu Tiểu học nói chung và
HS lớp 4 nói riêng vẫn ở mức đại thể; các em tri giác tốt về những sự vật, hiện tượng cụ thể Vì thế, trò chơi học tập phải có những hoạt động giúp gắn với các sự vật cụ thể để các em tri giác nhanh, chi tiết về sự vật đó Chính vì đặc điểm trên mà những vật thật, mô hình, tranh ảnh, thí nghiệm,… ở môn Khoa học rất hấp dẫn HS Tiểu học
HS tiểu học có trí thông minh, nhanh nhạy, có óc tưởng tượng phong phú đó là tiền đề cho việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nói chung
và bộ môn Khoa học nói riêng
HS tiểu học tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế, phương pháp dạy học truyền thống làm cho học sinh dễ mệt mỏi chán nản trong giờ học, khó tiếp thu bài học Giờ học diễn ra nặng nề, không duy trì được khả năng chú ý của học sinh Tồn tại lớn nhất ở HS là thói quen thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên
đã giảng Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá
Trang 30bài học, lười suy nghĩ Đa số HS vẫn còn thói quen thụ động, dựa dẫm vào sự hướng dẫn của thầy cô là chính
HS tiểu học có trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic, vì ở lứa tuổi này các hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của các em tương đối chiếm ưu thế Học sinh đầu tiểu học thường chỉ nhớ những sự vật gây ấn tượng mạnh đối với các em Việc bắt các
em học thuộc, ghi nhớ các kiến thức một cách máy móc là một yêu cầu khó khăn với các em rất nhiều so với việc quan sát trực tiếp, tự tay tìm tòi, làm thí nghiệm, thực hành thì HS sẽ ghi nhớ kiến thức dễ dàng hơn Đối với trẻ tiểu học, tư duy của các em là tư duy cụ thể, trẻ thường tư duy dựa vào những đặc điểm trực quan của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống Vì thế, việc sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp và việc trẻ được tiếp xúc với môi trường xung quanh là vô cùng cần thiết
Một yếu tố cần phải quan tâm đặc biệt khi xây dựng hoạt động học tập
đó chính là tình cảm của học sinh tiểu học Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể, trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,… Như vậy, khi cho trẻ tham gia tìm hiểu thế giới xung quanh sẽ khơi dậy ở trẻ tình yêu cuộc sống
Khi chuyển từ giai đoạn mầm non sang tiểu học, các em chuyển từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Vì thế nhu cầu học tập của các em ngày càng cao và càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ Chính nhu cầu học tập là động lực để các em tự giác, tích cực chủ động trong học tập Nếu trong các bài học, GV biết cách tổ chức các hoạt động học tập phong phú, đa dạng phù hợp với nhu cầu của các em thì sẽ giúp các em ngày càng tự giác và chủ động lĩnh hội các nguồn tri thức khoa học, thúc đẩy các em vươn tới giành lấy tri thức nhân loại
Khi học môn Khoa học, học sinh sẽ được ngoài việc quan sát hình ảnh qua sách giáo khoa, đọc thông tin cho sẵn, phân tích và rút ra bài học thì các
em còn rất hứng thú khi được quan sát những hình ảnh được chụp từ thực tế
Trang 31để minh họa thêm cho bài học, phim tư liệu kèm theo âm thanh, hình ảnh động Học sinh được hiểu rộng hơn về thế giới thực, về những gì các em có thể chạm vào, nghe thấy… Các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi tham gia các hoạt động học tập Đồng thời, các em chủ động tìm tòi, chủ động khai thác bài học và biết đặt ra các câu hỏi thắc mắc về nội dung bài
Môn Khoa học luôn là môn học luôn được HS yêu thích và hứng thú khi học nếu các em được tự mình tìm tòi, khám phá ra vấn đề Tuy nhiên, qua quan sát chúng tôi nhận thấy về cơ sở vật chất ở các trường tiểu học của Việt Nam còn ở mức độ giới hạn nên khi giảng dạy, nhà trường cũng gặp một số khó khăn nhất định Chính vì vậy, HS tiểu học đôi khi chưa được thực sự bộc
lộ và phát huy hết sự tìm tòi về thế giới xung quanh Bên cạnh đó, do tiếp cận
chương trình chưa chủ động, sáng tạo nên một số GV và HS còn gặp khó khăn trong dạy và học nhất là phương pháp tổ chức cho HS hình thành khái niệm và chưa rèn được cho HS kỹ năng thực hành, phong thái tự tin khi tìm tòi kiến thức
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mô hình bài học ở trường tiểu học ở Việt Nam
Mục tiêu của môn học:
- Có một số kiến thức cơ bản ban đầu và thiết thực về:
Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng, sự sinh sản và sự lớn lên của cơ thể người, cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm
Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật và động vật
Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất
- Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng:
Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng
Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản, gần gũi với đời sống sản xuất
Trang 32Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để hỏi đáp, biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…
Phân tích, so sánh rút ra dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên
- Hình thành và phát triển những thái độ và hành vi:
Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng
Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng kiến thức đã học vào đời sống
Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp; có ý thức và hành động bảo vệ môi trường xung quanh
Cấu trúc chương trình và sách giáo khoa môn Khoa học:
Môn Khoa học ở lớp 4,5 được xây dựng trên cơ sở tiếp nối những kiến thức về tự nhiên của môn Tự nhiên lớp 1, 2, 3 Nội dung chương trình được cấu trúc đồng tâm, mở rộng và nâng cao theo ba chủ đề:
- Con người và sức khỏe
- Vật chất và năng lượng
- Thực vật và động vật
Ngoài ba chủ đề trên ở lớp 5 có thêm một chủ đề mới là Môi trường và tài nguyên thiên nhiên Tuy chỉ là một chủ đề riêng, song Môi trường và tài nguyên thiên nhiên là kết quả phát triển kế tiếp các nội dung về môi trường và tài nguyên từ ba chủ đề đã nêu
Tổng số tiết của môn Khoa học trong trường Tiểu học ở Việt Nam là: 2 tiết/ tuần x 35 tuần = 70 tiết/ năm
Các phương pháp dạy học chủ yếu trong môn Khoa học:
Dạy học môn Khoa học cần phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học ở Tiểu học như phương pháp quan sát, phương pháp thí nghiệm, phương pháp thực hành, đóng vai và truyền đạt… Trong đó đặc biệt chú trọng sử dụng linh hoạt những phương pháp: khám phá, tìm tòi nghiên cứu, giải quyết
Trang 33vấn đề, thực nghiệm … Bên cạnh việc sử dụng những phương pháp đó, GV kết hợp đan xen, phối hợp linh hoạt với những hình thức dạy học khác nhau như: Dạy học đồng loạt, dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân với từng bài học
cụ thể Tuy nhiên trong từng nội dung, từng chủ đề của từng môn, cần vận dụng linh hoạt và phối hợp cả ba hình thức dạy học trên Các hoạt động giáo dục được tổ chức theo nhóm hay học tập đoàn thể và được phối kết hợp với các lực lượng giáo dục khác nhau như người dân địa phương cũng như toàn thể GV cùng chỉ đạo Ngoài ra, căn cứ vào nội dung học tập, GV có thể tổ chức cho HS học tập ngoài thiên nhiên như học ngay tại sân trường, vườn trường hay những địa điểm thuận lợi, phù hợp gần trường Tham quan cũng là một hình thức dạy học ngoài lớp nhưng yêu cầu cần thời gian nhiều hơn, có thể nửa ngày, có thể cả ngày, Tham quan có thể giải quyết được các nội dung học tập của một bài, một chủ đề hoặc của nhiều chủ đề tùy theo thời gian và địa điểm nơi HS tiến hành tham quan Khi tổ chức các hoạt động giáo dục có thể sử dụng các môi trường học tập hay tài liệu giáo dục của địa phương như thư viện trường học, liên kết với các trường học khác, liên kết với các đoàn thể liên quan như nhà văn hóa hay viện bảo tàng
Ở Việt Nam đã bắt đầu vận dụng định hướng dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm, tổ chức cho HS hoạt động trải nghiệm, khám phá kiến thức, kĩ năng mới
Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tôi thấy phần lớn GV chưa vận dụng nhuần nhuyễn các PPDH, kĩ thuật dạy học mới Tương tác giữa GV và HS còn hạn chế Xu hướng áp đặt, truyền thụ một chiều vẫn là chủ yếu GV còn lúng túng trong việc thiết kế tình huống dạy học, xây dựng hệ thống câu hỏi,
kĩ thuật tương tác với cá nhân học sinh, kĩ năng phản hồi còn hạn chế, nhiều trường học còn lạm dụng công nghệ thông tin khi trình chiếu bài giảng, chưa tạo điều kiện để HS đặt câu hỏi, tranh luận, Số GV tự làm đồ dùng dạy học chưa nhiều Môi trường lớp học chưa thật sự dân chủ theo đúng nghĩa của nó, nhiều trường hợp, hoạt động tự quản chỉ mang tính hình thức
Trang 34Thiết bị dạy học: Khi dạy học, GV sử dụng SGK, bên cạnh đó GV
thường tham khảo sách giáo viên và sách tham khảo để dẫn dắt, xây dựng tiết dạy
Môn Khoa học ở Tiểu học được xây dựng với ba chủ đề ở lớp 4 và bốn chủ đề ở lớp 5 Nhưng nhìn chung, các chủ đề được SGK trình bày như sau:
SGK dành một trang riêng để giới thiệu tên chủ đề và thông qua một số hình ảnh đặc trưng giới thiệu nội dung của chủ đề Một chủ đề thường được kết thúc với những nội dung sau:
- Câu hỏi
- Bài tập
- Thí nghiệm, thực hành
- Bảng sơ đồ tổng kết kiến thức
- Vẽ tranh hoặc sưu tầm theo đề tài cho trước
Tiến trình một bài học có thể diễn ra như sau:
- Đặt vấn đề vào bài mới: Yêu cầu HS nhớ lại kiến thức cũ, vốn sống, kinh nghiệm sống… liên quan đến nội dung bài học
- HS tiến hành các hoạt động học tập:
+ Quan sát các hình ảnh trong SGK, đồ dùng dạy học, thí nghiệm, thực hành hoặc quan sát ngoài hiện trường các hoạt động học tập nhằm phát hiện
ra kiến thức mới
+ HS được phát biểu nhận thức của mình
+ HS liên hệ thực tế hoặc áp dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống và kĩ thuật
+ Củng cố kiến thức thông qua: Phiếu học tập, trò chơi, vẽ hình…
- Hướng dẫn học tập ở nhà hoặc chuẩn bị cho bài sau
Nhìn bề ngoài, về cơ bản mô hình bài học ở Việt Nam và Nhật Bản là
có sự tương đồng, nhưng bên trong có sự khác biệt khá lớn Mô hình bài học
ở Nhật Bản được xây dựng gắn với thực tiễn, GV xây dựng các phiếu bài tập gắn với thực tiễn HS không bị ép buộc gò bó trong lớp học với việc quan sát
Trang 35SGK là chính, ít được quan sát thực tiễn HS ở Nhật Bản được trải nghiệm nhiều trong môi trường xung quanh, tự tay làm thí nghiệm, đo đạc hay quan sát Chính vì vậy, mô hình bài học đó đã kích thích, phát huy tính tích cực, tìm tòi, khám phá ở trẻ GV có cái nhìn tổng thể, chủ động, sáng tạo trong việc hình thành kiến thức cho HS
Tuy nhiên, qua quan sát và tìm hiểu thực tế, chúng tôi thấy mô hình bài học ở Việt Nam chưa thực sự gắn với thực tiễn, xa rời thực tế bởi HS chưa được thực hành nhiều, quan sát nhiều, làm thí nghiệm nhiều… Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành và phát triển kiến thức, kĩ năng sống của
HS GV chưa chủ động xây dựng bài học mà đa phần còn lệ thuộc nhiều vào sách giáo viên Bên cạnh đó, việc sử dụng đồ dùng dạy học, video… còn hạn chế và các hình thức dạy học chưa phong phú bởi một phần vì cơ sở vật chất
ở các trường học Việt Nam chưa đủ đáp ứng
1.2.2 Thực trạng dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học Việt Nam
Để tìm hiểu thực trạng dạy học môn Khoa học, chúng tôi đã khảo sát
120 GV dạy môn Khoa học ở thành phố Hải Phòng Nội dung điều tra gồm
các vấn đề như nhận định về vị trí của môn Khoa học tại các trường tiểu học
hiện nay, vị trí của môn Khoa học trong giáo dục tiểu học, mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của các phương pháp dạy học, phương tiện dạy học thường
sử dụng, mức độ sử dụng các nguồn thông tin, các hình thức dạy học và việc thực hiện các mục tiêu dạy học khi giảng dạy môn Khoa học (phiếu điều tra – phụ lục 1)
Từ kết quả điều tra thu được có thể nhận xét khái quát về thực trạng dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học như sau:
1.2.2.1 Nhận thức của giáo viên Tiểu học về vị trí môn học
Để tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi đã thiết kế câu hỏi số 1 trong phiếu và kết quả điều tra cho thấy, đa số GV đều xác định được tầm quan trọng của môn học, có 83% cho rằng rất quan trọng, 17% quan trọng, còn lại
Trang 36là không quan trọng Về vị trí của môn Khoa học trong giáo dục Tiểu học, đa phần GV nhận thức được vị trí quan trọng của môn Khoa học như:
- Cung cấp các kiến thức cơ sở cho việc học tập các môn tương ứng ở các cấp, bậc học trên
- Giúp HS hiểu rõ những quy luật của môi trường tự nhiên và sức khỏe con người
- Hình thành ở HS các kĩ năng sống cần thiết
- Hình thành cho HS các kĩ năng cần thiết cho một công dân của xã hội hiện đại như: suy nghĩ đa chiều, phán đoán, giải quyết vấn đề, lựa chọn thông tin, ứng xử phù hợp
Như vậy, đa phần GV đều xác định được môn Khoa học chiếm một vị trí khá quan trọng trong việc giảng dạy HS
1.2.2.2 Về các phương pháp dạy học môn Khoa học của giáo viên
Khảo sát về việc sử dụng các phương pháp dạy học và mức độ hiệu quả của các phương pháp dạy học đó được tổng hợp ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Các phương pháp dạy học khi dạy môn Khoa học
Phương pháp dạy học
Mức độ sử dụng (%) Mức độ hiệu quả (%)
Thường xuyên
Thỉnh thoảng Ít khi
Hiệu quả
Ít hiệu quả
Không hiệu quả
Trang 37- Qua bảng số liệu trên chúng tôi nhận thấy, khi dạy môn Khoa học GV
sử dụng nhiều các phương pháp: Giảng giải (85%), hỏi đáp (72%), quan sát (80%), thảo luận (69%) và ít sử dụng các phương pháp: Nêu vấn đề (10%), thí nghiệm (5%), trò chơi (30%), kể chuyện (5%), bàn tay nặn bột (10%) Trong khi môn Khoa học là môn phát huy tính tìm tòi về thế giới xung quanh cho
HS, để HS tiếp nhận kiến thức một cách tốt nhất thì cần cho HS quan sát một cách chân thực nhất như làm thí nghiệm, nêu vấn đề, bàn tay nặn bột để kiến thức không phải truyền thụ một chiều mà chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho HS bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm
ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra… Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, bàn tay nặn bột luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính HS là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của GV Chính vì ít sử dụng nên GV đánh giá mức độ hiệu quả của các phương pháp này chưa cao: Thí nghiệm (17%), bàn tay nặn bột (18%) Việc sử dụng phương pháp dạy học và các hình thức dạy học mới tạo
ra một bước chuyển khó khăn đối với GV, nhất là những GV có công tác lâu năm đòi hỏi GV phải chuẩn bị công phu về bài dạy cũng như việc chuẩn bị đồ dùng dạy học
Việc đánh giá kết quả học tập môn Khoa học ở HS chưa được coi trọng đúng mức, việc dạy học chỉ mang tính chất qua loa, đại khái cho đủ số lượng tiết dạy vì thế mà tri thức học sinh lĩnh hội thường sơ giản, không được mở rộng, các em nhanh nhớ và cũng nhanh quên vì kiến thức không được khắc sâu
1.2.2.3 Về các phương tiện dạy học môn Khoa học của giáo viên
- Đồ dùng dạy học có vai trò rất quan trọng trong việc dạy học nói chung và môn Khoa học nói riêng Thông qua đồ dùng dạy học, GV giúp học sinh:
Trang 38+ Thu nhận thông tin về các sự vật hiện tượng một cách sinh động, đầy
đủ chính xác Qua đó giúp các em hình thành biểu tượng một cách rõ nét
+ Giúp học sinh nắm kiến thức mới, dễ hiểu bài, nhớ lâu kiến thức bài học
+ Phù hợp với tâm lí học sinh tiểu học, đó là tư duy trực quan cụ thể còn chiếm ưu thế Đồ dùng dạy học gây hứng thú cho học sinh trong học tập, phát triển tư duy đặc biệt là tư duy phân tích tổng hợp khái quát đối chiếu các
sự vật hiện tượng
+ Giúp GV trình bày bài giảng một cách đầy đủ, chính xác, sinh động, hấp dẫn qua đó nâng cao hiệu quả bài dạy
Khảo sát về việc sử dụng đồ dùng dạy học, thu được kết quả:
Bảng 1.3: Các phương tiện dạy học khi dạy môn Khoa học
Phương tiện dạy học
Mức độ sử dụng Mức độ hiệu quả
Thường xuyên
Thỉnh thoảng Ít khi
Hiệu quả
Ít hiệu quả
Không hiệu quả
Kết quả khảo sát qua bảng 1.3 cho thấy:
- Khi giảng dạy môn Khoa học, GV sử dụng đa số phương tiện tranh ảnh (70%) bởi sử dụng phương tiện này không tốn nhiều thời gian, công sức Trong khi các phương tiện khác như vật thật (20%), mẫu thật (15%), mô hình (2%), video (20%), sơ đồ (2%), bảng tổng kết (2%) được sử dụng ít bởi để chuẩn bị các phương tiện này đòi hỏi GV phải có sự chuẩn bị kĩ hơn, đầu tư
Trang 39về thời gian hơn Môn Khoa học là môn học gần gũi với học sinh với những đối tượng như những cây, những bông hoa, những con vật ở xung quanh các
em Đó là những vật thật, mẫu thật với mức độ hiệu quả là 60% - là một mức
độ tương đối cao Qua quan sát chúng tôi nhận thấy, khi dạy môn Khoa học
GV còn quá lệ thuộc sách hướng dẫn, chưa chịu khó cho học sinh sưu tầm những vật thật để các em tự hoạt động, tự khám phá kiến thức trên những cây, vật thật đó để tìm ra kiến thức GV chưa chủ động để HS khai phá kiến thức thông qua video, mô hình và tổng hợp mạch kiến thức theo sơ đồ, bảng tổng kết, chưa có sự đầu tư về phương tiện dạy học và còn hạn chế, thiếu thốn các thiết bị công nghệ Mặt khác do số lượng HS quá tải nên việc tổ chức học tập,
sử dụng các thiết bị và phương tiện dạy học còn chưa hiệu quả
Trong môn Khoa học, HS quan sát chủ yếu là để nhận biết đặc điểm bên ngoài của thực vật hoặc nhận biết các hiện tượng đang diễn ra trong môi trường tự nhiên và trong cuộc sống hàng ngày Đối tượng quan sát là các sự kiện, hiện tượng hoặc các vật thật, tranh ảnh, mô hình, sơ đồ diễn tả các sự vật hiện tượng đó gọi chung là đồ dùng dạy học Vậy mà trong thực tế, đồ dùng dạy học chưa được GV chú tâm đến, nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do:
+ GV chưa nghiên cứu mục tiêu bài học để tìm ra cách sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào cho hợp lý
+ GV chưa thấy hết được tầm quan trọng của đồ dùng dạy học trong việc dạy học sẽ đạt hiệu quả như thế nào
+ GV còn xem nhẹ việc dạy các môn ít tiết như môn Khoa học
Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy, đôi khi GV đã chuẩn bị vật thật nhưng khi lên lớp dạy học GV lại vận dụng chồng chéo: Vừa sử dụng vật thật lại vừa quan sát các vật đó bằng hình ảnh trong sách giáo khoa Với cách dạy
đó tạo nên một hoạt động lặp lại hai lần Việc làm này vừa mất thời gian mà lại loãng trong sự chốt lại kiến thức cho học sinh
Trang 40Bên cạnh đó, GV chưa biết cách khai thác những vật thật khi lên lớp
GV còn quá lạm dụng phương pháp thuyết trình, giảng giải trên vật đó mà chưa biết cách chú trọng cho học sinh khai thác vật thật để tìm ra kiến thức mới
1.2.2.4 Về các nguồn thông tin giáo viên thường sử dụng
Khảo sát về việc sử dụng nguồn thông tin, giáo viên thường sử dụng khi xây dựng kế hoạch bài học và dạy học môn Khoa học, kết quả điều tra thu được ở bảng 1.4
Bảng 1.4: Các nguồn thông tin GV sử dụng khi dạy học môn Khoa học
Các nguồn thông tin Thường
xuyên
Thỉnh thoảng Ít khi
- Qua quan sát bảng 1.4, chúng tôi nhận thấy khi dạy môn Khoa học,
GV đa phần sử dụng các nguồn thông tin: Sách giáo khoa (60%), sách giáo viên (80%), mạng internet (71%), sử dụng nguồn thông tin ở sách thiết kế (50%) và không xin ý các nhà khoa học (0%) Có thể thấy rằng: Sách giáo khoa, sách giáo viên, mạng internet là những nguồn thông tin gần gũi, dễ tiếp nhận và GV có thể sử dụng bất cứ lúc nào Tuy nhiên, không phải lúc nào GV cũng có thể chủ động xin ý kiến nhà khoa học và việc này đòi hỏi mất thời gian hơn nhiều so với các nguồn thông tin trên Cũng bởi lý do GV nước ta đa phần còn rụt rè, chưa chủ động đề đạt và nói lên suy nghĩ, băn khoăn của mình
Để xây dựng một tiết dạy có hiệu quả đòi hỏi GV phải đầu tư công sức, trí tuệ, đặc biệt để phát huy tính tích cực của HS thì GV cũng luôn phải đổi