Phần mở đầu I. Lý do chọn đề tài Mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2025, Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trên nền tảng bảo tồn, phát huy giá trị di sản cố đô và bản sắc văn hoá Huế, với đặc trưng văn hoá, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh. Đến năm 2030, Huế là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của khu vực Đông Nam Á về văn hoá, du lịch và y tế chuyên sâu; một trong những trung tâm lớn của cả nước về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao. Tầm nhìn đến năm 2045 là thành phố festival, trung tâm văn hoá, giáo dục, du lịch và y tế chuyên sâu đặc sắc của châu Á. Để hướng tới mục tiêu đó, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ đạo các cấp, các ngành bám sát Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và định hướng chỉ đạo của Trung ương để nỗ lực phát triển kinh tế xã hội, tập trung xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại, đầu tư phát triển các lĩnh vực văn hóa du lịch, giáo dục đào tạo, y tế chuyên sâu, khoa học công nghệ xứng tầm là trung tâm của khu vực miền Trung và cả nước. Sự phát triển về kinh tế xã hội đã góp phần thay đổi diện mạo các đô thị của tỉnh. Hệ thống di tích Cố đô Huế, di tích lịch sử cách mạng được tu bổ, tôn tạo, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Huế văn hóa Việt Nam, hỗ trợ phát triển du lịch và xây dựng tỉnh thành trung tâm văn hóa du lịch. Tỉnh Thừa Thiên Huế đã nghiêm túc quán triệt, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển bền vững. Theo đó, tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm: tái cơ cấu kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng. Sở dĩ Huế đặt ra mục tiêu như vậy là vì Huế có nhiều lợi thế về lịch sử, vị trí địa lý, khí hậu, văn hóa, con người…. Phải đánh giá đúng vai trò của từng lợi thế, tổ hợp các lợi thế đó trong một kế hoạch tổng thể sẽ tạo cho Huế tiềm năng phát triển trong giai đoạn hiện nay. Đó là lý do tôi chọn đề tài Tiềm năng, lợi thế của Huế để phát triển kinh tế xã hội. II. Nội dung, mục đích và phương pháp nghiên cứu 1. Nội dung nghiên cứu Tìm hiểu tình hình phát triển Kinh tế Văn hóa – Xã hội Huế Những điều kiện tự nhiên, con người và văn hóa Huế Nghiên cứu thực hiện tại khu Kinh thành Huế 2. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu các di tích, văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh nhằm mở rộng tầm nhìn, nâng cao tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc. Giúp học viên rèn luyện khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn để đánh giá, phân tích một số vấn đề tại nơi đến trong chuyến thực tế. Giúp học viên tìm hiểu về tình hình phát triển kinh tế xã hội ở thành phố Huế. 3. Phương pháp nghiên cứu: gồm hai phương pháp chủ yếu là phương pháp thu thập thông tin và phương pháp tổng kết kinh nghiệm Phương pháp thu thập thông tin: dữ liệu được thu thập chủ yếu là nguồn dữ liệu có sẵn từ các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, môi trường tại Huế; bên cạnh đó là dữ liệu từ các nghiên cứu, tạp chí, bản tin chuyên ngành và nguồn thông tin internet. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Từ các nguồn thông tin, tài liệu thu thập được qua chuyến đi nghiên cứu thực tế tiến hành tổng kết kinh nghiệm sau chuyến đi thực tế tại Huế. Phần nội dung I. Những lợi thế, tiềm năng của Huế 1. Lịch sử Huế Từ năm 192 sau Công Nguyên vùng đất này thuộc địa bàn nước Lâm Ấp và sau đó là vương quốc Champa kéo dài gần 12 thế kỷ. Sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, biên giới Đại Việt mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô Rí. Năm sau vua Trần cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Thành Hóa châu (nằm cách Huế
Trang 1TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ
LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH – K12
***
BÀI THU HOẠCH NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
Tiềm năng, lợi thế của Huế để phát
triển kinh tế - xã hội
Người thực hiện: Lê Văn Hội
Hà Nội, Tháng 10 Năm 2019
Trang 2Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài
Mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2025, Thừa Thiên -Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trên nền tảng bảo tồn, phát huy giá trị di sản cố đô
và bản sắc văn hoá Huế, với đặc trưng văn hoá, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh Đến năm 2030, Huế là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của khu vực Đông Nam Á về văn hoá, du lịch và y tế chuyên sâu; một trong những trung tâm lớn của cả nước về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao Tầm nhìn đến năm 2045 là thành phố festival, trung tâm văn hoá, giáo dục, du lịch và y
tế chuyên sâu đặc sắc của châu Á
Để hướng tới mục tiêu đó, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ đạo các cấp, các ngành bám sát Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và định hướng chỉ đạo của Trung ương để nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội, tập trung xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại, đầu tư phát triển các lĩnh vực văn hóa
-du lịch, giáo dục - đào tạo, y tế chuyên sâu, khoa học công nghệ xứng tầm là trung tâm của khu vực miền Trung và cả nước Sự phát triển về kinh tế - xã hội đã góp phần thay đổi diện mạo các đô thị của tỉnh Hệ thống di tích Cố đô Huế, di tích lịch sử cách mạng được tu bổ, tôn tạo, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Huế - văn hóa Việt Nam, hỗ trợ phát triển du lịch và xây dựng tỉnh thành trung tâm văn hóa - du lịch Tỉnh Thừa Thiên Huế đã nghiêm túc quán triệt, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển bền vững Theo đó, tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm: tái cơ cấu kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng
Sở dĩ Huế đặt ra mục tiêu như vậy là vì Huế có nhiều lợi thế về lịch sử,
vị trí địa lý, khí hậu, văn hóa, con người… Phải đánh giá đúng vai trò của từng lợi thế, tổ hợp các lợi thế đó trong một kế hoạch tổng thể sẽ tạo cho Huế
tiềm năng phát triển trong giai đoạn hiện nay Đó là lý do tôi chọn đề tài Tiềm
năng, lợi thế của Huế để phát triển kinh tế - xã hội.
II Nội dung, mục đích và phương pháp nghiên cứu
1 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình phát triển Kinh tế - Văn hóa – Xã hội Huế
Trang 3- Những điều kiện tự nhiên, con người và văn hóa Huế
- Nghiên cứu thực hiện tại khu Kinh thành Huế
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu các di tích, văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh nhằm mở
rộng tầm nhìn, nâng cao tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc
- Giúp học viên rèn luyện khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn để đánh giá, phân tích một số vấn đề tại nơi đến trong chuyến thực tế
- Giúp học viên tìm hiểu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Huế
3 Phương pháp nghiên cứu: gồm hai phương pháp chủ yếu là phương
pháp thu thập thông tin và phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thu thập thông tin: dữ liệu được thu thập chủ yếu là
nguồn dữ liệu có sẵn từ các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, môi trường tại Huế; bên cạnh đó là dữ liệu từ các nghiên cứu, tạp chí, bản tin chuyên ngành và nguồn thông tin internet
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Từ các nguồn thông tin, tài liệu
thu thập được qua chuyến đi nghiên cứu thực tế tiến hành tổng kết kinh nghiệm sau chuyến đi thực tế tại Huế
Phần nội dung
I Những lợi thế, tiềm năng của Huế
1 Lịch sử Huế
Từ năm 192 sau Công Nguyên vùng đất này thuộc địa bàn nước Lâm Ấp
và sau đó là vương quốc Champa kéo dài gần 12 thế kỷ Sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, biên giới Đại Việt mở rộng dần về phía Nam Năm
1306, vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô - Rí Năm sau vua Trần cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị Thành Hóa châu (nằm cách Huế 9 km về phía hạ lưu
Trang 4sông Hương) là trị sở và trung tâm chính trị kinh tế hành chính và quân sự của châu Hóa Sau hơn hai thế kỷ mở mang khai khẩn, đến giữa thế kỷ thứ XVI,
lộ Thuận Hóa đã thành nơi "đô hội lớn của một phương" Năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là PHÚ XUÂN, ở vị trí tây nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Đàng Trong Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712-1738) phủ chúa dời ra BÁC VỌNG, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc đông nam Kinh thành Huế hiện nay Sự nguy nga bề thế của Đô thành Phú Xuân dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Đôn mô tả trong sách Phủ biên tạp lục năm 1776 Đó
là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà Tiếp đó, Phú Xuân là kinh đô của nước Đại Việt thống nhất dưới triều Tây Sơn (1788-1801) và là kinh đô của nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn (1802-1945)
Cố đô Huế từng là thủ đô của Việt Nam từ năm 1802, sau khi vua Gia Long tức Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm, một lần nữa lại chọn Huế là nơi đóng đô
2 Vị trí địa lý
- Thừa Thiên Huế là tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam
có tọa độ ở 16-16,8 độ vĩ Bắc và 107,8-108,2 độ kinh Đông Diện tích của tỉnh là 5.053,99 km²
- Thừa Thiên Huế giáp tỉnh Quảng Trị về phía Bắc, phía Đông giáp biển
Đông, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp
Trang 5dãy Trường Sơn và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thừa Thiên Huế cách
Hà Nội 654 km, Nha Trang 627 km và Thành phố Hồ Chí Minh 1.071 km
3 Khí hậu
- Thừa Thiên Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với Bắc Bộ và Nam Bộ,
vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các vùng và khu vực trong toàn tỉnh Vùng duyên hải và đồng bằng có hai mùa rõ rệt:
- Mùa nóng từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng và oi bức, có lúc lên tới
39,9 °C
- Từ tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa và hay xảy ra bão lụt, nhiệt độ
trung bình 19,7 °C, cũng có khi hạ xuống còn 8,8 °C, trời lạnh Vào mùa này
có những đợt mưa suốt ngày, kéo dài cả tuần lễ.Vùng núi mưa nhiều, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động từ 9 °C đến 29 °C
4 Văn hóa Huế
- Thuận Hóa-Phú Xuân-Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (1306)
- Văn hóa Huế vừa mang tính đặc thù-bản địa vừa có đặc điểm truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam; có tạo nên nền văn hóa Việt-Chăm; có ảnh hưởng của các luồng văn hóa các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây
5 Con người Huế
- Nhắc đến Huế người ta đã thấy một vẻ đẹp gì đó nhẹ nhàng quyến rũ thư thái đi vào lòng người, không chỉ vì vẻ đẹp của những thắng cảnh thiên nhiên, sự cổ kính của những đền đài, lăng tẩm
- Người ta còn bị “cuốn hút” bởi tính cách con người xứ Huế “nhẹ nhàng, sâu lắng…”
Trang 6- Với tính cách dịu dàng, dễ thương pha lẫn sự kín đáo e ấp, với giọng nói đến say lòng người Tất cả sự lôi cuốn đó đã làm nên một vẻ đẹp khó có thể lý giải được, hiện đang rất được lòng các khách du lịch đến Huế
II Định hướng phát triển kinh tế xã hội Huế
1 Phát triển du lịch.
- Có 6 danh hiệu UNESCO ở Việt Nam: Quần thể Di tích Cố đô Huế (1993), Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bản triều Nguyễn (2014), Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016) và Bài chòi (cùng các tỉnh miền Trung)
- Năm 1990, UNESCO đề nghị Chính phủ Việt Nam lập hồ sơ một số công trình kiến trúc, thiên nhiên trong đó có khu Di tích Huế Với sự hướng dẫn giúp đỡ của các chuyên gia UNESCO, trong hai năm 1992 và
1993, Trung tâm bảo tồn Di tích Cố Đô Huế đã thực hiện bộ hồ sơ về Quần thể di tích Cố đô Huế nộp lên Hội đồng Di sản T hế giới thuộc UNESCO (ICCROM) Tháng 3 năm 1993, một chuyên gia của ICCROM và IUCN đến Việt Nam để thẩm định giá trị của các khu vực Việt Nam nộp hồ sơ, trong đó có khu di tích Huế[14] và đến tháng 9 năm 1993, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô gửi hồ sơ bổ sung cho UNESCO Ngày 11 tháng 12 năm 1993, trong một phiên họp tại Carthagène (Colombia), Hội đồng đã ghi danh Quần thể di tích Cố đô Huế vào Danh mục Di sản Thế giới Những điểm du lịch nổi tiếng thu hút một lượng lớn khách du lịch hằng năm như
a Kinh thành Huế
Kỳ Đài và một đoạn thành Huế
Kinh thành Huế được vua Gia Long và đại thần Nguyễn Văn Yến tiến hành khảo sát thực địa vào hai năm 1803 và 1804 Đến mùa hè năm 1805, công trình xây dựng kinh thành bắt đầu được khởi công xây dựng với địa bàn nằm trên khu vực hai chi lưu của sông Hương là Kim Long
Trang 7và Bạch Yến; với mặt bằng nằm trên khu vực 8 làng cổ là: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phát, An Vân, An Hòa, An Mỹ, An Bảo và Thế Lại Quá trình xây dựng kéo dài không liên tục cho đến tận năm 1823 mới cơ bản hoàn thành dưới triều vua Minh Mạng với sức lao động của hàng vạn lính và dân từ khắp các tỉnh, thành trong cả nước mà chủ yếu đến từ miền Trung Việt Nam Kinh thành Huế được xây dựng trên một mặt bằng gần như như hình vuông với mặt trước hơi khum hình cánh cung, tuân thủ chặt chẽ theo nguyên tắc kiến trúc của dân tộc Việt Nam xuất phát từ Dịch Lý và thuật Phong Thủy dựa vào các thực thể thiên nhiên để tạo các yếu tố hài hòa về Phong Thủy như núi Ngự là Tiền Án, sông Hương là Minh Đường, cồn Hến và cồn Dã Viên lần lượt là tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ và quay mặt về hướng nam theo một quy định của sách Chu Dịch: "Vua quay mặt về phía nam để cai trị, hướng về lẽ sáng
để làm việc nước" Vòng tường thành với chu vi 10571 m được xây bó bằng gạch được xây dựng kiến trúc Vauban hay "thành lũy hình ngôi sao" với 24 pháo đài và 10 cửa chính cùng 1 cửa phụ cùng; với một hệ thống hào nước phức tạp Sau đó, hệ thống công trình kinh thành được liên tục bổ sung tu bổ xây dựng thêm công trình mới 1836, 1839, 1842, 1844, 1846, 1848 Chức năng chính của Kinh thành dùng để phòng vệ, phục vụ sinh hoạt của triều đình
và nhà vua Dù chịu sự tàn phá dữ dội của bom đạn, mà đặc biệt là năm Mậu thân (1968), nhưng cụm công trình này vẫn tồn tại với đầy đủ diện mạo của nó Hiện nay, Kinh thành Huế có vị trí trong bản đồ Huế như sau: phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo và, Lê Duẩn; phía tây giáp đường Lê Duẩn; phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ; phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu Bên trong kinh thành, được giới hạn theo bản đồ thuộc các đường như sau: phía nam là đường Ông Ích Khiêm; phía tây là đường Tôn Thất Thiệp; phía bắc là đường Lương Ngọc Quyến và phía đông là đường Xuân 68
Trang 8b Khu vực Đại Nội
Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là hai không gian có liên hệ chặt chẽ với nhau với Tử Cấm Thành nằm trong lòng Hoàng Thành, nên thường được gọi chung là Hoàng Thành hay Đại Nội Việc xây dựng hệ thống Hoàng cung này đã được bắt đầu từ năm 1803, nhưng vì đòi hỏi về nơi sinh hoạt ăn ở của Hoàng Gia, công trình đã được ưu tiên xây dựng từ năm 1804, trước khi Kinh thành được xây một năm Việc xây dựng tường thành được đích thân vua Gia Long trực tiếp giao cho hai Đại thần Nguyễn Văn Trương và Lê Văn Chất đứng ra đốc thúc xây dựng Còn các công trình đền miếu, cung điện quan trọng đều do các quan lớn như Nguyễn Đức Xuyên, Lê Văn Duyệt, Phan Văn Đức, Lê Công Nga chịu trách nhiệm trông coi Dưới thời vua Gia Long, hầu hết các công trình cơ bản đã hoàn tất như về thờ cúng: Thế Miếu, Triệu
Tổ Miếu, Hoàng Khảo Miếu, điện Hoàng Nhân, các công trình phục vụ việc triều chính, sinh hoạt, giáo dục của quan lại, hoàng gia: điện Cần Chánh, cung Trường Thọ, cung Khôn Thái, điện Thái Hòa, viện Thái Y, điện Quang Minh, Điện Trinh Minh, Điện Trung Hòa Tới thời vua Minh Mạng, ông đã liên tục nâng cấp xây dựng hoàn chỉnh thêm nhiều công trình như cung Trường Ninh,Hiển Lâm Các, Thế Miếu, dời điện Thái Hòa ra phía trước, xây dựng Đại Cung môn, Ngọ Môn, đúc Cửu Đỉnh và nhiều công trình khác như lầu Minh Viễn, sở Thượng Thiện, Đông Các, nhà hát Duyệt Thị hoàn chỉnh diện mạo kiến trúc của Hoàng thành và Tử Cấm thành Đời vua sau đó như Thiệu Trị cũng xây dựng được thêm một số công trình như vườn Cơ
Hạ, nhà hát Tịnh Quan, hoàn chỉnh nâng cấp Lục Viện và cung Trường Sanh Tám đời vua kế nghiệp tiếp theo từ Tự Đức đến Duy Tân, do tình hình đất nước khó khăn, kinh tế tài chính suy tàn sa sút, họ chỉ cố gắng giữ những
gì mà 3 vị vua đầu triều để lại Tới thời vua Khải Định và Bảo Đại, họ thực hiện một loạt cải tạo (các cửa Hoàng Thành) hoặc làm mới các công trình kiến trúc (lầu Kiến Trung, Ngự tiền Văn phòng, lầu Tứ Phương Vô Sự, lầu Tịnh Minh ) theo phong cách chịu ảnh hưởng theo phong cách phương Tây
Trang 9Tất cả chia ra làm 3 khu vực: đại lễ, thờ cúng, sinh hoạt, kho tàng, học tập, làm việc của quan lại và hoàng gia
Mặt bằng của cụm công trình này có hình chữ nhật với mặt trước mặt sau dài 622m và mặt trái mặt phải dài 604m Xung quanh tường thành của Hoàng thành là các pháo đài xây nhô ra và hệ thống tường hào bao bọc với 4 cửa để ra vào là Ngọ Môn, Hòa Bình, Hiển Nhân, Chương Đức Phần tường thành của Tử Cấm thành có hình chữ nhật mặt trước sau 324m và trái phải 290m không có hào bao bọc, chỉ có duy nhất một cửa ngay tường giữa là Đại Cung môn và ba cửa mặt sau là Tường Loan, Nghi Phụng, và Văn phòng môn mới xây sau đó Mặt trái có ba cửa Đông An, Cấm Uyển và Duyệt Thị có lẽ được trổ thời vua Bảo Đại, mặt phải có hai cửa là Tây An và Gia Tường Tất
cả bố cục đều tuân theo dịch lý, bố trí theo kiểu chặt chẽ và đối xứng từng cặp qua đường trục Ngọ Môn
c Các di tích ngoài kinh thành
Hầu hết các vua triều Nguyễn đều xây dựng lăng mộ cho mình ngay khi còn sống vì quan điểm sống gởi thác của nhà Nho và triết lý sắc không vô thưởng của nhà Phật Các khu lăng mộ xây sẵn có hai chức năng: là nơi khi còn sống các vua thỉnh thoảng lui tới để vui chơi và là nơi chôn cất khi họ mất Tất cả các lăng đều được xây dựng, quy hoạch theo đúng triết lý phong thủy phương Đông: bất cứ lăng nào cũng tuân thủ các nguyên tắc sơn triều thủy tụ, tiền án hậu chẩm, tả long hữu hổ đã làm cho các lăng này có được những kiến trúc rất đẹp và thơ mộng Tuy triều Nguyễn có 13 vua, nhưng vì nhiều lý do kinh tế, chính trị nên chỉ 7 vị vua được xây dựng lăng đó là: Lăng Gia Long, Lăng Minh Mạng, Lăng Thiệu Trị, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Lăng Dục Đức, Lăng Khải Định Mỗi lăng được xây dựng với một kiểu kiến trúc khác nhau, tùy vào hoàn cảnh đất nước thời kỳ các vị vua lúc còn tại vị Trong đó, hoành tráng nhất có lẽ là lăng Gia Long được xây dựng trên một quần sơn gồm 42 quả đồi lớn nhỏ, trên tổng diện tích khoảng
28 km2 với kiến trúc truyền thống Việt Nam Độc đáo nhất là lăng vua Khải
Trang 10Định là sự kết hợp kiến trúc Đông Tây Kim Cổ với các bức tranh ghép sành
sứ độc đáo và không tuân theo bất cứ trường phái kiến trúc nào Do những điều kiện lịch sử, lăng Dục Đức là lăng tẩm duy nhất chôn cất và thờ tự 3 vua Dục Đức, Thành Thái và Duy Tân…
2 Đánh giá bức tranh tổng thể về tăng trưởng kinh tế Huế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2018 ước đạt 32.417 tỷ đồng tăng 7,15% so năm trước Về cơ cấu kinh tế năm 2018, khu vực dịch vụ chiếm 50,4%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 31,66%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,97%
- Đầu tư phát triển: Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên
địa bàn năm 2018 ước đạt 20.050 tỷ đồng, bằng 100,25% KH năm, tăng 7,5%
so với năm trước Vốn thuộc ngân sách Nhà nước năm 2018 đạt 3.580 tỷ đồng, bằng 103,4% KH năm, tăng 10,9% so với năm trước
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản: Giá trị sản xuất nông, lâm
nghiệp và thủy sản ước đạt 7.173 tỷ đồng, tăng 3,5% so với năm trước
- Sản xuất công nghiệp: Năm 2018 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng
9,5% so năm trước; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành chủ lực đạt mức tăng trưởng khá cao 94,16%, tăng 11,63%; cấp nước và xử
lý nước thải, rác thải chiếm 1,42% tăng 23,1%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng chiếm 1,2% giảm 5,2% so cùng kỳ; sản xuất, phân phối điện chiếm 3,2% giảm 11,53%
• Một số ngành công nghiệp chủ lực: bia, dệt, may mặc, xi măng…
• Một số KCN Phú Bài, Chân Mây, Phong Điền, Tứ Hạ
•
Phần kết luận
1 Kết luận