1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN Giải pháp nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

104 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên tinh thần đó, trong những năm qua, cấp Ủy, Chính quyền, các ngành,đoàn thể, lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Nậm Pồ nói riêngđã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ

Trang 1

Trên tinh thần đó, trong những năm qua, cấp Ủy, Chính quyền, các ngành,đoàn thể, lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Nậm Pồ nói riêng

đã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phổ biến, tuyên truyền, vận động các tầnglớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể, tích cực tham gia vào quá trình xây dựngnông thôn, chủ động, sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; trongquá trình tổ chức sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;trong gìn giữ nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục và đã góp phần quan trọng vàoviệc xây dựng hệ thống chính trị - xã hội của tỉnh, của huyện vững mạnh, bảo đảm

an ninh trật tự tại cơ sở Sau 8 năm triển khai thực hiện chương trình xây dựng nôngthôn mới, đến nay cả tỉnh có 13/130 xã đạt chuẩn nông thôn mới trong đó huyệnNậm Pồ có 01/15 xã đạt chuẩn nông thôn mới Chương trình xây dựng nông thônmới bước đầu tạo được sự chuyển biến tích cực trong đời sống của người dân Nhậnthức, trách nhiệm của nông dân từng bước được nâng lên, nông dân đã dần xác địnhđược mình là chủ thể chính trong xây dựng nông thôn mới nên đã chủ động tự giácđóng góp nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ tài sản chung, giữ gìn môitrường xanh - sạch - đẹp

Tuy nhiên, trong thời gian qua, vai trò chủ thể của người nông dân trong xâydựng nông thôn mới trên địa bàn huyện chưa phát huy được nhiều Việc dân biết,dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi cònnhiều hạn chế; nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới vẫn chưa đầy

Trang 2

đủ, còn tâm lý thờ ơ, thụ động, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước; vì lợi ích cánhân, nhiều nông dân không hưởng ứng chủ trương xã hội hóa xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội; các nhiệm vụ do người dân tự làm như hoàn thiện thiết chếvăn hóa, xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư; cải tạo nhà ở, công trình vệ sinh,chuồng trại chăn nuôi và cải tạo nâng cấp đường làng ngõ xóm, giao thông, thủy lợinội đồng chưa nhiều; khả năng giám sát, tham gia ý kiến còn yếu; việc tham gia bảoquản, tu sửa, sử dụng các công trình phục vụ đời sống và sản xuất chưa cao… Bêncạnh đó, những khó khăn về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, trình độ dân trí, cơ sở

hạ tầng, kinh tế - xã hội, nguồn lực đầu tư, lực lượng cán bộ, công chức… đã vàđang ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng nông thôn mới Tỷ lệ số xã đạt dưới

10 tiêu chí là13 xã chiếm tỷ lệ 86,7%

Những hạn chế, yếu kém trong việc phát huy vai trò chủ thể của người dântham gia xây dựng nông thôn mới đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triểnkinh tế - xã hội trên địa bàn huyện nói chung và quá trình xây dựng nông thôn mớinói riêng Điều này đặt ra yêu cầu khách quan cho việc nhận thức đúng đắn vai tròchủ thể của người nông dân trong việc xây dựng nông thôn mới Đồng thời cónhững quan điểm, giải pháp phù hợp để đổi mới và nâng cao vai trò chủ thể củangười nông dân nhằm phát huy những thế mạnh của huyện, hạn chế những yếukém, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống chongười dân ở nông thôn

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao vai trò

chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế khóa 2018

-2019 của mình

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi:

1 Vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới tạihuyện Nậm Pồ đang diễn ra như thế nào?

2 Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện là gì?

Trang 3

3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò chủ thể của người nôngdân trong xây dựng NTM ở địa phương?

4 Các giải pháp nào để từng bước nâng cao vai trò chủ thể của người nôngdân trong xây dựng NTM ở địa phương?

2 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu

Hoàng Văn Hoan (2014), trong công trình nghiên cứu Xây dựng mô hình

nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc nước ta hiện nay đã cho

rằng để tăng cường huy động vốn cho phát triển nông thôn vùng Tây Bắc, cầnnhững giải pháp cơ bản như: (i) quy hoạch lại dân cư để tránh đầu tư tốn kém ở cácvùng dân cư thưa thớt, (ii) thực hiện lồng ghép các chương trình nhằm tăng thêmnguồn lực; (iii) huy động vốn phải đi kèm với phân bổ hợp lý, (iv) Nhà nước cầnquy định các doanh nghiệp phải trích một tỷ lệ nhất định lợi nhuận cho XD NTM,(v) tăng cường tuyên truyền vận động đóng góp của các hộ dân [9]

Nghiên cứu bài học kinh nghiệm thoát nghèo của một số xã đặc biệt khó khăn [15] của TS Nguyễn Anh Phong, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển

nông nghiệp (IPSARD) - Bộ NN&PTNT (2016) Tác giả đã đi sâu nghiên cứu cácyếu tố góp phần dẫn đến thành công trong việc xóa đói, giảm nghèo của một số xãthuộc khu vực III, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Qua đó, tác giả cũng khẳng định,một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong công tác xóa đói, giảm nghèo đó

là ý thức tự chủ vươn lên của người nông dân, các nguồn lực khác chỉ mang tínhchất hỗ trợ, định hướng, tạo điều kiện để nông dân thoát nghèo

Nguyễn Tiến Định (2012), trong đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất

cơ chế chính sách huy động nội lực từ người dân vùng núi phía Bắc tham gia xây dựng nông thôn mới Tác giả đã nêu các lĩnh vực người dân tham gia và các yếu tố

xác định mức độ tham gia được áp dụng bao gồm: Được tham gia vào các cuộc họp

dự án (nhưng không được ra quyết định), được tham gia vào quá trình ra quyết định,tham gia thi công thực hiện (tham gia bằng ngày công lao động trực tiếp hoặc giántiếp), được tham gia vào giám sát dự án, được tham gia quản lí bảo dưỡng côngtrình Tác giả cho rằng sự tham gia của người dân có tác động đến chất lượng và

Trang 4

hiệu quả sử dụng nguồn lực xây dựng công trình hạ tầng trên các khía cạnh: giảmchi phí đầu tư xây dựng công trình, giảm chi phí đầu tư ngân sách, góp phần đảmbảo chất lượng công trình và phù hợp với nhu cầu sử dụng của người dân [5].

Bài viết của ThS Nguyễn Thị Loan Anh đăng trên tạp chí cộng sản (2015)

Để phát huy vai trò của nông dân trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới [1] Tác giả đã đi sâu vào các giải pháp cho bốn nhóm đối tượng đó là:

nhóm giải pháp đối với nông dân, nhóm giải pháp đối với các cơ quan nhà nước địaphương, nhóm giải pháp đối với Hội nông dân các cấp, nhóm giải pháp đối với cấp

ủy đảng các cấp ở nông thôn Trong đó, nhóm đối tượng nông dân được tác giả đặtlên vị trí hàng đầu với giải pháp tập trung tuyên truyền để nâng cao nhận thức chocác hộ dân nhằm giúp họ hiểu rõ vai trò chủ thể của mình trong XD NTM, đồngthời đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho nông dân nhằm giúp họ cóđiều kiện để phát huy vai trò chủ thể của mình

Bài viết Phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Namtrong xây dựng nông thôn mới của tác giả Hoàng Phó Dân [4, tr.15-19] nhấn mạnhđến vai trò chủ thể của nông dân trong phong trào XD NTM được thể hiện qua việcnông dân chủ động tham gia trên tất cả các nội dung của Bộ tiêu chí Quốc gia về

XD NTM dưới sự dẫn dắt bởi tổ chức của mình là Hội Nông dân Việt Nam các cấp

Kỷ yếu Hội thảo khoa học Ảnh hưởng của phong tục tập quán các dân tộc

thiểu số khu vực miền núi phía Bắc đến hiệu quả xây dựng nông thôn mới [8].

Nhiều bài viết trong kỷ yếu cho rằng nếu việc xây dựng NTM loại bỏ toàn bộ cácphong tục tập quán của đồng bào thì chương trình xem như không thành công vàkhông phát huy được sức mạnh của cộng đồng Các tác giả cũng đã đi sâu phân tíchđặc điểm tâm lý, nhận thức trong xây dựng NTM của đồng bào DTTS khu vực miềnnúi phía Bắc còn bị tác động bởi rào cản tâm lý, đó là khó chấp nhận sự thay đổi dophải chịu sự ràng buộc bởi các quy định của gia đình, dòng họ, cộng đồng, tộcngười, thêm vào đó là khả năng thích nghi yếu, thiếu sự nhạy bén và khả năng thíchứng với cái mới, thiếu tính cạnh tranh Chính vì vậy, khi tiếp xúc với các mô hình

Trang 5

kinh tế xóa đói giảm nghèo, họ khó có thể tiếp cận và thực hiện theo hướng dẫn củacác cơ quan chức năng.

Đề tài Phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS đến năm 2015 và 2020 của Ủy

ban Dân tộc Trung ương [21] Đề tài đã đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhânlực ở vùng DTTS còn rất nhiều hạn chế, là nút thắt cản trở quá trình CNH, HĐH vàhội nhập quốc tế Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là do tỷ lệ đói nghèo cao

và chất lượng sống của người dân thấp; ý thức nâng cao trình độ học vấn của ngườidân còn thấp Cho đến nay, tình trạng này tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đápứng được với yêu cầu thực tế

Luận án Tiến sỹ kinh tế của Đoàn Thị Hân Huy động và sử dụng các nguồn

lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới tại các tỉnh trung du

và miền núi phía Bắc Việt Nam [10] Theo tác giả thì các tỉnh trong vùng TDMN

phía Bắc đã thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau và đã xây dựng kế hoạch

sử dụng cụ thể các nguồn lực tài chính huy động được cho chương trình Vùng đãhuy động được một khối lượng lớn nguồn lực tài chính và sử dụng cho chương trình

XD NTM Tuy nhiên, thiếu nguồn lực tài chính và hiệu quả sử dụng các nguồn lựctài chính chưa cao vẫn là vấn đề phổ biến trong vùng Từ đó, tác giả cũng đã đề rađược nhóm các giải pháp để giải quyết vấn đề huy động nguồn lực tài chính trongthời gian tới

3 Mục tiêu của đề tài

3.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò chủ thể của người nông dân trong xâydựng NTM tại huyện Nậm Pồ, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò chủ thểcủa người nông dân trong xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay

Trang 6

- Đề ra được các giải pháp nhằm nâng cao vai trò chủ thể của người nôngdân trong xây dựng NTM tại huyện Nậm Pồ trong những năm tiếp theo.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng

NTM

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về giải pháp nâng cao vaitrò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Nậm Pồ,tỉnh Điện Biên

- Về thời gian: Nghiên cứu việc nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong

XD NTM ở huyện Nậm Pồ với các thông tin khảo sát giới hạn từ năm 2016 đến

2018, các giải pháp từ nay đến 2020

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

5.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Những số liệu thứ cấp liên quan đến các vấn đề lý luận về nông thôn mới, vềvai trò chủ thể của người nông dân trong XD NTM, các chủ trương, chính sách củaĐảng, nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới,

cơ cấu dân số, trình độ lao động nông thôn, thu nhập trung bình của người lao động,điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết quả thực hiện XD NTM được thu thậpthông qua các báo cáo của UBND, các phòng, ban huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

5.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Các thông tin mới chưa công bố được thu thập thông qua tiến hành điều tra

và phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân bằng bộ câu hỏi đã được xây dựng

Tiến hành điều tra, phỏng vấn 150 nông dân trên địa bàn huyện Nậm Pồ (lựachọn mỗi xã 10 người) thông qua bảng hỏi với các câu hỏi đóng, mở linh hoạt Cácnông dân được chọn phỏng vấn dựa trên điều kiện kinh tế, thành phần dân tộc, trình

độ học vấn theo tỷ lệ thích hợp Nội dung phỏng vấn chủ yếu bao gồm: (1) thông tin

cơ bản của người nông dân và hộ gia đình; (2) Tình hình tham gia của người được

Trang 7

phỏng vấn trong thực hiện xây dựng nông thôn mới; (3) ý kiến đánh giá của ngườiđược phỏng vấn về vai trò chủ thể của nông dân trong thực hiện XD NTM; (4) ýkiến đề xuất nhằm nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong thực hiện XD NTMtại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

5.2 Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu

Sau khi thu thập được các thông tin cần thiết qua các phiếu điều tra và cácbáo cáo, số liệu sẽ được xử lý chủ yếu bằng phần mềm Excel để tính toán, so sánhcác chỉ tiêu, tìm ra được tốc độ phát triển của các chỉ tiêu

5.2.1 Phương pháp thống kê mô tả

Ở phương pháp này sẽ dùng các số liệu tương đối và tuyệt đối để thống kê,

mô tả và phản ánh quy mô, tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu NTM, tỷ lệ tham gia hoạt độngxây dựng NTM, tỷ lệ người dân tán thành trong việc tham gia xây dựng NTM

5.2.2 Phương pháp phân tích so sánh

Phương pháp này được sử dụng để phân tích, so sánh thông qua các chỉ tiêunghiên cứu, giữa các điểm nghiên cứu, các tác động chính sách, các yếu tố ảnhhưởng trong quá trình thực hiện xây dựng NTM huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

5.2.3 Phương pháp ma trận SWOT

Sau khi xác định yếu tố cơ bản của các điều kiện bên trong và bên ngoài, cóthể tiến hành lập một ma trận SWOT Khi xây dựng ma trận có thể xảy ra trườnghợp là có quá nhiều yếu tố cơ hội hoặc nguy cơ Do đó, nhà nghiên cứu cần xácđịnh được cơ hội và nguy cơ chủ yếu trong quá trình nâng cao vai trò chủ thể củangười nông dân, từ đó có những đề xuất phù hợp cho địa phương

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được cấu trúc làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng về vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựngnông thôn tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

Chương 3: Các giải pháp nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân trongxây dựng nông thôn tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

Trang 8

1.1.2 Nông dân

Đi sâu nghiên cứu về chủ thể nông dân, Từ điển tường giải và liên tưởngtiếng Việt của Nguyễn Văn Đạm định nghĩa nông dân là “Người chuyên sản xuất racác loại lương thực, thực phẩm” [6, tr 614] Còn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phêchủ biên định nghĩa nông dân là “Người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [14,

tr 717] Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa về nông dân khá đầy đủ vàtoàn diện, theo đó: “Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham giasản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến cácngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kỳlịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thànhnên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội”

1.1.3 Đặc điểm cơ bản của chủ thể nông dân

Trang 9

Thứ nhất, chủ thể nông dân Việt Nam là những người lao động trong lĩnh

vực sản xuất nông nghiệp Bằng năng lực tư duy và tri thức kinh nghiệm sản xuấtgắn với một phương thức sản xuất đặc thù, chủ thể nông dân trực tiếp lao động sảnxuất trên các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp,… tạo ra khốilượng của cải lương thực thực phẩm nuôi sống con người, cung cấp nguyên liệu đầuvào cho công nghiệp và hàng xuất khẩu

Thứ hai, chủ thể nông dân là lực lượng chiếm số đông trong cơ cấu dân số

của cả nước, có sự gắn bó lâu đời với cội nguồn dân tộc, với địa bàn nông thôn.Trong tiến trình dựng nước và giữ nước, với lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bấtkhuất, kiên cường, các chủ thể nông dân đã có nhiều công lao to lớn đóng góp vào

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời với năng lực sáng tạo vô hạn xuấtphát từ nhu cầu của cuộc sống, các chủ thể nông dân còn là lực lượng trực tiếp xâydựng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Thứ ba, các chủ thể nông dân nước ta có nhiều ưu điểm như cần cù trong lao

động, tinh thần yêu nước và tính cố kết cộng đồng bền chặt Trong xã hội cũ, cácchủ thể nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề nên có tinh thần phản kháng, đấu tranhcao, nhưng đồng thời nông dân nước ta thiếu sự liên kết chặt chẽ về kinh tế Muốnđược giải phóng khỏi sự áp bức và nô dịch, các chủ thể nông dân phải chủ độngtham gia vào khối liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, bản thân chủ thể nông dân Việt Namcũng có những biến đổi cho phù hợp với các điều kiện khách quan Chẳng hạn, dotồn tại xã hội đang có sự chuyển biến đáng kể nhất là phương thức sản xuất nôngnghiệp ngày càng tiên tiến, do sự biến đổi của điều kiện tự nhiên,… đòi hỏi các chủthể nông dân nước ta cũng phải có sự điều chỉnh theo hướng ra sức phát huy tínhnăng động và sáng tạo, tinh thần tự lực và tự cường, đức tính cần mẫn và chịu khó

để thích ứng và tồn tại với điều kiện hoàn cảnh mới

1.1.4 Nông thôn

Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị

xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân

Trang 10

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn, do đó cũng cónhiều khái niệm khác nhau về nông thôn Một quan điểm khác lại cho rằng, vùngnông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chínhcủa dân cư nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Những ýkiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộcvào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ cấu áp dụng cho từng nền kinh tế Nhưvậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thờigian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới.Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu:

"Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nôngdân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội vàmôi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chứckhác" (Mai Thanh Cúc, 2005)

1.1.5 Nông thôn mới

Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dânkhông ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trịvững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đượcxây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nôngnghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoádân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị đượcnâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

1.1.6 Xây dựng Nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộngđồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khangtrang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ)xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn từng bước hiện đại; xây dựng

cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát

Trang 11

triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quyhoạch; xây dựng nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môitrường sinh thái; giữ vững an ninh - trật tự; tăng cường hệ thống chính trị ở nôngthôn; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

1.1.7 Nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới

Nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM là làm tăng thêm vịtrí chủ thể của người nông dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ XD NTM

Vị trí chủ thể của người nông dân trong XD NTM được thể hiện ở sự tự giáctham gia thực hiện các nội dung trong tiêu chí NMT, ý thức trách nhiệm của mỗingười đối với những công việc thuộc về bản thân người nông dân, việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ của mình đối với gia đình, cộng đồng và xã hội…

Xuất phát từ những giá trị mà nông dân Việt Nam đã dày công tạo dựngxuyên suốt chiều dài lịch sử, nên khi nói đến nâng cao vai trò chủ thể của nông dânvào trong phong trào XDNTM hiện nay, theo tác giả, trước hết cần được thể hiệnthông qua hệ giá trị cốt lõi vốn dĩ là những yếu tố thấm đậm trong tâm hồn và tínhcách của từng chủ thể nông dân Một khi nâng cao được các yếu tố này, đến lượt nó

và chính nó là nền tảng, là bệ phóng cho việc nâng cao vai trò chủ thể của nông dântrong XDNTM gắn với từng nội dung, tiêu chí cụ thể trong Bộ tiêu chí quốc gia về

XDNTM Những giá trị cốt lõi đó là: Thứ nhất, nâng cao lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần cách mạng của người nông dân vào trong XDNTM; Thứ hai, nâng

cao tính cần cù, chịu thương chịu khó và tính năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường

của người nông dân vào trong XDNTM; Thứ ba, nâng cao tinh thần đoàn kết, gắn

bó, tương trợ lẫn nhau của người nông dân vào trong XDNTM

1.1.8 Tính tất yếu của việc nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới

1.1.8.1 Nội dung cơ bản về xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay

Để đảm bảo được sự thống nhất trong thực hiện chương trình XD NTM, Thủtướng Chính phủ ra Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành

Trang 12

Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày04/6/2010 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nôngthôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng để triểnkhai thực hiện trên phạm vi cả nước Trên cơ sở đó, Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNN ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tại điều 2,phần I (Quy định chung) hướng dẫn: “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới là căn

cứ để các địa phương chỉ đạo việc xây dựng, phát triển nông thôn mới; là cơ sở đểđánh giá công nhận xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới” [2]

Trong Bộ tiêu chí quốc gia về XD NTM bao gồm 19 tiêu chí được bố cụcthành 5 phần [Phụ lục 1]:

- Phần I Quy hoạch: với tiêu chí số 1 (Quy hoạch và thực hiện quy

hoạch)

- Phần II Hạ tầng KT - XH: với các tiêu chí số 2 (Giao thông), số 3 (Thủy

lợi), số 4 (Điện), số 5 (Trường học), số 6 (Cơ sở vật chất văn hóa), số 7 (Chợ nôngthôn), số 8 (Bưu điện), số 9 (Nhà ở dân cư)

- Phần III Kinh tế và tổ chức sản xuất: với các tiêu chí số 10 (Thu nhập),

số 11 (Hộ nghèo), số 12 (Cơ cấu lao động), số 13 (Hình thức tổ chức sản xuất)

- Phần IV Văn hóa - xã hội - môi trường: với các tiêu chí số 14 (Giáo

dục), số 15 (Y tế), số 16 (Văn hóa), số 17 (Môi trường)

- Phần V Hệ thống chính trị: với các tiêu chí số 18 (Hệ thống tổ chức

chính trị xã hội vững mạnh), số 19 (An ninh, trật tự xã hội)

Ngày 17/10/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số1980/QĐTTg về Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020(gọi tắt là Bộ tiêu chí xã) Về cơ bản, Bộ tiêu chí này kế thừa Bộ tiêu chí Quốc giaxây dựng nông thôn mới (Quyết định số 491/QĐ-TTg) Tuy nhiên, tên và nội dungmột số tiêu chí có điều chỉnh, trong đó đáng chú ý UBND cấp tỉnh được chủ độngquyết định trong một số nội dung cụ thể Sự điều chỉnh này là cần thiết, kịp thờinhằm hướng đến sự phù hợp với tình hình thực tế từng vùng miền, từng địa phương,

Trang 13

cũng như phù hợp với những diễn biến mới do tác động từ các nhân tố khách quan

để việc triển khai thực hiện phong trào XD NTM đạt hiệu quả tốt hơn [18], [PL 2]

1.1.8.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới

Thứ nhất, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM góp phần tích cực phát triển KT-XH ở địa bàn nông thôn

Nông thôn nước ta là một địa bàn rộng lớn, nơi sinh sống, lao động sản xuấtcủa nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp Vì vậy, nâng cao vai trò chủ thể của từngnông dân trong XD NTM, nhất là một khi các chủ thể nông dân tích cực thực hiệntốt việc tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp hướng vào chiều sâu với năng suất, chấtlượng, hiệu quả ngày càng cao, trước hết từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đờisống của bản thân người nông dân vì ước tính có đến 85% hộ nghèo của cả nướcchủ yếu gắn với địa bàn nông thôn Mặt khác, phát huy vai trò chủ thể của nông dântrong XD NTM còn là để chấn hưng nền nông nghiệp nước nhà Qua đó, góp phầnphát triển KT - XH của đất nước một cách toàn diện, bền vững vì nền nông nghiệpnước ta - mặc dù đang có khuynh hướng giảm dần - nhưng trên thực tế vẫn đangchiếm một tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu của nền kinh tế Hơn nữa, một khi vai tròchủ thể của nông dân trong XD NTM phát huy tốt sẽ gián tiếp góp phần tạo nên sựtương tác lẫn nhau giữa lĩnh vực nông nghiệp với các ngành, các lĩnh vực kháctrong nền kinh tế quốc dân như công nghiệp, dịch vụ thương mại, giao thông vậntải,… được mở rộng và phát triển Điều này cho thấy, thông qua nâng cao vai tròchủ thể của nông dân trong XD NTM sẽ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ, có hiệuquả sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực khác cho phát triển KT - XH

Thứ hai, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM góp phần tích cực ổn định chính trị, thực hiện tốt thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên địa bàn nông thôn.

Lãnh thổ Việt Nam có diện tích 331.212 km2 bao gồm khoảng 327.480 km2đất liền và hơn 4.200 km2 biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớnnhỏ, gần và xa bờ Phía Bắc giáp Trung Quốc với đường biên giới khoảng 1.400

Trang 14

km, phía Tây giáp Lào với đường biên giới dài 2.067 km và giáp Campuchia vớiđường biên giới dài 1.080 km, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp vịnh TháiLan với bờ biển dài 3.260 km [16, tr.334, 338-339] Với đặc điểm về điều kiện tựnhiên đa dạng, địa hình phức tạp và vị trí địa lý như trên, Việt Nam là quốc gia biển,

có vị trí địa - kinh tế, địa - chính trị đặc biệt quan trọng không chỉ trong khu vựcĐông Nam Á mà cả châu Á Thái Bình Dương Các khu vực biên giới, hải đảo tiềntiêu của nước ta chính là địa bàn nông thôn có vị trí chiến lược trọng yếu về quốcphòng an ninh Do vậy, nông thôn cũng chính là khu vực nhạy cảm, dễ bị các lựclượng thù địch trong và ngoài nước cấu kết với nhau, lấy đó làm địa bàn trọng điểm

để lôi kéo, kích động, xúi giục nhân dân gây nên các điểm nóng chính trị mà sự kiện

“Vương quốc Mông” tại Mường Nhé là một điển hình Cho nên, việc phát huy vaitrò chủ thể của nông dân trong XD NTM thực chất là thực hiện nền quốc phòngtoàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân Điều này có ý nghĩa quan trọng trongviệc đảm bảo an ninh nông thôn, giữ vững chủ quyền biên giới đất liền và chủquyền biển đảo, nhất là trong tình hình căng thẳng, xung đột, tranh chấp liên quanđến vấn đề biển Đông đang diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lườngnhư trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM góp phần tích cực trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Nông thôn nước ta là không gian rộng lớn nơi đang bảo tồn, giữ gìn, pháthuy các giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc Với 54 dân tộc cùng tồn tại,sinh sống trên các vùng miền khác nhau, cùng với quá trình hơn 4000 năm dựngnước và giữ nước, nhân dân ta đã tạo nên những nét đặc sắc, phong phú, độc đáoriêng có của một nền văn hóa đa dạng trong sự thống nhất Nói cách khác, bản sắcvăn hóa dân tộc Việt Nam không phải bỗng nhiên mà có, nó được vun đắp qua hàngnghìn năm vốn dĩ đã gắn chặt với nền sản xuất nông nghiệp, với người nông dân và

“Người nông dân Việt Nam là những người có văn hóa theo nghĩa họ tiêu biểu chonhững truyền thống tốt đẹp mang bản sắc dân tộc” Ngày nay, trong xu thế hội nhậpquốc tế sâu rộng có nguy cơ làm cho bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là những nét văn

Trang 15

hóa cổ truyền ở làng quê, của nền văn minh nông nghiệp lúa nước bị mai một, dễ bịmất đi hoặc bị biến tướng, lệch lạc Do đó, phát huy vai trò chủ thể của nông dântrong XD NTM nhằm tạo ra sức đề kháng đủ mạnh để chống chọi có hiệu quả trước

sự tác động mạnh mẽ từ những yếu tố tiêu cực nhất định của một xã hội hiện đại;mặt khác để giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quêViệt Nam, ở phạm vi rộng hơn là để đảm bảo cho các yếu tố văn hóa nội sinh với tất

cả những giá trị chân, thiện, mỹ luôn được gìn giữ và không ngừng sáng tạo

Thứ tư, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM góp phần tích cực bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống biến đổi khí hậu và giảm thiểu thiên tai

Với điều kiện tự nhiên cơ bản thuận lợi, địa hình đa dạng, phong cảnh thiênnhiên tươi đẹp cho thấy nông thôn nước ta còn đóng vai trò cân bằng sinh thái và đadạng sinh học Tuy nhiên, trên thực tế môi trường tự nhiên ở nông thôn nước tađang đối mặt với nhiều thách thức, đang ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và sứckhỏe của nông dân Cho nên, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTMkhông những bảo vệ môi trường cảnh quan tự nhiên, mà còn góp phần duy trì, pháttriển mối quan hệ hài hòa vốn có giữa con người với thiên nhiên nhằm hướng đếnmột không gian nông thôn xanh, sạch, đẹp, văn minh và hiện đại Hơn nữa, nôngthôn Việt Nam còn là địa bàn có đầy tiềm năng để khai thác du lịch sinh thái với sựtham gia của cộng đồng dân cư nông thôn Môi trường cảnh quan thiên nhiên đangthực sự tạo ra sinh kế cho nông dân, góp phần quan trọng trong phát triển KT - XH

ở các địa phương, đồng thời bản thân dân cư nông thôn chính là chủ thể trực tiếptham gia và thụ hưởng những thành quả do ngành du lịch đem lại

Như vậy, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM thông quabốn nội dung trên làm cho các mặt này không ngừng phát triển nhưng đồng thời,đến lượt nó, tác động trở lại làm cho cuộc sống của các chủ thể nông dân ngày mộttốt hơn, tiến bộ hơn

Thứ năm, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM góp phần làm tốt công tác giám sát các hoạt động trong XD NTM

Trang 16

Trong XD NTM, ngân sách để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kinh

tế, xã hội là rất lớn Việc kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư của các cơ quan nhànước đã giúp cho nguồn vốn không bị thất thoát, các công trình được đảm bảo vềchất lượng Tuy nhiên, thực tế hiện nay, ở nhiều nơi, các cơ quan có chức năng vànhiệm vụ kiểm tra, giám sát chưa làm tốt vai trò của mình, còn buông lỏng quản lý,cấu kết làm sai để hưởng lợi Mặt khác, do khối lượng đầu tư xây dựng nhiều trongkhi đó nhân lực trong các cơ quan quản lý ít nên nhiều lúc, nhiều nơi không giámsát, kiểm tra hết được Do vậy, sự tham gia của người dân trong công tác kiểm tra,giám sát sẽ giúp cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của nhà nước hiệu quả hơn,chất lượng đảm bảo hơn; công tác giám sát được thường xuyên, liên tục hơn

1.2 Những nội dung cơ bản về nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong tham gia quy hoạch nông thôn mới và thực hiện quy hoạch

Quy hoạch và thực hiện quy hoạch là tiêu chí đầu tiên trong Bộ tiêu chíQuốc gia về XD NTM Tiêu chí này được cụ thể hóa bằng Thông tư liên tịch số13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 của liên bộ: Bộ Xâydựng, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường [3]quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã NTM và được cấp

có thẩm quyền phê duyệt, công bố rộng rãi tới thôn, ấp cũng như các bản vẽ quyhoạch được niêm yết công khai để người dân biết góp ý và thực hiện

Việc phổ biến các đồ án quy hoạch XD NTM đến nông dân, tiếp thu ý kiếnđóng góp của nông dân là việc làm cần thiết và rất quan trọng Là kênh thông tinquan trọng thậm chí đóng vai trò “phản biện”, “thẩm định” các luận cứ khoa học từ

đồ án quy hoạch ban đầu Qua đó, giúp cho các đồ án quy hoạch XD NTM (quanhững lần điều chỉnh từ sự góp ý của người dân) bám sát thực tế, có sự phù hợp,tính khả thi cao và khi triển khai thực hiện có được những thuận lợi cùng với đó lànhững kết quả tốt đẹp

Trang 17

1.2.2 Nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng hạ tầng kinh

tế - xã hội nông thôn

Do đặc thù của địa bàn nông thôn nên đối với việc xây dựng, phát triển kếtcấu hạ tầng về kinh tế đó là tập trung vào vấn đề giao thông, thủy lợi, điện, nướcsạch Đối với kết cấu hạ tầng về xã hội đó là tập trung xây dựng trường học, bưuđiện, cơ sở vật chất văn hóa để phục vụ cho dân cư nông thôn vốn dĩ chịu nhiềuthiệt thòi trên mọi phương diện Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế của đất nước cònnhiều khó khăn, nên bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước thì việc xây dựng kết cấu hạtầng KT - XH ở các địa bàn nông thôn cần được xã hội hóa bằng sự chung tay gópsức của cả cộng đồng, trong đó không thể thiếu sự tham gia của dân cư nông thôn

Đó là việc nông dân tự nguyện, tự giác hiến đất, hoa màu, vật kiến trúc, tiền của,đóng góp ngày công lao động trong khả năng và mức độ phù hợp để xây dựngnhững công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh như: làm đường giao thôngnông thôn, xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ, xây dựng trường học, cơ sởvật chất văn hóa (nhà văn hóa thôn, ấp), kéo mạng lưới điện, từng bước xóa bỏ nhàtranh tre nứa lá phấn đấu xây nhà ở dân cư đạt chuẩn

1.2.3 Nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong tổ chức sản xuất và đổi mới các hình thức sản xuất

Xây dựng NTM trước hết cần tập trung vào sản xuất phát triển kinh tế, làmthay đổi căn bản và toàn diện đời sống của nông dân theo hướng ngày càng tốt hơn.Đây mới là vấn đề cốt lõi, chiều sâu của chương trình XD NTM Từ chỗ xuất phátđiểm của nền nông nghiệp nước ta còn ở trình độ thấp, qui mô sản xuất nhỏ bé, hiệuquả kinh tế chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế Cho nên, trong tổ chức sản xuất,

ưu tiên hàng đầu là phải đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế nông nghiệp gắn với đổimới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, từng bước xóa bỏ lối sản xuất nhỏ

lẻ, manh mún, phân tán và cá thể đã tồn tại lâu dài trong tập quán sản xuất của nôngdân Thông qua phát huy vai trò chủ thể của nông dân để “Đồng khởi khởi nghiệp”trong tổ chức sản xuất và đổi mới các hình thức sản xuất

Trang 18

1.2.4 Nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường

Về giáo dục, vai trò chủ thể của nông dân được thể hiện trước hết bằng tinh

thần tự học, tự rèn để từng bước chiếm lĩnh tri thức; thông qua sự khuyến khích,động viên mọi người nêu cao tinh thần học tập trong gia đình, trong dòng tộc, tronglàng xã… mà hình thành nên phong trào khuyến học, khuyến tài, xã hội học tập vìngày mai tươi sáng Các chủ thể nông dân (nhất là các bậc phụ huynh) ra sức laođộng sản xuất để có điều kiện cho con em được học tập trước mắt nhằm đạt đượcmục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đồng thời khuyến khích cho con emđược tiếp tục học ở các bậc học cao hơn, tạo tiền đề góp phần nâng cao tỷ lệ laođộng qua đào tạo Những nghĩa cử này của các chủ thể nông dân tự nó đã thể hiệnvai trò của nông dân trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, sự nghiệp trồng người

Về y tế, vai trò chủ thể của nông dân được phát huy thông qua việc chủ động

thực hiện cũng như tuyên truyền, vận động người thân trong gia đình và cộng đồngtích cực tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chủ động phòngchống các dịch bệnh, xóa bỏ các tập tục lạc hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe.Đáng chú ý, nông dân vì sức khỏe của bản thân mình nên ngày càng tích cực thamgia bảo hiểm y tế tự nguyện để được chăm sóc sức khỏe tốt hơn khi gặp rủi ro, ốmđau, bệnh tật

Về văn hóa, yếu tố văn hóa là một phần cốt lõi trong đời sống tinh thần của

nông dân Nông dân Việt Nam trong quá trình lao động sản xuất, sinh hoạt và cố kếtcộng đồng làng xã qua bao đời nay đã hun đúc, tạo dựng nên những nét văn hóa độcđáo của các vùng miền Nói cách khác, bản sắc văn hóa ở nông thôn luôn gắn vớingười nông dân, ở góc độ nào đó cũng đồng thời là bản sắc văn hóa Việt Nam Vìvậy, việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, nhất là bản sắc văn hóa làng

xã, lên một tầm cao mới có được hay không và phát huy như thế nào, tự nó là việclàm của người dân, nhất là trong điều kiện nền văn hóa cổ truyền đang chịu sự tácđộng mạnh bởi các yếu tố văn hóa ngoại sinh Nông dân trực tiếp gìn giữ, bảo vệ,

Trang 19

phát huy các yếu tố văn hóa dân tộc chính là để giữ lấy cốt cách của mình và đôi khinhững nét chân quê, sự mộc mạc lại là cái hay, nét đẹp đáng trân trọng

Về môi trường, bảo vệ môi trường tự nhiên ở địa bàn nông thôn là trách

nhiệm của toàn xã hội, của bản thân người nông dân vì lợi ích của cộng đồng khôngchỉ cho hôm nay mà còn vì các thế hệ mai sau Trong điều kiện hiện nay, khi tìnhhình môi trường trên địa bàn nông thôn ngày càng suy thoái do hậu quả của chiếntranh, do thiên tai, do biến đổi khí hậu và cả từ quá trình sản xuất của con người thìvai trò chủ thể nông dân cần nâng cao nhiều hơn để đảm bảo môi trường luôn đượcxanh, sạch, đẹp Theo đó, phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong bảo vệ môitrường không hẳn là những việc lớn lao mà nó được thể hiện từ những việc nhỏ,đơn giản ngay trong hoạt động sinh hoạt và sản xuất hằng ngày Đó là chủ độngđảm bảo vệ sinh trong ăn uống, đảm bảo nguồn nước hợp vệ sinh, nước sạch trongsinh hoạt Trong sản xuất và sinh hoạt, nông dân không có các hoạt động gây suygiảm hay tác động tiêu cực đến môi trường, chất thải được nông dân thu gom và xử

tế dễ nhận thấy đó chính là việc nông dân chủ động thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

sở “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11

về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn [22] với nhiều hình thức hoạt độngphong phú, đa dạng bao gồm dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện [22, tr.167]

Công tác đấu tranh đẩy lùi các TNXH, giữ vững an ninh trật tự, đảm bảoquốc phòng an ninh trên địa bàn nông thôn trong tình hình mới là công việc khókhăn cần có sự kiên trì, xuyên suốt và phải có sự cộng đồng trách nhiệm của toàn xãhội chứ không phải là việc riêng của các cơ quan chức năng nhất là lực lượng vũ

Trang 20

trang Các cơ quan chức năng sẽ hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ khó khăn này nếunhư có sự chung tay tiếp sức từ nông dân Vì vậy, việc nông dân tích cực tham giaxây dựng và thực hiện tốt nhiều mô hình, quy ước làng xóm về giữ gìn an ninh trật

tự, phòng chống TNXH, đấu tranh bài trừ các hủ tục, tập quán lạc hậu từ phạm vigia đình đến cộng đồng làng xã không chỉ thể hiện tính xung kích, nhiệt tình cáchmạng của mình mà còn là trách nhiệm của công dân đối với xã hội

1.3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới

1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Qua 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước, đồng thời với những thời

cơ và thuận lợi của quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng trong bối cảnh Việt Nam làthành viên của WTO, khi cộng đồng ASEAN được thành lập, Hiệp định Đối tácKinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Việt Nam là thành viên đượcthông qua,… đang tạo động lực quan trọng cho phát triển KT - XH của đất nước nóichung và XD NTM nói riêng Riêng đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đờisống của nông dân cũng chịu nhiều tác động tích cực Trước hết, thị trường xuấtkhẩu nông sản và thủy sản ngày càng rộng lớn, đa dạng (hiện nay thị trường xuấtkhẩu của Việt Nam được mở rộng đến 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, riêng thịtrường xuất khẩu trái cây là 60 quốc gia), tạo cơ hội cho nông dân mở rộng đầu tưsản xuất và hạn chế rủi ro do không phải lệ thuộc vào một vài thị trường nhất định.Đồng thời, nông dân có nhiều cơ hội để trao đổi học tập kinh nghiệm, có điều kiệntiếp cận quá trình chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, làmgia tăng năng suất và chất lượng nông sản, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranhtrên thị trường Mặt khác, khi nông dân tham gia vào thị trường thế giới, bước đầugiúp nông dân dần xóa bỏ tư duy sản xuất manh mún nhỏ lẻ, hướng đến nền sảnxuất qui mô lớn và nắm bắt những quy định của pháp luật theo thông lệ quốc tế Tất

cả những yếu tố thuận lợi trên đang ảnh hưởng tích cực đến việc phát huy vai tròchủ thể của nông dân trong XD NTM tập trung vào việc phát triển kinh tế và tổchức sản xuất (tương ứng từ tiêu chí số 10 đến tiêu chí 13)

Trang 21

Tuy nhiên, những khó khăn, thách thức từ các xu thế của thời đại là khôngnhỏ, có ảnh hưởng đáng kể đến việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong

XD NTM Đó là áp lực từ xu hướng kết tinh hàm lượng tri thức ngày càng cao vàoquá trình sản xuất trong khi trình độ của nông dân nước ta còn nhiều hạn chế; việctuân thủ nghiêm ngặt các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn và luật pháp quốc tế trongkhi nông dân nước ta vẫn còn thói quen, tập quán sản xuất nông nghiệp lạc hậu, tùytiện,… Mặt khác, việc hình thành nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế của nước ta còn non trẻ, các doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm, hệthống pháp luật chưa hoàn thiện, ý thức chấp hành pháp luật trong sản xuất kinhdoanh chưa cao, mối liên kết và cộng đồng trách nhiệm giữa “Bốn nhà” chưa thậtbền vững mà trong mối liên kết đó thì nông dân luôn là người bị thua thiệt Trongđiều kiện như thế, vai trò chủ thể của nông dân khó được phát huy có hiệu quả

1.3.2 Hệ thống chính trị cơ sở

Những chuyển biến tích cực của HTCT hiện nay đang có sự tác động mạnh

mẽ đến các phong trào của nông dân Hệ thống chính trị đang thực sự đóng vai tròđầu tàu, dẫn dắt, định hướng nông dân trong XD NTM, vì như chủ nghĩa Mác đãtừng khẳng định: một mình nông dân không có khả năng làm cách mạng Sự đồngthuận và quyết tâm của cả HTCT trong XD NTM thể hiện thông qua sự chỉ đạoquyết liệt, kịp thời của các cấp ủy Đảng, của người đứng đầu; là sự nêu cao tinhthần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đồng hành và chia sẻ cùng nông dân Mộtkhi cả HTCT thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ sẽ là chỗ dựa tinh thần quan trọng,

là động lực to lớn cho các chủ thể nông dân phát huy tốt vai trò của mình trong XDNTM Chẳng hạn, Hội Nông dân Việt Nam với tư cách là đoàn thể CT - XH được tổchức bộ máy theo hệ thống bốn cấp, có gần 10 triệu hội viên đang cho thấy đây làmột tổ chức rộng lớn, mạnh mẽ trong HTCT nước ta Hội Nông dân các cấp với vaitrò, chức năng, nhiệm vụ của mình có quan tâm, chăm lo cho nông dân Từ việctuyên truyền, vận động nông dân tham gia xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác,HTX nông thôn đến hỗ trợ nông dân vay vốn và hướng dẫn sử dụng vốn vay cóhiệu quả trong sản xuất kinh doanh; từ việc phối hợp với doanh nghiệp, nhà khoa

Trang 22

học, các bộ ngành có liên quan giúp nông dân mua vật tư, máy nông nghiệp theophương thức trả chậm đến việc hỗ trợ nông dân trong ứng dụng tiến bộ khoa học kỹthuật phục vụ sản xuất và đời sống; từ việc vận động nông dân tích cực tham giaxây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH đến các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựngđời sống văn hóa”, xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa gắn với thực hiệnquy chế dân chủ cơ sở,… Chính vai trò cầu nối, dẫn dắt của Hội Nông dân đã giúpcác chủ thể nông dân có cơ hội tự khẳng định mình

Xây dựng NTM có liên hệ mật thiết đến nguồn nhân lực vì suy cho cùng XDNTM có thành công hay không là do con người quyết định Tuy nhiên, trong giaiđoạn hiện nay vấn đề nguồn nhân lực ở địa bàn nông thôn nước ta còn nhiều khókhăn, hạn chế Nguồn nhân lực ở đây, theo tác giả, được tiếp cận ở ba góc độ:nguồn nhân lực trong dân cư nông thôn, nguồn nhân lực trong xã hội và nguồn nhânlực trong HTCT Riêng đối với nguồn nhân lực trong HTCT phục vụ cho XD NTMcòn có những bất cập Tuy Ban Chỉ đạo XD NTM có được thành lập xuyên suốttrên toàn hệ thống, nhưng trên thực tế tại đơn vị cấp xã hiện nay số lượng cán bộchuyên trách về XD NTM còn ít so với tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ XD NTM đangđặt ra Hơn nữa, năng lực, trình độ và tâm huyết của đội ngũ cán bộ đặc biệt là độingũ cán bộ xã chưa thật tốt Điều này thể hiện qua mức độ sâu sát nắm bắt tâm tư,nguyện vọng chính đáng của nông dân để kịp thời định hướng, hướng dẫn, hỗ trợhay tham mưu, đề xuất cho các cơ quan chức năng nghiên cứu tháo gỡ chưa cao,chưa làm tốt vai trò là cầu nối giữa HTCT với nông dân Những hạn chế, yếu kém,bất cập, sai phạm trong HTCT ở cơ sở làm cho lòng tin và tình cảm của nông dân ítnhiều bị giảm sút Một khi sự mất lòng tin, sự hoài nghi và cả sự không hài lòng giatăng sẽ là tỷ lệ nghịch đối với việc nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM

1.3.3 Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của vấn đề nông nghiệp, nôngdân, nông thôn đối với quá trình phát triển KT - XH của đất nước, trong những năm

Trang 23

qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết thể hiện sựquan tâm sâu sắc đến vấn đề “Tam nông” và tạo được sự đồng thuận cao trong nhândân như: Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trungương khóa X năm 2008 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân [7], Quyết định số205-QĐ/TW của Ban Bí thư Ngày 30/12/2008 về việc thành lập Ban chỉ đạo thíđiểm chương trình NTM, Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc banhành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 banhành Chương trình mục tiêu quốc gia về XD NTM giai đoạn 2010 - 2020 [19];Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 về sửa đổi một số tiêu chí trong Bộ tiêuchí quốc gia về NTM [20]; Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 về việcban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (gọi tắt là

Bộ tiêu chí xã) Đây là những văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục cụ thể hóa quanđiểm, chủ trương của Đảng về vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân; là cơ sởpháp lý quan trọng, cần thiết, có tính định hướng để triển khai đồng bộ và rộng khắptrên phạm vi toàn quốc

Ngoài ra, liên quan đến XD NTM, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương,chính sách thể hiện sự quan tâm đến nông dân, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu

số vùng nông thôn như: Chương trình 135 về phát triển KT - XH ở các xã đặc biệtkhó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTgngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở, đất ở vànước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo vềnhà ở; Nghị quyết số 30/A/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ vềChương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo trênphạm vi cả nước; Quyết định số 102/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 của Thủ tướng Chínhphủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc diện hộ nghèo ở vùng khókhăn; Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phêduyệt chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020;

Trang 24

Tuy nhiên, việc xây dựng thể chế còn gặp nhiều khó khăn Có những chủtrương xét ở phạm vi cả nước thì đúng nhưng khi vận dụng vào đặc thù từng vùngmiền mức độ phù hợp chưa cao, chưa sát thực tế, gây khó khăn cho cả HTCT vànông dân Mặt khác, có những văn bản quy phạm pháp luật mới khi được ban hànhmục đích là để khắc phục những hạn chế, bất cập của các văn bản quy phạm phápluật cũ, nhưng sau đó đến lượt nó lại phát sinh những hạn chế, bất cập mới Bêncạnh đó, một số thủ tục hành chính vẫn còn nặng nề, rườm rà; thời gian triển khaithực hiện các văn bản quy phạm pháp luật lại chậm, gây khó khăn cho hoạt độngsản xuất của nông dân Thậm chí có những quy định không hợp lý, vô hình trung trởthành gánh nặng trên đôi vai của người nông dân, là áp lực tinh thần làm hạn chếviệc nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM Ví dụ như căn cứ vào

Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016 - 2020, tại tiêu chí số 13.1 “Xã cóHTX hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012” Điều này trênthực tế sẽ khó áp dụng rộng rãi và khó thực hiện Vì rằng, nhiều xã, nhất là vùng sâuvùng xa, người nông dân không đủ khả năng và nguồn lực để thiết lập HTX, lại làHTX kiểu mới hoạt động có hiệu quả và bền vững [Phụ lục 2]

1.3.4 Trình độ, nhận thức của nông dân

Trong những năm trước đây, nhất là trong thời kỳ dưới ách áp bức và thốngtrị của thực dân phong kiến, trình độ học vấn của nông dân nước ta nhìn chung rấtthấp, năng lực nhận thức của người dân nhất là nông dân vùng sâu vùng xa, vùngđồng bào dân tộc thiểu số rất hạn chế Điều này gây khó khăn và ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt của bản thân người nông dân.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới gắn vớiCNH, HĐH đất nước, công tác giáo dục và đào tạo rất được quan tâm nhằm “nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” ngay trong lực lượng nông dânphải được quan tâm chú trọng, vừa là yêu cầu cấp bách vừa có ý nghĩa chiến lượclâu dài Nhìn chung, đến nay trình độ học vấn, năng lực nhận thức của nông dânnước ta về cơ bản được cải thiện, từng bước được nâng cao Đây là yếu tố nội sinh

có tính căn bản và bền vững giúp cho việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân

Trang 25

trong XD NTM đem lại hiệu quả ngày càng tốt hơn Chẳng hạn, chính sự quyết tâm,

nỗ lực trong việc tự học, tự rèn để nâng cao năng lực tư duy, trình độ học vấn giúpcho nhiều chủ thể nông dân tự tin tiếp cận tốt những thành tựu khoa học, kỹ thuật vàcông nghệ (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, kỹthuật canh tác mới,…) vào quá trình sản xuất

Tuy nhiên, trên thực tế xét về quy mô, chất lượng và hiệu quả của nguồnnhân lực ở địa bàn nông thôn nước ta vẫn còn nhiều bất cập Trình độ học vấn, nănglực nhận thức của một bộ phận không nhỏ trong nông dân chưa ngang tầm đang ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả chương trình XD NTM Một khi trình độhọc vấn, năng lực nhận thức, chuyên môn tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật của nôngdân chưa được nâng cao sẽ là rào cản, “xiềng xích” trói buộc nông dân trong sinhhoạt, sản xuất và hội nhập Nông dân Việt Nam vốn có tính chăm chỉ, nhưng chămchỉ không thôi thì chưa đủ mà đòi hỏi phải được đặt trên nền tảng của tri thức Vìvậy, từng chủ thể nông dân phải ra sức vượt qua mọi khó khăn, phát huy tinh thầnhiếu học mới là con đường phát triển bền vững

1.3.5 Những yếu tố tâm lý của nông dân các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Thứ nhất, đặc điểm rõ nhất trong đời sống sản xuất và sinh hoạt của đồng

bào các dân tộc thiểu số là cuộc sống tự cung tự cấp Gắn bó với môi trường thiênnhiên, con người chấp nhận những gì điều kiện tự nhiên “ban cho” và cố gắng thíchnghi với những gì trong khả năng cho phép Do vậy, tâm lý sản xuất “nhờ trời” kháphổ biến ở nhiều dân tộc

Thứ hai, một trong những yếu tố tâm lý hết sức quan trọng ở vùng đồng bào

dân tộc thiểu số và miền núi là yếu tố cộng đồng Mỗi người dân, mỗi hộ gia đìnhtrong quá trình sống, lao động và sản xuất không thể tự tách mình ra khỏi cộngđồng Yếu tố cộng đồng có khi là động lực, là mạng lưới hỗ trợ tích cực cho sự pháttriển, nhưng đồng thời, nó cũng là yếu tố tâm lý khiến cho cá nhân không thoát khỏinhững ràng buộc, níu kéo của cộng đồng để vươn lên trong sản xuất

Thứ ba, tâm lý dễ chán nản, bỏ cuộc của người nông dân các dân tộc thiểu số

cũng là điều rất dễ thấy Điều này xuất phát từ chỗ họ quen sống với việc khai thác

Trang 26

các sản vật tự nhiên của núi rừng, dễ kiếm, ít thất bại Người dân tộc thiểu số ưathích phương thức canh tác truyền thống của mình và chưa quen với sản xuất hànghóa

Thứ tư, với tâm lý “có ăn, hết lại tính”, thậm chí “có ăn, hết nhịn” Hiện

tượng phổ biến ở hầu hết các tộc người sau vụ thu hoạch là thóc lúa thu được đều

“xả láng” chi dùng; rất ít người lập được sự cân đối giữa nguồn thu với các khoảnphải chi để có kế hoạch chi tiêu hợp lý, hạn chế sự mất cân đối giữa thu - chi và tìmgiải pháp khắc phục sự mất cân đối đó Chi tiêu không hợp lý và thiếu kế hoạch,thiếu tích luỹ về kinh tế, nên dẫn đến thụ động nhất là khi sản xuất gặp thiên tai,mất mùa Một bộ phận người dân có tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhànước

Thứ năm, tâm lý không muốn đi xa, tách rời khỏi cộng đồng thôn bản, tộc

người nơi họ gắn bó sinh sống, dẫn đến tình trạng di dịch chuyển lao động ra ngoàikhu vực nông thôn rất hạn chế Bên cạnh đó, hầu hết lao động có trình độ thấp, chưaqua đào tạo nghề, nên không tự tin thoát ra khỏi môi trường nông thôn để tự lập làm

ăn sinh sống ở những địa bàn khác dù thuận lợi và cho thu nhập cao hơn

1.4 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới và bài học kinh nghiệm

1.4.1 Kinh nghiệm trong nước

1.4.1.1 “Khu dân cư NTM kiểu mẫu”, “Vườn mẫu” của Hà Tĩnh

Đến nay, tỉnh Hà Tĩnh có 123 xã đạt chuẩn NTM (chiếm 53,7% tổng số xã),không còn xã dưới 10 tiêu chí; có 230/1.802 thôn đạt chuẩn khu dân cư (KDC)NTM kiểu mẫu; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2017 đạt 28triệu đồng

Đặc biệt, Hà Tĩnh đã sáng tạo tiêu chí 20 - KDC NTM kiểu mẫu, vườn mẫu,tạo ra diện mạo mới, có chiều sâu, tính bền vững cao trong cộng đồng khu dân cư,đảm bảo thuyết phục hơn khi công nhận xã đạt chuẩn NTM Đây là hạt nhân thựctiễn nhất trong mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân

Trang 27

Giai đoạn đầu năm 2014 đến 2016, đối với xã phấn đấu đạt chuẩn trong năm

và năm kế tiếp, hỗ trợ 300 triệu đồng/khu dân cư NTM kiểu mẫu; 20 triệuđồng/vườn mẫu (mỗi xã 10 vườn), phần vốn hỗ trợ chủ yếu cho các nội dung như:Quy hoạch, làm hàng rào xanh, hỗ trợ giống cây, ứng dụng tiến bộ khoa học - côngnghệ vào sản xuất Hiện nay, tỉnh đã ban hành chính sách thưởng theo kết quả đầu

ra, mỗi khu dân cư NTM kiểu mẫu đạt chuẩn thưởng 300 triệu đồng, mỗi vườn mẫuđạt chuẩn thưởng năm triệu đồng Nhờ vậy, chủ trương xây dựng khu dân cư NTMkiểu mẫu, vườn mẫu tại Hà Tĩnh nhanh chóng được người dân hưởng ứng, tự giáctham gia và trở thành phong trào có sức lan tỏa nhanh trên diện rộng

Trong quá trình triển khai, Hà Tĩnh chọn những nơi có điều kiện để làmtrước và đánh giá, rút kinh nghiệm Đến nay, phong trào xây dựng vườn mẫu, KDCkiểu mẫu đã được nhân rộng toàn tỉnh, tạo nên những vùng quê đáng sống, mang lạigiá trị kinh tế cho người dân

1.4.1.2 Xây dựng NTM ở Đan Phượng, Hà Nội

Trước khi xây dựng NTM, huyện Đan Phượng đã đạt bình quân 10 tiêuchí/xã, trong đó, hệ thống hạ tầng đã cơ bản đạt chuẩn Đây là tiền đề quan trọng đểhuyện sớm hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM Dù có nhiều điều kiện phát triểnkinh tế, xã hội, thực hiện các mục tiêu xây dựng NTM nhưng Đan Phượng vẫn chịutác động rất lớn của quá trình đô thị hóa, khó khăn cho việc thực hiện quy hoạchphát triển nông nghiệp ổn định lâu dài, nhất là sản xuất nông nghiệp chuyên canh,ứng dụng công nghệ cao Hơn nữa, môi trường nơi đây bị ảnh hường từ hoạt độngsản xuất tại các làng nghề, việc xử lý rác thải, tiêu thoát nước thải sinh hoạt trongkhu dân cư luôn là áp lực lớn Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động sau thu hồiđất nông nghiệp có nhiều khó khăn hơn so các địa phương khác

Chính vì vậy, trong xây dựng NTM, Đan Phượng xác định lợi thế là huyệnven đô nên tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng Đồng thời,quy hoạch và xây dựng được 6 cụm công nghiệp làng nghề, phát triển 534 doanhnghiệp, thu hút 6.200 lao động Thu nhập bình quân đầu người đạt 28,8 triệuđồng/người; tỷ lệ hộ nghèo còn 2,2% Cùng với đó, văn hóa - xã hội có nhiều tiến

Trang 28

bộ vượt bậc với 100% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Hoạt động chăm sóc sứckhỏe người dân ngày càng nâng cao Đến nay, 100% số xã đạt tiêu chí quốc gia về y

tế Nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang luôn được duy trì Toàn huyện có 45làng đạt danh hiệu văn hóa, 90% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa

Trong phát triển sản xuất nông nghiệp, huyện đã tập trung chỉ đạo chuyểnđổi cơ cấu sản xuất theo đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp với hàng nghìn môhình sản xuất hiệu quả; đưa cây, con có giá trị cao vào thay thế sản xuất truyềnthống, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và hỗ trợ các cơ sở sản xuất tiếp cận thịtrường tiêu thụ Do đó, bình quân 4 năm qua, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng2,4%/năm

1.4.2 Kinh nghiệm ở một số nước Đông Nam Á

1.4.2.1 Xây dựng Nông thôn mới ở Trung Quốc

Tại Hội nghị toàn thể Trung Quốc lần thứ 5 khóa 16 Ðảng Cộng sản TrungQuốc năm 2005, lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra quy hoạch "xây dựng nông thônmới xã hội chủ nghĩa" Ðây là một kế hoạch xây dựng mới của sự nghiệp cải cách

và phát triển nông thôn Trung Quốc và quy hoạch này đã được đưa vào kế hoạchphát triển kinh tế, xã hội năm năm lần thứ 11 (2006 - 2010) Mục tiêu của quyhoạch này là: "Sản xuất phát triển, cuộc sống dư dật, làng quê văn minh, thôn xãsạch sẽ, quản lý dân chủ" Quy hoạch này bao gồm cả xây dựng văn minh tinh thần

và vật chất, phát triển chính trị ở nông thôn

Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện phápthích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu dẫn đường, Chính phủ hỗ trợ,nông dân xây dựng Ðể thực hiện mục tiêu trên, trong thời gian từ năm 2006 đến

2010, Trung Quốc sẽ mở rộng ngân sách tài chính bao trùm phạm vi nông thôntrong cả nước, đẩy mạnh thực hiện xây dựng 14 công trình trọng điểm xây dựngnông thôn mới, bao gồm xây dựng các cơ sở sản xuất cỡ lớn về lương thực, bông,dầu; giải quyết trước mắt vấn đề nước sinh hoạt tồn tại trong nhiều năm qua chohàng trăm triệu nông dân; cải tạo và xây dựng mới 1,2 triệu km đường giao thông ởnông thôn trong cả nước; thực hiện xây dựng mạng lưới giao thông đến từng làng

Trang 29

xã; hoàn thiện hệ thống dịch vụ y tế khám, chữa bệnh ở nông thôn và chuyển dịchviệc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn Ðồng thời với những công việc trên,trong việc xây dựng nông thôn mới, Trung Quốc còn áp dụng các biện pháp thúcđẩy phát triển sự nghiệp giáo dục và y tế khám, chữa bệnh ở khu vực nông thôn,từng bước đẩy mạnh công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tích cực tìm hiểu thăm dò xâydựng chế độ bảo đảm cuộc sống cho những người có thu nhập thấp nhất ở nôngthôn Ðể cung cấp dịch vụ công cộng liên quan cho nông dân, Trung Quốc sẽ đưa

họ vào phạm vi bảo hiểm tai nạn lao động, giải quyết vấn đề bảo đảm xã hội vàquyền lợi chính trị được hưởng theo pháp luật

1.4.2.2 Phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc

Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thựchiện kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trươngcông nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4/1970, Chính phủ Hàn Quốc phátđộng phong trào Saemaul Undong Tinh thần Saemaul Undong được xây dựng trên

3 trụ cột: chuyên cần - tự giác - hợp tác Ba trụ cột đó là những giá trị xuyên suốtquá trình phát triển nông thôn nói riêng, xã hội Hàn Quốc nói chung, được côngnhận đã góp công lớn đưa GNP (tổng sản phẩm quốc dân) bình quân từ 85 USD lên20.000 USD sau 30 năm phát triển Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổicộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc vàhợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuốicùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn"

Theo đó, Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổisuy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn Điểm đặcbiệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên,vật liệu, còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc.Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng NTM vớiviệc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào

Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp làng xãtham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ các đại

Trang 30

diện này Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chínhsách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản.Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suấtgiảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác

Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của các bộ,ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả của phong trào SaemaulUndong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành mộtquốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á

1.4.2.3 “Làng thông minh” ở Malaixia

“Làng thông minh” của Malaysia có thể coi là mô hình xóa đói giảm nghèobằng cách kết hợp công nghệ mới và thúc đẩy môi trường bền vững

Các cư dân trong “làng thông minh” được tiếp cận với đầy đủ cơ sở thiết yếugồm giáo dục, đào tạo và giải trí cũng như một hệ thống nông nghiệp bền vững, cónguồn thức ăn đáng tin cậy và việc làm bổ sung thu nhập cho người dân Những cănnhà trong làng có diện tích khoảng 100m2 và chỉ mất 10 ngày để xây dựng Giáthành của chúng khá phải chăng, trung bình từ 16.000 đến 20.000 USD mỗi căn

Hệ thống nông nghiệp khép kín là đặc điểm nổi bật nhất tại “làng thôngminh” Chu trình khép kín đó liên kết mọi hoạt động trong cộng đồng

Cụ thể, hệ thống nuôi trồng thủy sản cung cấp cá nhỏ và tảo dùng làm thức

ăn cho cá lớn như cá rô phi giàu protein Nước thải từ nuôi trồng thủy sản sau đó sẽ

đi qua hệ thống lọc, được sử dụng để cho những cánh đồng ngũ cốc và các câytrồng khác, trong đó có hoa, cây màu Cây cho sản phẩm tươi được trồng trong chậuthủy canh có thể phát hiện độ ẩm của đất, từ đó có chế độ tưới thích hợp để khônglãng phí nước, đồng thời tiết kiệm cả phân bón và thuốc trừ sâu Chất thải hữu cơđược trộn để khuyến khích sự phát triển của sâu và các sinh vật khác dùng nuôi giacầm Tất cả các quá trình này tạo thu nhập thêm cho các hộ dân từ 400 đến 650USD một tháng

Một môi trường sống bền vững còn thể hiện ở chỗ, mỗi ngôi nhà đều sửdụng nguồn năng lượng hiệu quả, đó là các tấm năng lượng mặt trời kết hợp với

Trang 31

năng lượng sinh học và thủy điện Ngoài ra, “làng thông minh” đáp ứng tất cảnhững nhu cầu thiết yếu của một cộng đồng điển hình như trường học, sân chơi, nơithờ tự với một nền công nghệ cao Cơ sở giáo dục được trang bị Internet 4G có hỗtrợ dịch vụ học tập và y tế điện tử.

“làng thông minh” là kết quả của mô hình phối hợp đầu tư giữa nhà nước và

tư nhân Các cộng đồng thông minh này khi tích hợp với nhau có thể trao đổi dịch

vụ, tạo ra hàng nghìn việc làm cho tất cả người dân”

1.4.3 Bài học kinh nghiệm

Từ kinh nghiệm trong nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựngNTM ở Việt Nam và một số nước khu vực châu á nêu trên có thể rút ra một số bàihọc kinh nghiệm như sau:

Một là, xây dựng nông thôn thực chất là thực hiện các nội dung cụ thể để

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Do đó, phải gắn xây dựngnông thôn mới với tái cơ cấu nông nghiệp và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương

Hai là, phải thực sự phát huy vai trò chủ thể của người dân Công tác tuyên

truyền, vận động quần chúng phải là giải pháp quan trọng hàng đầu Làm cho dânhiểu, dân tin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của

và chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình là yếu tố quyết định sự thành côngcủa Chương trình

Ba là, phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên sâu sát, quyết liệt

của các cấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực và phối hợp chặt chẽ của các ban,ngành, đoàn thể Trong đó, người đứng đầu cấp ủy và chính quyền có vai trò quantrọng Thực tiễn cho thấy nơi nào các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể thực sự quantâm vào cuộc thường xuyên, quyết liệt thì trong cùng hoàn cảnh còn nhiều khó khănvẫn tạo ra sự chuyển biến rõ nét

Bốn là, phải có cách làm phù hợp với điều kiện của từng địa phương thông

qua lựa chọn nội dung, nhiệm vụ ưu tiên, vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách Cóphương thức huy động các nguồn lực phù hợp

Trang 32

Năm là, phải có hệ thống chỉ đạo, đồng bộ, hiệu quả; có bộ máy giúp việc đủ

năng lực, chuyên nghiệp, sát thực tế sẽ là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tácchỉ đạo có hiệu quả

Sáu là, lồng ghép sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước và

các nguồn lực đa dạng; việc huy động, đóng góp của người dân phải được thực hiệntrên cơ sở thực sự tự nguyện, bàn bạc dân chủ không gượng ép quá sức dân

Tóm tắt chương 1

Ở chương 1, trên cơ sở trình bày về khái niệm chủ thể, chủ thể nông dân,nông thôn mới, luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục nâng cao vai tròchủ thể của nông dân trong XD NTM

Căn cứ vào bộ tiêu chí Quốc gia về XD NTM, luận án xây dựng khung lýthuyết về nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM ở nước ta hiện naytập trung vào năm nội dung cơ bản: trong tham gia quy hoạch và thực hiện quyhoạch; trong xây dựng hạ tầng KT - XH; trong tổ chức sản xuất và đổi mới các hìnhthức sản xuất; trong lĩnh vực văn hóa - xã hội - môi trường; trong tham gia xâydựng HTCT và giữ vững trật tự, an ninh xã hội

Ở chương này, luận án cũng chỉ ra những nhân tố cơ bản có ảnh hưởng đếnviệc nâng cao vai trò chủ thể của nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay vớinhững thuận lợi và khó khăn, ưu điểm và hạn chế đan xen Trên thực tế, dù rằngkhông tránh khỏi những khó khăn, thách thức, bất cập nhưng về cơ bản các nhân tốnày đang tạo điều kiện thuận lợi và những xung lực mới để phát huy ngày một tốthơn vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM trên phạm vi cả nước trong nhữngnăm vừa qua và ở những năm tiếp theo

Với nhân tố là bản thân chủ thể nông dân Việt Nam Mặc dù còn tồn tạinhững hạn chế nhất định,… Nhưng những khó khăn, hạn chế này chắc chắn cầnphải được vượt qua Tuy nhiên, luận án nhấn mạnh và khẳng định chính sức mạnh

to lớn của từng chủ thể nông dân nước ta vẫn là nền tảng căn bản Trên thực tế, sứcmạnh này đang được phát huy tốt và đây là nhân tố quyết định cho sự thành côngcủa phong trào XD NTM hiện nay

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CHỦ THỂ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TẠI HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

+ Phía Bắc giáp với huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu

+ Phía Nam giáp với nước CHDCND Lào

+ Phía Tây giáp huyện Mường Nhé và nước CHDCND Lào

+ Phía Đông giáp với huyện Mường Chà (Phòng Tài nguyên và Môi trườnghuyện Nậm Pồ, 2018)

2.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Do ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo địa chất nên địa hình huyện bị chia cắtmạnh, cấu trúc núi cao là phổ biến và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên Độ caotrung bình từ 700 - 800m so với mực nước biển Núi ở đây bị bào mòn mạnh thànhnhũng thung lũng hẹp, thềm bãi bồi dọc các con sông, suối Địa hình Nậm Pồ có 2dạng chính:

Địa hình đồi núi cao và cao trung bình: Đây là kiểu địa hình đặc trưng của

Nậm Pồ, chiếm khoảng 90% diện tích tự nhiên Địa hình đồi núi cao phân bố chủyếu trên địa bàn các xã Si Pa Phìn, Phìn Hồ, Chà Tở, Nậm Khăn, Nậm Chua, NàBủng Địa hình đồi núi trung bình phân bố hầu hết ở các xã Nhìn chung dạng địa

Trang 34

hình này phức tạp, hiểm trở, gây khó khăn trong việc đầu tư phát triển kết cấu hạtầng và phát triển sản xuất nông nghiệp.

Địa hình thung lũng và các bãi bồi ven sông suối: Đây là loại địa hình nằm

xen kẽ giữa các núi trung bình, và hệ thống sông suối, có độ dốc dưới 250 Loại địahình này phân bố chủ yếu dọc suối Nậm Pồ và một số suối nhỏ khác có tiềm năng

về sản xuất nông nghiệp Đặc biệt có các bãi bằng tương đối lớn, quy mô từ 20 - 30

ha thuộc địa bàn các xã Nà Hỳ, Nậm Chua, Na Cô Sa, Nậm Khăn, Chà Nưa Đây lànơi tập trung dân cư và sản xuất lương thực (lúa nước) của toàn huyện

2.1.1.3 Khí hậu thời tiết

Khí hậu huyện Nậm Pồ là khí hậu nhiệt đới, gió mùa vùng cao, mùa Đônglạnh, mưa ít; mùa Hè nóng, mưa nhiều Theo tài liệu của Trạm Dự báo Khí tượng -Thủy văn Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên, Nậm Pồ nằm trong vùng khí hậu cócác đặc trưng:

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí bình quân năm là 230C, nhiệt độ khôngkhí bình quân cao nhất vào tháng 6 là 26,30C và thấp nhất vào tháng 1 là 16,60C.Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối là 40,90C (tháng 5) Nhiệt độ không khí thấpnhất tuyệt đối là 3,90C (tháng 1) Trong năm có khoảng 180 ngày nóng và 100 ngàylạnh Tổng tích ôn cả năm là 8.1210C

- Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 Lượng mưa bìnhquân năm 2.439mm, phân bố không đều, vùng núi cao lượng mưa có thể lên đến3.000mm/năm Mưa lớn tập trung vào tháng 5 đến tháng 8 Các tháng khô hạn bắtđầu từ tháng 11 năm trước tới tháng 3 năm sau

- Chế độ gió: Trên địa bàn xuất hiện nhiều hướng gió trong năm Trong đóthịnh hành là hướng gió Tây và Tây - Bắc, thường xuất hiện trong các tháng 10, 11,

12, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Tốc độ gió trung bình từ 0,4 đến 0,7m/s Gió Tây thường gây

ra khô nóng, ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của con người

- Thiên tai thường xảy ra lũ quét, hạn hán, mưa đá

2.1.1.4 Thủy văn

Trang 35

Mùa lũ kéo dài 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 9 Lượng nước trong mùa lũthường chiếm tới 70% tổng lượng nước năm Dòng chẩy lớn nhất thường rơi vàotháng 6,7,8, chiếm 61% tổng lượng nước năm.

Mùa kiệt trong vùng kéo dài 8 tháng, với lượng nước chiếm chưa tới 30%.Tháng kiệt nhất là tháng 3, lượng nước chỉ chiếm 2% tổng lượng nước năm

3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên

Trên địa bàn huyện chủ yếu có 4 loại tài nguyên cơ bản là tài nguyên đất (đấtchưa sử dụng là 69.430,71/149.559,12ha); tài nguyên nước (chủ yếu là nguồn nướcmặt từ phụ lưu của sông Đà là suối Nậm Pồ và mạng lưới khe suối phân bố rải ráctrên địa bàn; nguồn nước ngầm trữ lượng thấp, khó khai thác); tài nguyên khoángsản (chủ yếu là các mỏ đá có trữ lượng lớn phục vụ cho xây dựng) và tài nguyênrừng với diện tích đất lâm nghiệp 52.732,4 ha, độ che phủ 39,12%

2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

2.1.2.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất của huyện

Số liệu ở bảng 2.1 cho thấy tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là149.559,12 ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp: diện tích 76.935,11 ha (chiếm 51,44 diện tích tự nhiên).

Trong số diện tích này có 23.815,51 ha trồng cây hàng năm (chiếm 15,95%) và đấttrồng cây lâu năm là 225,07 ha (chiếm 0,17%) Qua đó cho thấy nhân dân chỉ chútrọng phát triển cây lương thực, chưa quan tâm và khai thác hết tiềm năng sẵn có đểphát triển thêm các loại cây mang tính hàng hóa

- Đất lâm nghiệp: diện tích 52,732,4 ha (chiếm 32,26% diện tích tự nhiên),

trong đó rừng sản xuất chiếm 42,17% còn lại là rừng phòng hộ Hiện nay 100%diện tích rừng đã giao cho 52 cộng đồng bản bảo vệ có chi trả dịch vụ môi trườngrừng, đây cũng là nguồn thu tương đối lớn cho nhân dân trên địa bàn

- Đất phi nông nghiệp: diện tích 3.193,3 ha (chiếm 2,14% diện tích tự nhiên),

trong đó đất chuyên dùng 810,5 ha (chiếm 0,6% diện tích đất tự nhiên), tỷ lệ nàykhá nhỏ cho thấy cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trongkhu vực còn khá thấp

- Đất chưa sử dụng: chiếm 46,42% diện tích đất tự nhiên của huyện.

Trang 36

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Nậm Pồ năm 2016 - 2018

Chỉ tiêu

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Trang 37

Về lao động, năm 2016 có 24.521 lao động trong độ tuổi, chiếm 48,55% tổng

số nhân khẩu, năm 2018 có 28.464 lao động chiếm 54,40% tổng số nhân khẩu, tốc

độ tăng bình quân mỗi năm là 1,85%

Khi nhìn vào cơ cấu lao động cho thấy cơ cấu lao động nông nghiệp có xuhướng tăng theo từng năm, bình quân mỗi năm tăng 1,85% Lao động phi nôngnghiệp ngày càng giảm tỷ trọng, bình quân hàng năm giảm 0,64% Nguyên nhân là

do trên địa bàn huyện số hộ phi nông nghiệp chủ yếu là cán bộ, công chức, viênchức, các hộ buôn bán, các hộ đi làm thuê tại mỏ than Quảng Ninh nên không tăngnhiều qua các năm

Xét một số chỉ tiêu cho thấy đất nông nghiệp bình quân trên đầu người ngàycàng có xu hướng giảm, nguyên nhân giảm dần là do diện tích đất nông nghiệpkhông tăng nhiều, trong khi đó các diện tích đất nương canh tác theo kiểu luân canhcủa nông dân bị thu lại để khoanh nuôi tái sinh theo quy định và số nhân khẩu ngàymột tăng Diện tích đất chưa sử dụng lớn nhưng khó khai thác vì tập trung ở những

vị trí hiểm trở Vì vậy để nâng cao thu nhập cho người lao động cần hỗ trợ vốn nângcao tay nghề, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng cường áp dụng Khoa học

- Kỹ thuật vào sản xuất, tạo việc làm giải quyết lao động cho người dân

Trang 39

Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động huyện Nậm Pồ năm 2016 - 2018

(Nguồn số liệu: Chi cục Thông kê huyện Nậm Pồ, 2018)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

2017/

2016

2018/

I Tổng số nhân khẩu Người 49.956 100 51.020 100 52.317 100 102,13 102,54 102,31

1 Khẩu nông nghiệp Người 44.639 89,36 45.597 89,37 46.847 89,54 102,15 102,74 102,32

2 Khẩu phi nông nghiệp Người 5.371 10,64 5.423 10,63 5.470 10,46 100,97 100,87 102,27

1 Hộ nông nghiệp hộ 7.488 79,78 7.836 80,36 8.178 80,90 104,65 104,36 104,71

2 Hộ phi nông nghiệp hộ 1.897 20,27 1.915 19,63 1.930 19,03 100,95 100,78 100,72

III Tổng số lao động người 24.521 100 25.425 100 26.371 100 103,69 103,72 103,75

1 Lao động nông nghiệp người 21.290 86,82 22.166 87,18 23.080 87,52 104,11 104,12 104,20

2 Lao động phí N nghiệp người 3.231 13,18 3.259 12,82 3.291 12,48 100,87 100,98 100,78

IV Các chỉ tiêu bình quân

Trang 40

3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng

Hệ thống đường giao thông: Huyện Nậm Pồ có 75 km đường quốc lộ 4H từ

xã Si Pa Phìn đến xã Pa Tần (mặt đường rải nhựa), 133 km đường tỉnh lộ bào gồm:Tỉnh lộ 131 (Quốc lộ 4H - cửa khẩu phụ Si Pa Phìn, rải nhựa), Tỉnh lộ 145 (xã ChàCang - Nà Bủng, rải nhựa được một nửa quãng đường), Tỉnh lộ 145B (xã Phìn Hồ -

xã Nà Hỳ, rải nhựa), Quốc lộ 150 (xã Chà Tở - xã Mường Tùng, tỉnh Lai Châu, rảinhựa nhưng đang xuống cấp nghiêm trọng) 82,3 km đường liên xã (còn 48 km làđường đất) và 420 km đường liên bản (có 195 km đổ bê tông, còn lại là đường đất).Mạng lưới đường giao thông của huyện tương đối đảm bảo cho việc đi lại, giaothương, tuy nhiên vào mùa mưa hầu như các tuyến đường liên bản, một số tuyếnliên xã, thậm chí cả quốc lộ 4H bị tê liệt cục bộ

Hệ thống mạng lưới điện: Hệ thống điện trên địa bàn huyện được đầu tư qua

dự án RE II (dự án mở rộng và cải tạo lưới điện nông thôn vùng sâu, vùng xa) bằngnguồn vốn vay ngân hàng thế giới và các dự án khác Đến nay có 97/132 bản cóđiện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ được sử dụng điện đạt 75,55% Trong thời gian tới cầntiếp tục tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống điện để phục vụ nhu cầu trong đời sống

và sản xuất của nhân dân

Bưu chính viến thông: huyện có 1 điểm bưu điện chính và 11/15 điểm bưu

điện văn hóa xã, 65 trạm thu phát sóng di động, 03 trạm phát lại truyền thanh,truyền hình, 15/15 xã có đường truyền Internet đến trung tâm

Nước sinh hoạt: hiện tại huyện có 99 công trình cấp nước sinh hoạt, tổng số

hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 75,1% tổng số hộ toàn huyện Hệ thốngthoát nước và sử lý nước thải hầu như chưa được xây dựng làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến vệ sinh môi trường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát dịch bệnh

Thủy lợi: toàn huyện có 81 công trình thủy lợi lớn nhỏ, bao gồm đập đầu mối

và kênh mương với tổng số 269,4 km kênh mương Diện tích tưới thực tế 260 ha vụchiêm và 1.398 ha vụ mùa

Giáo dục: toàn huyện có 796 phòng học trong đó có 480 phòng học kiên cố,

174 phòng bán kiên cố, 142 phòng học tạm; 222 phòng công vụ, 513 phòng nội trú

Ngày đăng: 23/06/2020, 07:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Loan Anh (2015), Để phát huy vai trò của nông dân trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, Tạp chí cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để phát huy vai trò của nông dân trong phát triểnkinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Nguyễn Thị Loan Anh
Năm: 2015
4. Hoàng Phó Dân (2014), “Phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Cộng sản (Chuyên đề cơ sở), (94), tr.15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội Nôngdân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới”
Tác giả: Hoàng Phó Dân
Năm: 2014
5. Nguyễn Tiến Định (2012). Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất cơ chế chính sách huy động nội lực từ người dân vùng núi phía Bắc tham gia xây dựng nông thôn mới, Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất cơ chế chính sáchhuy động nội lực từ người dân vùng núi phía Bắc tham gia xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Nguyễn Tiến Định
Năm: 2012
6. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Vănhóa Thông tin
Năm: 1999
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hànhTrung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2009), Thông tư số 54/2009/TTBNNPTNT Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
3. Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXDBNNPTNT-BTN&MT về Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng nông thôn mới Khác
11. Hội Nông dân huyện Nậm Pồ (2018), Số 412/BC-HND về Kết quả công tác Hội và phong trào nông dân năm 2018; phương hướng, nhiệm vụ năm 2019 Khác
12. Hội Phụ nữ huyện Nậm Pồ (2018), Số 362/BC-HPN về Kết quả công tác Hội và phong trào phụ nữ năm 2018; phương hướng, nhiệm vụ năm 2019 Khác
13. Hội Cựu Chiến Binh huyện Nậm Pồ (2018), Số 125/BC-HCCB về Kết quả công tác Hội và phong trào CCB năm 2018; phương hướng, nhiệm vụ năm 2019 Khác
23. UBND huyện Nậm Pồ (2016), Báo cáo số 123/BC-UBND về Kết quả thực hiện xây dựng NTM huyện Nậm Pồ năm 2016 Khác
24. UBND huyện Nậm Pồ (2017), Báo cáo số 197/BC-UBND về Kết quả thực hiện xây dựng NTM huyện Nậm Pồ năm 2017 Khác
25. UBND huyện Nậm Pồ (2018), Báo cáo số 267/BC-UBND về Kết quả thực hiện xây dựng NTM huyện Nậm Pồ năm 2018 Khác
26. UBND huyện Nậm Pồ (2016), Báo cáo số 117/BC-UBND về Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, đảm bảo QP-AN huyện Nậm Pồ năm 2016 Khác
27. UBND huyện Nậm Pồ (2017), Báo cáo số 195/BC-UBND về Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, đảm bảo QP-AN huyện Nậm Pồ năm 2017 Khác
28. UBND huyện Nậm Pồ (2018), Báo cáo số 251/BC-UBND về Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, đảm bảo QP-AN huyện Nậm Pồ năm 2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w