Trong khi các công trình nghiên cứu ngoài nước chủ yếu là phân tích định tính vớiviệc đánh giá các yếu tố tác động đến sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam ra các nướctrên cơ sở các học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Giảng viên hướng dẫn: TS Chu Thị Mai Phương
Sinh viên thực hiện Trịnh Thị Lê _ 1614410093
Đặng Thị Phương Dung _ 1614410037 Nguyễn Thị Bích Ngọc _ 1614410131 Đặng Quang Thắng _ 1614410159 Phan Trần Lực _ 1614410111
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2019
Trang 2Nội dung Trang
DANH MỤC BẢNG iii
1 Lời mở đầu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
2.1 Nghiên cứu lý thuyết . 3
2.1.1 Lý thuyết Heckscher-Ohlin . 3
2.1.2 Lý thuyết Thương mại mới . 4
2.1.3 Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại . 5
2.2 Tình hình nghiên cứu đề tài . 5
2.3 Một số kết luận rút ra từ tình hình nghiên cứu đề tài . 6
3 Phương pháp nghiên cứu 7
3.1 Mô hình nghiên cứu . 7
3.1.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu gạo ra các nước tại Việt Nam . 7
3.1.2 Tổng quan mô hình nghiên cứu . 10
3.1.3 Mô hình hồi quy . 11
3.2 Nguồn dữ liệu . 12
3.3 Mô tả thống kê và mô tả tương quan biến số . 13
3.3.1 Mô tả thống kê . 13
3.3.2 Mô tả tương quan biến số . 15
4 Kết quả ước lượng và thảo luận 16
4.1 Kết quả ước lượng . 16
4.2 Kiểm định hệ số hồi quy và sự phù hợp của mô hình . 18
4.3 Kiểm định các khuyết tật trong mô hình . 19
4.4 Khắc phục khuyết tật . 19
5 Kết luận và kiến nghị 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
PHỤ LỤC 1 25
PHỤ LỤC 2 30
Trang 3Bảng 3 1: Bảng mô tả các biến và dấu kì vọng 12
Bảng 3 2: Nguồn số liệu 13
Bảng 3 3: Mô tả biến bằng lệnh su 13
Bảng 3 4: Mô tả biến giả FTA 14
Bảng 3 5: Mô tả biến giả LDC 15
Bảng 3 6: Ma trận tương quan giữa các biến 15
Bảng 4 1: Kết quả hồi quy bằng mô hình POLS, RE và FE 17
Trang 41 Lời mở đầu
Nông nghiệp luôn được xem là thế mạnh và có truyền thống lâu đời trong nềnkinh tế Việt Nam Trong đó, sản xuất lúa gạo đóng một vai trò đặc biệt quan trọngtrong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Khoảng 80% trong số 11triệu hộ nông dân Việt Nam tham gia sản xuất lúa gạo và chủ yếu dựa vào phươngthức thủ công truyền thống Gạo không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực thựcphẩm trong nước mà còn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực, đem lại nguồn GDP lớn hàngnăm cho nước ta Ngày nay, trong bối cảnh hoạt động kinh tế thế giới diễn ra ngàycàng mạnh mẽ, hoạt động thương mại giữa các quốc gia ngày càng được đẩy mạnh đòihỏi mỗi quốc gia phải chủ động tham gia khai thác lợi thế của mình trong phân cônglao động và trao đổi thương mại quốc tế Việt Nam, với thế mạnh là một nước nôngnghiệp có nền sản xuất lúa nước lâu đời, trở thành một trong những nước xuất khẩugạo lớn nhất trên thế giới Từ đây, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sảnlượng gạo xuất khẩu ra các nước của Việt Nam trở nên cần thiết và nhận được nhiều
sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước
Trong khi các công trình nghiên cứu ngoài nước chủ yếu là phân tích định tính vớiviệc đánh giá các yếu tố tác động đến sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam ra các nướctrên cơ sở các học thuyết về lý thuyết thương mại thì các tác giả trong nước những nămgần đây lại thiên nhiều về phân tích định lượng Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giảxét thấy một số nghiên cứu thiên về đánh giá các yếu tố tác động đến sản lượng gạo xuấtkhẩu nói chung qua từng năm mà chưa xem xét đến khía cạnh các yếu tố ấy tác động nhưnào đến sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam ra từng nước nhập khẩu Những năm gầnđây, sản lượng gạo sản xuất ra của Việt Nam tương đối ổn định, biến động qua các năm làkhông nhiều Vì vậy, nhóm tác giả muốn tiến hành nghiên cứu trên góc độ vi mô hơn, liệunhững yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam ra một nướcnhập khẩu bất kỳ, vì sao Việt Nam xuất khẩu gạo nhiều sang nước này, nhưng sản lưpngjxuất khẩu lại ít qua một số nước khác Dựa trên những yếu
Trang 5tố trên, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng
gạo xuất khẩu đến một số quốc gia chính của Việt Nam giai đoạn 2001-2016.”
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn TS Chu Thị Mai Phương đã giúp đỡ, chỉnhsửa để giúp hoàn thành đề tài này Do giới hạn về thời gian nghiên cứu và kinh nghiệmcòn nhiều thiếu sót, nhóm tác giả mong muốn nhận được những góp ý từ phía thầy cô
và các bạn
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn!
Trang 62 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu lý thuyết
Việc xuất khẩu gạo nói riêng cũng như xuất khẩu hàng hóa nói chung là mộtphần nằm trong thương mại quốc tế Đối với phần lớn các nước trên thế giới, thươngmại quốc tế tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP Nhiều nhà kinh tế học đã đưa ranhững mô hình khác nhau để dự đoán cơ cấu trao đổi thương mại quốc tế và phân tíchảnh hưởng của các yếu tố đến xuất khẩu
2.1.1 Lý thuyết Heckscher-Ohlin
Mô hình tỷ lệ nhân tố Heckscher-Ohlin (Heckscher-Ohlin factor proportionstheory) được xây dựng thay thế cho mô hình cơ bản về lợi thế so sánh của Ricardo Môhình Hechscher-Ohlin lập luận rằng cơ cấu thương mại quốc tế được quyết định bởi sựkhác biệt giữa các yếu tố nguồn lực Nó dự đoán rằng một nước sẽ xuất khẩu nhữngsản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế mạnh, và nhập khẩunhững sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan hiếm Như vậy, lýthuyết H-O cố gắng giải thích mô hình của thương mại quốc tế mà ta chứng kiến trênthị trường thế giới Giống như lý thuyết của Ricardo, lý thuyết H-O cho rằng thươngmại tự do sẽ mang lại lợi ích Tuy nhiên, khác với lý thuyết của Ricardo, lý thuyết H-Olại lập luận rằng mô hình thương mại quốc tế được xác định bởi sự khác biệt về mức
độ sẵn có của các nhân tố sản xuất hơn là bởi sự khác biệt về năng suất lao động
Lý thuyết H-O được xem là một trong các lý thuyết có mức độ ảnh hưởng rộnglớn trong kinh tế học quốc tế Hầu hết các nhà kinh tế học đều thích áp dụng lý thuyếtnày hơn so với lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo bởi vì nó sử dụng ít giả thiết đơngiản hóa hơn Vận dụng lý thuyết H-O, Việt Nam vốn với diện tích đất nông nghiệplớn, khí hậu nóng ẩm quanh năm và nguồn lao động dồi dào thuộc top các nước có sảnlượng gạo xuất khẩu lớn nhất trên thế giới
Trên thực tế, một số công trình nghiên cứu nhằm kiểm nghiệm mô hình H-O lại đưa
Trang 7(input-output) của mình với số liệu của Mỹ năm 1947, Leontief đã phát hiện Mỹ mặc
dù là quốc gia với tỉ lệ vốn/lao động cao nhưng tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàngtương đương hàng nhập khẩu của Mỹ lại cao hơn tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàngxuất khẩu
2.1.2 Lý thuyết Thương mại mới
Lý thuyết thương mại mới (New Trade Theory) mới bắt đầu nổi lên từ thập kỷ
1970 của thế kỷ XX và trở nên phổ biến ngày nay với Paul Krugman “Thuyết thươngmại mới” phát sinh từ nhận định rằng, dù “thuyết thương mại cũ” soi sáng rất nhiều cơcấu thương mại toàn cầu, vẫn còn một số hiện tượng quan trọng mà nó không giảithích được Khối lượng thương mại giữa Pháp và Đức, chẳng hạn, là rất cao, dù hainước khá giống nhau về tài nguyên cũng như khí hậu Hơn nữa, hàng hóa mà các nước
đã phát triển buôn bán với nhau thường là cùng một thứ (chẳng hạn như Mỹ xuất khẩu
ô tô mà cũng nhập khầu ô tô), chứ không phải luôn luôn xuất khẩu thứ này, nhập khẩuthứ khác Vì sao có khá nhiều sản phẩm không giống lúa mì, hoặc chuối khi mà nhiềunơi trên thế giới sản xuất được, nhưng lại giống loại máy bay khổng lồ (jumbo jet), màchỉ vài nơi trên thế giới sản xuất Lý do chính là một số công nghiệp có đặc tính màkinh tế học gọi là “tính tiết kiệm do quy mô” (economies of scale): số lượng sản xuấtcàng cao thì giá phí bình quân càng thấp Đối với loại hàng hóa có tính này thì thế giớichỉ cần vài cơ xưởng sản xuất là đủ
Khi các nước trao đổi thương mại với nhau, các thị trường quốc gia đơn lẻ được kếthợp thành một thị trường thế giới rộng lớn hơn Các công ty có thể đạt được lợi ích kinh tếnhờ quy mô trên cơ sở thị trường được mở rộng đó Theo lý thuyết thương mại mới, mỗinước sẽ có điều kiện để chuyên môn hóa vào sản xuất một nhóm các sản phẩm nhất định
mà trong trường hợp không có thương mại khó có thể xảy ra Đồng thời bằng cách nhậpkhẩu những sản phẩm nước đó không sản xuất từ những nước khác, một nước có thể đồngthời vừa tăng mức độ đa dạng của sản phẩm cho người tiêu dùng, vừa giảm chi phí củanhững hàng hóa đó Như vậy là thương mại đã tạo cơ hội cho các bên cùng có lợi ngay cảkhi các nước không hề có sự khác biệt về mức độ sẵn có các nguồn lực
Trang 8hay công nghệ Lý thuyết thương mại mới đề cao vai trò của các hiệp định thương mạiliên kết các quốc gia trong việc xuất khẩu hàng hóa nói riêng và thương mại nói chung.
2.1.3 Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại
So với các mô hình lý thuyết trên, mô hình lực hấp dẫn (Gravity model) nghiêng
về phân tích định lượng hơn Ở dạng đơn giản, mô hình lực hấp dẫn dự đoán rằng traođổi thương mại phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai nước và quy mô của hai nền kinh
tế Mô hình đã được chứng minh rằng nó có tính định lượng tương đối mạnh thông quacác phân tích kinh tế lượng Mô hình này được sử dụng lần đầu tiên bởi Jan Tinbergenvào năm 1962 Mô hình lý thuyết cơ bản giữa hai nền kinh tế A và B được biểu diễntheo công thức sau:
M A ∗M B
D
AB
Trong đó, F là trao đổi thương mại hai chiều, M là quy mô của mỗi nền kinh tế,
D là khoảng cách và G là một hằng số Mô hình này thường xem xét cả những biến sốkhác như mức thu nhập (GDP theo đầu người), thuế quan, quan hệ đối tác kinh tế, …
2.2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Namđược tìm thấy trong các nghiên cứu thực nghiệm đã công bố bao gồm các nhân tố vĩ mô
và nhân tố cơ bản liên quan đến tình hình nhập khẩu gạo từ Việt Nam của từng nước nhậpkhẩu Do không thể liệt kê tất cả các nghiên cứu có liên quan nên trong phần này nhóm tácgiả chỉ liệt kê một vài nghiên cứu tiêu biểu làm cơ sở cho nghiên cứu của mình
Trước tiên là nghiên cứu của Francesco Goletti, Nicholas Minot, and PhilippeBerry về “Marketing constraints on rice exports from Viet Nam” Bằng phương phápđịnh tính, nhóm tác giả này đã chỉ ra rằng các yếu tố sản lượng gạo tính trên mỗingười, chất lượng gạo, dân số nước nhập khẩu, thu nhập có tác động cùng chiều đếnsản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam Thêm vào đó, yếu tố tốc độ đô thị hóa đượccho là có tác động ngược chiều vì hộ gia đình thành thị có xu hướng ăn uống thanhđạm và ít tinh bột hơn hộ gia đình nông thôn
Trang 9Tác giả Mai Phương (2014) trong khóa luận với để tài “Nghiên cứu các nhân tốảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam” đã cho thấy các yếu tố tổngsản lượng gạo trong nước, diện tích trồng lúa, đơn giá một tấn gạo xuất khẩu đều cótác động dương lên biến phụ thuộc là sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam Kết quảnghiên cứu có tồn tại mâu thuẫn khi đơn giá một tấn gạo có tác động dương đến biếnsản lượng xuất khẩu, có nghĩa là khi Việt Nam tăng giá gạo thì lượng gạo xuất khẩu đi
sẽ tăng, điều này đi ngược lại với quy luật cung cầu đối với hàng hóa thông thường.Trần Thị Bạch Yến và Trương Thị Thanh Thảo (2017) trong nghiên cứu các nhân
tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường ASEAN trong giaiđoạn 2000-2015 đã chỉ ra rằng các yếu tố tổng sản phẩm quốc nội Việt Nam (GDP),khoảng cách địa lý, lạm phát của Việt Nam, diện tích đất trồng lúa của Việt Nam cóảnh hưởng tích cực, cùng chiều đến giá trị kim ngạch gạo xuất khẩu của Việt Namtrong giai đoạn nghiên cứu Trái lại, các yếu tố khoảng cách kinh tế thì có tác độngngược chiều với giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo trong giai đoạn 2000-2015
2.3 Một số kết luận rút ra từ tình hình nghiên cứu đề tài
Các đề tài khác nhau dựa trên các góc nhìn khác nhau của nhóm tác giả Trongkhi nghiên cứu của Francesco Goletti và các đồng sự tập trung vào các yếu tố ảnhhưởng đến cầu nhập khẩu tại các nước nhập khẩu thì tác giả Mai Phương lại chú trọnghơn vào các nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khẩu gạo là Việt Nam Tuynhiên về cơ bản, các tác giả đều nhất trí trong việc các yếu tố chi phối đến sản lượnggạo xuất khẩu của Việt Nam ra các nước đến từ nhiều nguyên nhân cả phía nước xuấtkhẩu, nước nhập khẩu và các yếu tố thuộc nhóm bôi trơn hoặc cản trở Một số biến ảnhhưởng được nhiều tác giả đưa vào mô hình như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổngsản lượng gạo, dân số, … về cơ bản có tác động lớn đến sản lượng gạo xuất khẩu
Trang 103 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Mô hình nghiên cứu
3.1.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu gạo ra các nước tại Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu lý thuyết, nhóm tác giả đã gặp nhiều khó khăn trongviệc xác định biến ảnh hưởng đưa vào mô hình Đầu tiên là sự nhầm lẫn khi xác địnhcác biến vĩ mô của Việt Nam như Tổng sản phẩm quốc dân (GDP), dân số Việt Nam(POP) có tác động lớn đến mô hình Sở dĩ nói như vậy vì các biến này vốn dĩ chỉ ảnhhưởng lớn đến tổng sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài thay vì chiphối sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang một nước cụ thể như mô hình mànhóm tác giả đang xem xét Ngược lại, các yếu tố tác động thuộc về nước nhập khẩu sẽmang ảnh hưởng rõ rệt hơn đến biến phụ thuộc
Dựa vào mô hình trọng lực cũng như căn cứ vào các nghiên cứu trước đây, nhómtác giả xác định tác động đến xuất khẩu gạo ra từng nước nhập khẩu của Việt Nam córất nhiều nhân tố khác nhau Trong đó, có những nhân tố thuộc về bản thân nước xuấtkhẩu song lại có những nhân tố thuộc về đối tác hoặc cũng có thể là các nhân tố từ bênngoài tác động đến Như đã trình bày ở trên, nhóm tác giả sẽ tiến hành nghiên cứunhững yếu tố ảnh hưởng chính, có tác động mạnh mẽ đến sản lượng gạo xuất khẩu racác nước của Việt Nam bao gồm nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cầu nhập khẩu và nhómyếu tố cản trở, hấp dẫn
3.1.1.1 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nhập khẩu gạo của nước nhập khẩu
Tổng sản phẩm quốc nội của các nước nhập khẩu gạo:
Quy mô nền kinh tế nước nhập khẩu có ảnh hưởng lớn đến kim ngạch thương mạigiữa hai quốc gia Tức là, GDP của nước nhập khẩu lớn sẽ cho thấy nhu cầu mua sắm vànhập khẩu hàng hóa của nước đó tăng lên Tuy nhiên, khi GDP của một quốc gia tăng chothấy khả năng sản xuất của quốc gia đó tăng theo Vì thế cơ hội cạnh tranh của sản phẩmngoài nước với sản phẩm trong nước sẽ càng gay gắt Không chỉ vậy, mức cầu nước nhậpkhẩu của một quốc gia là cao hay thấp còn tùy thuộc vào mức thiết yếu của từng loại hànghóa khác nhau Chẳng hạn, với những hàng hóa thứ cấp khi mức sống
Trang 11tăng, nhu cầu tiêu dùng sẽ giảm Với hàng hóa thông thường khi thu nhập tăng, cầu vềhàng hóa đó cũng tăng theo song cùng với nó là sự tăng lên của chất lượng sản phẩm.Song, với hàng hóa xa xỉ thì cầu và thu nhập lại tỷ lệ thuận với nhau Tuy vậy, việc xácđịnh hàng hóa thứ cấp, hàng hóa thiết yếu hay hàng hóa xa xỉ lại còn tùy thuộc vàoquốc gia đó là xuất khẩu hay nhập khẩu Trên thực tế rất khó để khẳng định rõ ràngđược tác động của quy mô nền kinh tế nước nhập khẩu với kim ngạch xuất khẩu là tácđộng cùng chiều hay ngược chiều Tuy nhiên, do gạo là mặt hàng thiết yếu và việc sảnxuất gạo là tương đối thủ công nên khi GDP nước nhập khẩu tăng lên thì mức sốngngười dân đã tăng lên một cách tương đối và các hoạt động về thủ công nông nghiệpgiảm - đồng nghĩa với nhu cầu nhập khẩu gạo tăng lên Khi đó, tác động của quy mônền kinh tế nước nhập khẩu tới kim ngạch xuất khẩu là tác động cùng chiều.
Dân số của các nước nhập khẩu:
Khi quy mô dân số tăng sẽ kéo theo cầu hàng hóa mà đặc biệt là các mặt hàngthiết yếu như gạo tăng lên, gây ra những ảnh hưởng nhất định đến kim ngạch xuấtkhẩu của quốc gia đối tác Tuy vậy, mức độ tác động của nhân tố này là cùng chiềuhay ngược chiều lại phụ thuộc vào điều kiện cụ thể cũng như chất lượng nguồn laođộng của mỗi quốc gia Cụ thể: (i) Dân số tăng cũng tức là lượng cầu tăng khiến chonhu cầu nhập khẩu hàng hóa tăng tức là khả năng xuất khẩu của đối tác tăng (ii) Dân
số tăng khiến quy mô lao động trong nước tăng làm tăng khả năng sản xuất dẫn tớităng quy mô và kết quả sản xuất Khi đó, sản xuất trong nước cũng đã phần nào đápứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước dẫn đến khả năng xuất khẩu hàng hóa giảm(cũng tức là khả năng xuất khẩu của quốc gia đối tác giảm)
Diện tích thu hoạch lúa hàng năm của các nước nhập khẩu:
Xét trên khía cạnh cung – cầu, diện tích lúa thu hoạch của các nước nhập khẩuđại diện cho tình hình tự cung cấp gạo của các nước nhập khẩu Nếu diện tích nàythấp, tức là cung về gạo của các nước xuất khẩu giảm, như vậy cầu về gạo của họ sẽtăng Điều này thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt Nam Qua phân tích, diện tích lúa thuhoạch của các nước nhập khẩu có ảnh hưởng ngược chiều đến biến phụ thuộc
3.1.1.2 Nhóm các yếu tố cản trở, hấp dẫn
Trang 12Khoảng cách địa lí giữa 2 quốc gia:
Khoảng cách về địa lý giữa hai quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cước phí vậnchuyển hàng hóa cũng như rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa nói chung và gạonói riêng Bên cạnh đó, khoảng cách địa lý còn ảnh hưởng đến thời gian thực hiện hợpđồng, thời điểm ký hợp đồng,… do vậy sẽ ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựachọn thị trường cũng như lựa chọn mặt hàng để xuất khẩu Qua phân tích cho thấy,khoảng cách địa lý có tác động ngược chiều đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia.Đây là lý do khiến các quốc gia thường chú trọng nhiều hơn đến giao lưu thương mại vớicác nước có chung đường biên giới hoặc các nước trong cùng khu vực Thêm vào đó,khoảng cách địa lý còn ảnh hưởng đến thời gian vận chuyển hàng hóa Tuy rằng với mỗimặt hàng khác nhau thì mức độ tác động có thể là nhiều hay ít Song với gạo thì khoảngcách địa lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu gạo của một quốc gia
Các quan hệ kinh tế quốc tế:
Đặc điểm quan trọng của các FTA hình thành thời gian gần đây là sự nổi lên củacác FTA song phương với phạm vi điều chỉnh rộng (bao gồm hầu hết các lĩnh vựcchính như hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, mua sắmchính phủ v.v ), mức độ tự do hoá cao (cao hơn WTO) và hình thành trên cơ sở liênkết giữa các đối tác thuộc các khu vực địa lý khác nhau, đặc biệt là giữa các nước pháttriển và đang phát triển, ví dụ, FTA Hoa Kỳ-Chi-lê, FTA EU- Thái Lan, EPA ViệtNam - Nhật Bản v.v
Trong quá trình hội nhập KTQT, các mối quan hệ kinh tế quốc tế có ảnh hưởng rấtlớn đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung và gạo nói riêng của một quốc gia.Khi xuất khẩu hàng hóa sang một nước nào đó có nghĩa là hàng hóa đã xâm nhập vào mộtthị trường khác và nhà xuất khẩu sẽ phải đối mặt với những rào cản như thuế nhập khẩuhay vấn đề về hạn ngạch nhập khẩu Các rào cản này là chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộcrất nhiều vào quan hệ kinh tế song phương giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu Trongkhi đó, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay đã tạo điều kiện cho ViệtNam tham gia nhiều liên minh kinh tế, nhiều hiệp định thương mại song phương, đaphương giữa các nước, trong đó có 12 hiệp định thương mại đã có hiệu lực
Trang 13và gây ra một số biến động trong sản lượng xuất khẩu gạo của nước ta như AFTA,ACFTA, AKFTA, CPTPP Đây sẽ là tác nhân tích cực hay là rào cản với một quốcgia khi thâm nhập vào thị trường khác hoàn toàn phụ thuộc vào các quan hệ kinh tếquốc tế giữa các quốc gia.
Khoảng cách kinh tế giữa các quốc gia:
Khoảng cách kinh tế đã được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến trong kinh doanhquốc tế Sự giàu có hay thu nhập của người tiêu dùng là một trong những yếu tố tạonên khoảng cách kinh tế giữa các nước và có ảnh hưởng đến mức độ thương mại giữacác nước Hiện nay, các nước có nền kinh tế phát triển chủ yếu tập trung phát triển cáccông nghệ hiện đại và chuyển giao sang các nước đang phát triển với chi phí thấp hơn
để thực hiện sản xuất và nhập khẩu trở lại các loại hàng hóa sau khi đã sản xuất hoànchỉnh Bên cạnh đó, các nước có nền kinh tế thịnh vượng và phát triển thường có xuhướng quan hệ thương mại với các nước tương đồng về kinh tế với họ nhiều hơn.Trong khi đó, các nước có nền kinh tế kém phát triển thường có quan hệ thương mạivới các nước giàu hơn Điều này được giải thích bởi lợi thế cạnh tranh, mà ở đây là giá
cả và chi phí Các nước có nền kinh tế phát triển sản xuất những sản phẩm công nghệcao, đạt chuẩn quốc tế sẽ thực hiện kinh doanh tại thị trường tương đồng để duy trì lợithế cạnh tranh Khoảng cách kinh tế giữa hai quốc gia càng lớn thì xuất khẩu của công
ty con tại Việt Nam sang quốc gia đó càng giảm
3.1.2 Tổng quan mô hình nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này và số liệu thu thập được, nhóm tác giả sử dụng dữ liệumảng bằng sự kết hợp giữa chuỗi thời gian (từ 2001 đến 2016) của các quan sát chéo là 9nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam (Theo tổng hợp của nhóm tác giả từ Ngânhàng Thế giới Worldbank) Nhóm tác giả sử dụng kiểu dữ liệu panel nhằm mục đích:i) Tăng quy mô mẫu vì số quan sát của dữ liệu là có hạn
ii) Có thể thực hiện các nghiên cứu tinh vi hơn
iii) Giúp kiểm soát các yếu tố không quan sát được Các yếu tố này có thể khác nhaugiữa các đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian hoặc thay đổi theo thời gian nhưng lại không khác nhau giữa các đối tượng Điều này cần thiết để giảm sự sai lệch
Trang 14trong ước lượng Ít có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến giải thích làm kết quảcủa việc ước lượng tham số chính xác hơn.
Với kiểu dữ liệu mảng, để ước lượng mô hình theo các biến kể trên, nhóm tác giảtiến hành ước lượng theo 3 mô hình:
Hàm hồi quy gộp OLS
Mô hình với các ảnh hưởng cố định FE (Fixed-effect model)
Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên RE (Random- effect model)
Nhóm tiến hành thiết lập mô hình hồi quy và kiểm định mô hình sử dụng phầnmềm STATA 14
3.1.3 Mô hình hồi quy
Dựa vào cơ sở lý thuyết cũng như các nghiên cứu từ trước, nhóm đã xây dựng
mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các biến đến sản lượng gạo xuất khẩu sang một sốthị trường chính của Việt Nam
Q = f (GDPi, POPi, Si, Dis, FTA, LDC)
Mô hình hồi quy tổng thể PRF:
Q = β 0 + β 1 ∗ GDPi + β 2 ∗ POPi + β 3 ∗ Si + β 4 ∗ Dis + β 5 * FTA + β 6 * LDC + c i + u it
Mô hình hồi quy mẫu SRF:
Trang 15Giải thích các biến ta có bảng sau:
Bảng 3 1: Bảng mô tả các biến và dấu kì vọng
4 Si Diện tích lúa thu hoạch được trong năm Biến độc Ha
5 Dis Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và Biến độc Km
FTA Biến giả: Nước nhập khẩu có kí kết FTA Biến độc
1: Kí kết0: Không kí kết
LDC Biến giả: Khoảng cách kinh tế giữa nước Biến độc
7 1: Nước nhập khẩu là đang nước phát
triển0: Nước nhập khẩu là nước phát triển
3.2 Nguồn dữ liệu
Số liệu đã thu thập thuộc dạng thông tin thứ cấp, dạng số liệu mảng panel, thể hiện thông tin các yếu tố sản lượng gạo xuất khẩu sang 10 thị trường chính; tổng thu nhập
Trang 16quốc gia, dân số, sản lượng gạo sản xuất của các quốc gia nhập khẩu; các quan hệ kinh
tế quốc tế, khoảng cách kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia nhập khẩu Các số liệuđược lấy trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2016
Số liệu thứ cấp được lấy từ nguồn xác minh có tính chính xác cao:
Mô tả các biến định lượng
Chạy lệnh su Q GDPi POPi Si Dis, ta thu được kết quả sau: